Tải bản đầy đủ (.pdf) (156 trang)

BÀI GIẢNG SINH LÝ BỆNH HỌC ĐẠI HỌC Y DƯỢC HUẾ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.34 MB, 156 trang )


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
[\








GIÁO TRÌNH
SINH LÝ BỆNH HỌC NGƯỜI












HUẾ, 2005
MỤC LỤC


Trang



Chương 1: Giới thiệu môn học sinh lý bệnh 1
TS. Trần Thị Minh Diễm
Chương 2: Khái niệm về bệnh 8
ThS. Phan Thanh Sơn
Chương 3: Khái niệm về bệnh nguyên 16
ThS. Phan Thanh Sơn
Chương 4: Khái niệm về bệnh sinh 22
ThS. Phan Thanh Sơn
Chương 5: Rối loạn cân bằng Glucose máu 29
ThS. Phan Thanh Sơn
Chương 6: Rối loạn chuyển hoá lipid 43
ThS. Nguyễn Văn Hiền
Chương 7: Rối loạn chuyển hoá protid 58
ThS. Nguyễn Văn Hiền
Chương 8: Rối loạn cân bằng nước - điện giải 67
ThS. Lê Bá Hứa
Chương 9: Rối loạn cân bằng acid - base 85
ThS. Lê Bá Hứa
Chương 10: Rối loạn điều hoà thân nhiệt 104
ThS. Phan Thị Minh Phương
Chương 11: Viêm 113
ThS. Phan Thị Minh Phương
Chương 12: Rối loạn phát triển tổ chức 129
TS. Trần Thị Minh Diễm
Chương 13: Sinh lý bệnh quá trình lão hoá 143
TS. Trần Thị Minh Diễm


1

Chương 1
Giới thiệu môn học sinh lý bệnh

I. Đại cương
1. Định nghĩa
Sinh lý bệnh lý học hay gọi tắt là sinh lý bệnh học là môn học
nghiên cứu về cơ chế phát sinh, phát triển và kết thúc của bệnh; tức là
nghiên cứu những thay đổi của cơ thể bị bệnh trong quá trình bệnh lý điển
hình và cuối cùng để tìm hiểu những quy luật hoạt động của bệnh nói
chung. Theo Purkinje: “Sinh lý bệnh là sinh lý của cơ thể bị bệnh“
Sinh lý bệnh nghiên cứu những trường hợp bệnh lý cụ thể, phát hiện
và mô tả những thay đổi về sự hoạt động chức năng của cơ thể, cơ quan,
mô và tế bào khi chúng bị bệnh; từ đó rút ra những quy luật chi phối
chúng, khác với những quy luật hoạt động lúc bình thường: đó là sinh lý
bệnh học cơ quan, bộ phận. Ví dụ Sinh lý bệnh tuần hoàn (Sinh lý bệnh cơ
quan).
Tuy nhiên, có những rối loạn có thể xảy ra ở nhiều cơ quan chức
năng rất khác nhau như viêm gan, viêm cơ, viêm khớp và mỗi bệnh lại
diễn tiến theo những quy luật riêng của nó: viêm gan không giống như
viêm khớp. Tuy nhiên mỗi bệnh này lại cùng tuân theo một quy luật chung
hơn, đó là quy luật bệnh lý viêm nói chung và quy luật này lại được trình
bày trong bài viêm (Sinh lý bệnh đại cương).
Từ việc nghiên cứu quy luật hoạt động của từng bệnh, từng cơ quan,
đến quy luật hoạt động của các quá trình bệnh lý điển hình chung: Sinh lý
bệnh học tìm cách khái quát hóa để tìm hiểu quy luật hoạt động của bệnh
cũng như quy luật hoạt động của nguyên nhân gây bệnh, quy luật phát
sinh phát triển của bệnh, của quá trình lành bệnh cũng như quá trình tử
vong.
Tất cả xuất phát từ hiện tượng đi tìm bản chất của vấn đề là tìm hiểu
được bệnh là gì ? bệnh do đâu mà có ? bệnh tiến triển như thế nào? quá

trình lành bệnh và tử vong xảy ra như thế nào?
2. Nội dung môn học
Nội dung giảng dạy sinh lý bệnh gồm có hai phần:
- Sinh lý bệnh đại cương: gồm các khái niệm và quy luật chung nhất
về bệnh; sinh lý bệnh các quá trình bệnh lý chung.
- Sinh lý bệnh cơ quan: nghiên cứu sự thay đổi của các chức năng và

2
các cơ quan khi bị bệnh.
II. Vị trí, tính chất và vai trò của môn học
1. Vị trí
1.1. Môn học tiền lâm sàng
Sinh lý bệnh và môn Giải phẩu bệnh là hai môn học tiền thân của
môn bệnh lý học hay nói một cách khác: trong quá trình phát triển từ
nghiên cứu về thay đổi hình thái sang nghiên cứu về thay đổi chức năng
của bệnh lý học, do vậy Sinh lý bệnh được xếp vào nhóm các môn học
tiền lâm sàng, sinh viên được học trước khi chính thức học các môn lâm
sàng và dự phòng bệnh
1.2. Nền tảng của môn Sinh lý bệnh
Sinh lý học và Hoá sinh học là hai môn học cơ sở liên quan trực tiếp
và quan trọng nhất của Sinh lý bệnh học bên cạnh các môn học liên quan
khác như di truyền học, miễn dịch học, vi sinh Ngoài ra, Sinh lý bệnh
còn phải vận dụng kiến thức của nhiều môn khoa học khác nữa, kể cả các
môn khoa học cơ bản


Y HỌC CƠ SỞ Y HỌC LÂM SÀNG
- Sinh lý - Nội
- Sinh hóa SINH - Ngoại
- Giải phẩu bệnh LÝ - Sản

- Vi sinh, ký sinh trùng BỆNH - Nhi
- Miễn dịch học - Truyền nhiễm
- Di truyền học .v.v - Da liễu.v.v.


Hình 1.1: Mối liên quan giữa y học cơ sở và y học lâm sàng
2. Tính chất và vai trò
2.1. Tính chất tổng hợp
Để làm sáng tỏ và giải thích các cơ chế bệnh lý, Sinh lý bệnh phải
vận dụng những kết quả của nhiều môn học khác nhau. Phương pháp phân
tích giúp cho khoa học đi sâu vào bản chất của sự vật một cách chi tiết và
chính xác đồng thời hình thành nhiều chuyên khoa sâu chuyên biệt. Tuy
nhiên, muốn tìm ra quy luật hoạt động chung thì phải có phương pháp
tổng hợp tốt, nắm được cái gì là nguyên nhân, cái gì là hậu quả, cái gì là
cốt lõi, cái gì là chính, cái gì là phụ để đi đến bản chất của vấn đề.

3
Môn sinh lý bệnh, như định nghĩa đã nêu rõ; đi từ những hiện tượng
bệnh lý cụ thể, tìm cách khái quát hóa thành những quy luật hoạt động của
cơ thể bị bệnh; tất nhiên đòi hỏi một đầu óc tổng hợp sắc bén.
2.2.Tính chất lý luận
Sinh lý bệnh học cho phép giải thích cơ chế của bệnh và các hiện
tượng bệnh lý nói chung, đồng thời làm sáng tỏ các quy luật chi phối sự
hoạt động của cơ thể, cơ quan, tổ chức và tế bào khi bị bệnh. Do đó, trong
đào tạo ngoài nhiệm vụ trang bị kiến thức môn học; trong đào tạo nó còn
có nhiệm vụ trang bị phương pháp lý luận và cách ứng dụng các lý luận đó
khi học các môn lâm sàng và nghiệp cụ khác.
Sinh lý bệnh cung cấp cho người thầy thuốc quan điểm và phương
pháp đúng, nghĩa là một quan điểm duy vật biện chứng và một phương
pháp luận khoa học trong cách nhìn nhận, phân tích và kết luận về mọi vấn

đề trong y học. Mọi người đều biết hiện tượng bệnh lý là một thực tại
khách quan, nhưng nhìn nó theo góc cạnh nào, hiểu nó như thế nào là một
vấn đề chủ quan của con người. Chính vì vậy mà trong lịch sử y học đã có
biết bao học thuyết đối lập, trường phái khác nhau, biết bao cuộc đấu tranh
ác liệt giữa quan điểm duy tâm và quan điểm duy vật. Mục tiêu của sinh
lý bệnh là xây dựng cho người thầy thuốc một quan điểm, một phương
pháp suy luận trong y học.
2.3. Sinh lý bệnh là một trong những cơ sở của y học hiện đại
Y học hiện đại kế thừa những tinh hoa của y học cổ truyền để phát
triển và thay thế dần y học cổ truyền. Điều kiện để y học hiện đại ra đời là
sự áp dụng phương pháp thực nghiệm vào nghiên cứu y học. Nhờ phương
pháp thực nghiệm khoa học mà môn Giải phẩu học và Sinh lý học ra đời,
tạo nền tảng vững chắc cho y học hiện đại phát triển. Hypocrate là ông tổ
của y học cổ truyền cũng là ông tổ của y học hiện đại và của y học nói
chung.
Giải phẫu học và Sinh lý học là hai môn học quan trọng cung cấp
những hiểu biết về cấu trúc và hoạt động của cơ thể con người bình
thường. Trên cơ sở hai môn học trên, y học hiện đại nghiên cứu trên người
bệnh để hình thành môn bệnh học và Sinh lý bệnh là môn học cơ sở. Hiện
nay trong công tác đào tạo, Sinh lý bệnh được xếp vào môn học tiền lâm
sàng, tạo cơ sở về kiến thức và phương pháp để sinh viên học tốt các môn
lâm sàng.
III. Phương pháp nghiên cứu trong sinh lý bệnh
GS. Thomas “ Thực nghiệm trên súc vật và quan sát trên người bệnh
là phương pháp cơ bản của sinh lý bệnh “. Phương pháp thực nghiệm

4
trong Y học được Claude Bernard phát triển và tổng kết từ gần 200 năm
trước đây, đã giúp cho các nhà Y học nói chung và Sinh lý bệnh nói riêng
một vũ khí quan trọng trong nghiên cứu. Mục đích của y học thực nghiệm

là phát hiện được những quy luật hoạt động của cơ thể bị bệnh qua các mô
hình thực nghiệm trên súc vật.
Phương pháp thực nghiệm là phương pháp nghiên cứu xuất phát từ
sự quan sát khách quan từ các hiện tượng tự nhiên (hiện tượng bệnh lý xảy
ra), sau đó dùng các kiến thức hiểu biết từ trước tìm cách cắt nghĩa chúng
(gọi là đề ra giả thuyết); sau đó dùng một hay nhiều thực nghiệm để chứng
minh giả thuyết đúng hay sai (có thể thực nghiệm trên mô hình súc vật).
1.Các bước nghiên cứu thực nghiệm


PHÒNG BỆNH






ĐIỀU TRỊ

Hình 1.2: Sơ đồ nghiên cứu trong sinh lý bệnh
1.1. Quan sát và đặt giả thuyết
Trước một hiện tượng bệnh lý, dù là nhà y học cổ truyền hay y học
hiện đại, người ta đều quan sát và nhận xét những hiện tượng bệnh lý. Sau
khi quan sát (chủ quan hay khách quan), người ta tìm cách cắt nghĩa và
giải thích những điều quan sát được. Những người quan sát có thể đồng
thời phát hiện giống nhau nhưng cũng có thể khác nhau; cũng có thể giải
thích khác nhau về cùng một hiện tượng mà họ cùng quan sát; tuy nhiên
những giải thích trên mang tính chủ quan của con người, tuỳ thuộc vào
quan điểm triết học của người quan sát mà nội dung giải thích cũng khác
nhau (duy tâm, duy vật, biện chứng hay siêu hình), tuỳ thuộc vào từng thời

kỳ phát triển của y học mà ý nghĩa cũng thay đổi.
Từ quan sát, Hypocrate (500 năm BC) đã cho rằng: dịch mũi trong
do não tiết ra; thể hiện tình trạng cơ thể bị lạnh; máu đỏ do tim tiết ra, thể
hiện tình trạng nóng; còn máu đen do lách tiết ra, thể hiện tình trạng ẩm;
Quan sát
lâm sàng
Gây bệnh
thực nghiệm
Đối chiếu
lâm sàng
Quy luật
bệnh lý
Kiểm tra Giải phẫu bệnh: Sinh
Giả thuyết
thiết hoặc Giải phẫu tử thi

5
và mật vàng do gan tiết ra, thể hiện tình trạng khô. Mọi bệnh lý xảy ra do
sự mất cân bằng của 4 chất dịch trên.
Phương pháp thực nghiệm do Claude Bernarde đã yêu cầu nhà khoa
học:
- Quan sát thật tỉ mỉ, khách quan. Càng nhiều thông tin trung thực
thì giả thuyết càng dễ gần chân lý .
- Khi giải thích, càng vận dụng những kết quả lý luận đã co,ï càng
làm cho việc đặt giả thuyết càng có nhiều cơ hội tiếp cận chân lý.
Ngày nay, cần lưu ý đến những thành tựu của nhiều ngành khoa học
khác nhau, và tuỳ theo điều kiện cụ thể mà vận dụng cho thích hợp. Người
bệnh đến với thầy thuốc với những triệu chứng, cần được phát hiện bằng
mọi cách một cách khách quan. Trước tiên người thầy thuốc phải dùng
ngũ quan của mình để quan sát; sau đó kết hợp với những phương tiện kỹ

thuật cận lâm sàng để tăng cường phát hiện những hiện tượng mà khả
năng quan sát con người không làm được. Các xét nghiệm cận lâm sàng và
thăm dò chức năng cho những kết quả khách quan, chính xác và nhạy hơn
những điều mà bản thân thầy thuốc thu nhận được bằng ngũ quan của
mình, song những kỹ thuật ấy cũng do con người làm ra nên chúng phải
được tuân thủ những quy tắc và điều kiện thực hiện thì mới có đủ sức tin
cậy. Khả năng quan sát của người thầy thuốc chỉ có thể phát triển khi được
tiếp xúc với người bệnh thường xuyên.
Sau khi có đầy đủ các dữ kiện ở người bệnh, người thầy thuốc hình
thành trong trí óc của mình một mô hình bệnh lý nhất định. Đồng thời so
sánh mô hình này với các mô hình khác (có được qua học tập, kinh
nghiệm) để xem nó giống mô hình nào nhất và định hướng chẩn đoán phù
hợp nhất. Như vậy chẩn đoán chỉ là một giả thuyết mà người thầy thuốc
đặt ra dựa trên những quan sát khách quan thu được.
1.2. Chứng minh giả thuyết bằng thực nghiệm
Đây là bước bắt buộc, nhưng Y học cổ truyền đã không có điều kiện
thực hiện mà chỉ dừng lại ở bước 1, tức là quan sát; rồi giải thích sau khi
thử áp dụng "Y lý" của mình trong thực tiễn.
Các thực nghiệm khoa học thường xây dựng các mô hình thực
nghiệm trên súc vật từ những quan sát lâm sàng để chứng minh cho các
giả thuyết đề ra. Các thực nghiệm này được tiến hành chủ động cấp diễn
hoặc trường diễn, cho các hình ảnh bệnh lý sinh động theo thời gian thực
nghiệm. Thực nghiệm có thể tiến hành trên từng tổ chức, từng cơ quan cô
lập và trên cơ thể nguyên vẹn; hoặc phối hợp với nhau và tiến hành trên cơ
thể sống (in vivo) hoặc trong ống nghiệm (in vitro).

6
Nếu chẩn đoán đúng thì quyết định được biện pháp điều trị thích hợp
và bệnh khỏi. Như vậy điều trị cũng là một bằng chứng thực nghiệm. Cần
lưu ý bằng chứng này cũng có những điều kiện riêng cuả nó. Ví dụ như

sức đề kháng của cơ thể cần thiết cho quá trình tự khỏi của bệnh, hổ trợ
cho người thầy thuốc cũng như điều trị và làm cho quá trình tự lành bệnh
được nhanh hơn. Cũng có bệnh tuy chẩn đoán ra nhưng khoa học hiện nay
vẫn chưa điều trị khỏi. Cuối cùng nếu bệnh quá nặng, điều trị không phù
hợp thì người bệnh chết và phương pháp giải phẩu thi thể và chẩn đoán
sinh thiết là một bằng chứng thực nghiệm vô cùng quý giá.
Muốn có kết quả cần thiết phải có các phương pháp đúng, Claude
Bernard:”Chỉ có những phương pháp tốt mới cho phép chúng ta phát triển
và sử dụng tốt hơn những khả năng mà tự nhiên đã phú cho chúng ta”.
Muốn vậy phải có được những nhận xét lâm sàng chính xác, khách quan;
đề ra những giả thuyết đúng đắn, khoa học; tìm các phương pháp thực
nghiệm thích hợp để chứng minh cho sự phù hợp giữa thực tế lâm sàng và
giả thuyết đã nêu; từ đó rút ra được những quy luật chung nhất của bệnh lý
và cuối cùng là ứng dụng rộng rãi và có hiệu quả trong thực tế (đối với
công tác phòng bệnh và điều trị).
2. Vận dụng phương pháp thực nghiệm trong lâm sàng
Thầy thuốc là người làm khoa học, quá trình khám để phát hiện
đúng bệnh giống như quá trình phát hiện chân lý, nghĩa là tuân thủ theo
đúng các bước đi trên. Chẩn đoán bệnh thực chất là ứng dụng các bước
của phương pháp thực nghiệm để tăng khả năng tìm ra được chân lý. Tác
phong và đức tính của người thầy thuốc trong trường hợp này vẫn là tỉ mỉ,
chính xác, trung thực.
IV. Sinh lý bệnh soi sáng công tác dự phòng và điều trị
Người ta có thể gây bệnh thực nghiệm và điều trị thực nghiệm
trước khi ứng dụng vào lâm sàng, do đó hiểu rõ mối quan hệ giữa bệnh
nguyên và bệnh sinh, hiểu rõ cơ chế phát sinh, phát triển và kết thúc của
bệnh mà thầy thuốc biết khi nào cần điều trị. Có nhiều biện pháp điều trị
như điều trị triệu chứng, điều trị nguyên nhân v.v.
Biện pháp điều trị triệu chứng chỉ sử dụng khi chẩn đoán nguyên
nhân chưa rõ và khi biểu hiện bệnh lý quá mạnh có thể ảnh hưởng đến

sinh mạng bệnh nhân như đau quá có thể gây sốc, sốt cao gây co giật ở trẻ
em.v.v. Tuy nhiên không nên quá lạm dụng vì nhiều khi có hại hơn có lợi
và cũng chỉ là biện pháp đối phó.
Điều trị nguyên nhân là đúng nhất vì đánh vào yếu tố gây bệnh.
Song cũng có nhiều bệnh hiện nay chưa rõ nguyên nhân hoặc như trong

7
nhiều bệnh có nguyên nhân đã rõ nhưng khi bệnh hình thành thì có thể
diễn biến mạnh hơn, nguy hiểm cho người bệnh thì cần phải sử dụng khái
niệm dự phòng trong điều trị tức là thông qua quy luật diễn biến nhất định
của bệnh lý (sinh lý bệnh học của bệnh) mà đề ra những biện pháp điều trị
thích đáng ngăn cản hoặc hạn chế những diễn biến xấu có hại.
Sự hiểu biết về vai trò của nguyên nhân và điều kiện gây bệnh sẽ
giúp cho việc đề ra kế hoạch phòng bệnh đúng. Có thể phòng bệnh bằng
cách tiêu diệt và ngăn ngừa nguyên nhân phát triển, ngăn chặn các điều
kiện thuận lợi cho nguyên nhân nảy sinh (môi trường sống, các vectơ
truyền bệnh, dinh dưỡng .v.v.), tăng cường sức đề kháng của cơ thể.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Vũ Triệu An. 2000. Đại cương Sinh lý bệnh học. NXB Y Học, Hà Nội.
2. Bộ môn Miễn dịch học - Sinh lý bệnh trường Đại học Y khoa Hà Nội
(2002). Sinh lý bệnh. Nhà xuất bản Y học
3. Bộ môn Miễn dịch học - Sinh lý bệnh trường Đại học Y khoa TPHCM.
(2000). Sinh lý bệnh. Nhà xuất bản Y học.
4. Ganong W (1996) Review of medical physiology. Nhà xuất bản
Appeleton and Lange
5. Guyton A.C ; Hall J.E. Textbook of medical physiology. Nhà xuất bản
W.B. Saunder company.

6. Harrison’s principles of internal medecine. Nhà xuất bản Mc Graw Hill.
7. Nguyễn Ngọc Lanh. 2002. Khái niệm về bệnh. Trong: Sinh lý bệnh
(Nguyễn Ngọc Lanh chủ biên). Trang 16-30. NXB Y Học, Hà Nội.
8. Sigmund Freud. 1970. Phân tâm học nhập môn. Bản dịch của Nguyễn
Xuân Hiếu. Trang 5-263. NXB Khai Trí. Sài Gòn.


8
Chương 2
Khái niệm về bệnh

I. Sơ lược sự phát triển về khái niệm bệnh
1. Bệnh theo quan niệm y học Đông phương
1.1. Trung quốc và các dân tộc chịu ảnh hưởng văn minh Trung quốc
Y học Trung quốc cổ đại chịu ảnh hưởng của triết học, cụ thể là của
Dịch học. Các nhà y học Trung quốc đã áp dụng Dịch lý vào trong Y lý vì
cho rằng “Thiên địa vạn vật nhất thể”. Cơ thể con người được xem như là
một thế giới thu nhỏ (Nhân thân tiểu thiên địa) có liên quan đến các yếu tố
nguyên thủy: Âm Dương, ngũ hành.
Bảng 2.1: Tương quan giữa đại và tiểu vũ trụ theo kinh Dịch và Y dịch
ĐẠI VŨ TRỤ TIỂU VŨ TRỤ
Thái cực Toàn thân
Lưỡng nghi Trên -dưới, Trái -phải
Tứ tượng, Tứ thời Tứ chi
Ngũ hành Ngũ tạng, Ngũ dịch, Ngũ giác quan
24 tiết 24 đốt xương sống
Bát tiết, Bát chính. Bát môn, Kỳ kinh bát mạch.
Cửu thiên, Cửu châu Cửu khiếu
12 tháng 12 đốt khí quản, 12 kinh lạc
Sông ngòi Huyết mạch

Lục khí Lục phủ, lục kinh
360 ngày của 1 năm 360 đốt xương
Trong đại vũ trụ (cũng như trong cơ thể người) luôn có sự vận hành
giữa 2 lực đối kháng: Âm-Dương. Chu Liêm Khê khi giải thích Thái cực
đồ thuyết có nói:
"Vô cực là thái cực, thái cực động mà sinh ra dương, động cực rồi
tĩnh, tĩnh mà sinh ra âm, tĩnh cực rồi trở lại động, một động một tĩnh làm
căn bản và giúp đỡ lẫn nhau, phân âm phân dương, lưỡng nghi lập thành,
dương biến âm hợp mà sinh ra thủy, hỏa, mộc, kim, thổ, ”
Khí âm dương luân chuyển biến hóa mà tạo ra ngũ hành, sự sinh

9
khắc của ngũ hành là nguồn gốc của sự chế hóa trong vũ trụ. Hợp với
nhau là sinh, là tiếp tục tiến hóa. Trái với nhau là khắc, là hạn chế sự tiến
hóa. Trong sự vận hành của khí chất đã có sinh thì phải có khắc, có khắc
thì phải có sinh, sinh khắc có mục đích giữ quân bình trong sự sinh hóa
của vạn vật. Âm dương có hòa và ngũ hành có bình thì trời đất mới yên
mà muôn loài được thành toại, sinh tồn.
Vậy bệnh là do mất sự quân bình âm dương, ngũ hành. Nguyên nhân
của sự mất quân bình nầy có thể là nội thương do trạng thái tâm lý thái
quá (Thất tình: hỷ, nộ, ái, ố, lạc, tăng, bi), là ngoại cảm do tiết khí (Lục
khí: phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa). Trị liệu bệnh căn cứ vào sự sinh khắc
của ngũ hành (Hư: bổ, Thực: tả) để nhằm lập lại sự quân bình âm dương
cho cơ thể.
Lý luận âm dương ngũ hành có vẻ mơ hồ, trừu tượng nhưng các thầy
thuốc Đông y khi áp dụng vào trong điều trị bệnh đã thu được kết quả rất
khả quan, không thể phủ nhận.
1.2. Ấn Độ và các dân tộc chịu ảnh hưởng văn minh Ấn Độ
Văn minh Ấn Độ cổ đại được phản ảnh trong bộ kinh Veda (được
viết khoảng thế kỷ 15 đến thế kỷ thứ 7 trước CN) gồm 4 tập: Rig Veda

(tụng niệm) trong đó có đề cập nhiều kiến thức y học, Sama Veda (ca
vịnh), Ayur Veda (tế tự) và Atharva Veda (phù chú ma thuật) trong đó có
bàn nhiều đến phẫu thuật.
Y học Ấn độ cổ đại quan niệm sức khỏe hoặc bệnh tật là sự kết hợp
hài hòa hoặc sự rối loạn của 3 yếu tố cấu tạo: Khí, dịch nhầy và mật, đồng
thời chịu ảnh hưởng của thời tiết (mưa, nắng, bão) và thời gian (ngày,
tháng, năm). Về các lãnh vực khác như giải phẫu học và phẫu thuật, dược
học, triệu chứng học, vệ sinh và y học cộng đồng, có nhiều tiến bộ ảnh
hưởng đến các nền y học cổ đại Hy Lạp, La Mã và có tác động tích cực
đến nền y dược học Tây phương sau nầy.
Tuy nhiên cần nói thêm rằng y học Ấn Độ cổ đại chịu chi phối mạnh
mẽ của triết thuyết Phật giáo, cho bệnh chỉ là một mắc xích trong vòng
luân hồi sanh tử do nghiệp (Karma) tạo tác. Sở dĩ con người tạo nghiệp là
do vô minh và dục, vì vậy điều trị khỏi bệnh không quan trọng bằng diệt
dục để khỏi tạo nghiệp. Nghiệp mỗi khi không còn tạo tác, luân hồi sẽ dứt,
bệnh theo đó cũng sẽ tiêu biến đi. Có lẽ triết thuyết nầy đã có ít nhiều tác
dụng tiêu cực đến sự phát triển của nền y học Ấn.
2. Bệnh theo quan niệm y học Tây phương
2.1. Học thuyết thể dịch của Hippocrate
Chịu ảnh hưởng những luận thuyết của Empedocles (thầy thuốc

10
kiêm triết gia, 504-433 trước CN) coi nền tảng vật chất của thế giới gồm 4
yếu tố (đất, nước, lửa, không khí) tạo nên những biến đổi trong thiên nhiên
(ấm, nóng, lạnh, khô), các yếu tố đó vừa kết hợp với nhau vừa đối kháng
với nhau. Hippocrate (460-377 trước CN) cũng quan niệm hoạt động sống
của cơ thể dựa trên 4 thể dịch: máu ở tim cũng khô như không khí, chất
nhầy ở não cũng lạnh như nước, mật vàng ở gan cũng nóng như lửa, mật
đen ở lách cũng ẩm như đất. Theo ông, sự tác động qua lại của các thể
dịch đó quyết định không chỉ tính tình của mỗi con người (nóng nảy, trầm

tĩnh, thờ ơ, buồn phiền) mà còn là nền tảng của sức khỏe và nguyên nhân
của bệnh tật.
Bệnh là do rối loạn các thể dịch đó. Ví dụ: có quá nhiều dịch nhầy ở
khắp nơi như ở phổi (sẽ gây viêm, lao), ở ổ bụng (gây cổ chướng), ở ruột
(gây ỉa lỏng, lỵ), ở trực tràng (gây trĩ), Nguyên lý điều trị bệnh là phục
hồi lại cân bằng cho cơ thể bằng cách sử dụng các thuốc có những đặc tính
của các dịch (thuốc mát, thuốc nóng, thuốc làm khô, thuốc làm ướt).
Quan niệm nầy mặc dù thiếu cơ sở khoa học nhưng đã đặt một nền
tảng vật chất cho sự hiểu biết, khác xa với những quan niệm siêu hình thần
bí vốn thịnh hành trong thời đại đó.
2.2. Thuyết hóa học
Trong đêm dài Trung cổ, y học và các ngành khoa học khác không
tiến bộ thậm chí còn đi thụt lùi do sự thống trị của tôn giáo. Về cuối thời
kỳ nầy, Paracelcius (1493-1541) một người thầy thuốc Đức nổi tiếng, nêu
lên quan niệm cho rằng:
- Lưu huỳnh, nguyên tố khí, biểu hiện sức mạnh của linh hồn
- Thủy ngân, nguyên tố lỏng, biểu hiện các lực của trí tuệ
- Các muối, cặn của chất đặc, biểu hiện nguyên lý của vật chất.
Ba chất đó nối con người với vũ trụ và qua chúng, con người tham
gia vào chuyển hóa chung của thiên nhiên. Bệnh là hậu quả của những rối
loạn cân bằng các chất nói trên.
Jean Baptiste van Helmont (1577-1644) và Sylvius (1614-1672) cho
rằng mọi quá trình sinh lý trong cơ thể đều do hoạt động của các enzyme
đặc hiệu khác nhau. Bệnh là một rối loạn hóa học enzyme trong cơ thể.
Khái niệm hóa học về bệnh sang thế kỷ XX nhờ những tiến bộ trong
ngành hóa và hóa sinh nên có nhiều thay đổi. Ngưởi ta ngày càng thấy rõ
tính chất tương đối ổn định của các thành phần hóa học trong cơ thể. Hans
Seley khi nghiên cứu về Stress đã đưa ra quan niệm bệnh là do rối loạn
khả năng thích nghi của cơ thể (rối loạn tình trạng đối kháng giữa 2 loại
hormone được tiết ra khi có stress. Ví dụ giữa mineralocorticoids và


11
glucocorticoids).
Linus Pauling phát triển khái niệm nầy bằng cách đưa ra danh từ
bệnh lý phân tử để chỉ những bệnh có sai sót trong cấu trúc phân tử của
các chất sinh học.
2.3. Thuyết cơ học
Trong thời kỳ Phục hưng, sự phát triển vượt bậc của các môn khoa
học như toán học, vật lý học, đã dẫn đến một khái niệm mới về bệnh.
Descartes (1596-1650) xem cơ thể con người như một bộ máy, quan
niệm nầy được những người theo thuyết Y Vật lý (Iatrophysic) tán thành
vì họ nhận thấy mọi hoạt động của cơ thể động vật đều dựa trên nền tảng
hoàn toàn cơ giới. Ví dụ: Hoạt động của các cơ, xương như tác dụng của
các lực lên trên những đòn bẩy. Hoạt động của tim và mạch máu không
khác hoạt động của hệ thống bơm và các ống dẫn. Hoạt động chuyển hóa
là một chuỗi các phản ứng hóa học nhằm đốt cháy thức ăn cung cấp năng
lượng cho cơ thể. Do vậy, cơ thể bị bệnh cũng giống như một cỗ máy bị
hỏng: “Cơ thể sống khác biệt với cơ thể chết như chiếc đồng hồ đang chạy
khác biệt với những bộ phận đồng hồ bị tháo rời”.
Schroedinger (1887-1961) thì cho rằng sự khác biệt giữa những sinh
vật và những vật không phải sinh vật chỉ là sự khác biệt giữa một quá trình
phức tạp với một quá trình đơn giản mà thôi. Khái niệm cơ học nầy hiện
nay còn được thấy trong sự phát triển của môn phỏng sinh học (Bionic) và
môn điều khiển học (Cybernetic).
2.4. Thuyết tế bào
Thế kỷ XVIII là thời kỳ phát triển cao độ của môn hình thái vi thể
(tổ chức học, bào thai học, giải phẫu bệnh) lại có thêm những thành tựu về
quang học (phát minh kính hiển vi), về hóa học (phát minh thuốc nhuộm)
nên đã thu được những thành tựu đáng kể. Phương pháp giải phẫu lâm
sàng đã giúp cho việc so sánh bệnh cảnh lâm sàng với những thương tổn

thấy được khi mổ tử thi dẫn đến khái niệm giải phẫu cục bộ về bệnh. Khái
niệm nầy cho rằng bệnh có liên quan đến những thương tổn đầu tiên ở các
cơ quan, bộ phận, ngăn cản cơ quan, bộ phận đó hoạt động. Morgani
(1682-1771), Bichat (1771-1802), Rokitanski (1804-1878) qua kết quả
những công trình giải phẫu đại thể, vi thể đã làm phát triển mạnh mẽ quan
niệm bệnh học nầy.
Vào cuối thế kỷ XIX, thuyết nầy đạt đỉnh cao với công trình “Bệnh
học tế bào” của Wirchov(1821-1902). Trong cuốn sách nầy ông đã kết
luận rằng:
" Đời sống của cơ thể là tổng số đời sống của những tế bào riêng lẻ

12
đã hợp nhất trong cơ thể đó Nơi diễn tiến các quá trình bệnh chính là bản
thân tế bào và mô kế cận Sự hoạt động không bình thường của tế bào là
nguồn gốc của bệnh tật Tôi chắc chắn rằng không một thầy thuốc nào có
thể hiểu biết đầy đủ các quá trình bệnh lý nếu họ không cố gắng xác nhận
nơi đã xảy ra bệnh tật Cuối cùng mọi trường hợp bệnh đều dẫn ta tới
nguyên ủy: tế bào. Tế bào là cơ sở vật chất, là hòn đá tảng của lâu đài y
học ”. Wirchov cũng là người đã nêu lên một định đề nổi tiếng “Mỗi tế
bào đều sinh ra từ một tế bào” (Omnis cellulae cellula).
Armand Trousseau (1801-1867) nhà lâm sàng học người Pháp nhận
xét :
"Bệnh học tế bào đã quên mất con người mà chỉ chú ý đến những tế
bào nhỏ bé, do đó đã bị chìm lấp trong muôn vàn những giá trị nhỏ bé”
2.5. Thuyết thần kinh luận
Trường phái y học Nga với những công trình của Setchenov (1829-
1905), Botkin, Pavlov (1849-1936) đề ra thuyết thần kinh về bệnh. Theo
thuyết nầy cho rằng hoạt động phản xạ của hệ thần kinh giúp cho việc bảo
tồn sự hoạt động và sự toàn vẹn của cơ thể giữa những điều kiện luôn luôn
thay đổi của môi trường sống. Sự kết hợp chặt chẽ của hoạt động vỏ não

và dưới vỏ não, giữa hệ thần kinh và hệ nội tiết có tác dụng điều hòa chính
xác và kịp thời mọi hoạt động của con người, bảo đảm mối tương quan
thống nhất giữa con người và ngoại cảnh. Bệnh là do rối loạn hoạt động
của phản xạ của hệ thần kinh, rối loạn mối tương quan giữa những khu
vực khác nhau của hệ thần kinh là cơ chế phát triển của bệnh.
Thuyết thần kinh đã tuyệt đối hóa vai trò của vỏ não, làm cho thuyết
nầy trở nên phiến diện và làm cản trở cho những nghiên cứu phát triển các
ngành học khác như nội tiết, sinh hóa thần kinh, hệ thần kinh thực vật,
2.6. Thuyết phân tâm học
Sigmund Freud (1856-1939), thầy thuốc nổi tiếng người Áo cho
rằng những hiện tượng kinh nghiệm thu nhận trong cuộc sống của con
người chỉ trở thành ý thức (conscience) khi nó phù hợp với cái máy lọc xã
hội (gồm những qui định của xã hội: ngôn ngữ, luân lý, và những đặc tính
của xã hội: cấm kỵ). Những hiện tượng kinh nghiệm sống không phù hợp
sẽ không được chuyển thành ý thức và sẽ bị dồn ép (pression) vào trong
tiềm thức (insconcience) (còn gọi là vô thức) "Cá nhân không thể tự cho
phép mình nhận thức những tư tưởng hay tình cảm khác với những khuôn
mẫu của nền văn hóa mà hắn sống, do đó hắn buộc phải dồn ép chúng" (E.
Fromm).
Những tư tưởng hay tình cảm bị dồn ép vào trong tiềm thức đó

13
không bị mất đi mà vẫn tồn tại và có năng lực sống riêng (Freud gọi là
Libido), chúng tìm cách biểu hiện ra bên ngoài bằng:
- Những hành vi sai lạc như: sự lỡ lời (viết sai, đọc sai, nghe nhầm),
sự quên (tên người, chữ, dự định, cảm giác) hoặc sự lầm lẫn (đánh mất đồ
vật, không tìm lại được đồ vật đã cất). Những hành vi sai lạc thực sự là
những hành vi hoàn toàn đúng đắn, chỉ xuất hiện với mục đích thay thế
cho hành vi mà người ta muốn làm hoặc đang chờ đợi. Trong cuốn Phân
tâm học nhập môn, Freud nói: “Sự dồn ép một ý muốn nói một điều gì

chính là điều kiện cần thiết cho sự phát sinh của một sự lỡ lời”.
- Những giấc mơ. Cái tôi trong giấc mơ theo Freud, đã rũ bỏ được
hết những ràng buộc về luân lý, thỏa mãn mọi sự đòi hỏi của bản năng tình
dục, của bản năng luôn luôn bị nền giáo dục cấm đoán, những bản năng
chống lại mọi sự kìm kẹp của luân lý.
- Những tài năng trong thi ca, âm nhạc, hội họa,
- Những chứng bệnh tâm thần kinh, thậm chí cả một số bệnh thực
thể.
Vậy bệnh là sản phẩm của một sự dồn ép, do đó trị bệnh là phải tìm
cách giải phóng cho những dồn ép đó (dépression) bằng phương pháp
phân tâm học (psychanalyse).
II. Một số điểm cần chú ý để hiểu khái niệm bệnh
Theo tiến hóa luận, mọi sinh vật khởi điểm từ những chất hữu cơ,
được tổ chức lại thành các sinh vật bậc thấp (cơ thể đơn bào) rồi tiếp tục
tiến hóa thành các sinh vật bậc cao (cơ thể đa bào). Sinh vật bậc cao với
những cơ quan có những hoạt động biệt hóa và chức năng khác nhau
nhưng đều nhằm đếïn một mục đích chung là duy trì sự sống cho cơ thể
sinh vật đó.
Vì vậy, từ thế giới vi mô sang vĩ mô, tất cả những màng ngăn cách
(màng nhân, màng tế bào, màng mạch, da, ) chỉ có tính chất tương đối do
chúng có quan hệ trao đổi chất, quan hệ tác động qua lại ảnh hưởng lẫn
nhau nhưng vẫn giữ được tính chất riêng của nó.
Như thế, sinh vật nói chung và con người nói riêng có tính thống
nhất giữa nội môi và ngoại môi. Thống nhất nhưng vẫn có mâu thuẩn vì
ngoại môi thì luôn luôn thay đổi, biến động trong khi nội môi thì đòi hỏi
một sự ổn định để có thể hoạt động bình thường. Muốn duy trì được sự ổn
định của nội môi, cơ thể phải có khả năng thích nghi bù trừ.
Quan niệm như thế sẽ giúp cho người thầy thuốc có được một thái
độ xử lý đúng về bệnh trong thực tế cuộc sống như sau:


14
1. Bệnh có tính chất của một cân bằng mới kém bền vững
Sự hằng định của nội môi là kết quả của một cân bằng sinh lý: sinh
sản = hủy hoại. Ví dụ glucose máu, hồng cầu,
Khi cơ thể bị bệnh vẫn có một sự cân bằng, đó là cân bằng bệnh lý:
Yếu tố gây bệnh ( hủy hoại bệnh lý = Phản ứng cơ thể ( phòng ngự sinh lý.
Cân bằng bệnh lý là một cân bằng kém bền, thay đổi theo hướng hồi
phục về cân bằng sinh lý (nếu cân bằng lệch về phòng ngự sinh lý) hoặc
diễn tiến theo chiều hướng ngày càng trầm trọng để đi đến kết thúc là tử
vong (nếu cân bằng nghiêng về hủy hoại bệnh lý).
Tóm lại, yếu tố gây bệnh tác hại lên cơ thể sống làm rối loạn hoạt
động bình thường kéo cơ thể về một chiều, phản ứng cơ thể qua sự phòng
ngự, kéo cơ thể về chiều đối nghịch. Kết quả sẽ tạo ra một cân bằng mới
kém bền vì, hoặc đưa đến hồi phục hoặc đi đến tử vong.
Thái độ cần có: Tôn trọng cân bằng sinh lý. Điều trị là nhằm hạn chế
những hiện tượng hủy hoại bệnh lý, tăng cường sự phòng ngự sinh lý
nhằm đưa cơ thể bị bệnh sớm trở về lại cân bằng sinh lý bình thường.
2. Bệnh giới hạn khả năng thích nghi của cơ thể
Trong khi ngoại môi luôn luôn thay đổi mà nội môi lại đòi hỏi một
sự hằng định để hoạt động. Tình trạng đó bắt buộc cơ thể bình thường phải
luôn luôn tìm cách vận dụng những cơ chế thích nghi mạnh mẽ để đối phó
lại với những thay đổi thường xuyên và đột ngột của môi trường và hoàn
cảnh sống.
Khi cơ thể bị bệnh, khả năng thích nghi vẫn còn song rõ ràng nó đã
bị hạn chế rất nhiều. Ví dụ khả năng điều hòa nhiệt ở người bị sốt, khả
năng điều hòa glucose máu trên những bệnh nhân xơ gan,
Thái độ cần có: Xem trọng công tác phòng bệnh, khuyến khích việc
rèn luyện thân thể (nhằm tăng sự thích nghi, tăng lề an toàn), bảo vệ khả
năng thích nghi của cơ thể, hạn chế những kích thích quá mạnh.
3. Bệnh hạn chế sinh hoạt bình thường

Con người là một động vật sống có tổ chức thành cộng đồng, xã hội.
Do vậy, phải xem xét bệnh dưới góc cạnh nầy để thấy rằng: Bệnh làm giới
hạn khả năng học tập, lao động, sáng tạo. Bệnh ảnh hưởng đến sinh hoạt
cá nhân và làm tăng phí tổn của xã hội qua công tác y tế.
Thái độ cần có: Công tác phòng chống phải nhằm trước tiên vào
những bệnh có tính chất xã hội, áp dụng phương châm phóng bệnh trong
điều trị để trả bệnh nhân về sinh hoạt bình thường sớm và ưu tiên bảo tồn
những cơ quan chức năng.

15
Tóm lại, một quan niệm đúng sai về bệnh sẽ quyết định thái độ đúng
sai trong công tác đấu tranh chống lại bệnh tật. Cho nên khi quan niệm về
bệnh, chỉ nên chú trọng đến những khái niệm có tính thực dụng hơn là
những khái niệm mang nhiều tính chất triết lý nhưng lại có tác dụng tiêu
cực, hạn chế việc ứng dụng trong thực tế.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Vũ Triệu An. 2000. Đại cương Sinh lý bệnh học. NXB Y Học, Hà Nội.
2. Nguyễn Ngọc Lanh. 2002. Khái niệm về bệnh. Trong: Sinh lý bệnh
(Nguyễn Ngọc Lanh chủ biên). Trang 16-30. NXB Y Học, Hà Nội.
3. Sigmund Freud. 1970. Phân tâm học nhập môn. Bản dịch của Nguyễn
Xuân Hiếu. Trang 5-263. NXB Khai Trí. Sài Gòn.


16
Chương 3
Khái niệm về bệnh nguyên


I. Định nghĩa
Bệnh nguyên học (Etiology) là môn học nghiên cứu về nguyên nhân
gây bệnh và điều kiện phát sinh ra bệnh.
Bệnh nguyên học có ý nghĩa rất quan trọng về mặt lý luận cũng như
thực hành. Về lý luận, nó thể hiện rõ lập trường duy tâm hay duy vật. Về
thực hành, nó quyết định kết quả của công tác phòng bệnh và điều trị
bệnh.
Theo Pavlov: ”Vấn đề phát hiện nguyên nhân gây bệnh là một vấn
đề cơ bản của y học và chỉ khi nào biết rõ những nguyên nhân ấy mới tiến
hành điều trị được chính xác, hơn nữa mới ngăn ngừa chúng đột nhập vào
cơ thể, và điều nầy là quan trọng bậc nhất”.
II. Một số quan niệm chưa đầy đủ về bệnh nguyên
1. Thuyết nguyên nhân đơn thuần
Thuyết nầy cho một bệnh là do một nguyên nhân quyết định và chỉ
một nguyên nhân ấy thôi cũng đủ để gây ra bệnh. Thuyết nguyên nhân đơn
thuần phát triển từ thời Pasteur và Kock phát hiện vi khuẩn là nguyên
nhân gây nên một số bệnh. Phát hiện ấy làm cho giới nghiên cứu thời bấy
giờ đi đến thái độ cực đoan, cho rằng vi khuẩn là nguyên nhân của mọi
bệnh tật, có vi khuẩn là có bệnh. Thực tế chứng minh ngược lại rằng có
nhiều bệnh không do vi khuẩn gây ra và có thể có sự hiện diện của vi
khuẩn nhưng không xảy ra bệnh.
Thuyết nầy phiến diện vì đã quá chú trọng đến nguyên nhân mà tách
cơ thể sống ra khỏi môi trường sống tức các điều kiện cho bệnh phát sinh.
Thuyết cũng không đề cập đến cơ chế bảo vệ của cơ thể và phủ nhận các
ảnh hưởng quan trọng khác trong bệnh nguyên học.
2. Thuyết điều kiện gây bệnh
Ngược với thuyết nguyên nhân đơn thuần, thuyết điều kiện cho rằng
bệnh phát sinh là do tác dụng tổng hợp của nhiều điều kiện khác nhau
(trong đó có cả nguyên nhân) và chúng có tác dụng như nhau, không có
điều kiện nào là chính, điều kiện nào là phụ cả. Do quan niệm đơn giản

như trên, thuyết không phản ảnh được tính đặc hiệu của bệnh.

17
Thuyết nầy mang rất nhiều tính chất tiêu cực do nó đưa ra cùng một
lúc nhiều điều kiện cần phải thỏa mãn thì mới giải quyết được vấn đề bệnh
tật.
Do không phân biệt được nguyên nhân và điều kiện hoặc không
phân biệt được vai trò của mỗi yếu tố trong quá trình gây bệnh nên có ảnh
hưởng xấu đến công tác phòng bệnh và điều trị.
3. Thuyết thể tạng
Thuyết thể tạng cho nguyên nhân gây bệnh là do đặc điểm của cơ
thể người bệnh, là do thể tạng (terrain = cơ địa) của họ, do di truyền.
Cơ sở của thuyết này là từ thuyết di truyền máy móc, không kể đến
các yếu tố ngoại cảnh, là cơ sở cho thuyết phân biệt chủng tộc và những
quan niệm duy tâm về bệnh phát triển.
Cũng giống như hai thuyết trên, thuyết nầy cũng phiến diện và tiêu
cực vì nó cho rằng không thể làm gì được với một bệnh đã được "chương
trình hóa" từ trước khi con người sinh ra.
Tuy nhiên cũng cần chú ý phân biệt rằng: có trường hợp thể tạng là
điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển, có trường hợp thể tạng chính là
nguyên nhân của bệnh.
III. Quan niệm khoa học về bệnh nguyên
1. Mối quan hệ giữa nguyên nhân và điều kiện gây bệnh
1.1. Nguyên nhân quyết định, điều kiện phát huy tác dụng của nguyên
nhân
Không có nguyên nhân thì bệnh không thể phát sinh, có nguyên
nhân nhưng thiếu điều kiện thì bệnh chưa phát sinh được.
Ví dụ bệnh lao chỉ xuất hiện khi có sự hiện diện của vi trùng Koch,
nhưng sự hiện diện của vi trùng Koch chưa đủ để gây ra bệnh nếu thiếu
các điều kiện như suy giảm sức đề kháng của cơ thể, suy dưỡng,

Nguyên nhân quyết định tính đặc hiệu của bệnh. Nguyên nhân và
những điều kiện nhất định gây nên một bệnh gọi chung là các yếu tố bệnh
nguyên.
1.2. Trong những hoàn cảnh nhất định, nguyên nhân có thể trở thành điều
kiện
Trong hoàn cảnh này, yếu tố bệnh nguyên này đóng vai trò nguyên
nhân nhưng trong hoàn cảnh khác cũng chính nó lại đóng vai trò điều
kiện. Ví dụ ăn uống kém chất bổ dưỡng, thiếu vệ sinh là nguyên nhân dẫn
đến suy dinh dưỡng nhưng lại là điều kiện làm dễ cho các bệnh nhiễm
khuẩn xảy ra.

18
2. Quy luật nhân quả trong bệnh nguyên học
2.1. Mỗi hậu quả đều có nguyên nhân và nguyên nhân có trước hậu quả
Nếu xem bệnh là hậu quả thì phải có nguyên nhân nhất định nào đó
tác động và nguyên nhân ấy đã tác động trước khi bệnh xảy ra. Quan niệm
nầy có ý nghĩa quyết định luận trong bệnh lý học.
Mặc dù trong y học hiện còn rất nhiều bệnh chưa rõ nguyên nhân,
nhưng điều đó không có nghĩa là do những bệnh ấy không có nguyên nhân
mà do trình độ khoa học chưa cho phép tìm ra nguyên nhân. Khoa học
phát triển không ngừng, mỗi ngày cái chưa biết phải lùi dần nhường chổ
cho cái đã biết. Tin tưởng vào quyết định luận khoa học sẽ làm tăng tính
tích cực nghiên cứu về nguyên nhân và các điều kiện gây bệnh, tránh được
quan niệm duy tâm thần bí về bệnh.
2.2. Có nguyên nhân nhưng không nhất thiết có hậu quả nếu như không có
điều kiện
Do tính chất phức tạp của hiện tượng sống, phản ứng tính của sinh
vật phụ thuộc vào nhiều điều kiện (yếu tố gây bệnh thường là bên ngoài
nên muôn hình muôn vẻ và yếu tố điều kiện thường là ở bên trong nên cực
kỳ phức tạp) do vậy phản ứng tính thay đổi tùy theo từng cá thể mà ta

thường gọi là yếu tố cơ địa. Vậy quy luật nhân quả đơn thuần không hoàn
toàn đúng trong y học.
2.3. Cùng một nguyên nhân có thể có những hậu quả khác nhau tùy điều
kiện cụ thể.
Cùng một loại vi khuẩn nhưng tùy nơi tác dụng và tùy thuộc đáp
ứng cơ thể mà hậu quả là bệnh cảnh có thể khác nhau. Người làm công tác
phòng chống bệnh phải vận dụng sự hiểu biết của mình để từ những hậu
quả khác biệt nhau đó tìm thấy được nguyên nhân hay nói cách khác phân
biệt được hiện tượng (hậu quả) với bản chất (nguyên nhân)
2.4. Một hậu quả có thể do nhiều nguyên nhân gây ra
Viêm, sốt là những quá trình bệnh lý điển hình nhưng lại do rất
nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên. Đây chính là khó khăn của người
thầy thuốc trong việc chẩn đoán bệnh. Cần phải tìm hiểu vai trò của
nguyên nhân và hậu quả trong những điều kiện cụ thể vật chất và tinh thần
của người bệnh đặc biệt là những điều kiện xã hội vì không thể tách rời
môi trường mà trong đó sự kiện xảy ra.
Như vậy, khái niệm về bệnh nguyên học phải có tính chất toàn
diện, nó nhìn nhận cả vai trò của nguyên nhân, điều kiện, thể tạng song
mỗi yếu tố có tầm quan trọng và vị trí nhất định trong quá trình gây bệnh.

19
Ngăn ngừa nguyên nhân, hạn chế tác dụng của điều kiện, tăng
cường hoạt động tốt của thể tạng là toàn bộ sự tích cực của công tác điều
trị và dự phòng.
IV. Phân loại bệnh nguyên
1. Nguyên nhân bên ngoài
1.1. Yếu tố cơ học
Chủ yếu là các chấn thương phá hủy tổ chức, tổn thương các cơ
quan bộ phận trong cơ thể. Ví dụ các vết thương do vũ khí, tai nạn,
Chấn thương nặng có thể dẫn đến sốc chấn thương phát sinh do cơ

chế thần kinh, thể dịch, (nhiễm độc từ tổ chức dập nát, rối loạn huyết
động, ).
1.2. Yếu tố vật lý học
- Nhiệt độ
Nhiệt độ cao trên 50
0
C gây thoái biến các protid tế bào, đặc biệt là
sẽ phá hủy các enzym hoặc làm mất tác dụng của chúng. Tùy theo từng
mức nhiệt tăng mà có thể gây ra từng mức độ thương tổn nặng nhẹ khác
nhau từ đỏ da, bỏng cho đến cháy đen.
Nhiệt độ thấp nhiều độ dưới 0
0
C gây nhiễm lạnh, rối loạn chuyển
hóa, tổn thương enzym tế bào,
- Tia phóng xạ
Tia phóng xạ gây bệnh qua 2 cơ chế chính: phá hủy tế bào đang phát
triển thông qua việc phá hủy một số enzym trong nhân tế bào (ví dụ:
phosphorylase, ATP-ase, oxydase) và gây tổn thương tế bào sống thông
qua các phản ứng hóa học xảy ra khi tia phóng xạ gặp nước (ví dụ: H
2
O
⎯→ 2H
+
+ O
-
; H
2
O + O
-
⎯→ H

2
O
2
).
- Dòng điện
Tác dụng gây bệnh của dòng điện phụ thuộc vào điện thê (điện thế
càng cao càng nguy hiểm) và vào tính chất của dòng điện (dòng điện 1
chiều tác dụng nhanh hơn điện xoay chiều). Dòng điện gây bệnh theo 3 cơ
chế:
+ Gây co cứng các cơ, nhất là cơ tim làm ngừng tim,
+ Gây bỏng nếu cường độ cao. Vết bỏng do điện rất lâu lành do tổ
chức bên dưới vết bỏng bị thoái hóa,
+ Gây hiện tượng điện ly vì cơ thể là môi trường điện giải.
- Áp suất

20
Thay đổi áp suất đột ngột có thể gây nên những tổn thương cơ học
như thủng màng nhĩ, tắc mạch, hôn mê, Thường gặp ở những pháo thủ,
phi công, thợ lặn,
- Âm thanh
Một báo cáo điều tra của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) công bố gần
đây cho biết tình trạng ô nhiễm tiếng ồn trên thế giới đã trở thành vấn đề
nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với chất lượng cuộc sống và sức
khoẻ con người.
Ô nhiễm tiếng ồn không chỉ ảnh hưởng đến thính lực mà còn là nguy
cơ dẫn đến các chứng bệnh như huyết áp cao, bệnh tim mạch, suy giảm trí
nhớ, bệnh thần kinh tổng hợp,
- Ánh sáng
Các nhà môi trường cho biết ô nhiễm ánh sáng tăng khoảng 10%
mỗi năm kể từ những năm 60 của thế kỷ XX, và cũng chỉ mới gần đây con

người mới thực sự quan tâm đến vấn đề nầy. Ánh sáng (nhân tạo) cũng là
một yếu tố nguy cơ đối với sức khoẻ con người, nó có thể là nhân tố làm
tăng tỷ lệ ung thư, trầm cảm và các bệnh khác.
1.3. Yếu tố hóa học
Tùy theo chất hóa học mà tác dụng gây bệnh có khác nhau. Các
chất kim loại như chì, thủy ngân, đồng, arsen, gây tổn thương các enzym
như anhydrase carbonic, các men có nhóm SH, Các chất hữu cơ như các
alkaloid, glucoside chiết xuất từ thảo mộc hay những chất do các động vật
tiết ra như nọc rắn, nọc ong, tùy từng loại mà có những tác dụng như vỡ
hồng cầu, sốc,
1.4. Yếu tố sinh học
Các sinh vật từ đơn bào đến đa bào, rất nhiều loại có thể gây bệnh
cho người. Có thể kể từ các loại thảo mộc như nấm đến các lọai như virus,
vi khuẩn và ký sinh vật. Trong yếu tố sinh học đặc biệt phải kể đến yếu tố
con người. Con người cũng là yếu tố bệnh nguyên thông qua yếu tố xã hội.
1.5. Yếu tố xã hội
Con người là một sinh vật tổ chức thành xã hội, có lao động, có tiến
hóa, có mục đích đấu tranh với thiên nhiên để cải thiện cuộc sống. Nhưng
các hoạt động đó của xã hội lại có tác dụng trở lại con người như một yếu
tố bệnh nguyên quan trọng cần được quan tâm. Thực vậy, vấn đề bệnh lý
có liên quan chặt chẽ với sự tiến triển của xã hội, với tổ chức xã hội và với
với yếu tố tâm lý xã hội.
2. Nguyên nhân bên trong

21
2.1. Yếu tố di truyền
Sự phát triển của di truyền học trong y học cho thấy rõ yếu tố di
truyền có thể là nguyên nhân của một số bệnh tật bẩm sinh nhưng cũng có
thể chỉ đóng vai trò điều kiện phát sinh trong một số bệnh. Tuy nhiên
không thể phủ nhận vai trò của ngoại cảnh tác động lên nhiễm sắc thể gây

những đột biến nguy hiểm cho sức khỏe của con người. Tuy vậy, sự hiểu
biết về các quy luật di truyền trong bệnh nguyên học đã giúp cho việc
phòng tránh cũng như điều trị kịp thời một số bệnh.
2.2. Yếu tố thể tạng
Thể tạng hay cơ địa là tổng hợp các đặc điểm chức năng và hình thái
của cơ thể, hình thành nên trên cơ sở di truyền và quyết định phản ứng
tính của cơ thể đối với tác nhân bên ngoài. Đứng trước một yếu tố gây
bệnh, những cơ thể có thể tạng khác nhau sẽ có các đáp ứng khác nhau.
Nói cách khác, thể tạng là cơ sở vật chất của tính phản ứng, chịu ảnh
hưởng của các yếu tố như tuổi, giới, hoạt động thần kinh nội tiết và nhất là
môi trường sống. Do vậy, thể tạng không phải bất biến mà có thể thay đổi
khi các yếu tố ảnh hưởng thay đổi.
Hai loại yếu tố bệnh nguyên bên trong và bên ngoài có quan hệ mật
thiết với nhau. Một nguyên nhân bên ngoài tác động lên cơ thể chỉ có thể
gây được bệnh khi nó làm thay đổi một cách có hiệu quả sự hằng định của
nội môi mà các yếu tố di truyền và thể tạng lại có ảnh hưởng lớn trên sự
hằng định đó. Ngược lại, thể tạng cũng như di truyền lại chịu ảnh hưởng
của nội môi mà có thể nói gọn thể tạng là do ngoại môi tác động lên di
truyền. Nói một cách khác, thể tạng là hậu quả của cái quá khứ cá biệt trên
cái hiện tại cá biệt của từng cá thể.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Vũ Triệu An. 2000. Đại cương Sinh lý bệnh học. NXB Y Học, Hà Nội.
2. Nguyễn Ngọc Lanh. 2002. Đại cương về bệnh nguyên học. Trong: Sinh lý
bệnh (Nguyễn Ngọc Lanh chủ biên). Trang 31-42. NXB Y Học, Hà Nội.

22
Chương 4

Khái niệm về bệnh sinh

I. Định nghĩa
Bênh sinh học (Pathogenesis) là môn học nghiên cứu về cơ chế phát
sinh, phát triển, tiến triển và kết thúc của bệnh.
Nếu như bệnh nguyên học là nhằm nghiên cứu bệnh tật do đâu mà
có thì bệnh sinh học lại nghiên cứu bệnh tật xảy ra trong những trường
hợp nào? yếu tố gây bệnh đã tác động lên cơ thể ra sao? quá trình bệnh lý
diễn tiến như thế nào? tuân theo những quy luật gì?
Trong điều trị học, nếu biết được nguyên nhân để điều trị là tốt nhất
nhưng nếu không biết được nguyên nhân thì điều trị theo cơ chế bệnh sinh
cũng có thể giúp ngăn chận sớm những phát triển xấu của bệnh và có thể
giúp hạn chế được những tác hại của nó.
II. Một số vấn đề quan trọng trong bệnh sinh học
1. Vai trò của yếu tố bệnh nguyên
Yếu tố bệnh nguyên đóng vai trò rất quan trọng trong diễn tiến của
bệnh. Yếu tố bệnh nguyên tác động tùy thuộc:
- Cường độ: một số yếu tố bình thường vô hại nhưng nếu quá lớn
(âm thanh, từ trường) sẽ trở thành yếu tố gây bệnh.
- Thời gian: tiêm vi khuẩn liều nhỏ, lập lại nhiều lần gây chết súc vật
thí nghiệm.Tiếng ồn thường xuyên gây tâm lý căng thẳng, cao huyết áp,
suy nhược thần kinh.
- Vị trí: lậu cầu nhiễm vào giác mạc gây viêm cấp, nhiễm vào
đường sinh dục gây viêm mãn. Lao cũng vậy.
2. Vai trò của phản ứng tính trong bệnh sinh
Phản ứng tính là đặc tính của cơ thể đáp ứng lại kích thích bên
ngoài. Nó biểu hiện hình thái quan hệ giữa cơ thể và ngoại môi. Phản ứng
tính thay đổi tùy theo từng cá thể. Đối với cùng một yếu tố bệnh nguyên
nhưng mỗi người phản ứng mỗi khác (chấn thương, viêm phổi).
Những yếu tố dễ ảnh hưởng đến phản ứng tính:

- Tuổi: "mỗi tuổi mỗi bệnh" là nhận xét phổ biến trong dân gian.
Thực vậy, một số bệnh là đặc thù của tuổi trẻ như sởi, ho gà, đậu
mùa, các bệnh tim mạch, ung thư thường gặp ở tuổi già.

23
- Giới: một số bệnh thường gặp ở nam giới như loét dạ dày-tá tràng,
nhồi máu cơ tim, ung thư phổi, Ngược lại, hay gặp ở nữ các bệnh viêm
túi mật, ung thư vú, u xơ hoặc ung thư tử cung, viêm phần phụ, Điều nầy
được giải thích do khác biệt về hoạt động thần kinh nội tiết hoặc do sự
khác biệt về công việc làm, về sinh hoạt, thói quen hằng ngày,
- Hoạt động thần kinh nội tiết: ảnh hưởng rõ đến phản ứng tính và
qua đó ảnh hưởng đến quá trình bệnh sinh. Trên súc vật thí nghiệm khi
gây hưng phấn thần kinh (bằng cafein hay phénamin) thì phản ứng viêm sẽ
mạnh hơắo với các con vật bị ức chế thần kinh (bằng bromur). Ở người,
vào những lúc có thay đổi hoạt động nội tiết như dậy thì, tiền mãn kinh,
thường thấy thay đổi tính tình và cả phản ứng đối với những yếu tố bệnh
nguyên nữa.
- Yếu tố môi trường: ngoại môi ảnh hưởng đến phản ứng tính qua
những yếu tố như ánh sáng, nhiệt độ, áp lực, địa phương và nhất là dinh
dưỡng, Ánh sáng quá mạnh, nhiệt độ cao làm cho thần kinh dễ hưng
phấn. Tình trạng thiếu ăn, đặc biệt thiếu protid làm phản ứng sút kém, dễ
nhiễm khuẩn. Ngày nay người ta chú ý đến nhịp sinh học của cơ thể vào
các thời điểm trong ngày, tháng, năm để đưa thuốc vào cơ thể hoặc can
thiệp phẩu thuật sao cho có hiệu quả cao nhất.
3. Mối liên quan giữa toàn thân và cục bộ trong quá trình bệnh sinh
- Toàn thân và cục bộ: toàn thân khỏe mạnh thì sức đề kháng cục bộ
sẽ tốt, do đó yếu tố gây bệnh sẽ khó xâm nhập vào hoặc nếu có thì cũng
nhanh chóng bị loại bỏ. Vết thương cục bộ sẽ chóng lành nếu người bệnh
được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng.
- Cục bộ và toàn thân: một tổn thương tại chỗ, gây nên bất cứ do yếu

tố bệnh nguyên nào, xét cho cùng cũng sẽ ảnh hưởng đến toàn thân. Cho
nên cần quan niệm rằng quá trình bệnh lý cục bộ là biểu hiện tại chổ của
tình trạng bệnh lý toàn thân.
4. Vòng xoắn bệnh lý và khâu chính.
Trong quá trình phát triển, bệnh thường tiến triển qua nhiều giai
đoạn gọi là khâu, những khâu đó liên tiếp theo một trình tự nhất định và có
liên quan mật thiết với nhau. Khâu trước là tiền đề, tạo điều kiện cho khâu
sau hình thành và phát triển cho đến khi bệnh kết thúc. Chính bệnh sinh
học nghiên cứu về cơ chế bệnh sinh của các khâu đó cũng như mối tương
tác giữa chúng với nhau. Đặc biệt quan trọng là trong nhiều quá trình bệnh
lý, các khâu sau thường tác động ngược trở lại khâu trước làm cho bệnh
ngày càng nặng thêm gọi là vòng xoắn bệnh lý.

×