A. PHẦN MỞ ĐẦU:
I. Lý do chọn đề tài:
- Vài năm trở lại đây, ngành giáo dục cả nước đẩy mạnh việc đổi mới
phương pháp trong dạy học theo tinh thần phát động của Bộ Giáo dục & Đào tạo.
Riêng những giáo viên dạy bộ môn Ngữ văn cũng có sự hưởng ứng tích cực và đã
đạt được một số kết quả đáng khích lệ.
- Tuy nhiên, một thực tế không thể phủ nhận là việc dạy và học bộ môn Ngữ
văn trong nhà trường còn một số hạn chế nhất định. Đặc biệt là tình trạng học sinh
ít hoặc không hứng thú, thậm chí quay lưng lại với môn văn ngày càng phổ biến.
Đây là một điều mà khiến cho những nhà giáo dục tâm huyết nói chung cũng như
những giáo viên dạy văn nói riêng vô cùng băn khoăn và trăn trở.
- Là một giáo viên dạy văn, cũng là một người yêu nghề, yêu trẻ, tôi cũng có
cùng nỗi niềm băn khoăn và trăn trở như trên. Qua một thời gian công tác, tôi đã áp
dụng nhiều phương pháp nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy- học văn. Đặc
biệt, tôi luôn cố gắng làm sao để tạo ra sự hứng thú cho các em học sinh trong giờ
học văn.
- Xuất phát từ những điều nói trên, tôi đã cố gắng nghiên cứu, tham khảo
đồng thời tạo ra và áp dụng cho mình một phương pháp dạy học mới để giờ học
văn thật sự là giờ học lí thú và đạt được kết quả cao. Phương pháp mà tôi chọn có
đề tài đó là: “Phát huy hiệu quả của tư liệu dạy học trực quan trong tiết đọc văn
lớp 12”
II. Mục đích nhiên cứu:
- Học sinh lớp 12 là một đối tượng khá quan trọng. Ngoài việc hình thành
thói quen học tốt ở học sinh, tạo được sự hứng thú trong giờ học văn nói chung và
tiết đọc văn nói riêng thì việc làm sao cho các em đạt được kết quả cao trong kì thi
tốt nghiệp THPT cần được quan tâm.
- Qua một thời gian giảng dạy 12, tôi cũng đã từng áp dụng đề tài “Phát huy
hiệu quả của tư liệu dạy học trực quan trong tiết đọc văn lớp 12” và đạt được một
số kết quả nhất định. Qua đó, tôi cũng đã tự nâng cao được năng lực chuyên môn
của bản thân nhưng vẫn còn một số hạn chế, vướng mắc cần được khắc phục.
Chính vì điều đó, tôi muốn thông qua việc nghiên cứu, viết sáng kiến kinh nghiệm
này để có thể trao đổi với đồng nghiệp, từ đó tôi có thể trau dồi, học hỏi nhiều hơn
từ những kinh nghiệm quý báu của các đồng nghiệp trong và ngoài đơn vị.
III. Đối tượng ngiên cứu:
- Có nhiều phương pháp để góp phần nâng cao chất lượng dạy- học văn
nhưng trong phạm vi đề tài này tôi chỉ tập trung vào các tiết đọc văn thuộc phần
văn học Việt Nam ở lớp 12 và đối tượng học sinh cụ thể là học sinh lớp 12.
1
- Mặc dù vấn đề này ít nhiều đã có người nghiên cứu, song với lòng nhiệt
thành cùng với kinh nghiệm thực tế công tác giảng dạy, tôi đã cố gắng viết sáng
kiến kinh nghiệm này vì đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ và với mong
muốn tiếp tục được trao đổi và mong nhận được nhiều sự góp ý chân thành.
IV. Phương pháp nghiên cứu:
- Để viết được sáng kiến kinh nghiệm này, tôi đã thu nhập thông tin, đúc kết
kinh nghiệm sau một thời gian giảng dạy. Cụ thể là lớp 12A3 ( năm học 2011-
2012) và lớp 12A2 (năm học 2012-2013).
- Một số phương pháp chủ yếu được sử dụng:
+ Phương pháp thu thập thông tin.
+ Phương pháp phát vấn.
+ Phương pháp phân tích.
+ Phương pháp so sánh.
+ Phương pháp tổng hợp,…
2
PHẦN B: PHẦN NỘI DUNG:
I. Cơ sở lý luận:
- Ngày xưa, trong giờ dạy- học văn, người giáo viên cốt yếu dạy sao cho đầy
đủ kiến thức, truyền đạt hết nội dung bài học đến với học sinh nhưng không cần
thiết học sinh có tiếp nhận được hay không. Ngày nay, trong giờ dạy- học văn,
trước tiên người giáo viên cần phải tạo ra sự hứng thú cho học sinh.
- Từ việc tạo ra sự hứng thú cho học sinh, chắc chắn tiết học sẽ mang lại
không khí thân thiện. Và chắc chắn tiết học sẽ đạt được kết quả cao hơn.
- Vì vậy, mỗi giáo viên khi lên lớp không phải chỉ chú ý lo làm sao giảng bài
cho đủ, cho hết lượng kiến thức, kịp phân phối chương trình, quan trọng hơn là họ
phải tìm tòi những biện pháp mới để tạo sự hứng thú cho học sinh ngày càng yêu
thích học môn văn và nâng cao hon chất lượng của bộ môn. Vì vậy phương pháp
“Phát huy hiệu quả của tư liệu dạy học trực quan trong tiết đọc văn lớp 12”cần
được nghiên cứu và áp dụng.
II. Cơ sở thực tiễn:
- Trên thực tế, nhiều học sinh trung học phổ thông nói chung và học sinh ở
khối lớp 12 nói riêng chưa mặn mà với tiết đọc văn. Có chăng, các em chỉ là học
đối phó, học cho xong. Vì vậy khối lượng kiến thức và kĩ năng mà học sinh thu
nhận được chẳng được bao nhiêu. Lâu dần, dẫn đến tình trạng có một số học sinh
học yếu môn văn một cách nghiêm trọng.
- Nhắc đến nguyên nhân thì có nhiều và hầu như tất cả chúng ta đều đã biết.
Ở đây, tôi chỉ xin bàn đến biện pháp khắc phục. Và một trong những đề xuất đó là
việc nâng cao chất lượng dạy học văn bằng cách sử dụng hiệu quả các tư liệu dạy
học trực quan trong tiết đọc văn, đặc biệt là tiết đọc văn văn học Việt Nam lớp 12.
- Thực tiễn cho thấy, tiết đọc văn sẽ hấp dẫn, đạt hiệu quả cao hơn, tạo được
sự hứng thú ở học sinh nếu như người giáo viên biết sử dụng một cách hợp lí
những tư liệu dạy học trực quan khi khai thác văn bản. Tư liệu dạy học trực quan sẽ
giúp các em có bước cảm nhận đầu tiên bằng sự trực giác trước khi đến với lớp
nghĩa ẩn dưới tầng ngôn từ. Điều đó sẽ giúp các em có thêm một bước để khắc sâu
kiến thức.
- Chính vì điều đó, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Phát huy hiệu quả của tư
liệu dạy học trực quan trong tiết đọc văn lớp 12”nhằm nâng cao chất lượng dạy-
học văn trong nhà trường, nhất là đối với lớp 12.
III. Thực trạng:
- Vài năm trở lại đây, chúng ta thấy được kết quả học văn không cao. Điều
đó thể hiện phần nào qua kết quả của các kì thi tốt nghiệp trung học phổ thông.
Cùng chung với thực trạng nói trên, học sinh tỉnh Long An của chúng ta cũng có
3
kết quả học văn không cao. Đó là một điều đáng quan tâm và cần có biện pháp cải
thiện và nâng cao chất lượng dạy- học văn.
- Còn riêng đối với các trường trung học phổ thông đóng trên địa bàn vùng
sâu thì điều ấy lại đáng lo ngại hơn. Hầu hết các em ở vùng này có khả năng học
tập kém, chất lượng tuyển sinh lớp 10 không cao, cùng với việc hầu hết các em có
hoàn cảnh gia đình gặp nhiều khó khăn. Tất cả những điều đó đã ảnh hưởng rất lớn
đến kết quả học tập của các em nói chung cũng như bộ môn văn nói riêng. Đơn cử
như ở trường THCS & THPT Mỹ Quý, kết quả học sinh lớp 12 đỗ tốt tốt nghiệp
của bộ môn văn hai năm đầu có học sinh 12 tham gia thi ( năm học 2010-2011 và
năm học 2011-2012) thì tỉ lệ khá thấp. Cụ thể tỉ lệ năm học 2010-2011 chưa đạt
70%, tỉ lệ năm học 2011-2012 có cao hơn đôi chút nhưng cũng chưa đạt được 80%.
Điều này khiến cho tập thể Hội đồng sư phạm nhà trường cũng như các giáo viên
đảm trách bộ môn văn phải băn khoăn và tìm hướng khắc phục có hiệu quả hơn.
IV. Một số biện pháp nhằm phát huy hiệu quả của tư liệu dạy học trực quan
trong tiết đọc văn- văn học Việt Nam lớp 12:
1. Một số khái niệm có liên quan:
- Trong dạy học, xưa nay vấn đề trực quan đóng một vai trò hết sức quan
trọng. Một trong những vấn đề đem đến hiệu quả trong giảng dạy là việc lựa chọn
và sử dụng yếu tố trực quan như thế nào trong dạy học. Và các khái niệm liên quan
đến trực quan bao gồm: trực quan, phương tiện trực quan, phương tiện dạy học. Để
làm rõ một số khái niệm nói trên, xin mượn lời của GS.TSKH Thái Duy Tuyên mà
ông đã trình bày trong quyển Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới (NXB
Giáo dục, 2008)
1.1.Trực quan:
- Trong hoạt động dạy học, trực quan được hiểu là khái niệm dùng để biểu
thị tính chất của hoạt động nhận thức, trong đó thông tin thu được từ các sự vật
hiện tượng của thế giới bên ngoài nhờ sự cảm nhận trực tiếp của các cơ quan cảm
giác con người.
1.2. Phương tiện trực quan:
- Phương tiện trực quan là những công cụ mà thầy giáo và học sinh sử dụng
trong quá trình dạy học nhằm tạo ra các biểu tượng, hình thành những khái niệm
cho học sinh thông qua sự tri giác trực tiếp thí dụ như các vật tự nhiên cây, hoa quả,
mô hình, biểu đồ, phim ảnh để dạy học
1.3.Phương tiện dạy học:
- Phương tiện dạy học là những công cụ mà thầy giáo và học sinh sử dụng
trong quá trình dạy học nhằm đạt được mục đích dạy học đó là: các vật thật, các vật
tượng trưng ( bản đồ, sơ đồ, biểu đồ), các vật tạo hình ( tranh ảnh, mô hình, hình
vẽ, phim). Thí nghiệm và các thiết bị thí nghiệm, các phương tiện mô tả đối tượng
4
và hiện tượng bằng lời, bằng kí hiệu ( sách giáo khoa, sách hướng dẫn, tài liệu in,
các công thức, phương trình ); các phương tiện kỹ thuật dạy học ( phương tiện nghe
nhìn, máy vi tính, máy chiếu, camera )
- Như khái niệm đã nói ở trên, phương tiện dạy học là một khái niệm rất
rộng. Và rõ ràng tư liệu dạy học cũng là một phần của phương tiện dạy học. Nhưng
ở đây với nội dung sáng kiến kinh nghiệm này, người viết chỉ xin đề cập đến vấn
đề tư liệu dạy học trực quan.
2. Một số tư liệu dạy học trực quan:
- Như đã nói ở trên, các tư liệu dạy học trực quan là rất nhiều. Nhưng ở đây
tôi chỉ xin đề cập đến những tư liệu dạy học trực quan có liên quan đến bộ môn và
thông dụng, đồng thời thông qua thực tế sử dụng mà tôi cảm thấy đạt được nhiều
hiệu quả nhất. Bên cạnh đó, vì nội dung có hạn nên tôi chỉ xin đưa ra kết quả ưng ý
nhất cho một tư liệu dạy học trực quan mà tôi đã áp dụng hiệu quả nhất đó là tư liệu
dạy học trực quan bằng trò chơi.
2.1. Hình ảnh:
- Việc sử dụng hình ảnh trong giảng dạy bộ môn Ngữ văn đã được chú ý từ
rất lâu. Và nó cũng được Bộ Giáo dục & Đào tạo đưa vào sách giáo khoa Ngữ văn
của các cấp học, trong đó có lớp 12. Và nó đã giúp ích phần nào cho học sinh trong
việc nắm bắt một số thông tin cần thiết khi tiếp cận văn bản văn học. Hình ảnh
minh họa có thể sử dụng vào một số hoạt động sau: để giới thiệu bài; để minh họa,
tìm hiểu một chi tiết, nội dung; để củng cố bài,
- Tuy nhiên, việc sử dụng hình ảnh trong giảng dạy bộ môn Ngữ văn hiện
nay, theo ý kiến chủ quan của tôi thì nó vẫn còn một số hạn chế nhất định:
+ Việc minh họa trong sách giáo khoa còn quá sơ sài ( Hầu như chúng ta chỉ
dừng lại ở việc minh họa chân dung tác giả).
+ Các hình ảnh trong sách giáo khoa thiếu tính thẩm mỹ ( Vì tất cả các hình
ảnh đều là hình trắng đen nên khi học sinh nhìn vào cũng không thể thấy rõ và
không mang tính kích thích cho lắm).
+ Nguồn tư liệu ảnh trong thư viện tuy là ảnh màu nhưng lại rất ít và chủ yếu
là hình ảnh về tác giả.
- Từ đó, người viết xin có một số ý kiến đề xuất như sau:
+ Người giáo viên phải linh hoạt, chủ động sưu tầm hoặc cho các em học
sinh sưu tầm các hình ảnh mà mình cho là cần thiết để minh họa bài dạy có hiệu
quả hơn.
* Ví dụ: Khi chúng ta dạy bài Tuyên ngôn độc lập- Hồ Chí Minh, chúng ta
có thể sưu tầm thêm một số tấm ảnh liên quan đến buổi lễ để học sinh có hình dung
phần nào về không khí của buổi lễ hôm ấy. Hay khi chúng ta dạy bài Người lái đò
5
Sông Đà- Nguyễn Tuân, ta có thể sưu tầm một vài bức ảnh về con sông Đà và thử
hỏi học sinh xem các em có nhận xét gì hình ảnh con sông trong bức ảnh so với con
sông trong trang văn của Nguyễn Tuân.
+ Ngoài ra, giáo viên có thể mạnh dạn yêu cầu học sinh tự vẽ bức tranh theo
trí tưởng tượng của mình dựa theo nội dung bài học. Đây là một công việc khá mới
mẻ ở trường phổ thông, đòi hỏi người giáo viên phải linh hoạt và khéo léo. Nếu áp
dụng tốt thì ngoài việc giúp cho hoc sinh có thể tự củng cố kiến thức mà còn giúp
cho các em tăng cường khả năng sáng tạo, kích thích trí tưởng tượng.
* Ví dụ: Sau khi học xong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa- Nguyễn Minh
Châu, giáo viên có thể cho học sinh thực hiện yêu cầu sau: “ Em hãy vẽ một bức
ảnh theo trí tưởng tượng của mình về bức ảnh mà nghệ sĩ Phùng đã chụp được và
hãy thể hiện cảm nhận của mình một cách ngắn gọn về bức ảnh ấy”. Khi giao
nhiệm ấy có hai điều mà giáo viên nên lưu ý, đó là: thứ nhất, khi yêu cầu vẽ tranh
thì phải kèm theo lời bình của các em; thứ hai, phải yêu cầu các em làm việc theo
nhóm và làm việc ngoài giờ, có sự ghi nhận, báo cáo sự nghiêm túc trong quá trình
thảo luận của các thành viên trong nhóm.
2.2. Sơ đồ, bản đồ:
- Việc sử dụng sơ đồ trong việc dạy học văn cũng không phải xa lạ gì tuy còn
là khá ít. Còn việc sử dụng bản đồ ( gồm bản đồ địa lí và bản đồ tư duy- một khái
niệm mới xuất hiện gần đây) trong việc dạy học văn là rất ít. Và cả hai tư liệu này
hầu như không xuất hiện trong sách giáo khoa Ngữ văn hay đồ dùng dạy học dành
cho môn văn trong phòng thiết bị, thư viện của trường học. Tuy nhiên, khi xét đến
lợi ích thiết thực mà nó mang lại là khá lớn nên việc nên cần sử dụng nó trong một
số giờ đọc văn là rất cần thiết.
- Từ đó, người viết xin có một số ý kiến đề xuất như sau:
+ Về việc sử dụng sơ đồ: nó rất thích hợp cho các tiết ôn tập văn học hoặc
phần củng cố bài học của tiết đọc văn. Việc sử dụng sơ đồ để sơ đồ hóa nội dung
bài học giúp học sinh nắm vững kiến thức một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng và tiết
kiệm được nhiều thời gian.
+ Về việc sử dụng bản đồ địa lí: như chúng ta đã biết văn học và lịch sử, kể
cả địa lí có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Chính vì vậy, khi dạy những bài văn có
liên quan đến kiến thức lịch sử hay địa lí thì chúng ta cần phải sử dụng một số bản
đồ thích hợp để minh họa.
* Ví dụ: Khi dạy bài Tây Tiến- Quang Dũng khi cần thuyết minh về địa bàn
hoạt động của đoàn quân Tây Tiến ta có thể minh họa bằng bản đồ hành quân của
đội quân này. Hay khi dạy bài Ai đã đặt tên cho dòng sông?- Hoàng Phủ Ngọc
Tường Ta có thể minh họa thủy trình sông Hương bằng bản đồ để cho học sinh thấy
rõ hơn về dòng chảy của dòng sông này.
6
+ Việc sử dụng bản đồ tư duy: Đây là một khái niệm mới, nó rất thích hợp
với cách học hiện đại, nhất là các em học sinh 12- khi mà áp lực học tập rất lớn. Nó
là hình thức ghi chép nhằm: tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý
chính của một nội dung, hệ thống hóa một chủ đề, chương, phần, giai đoạn…, là
hình thức ghi chép theo mạch tư duy của mỗi người bằng việc kết hợp nét vẽ, màu
sắc và chữ viết. Một số lợi ích mà nó mang lại: giúp giáo viên tổng quan kiến thức
mà học sinh đã học, vừa học; giúp giáo viên bổ sung được kiến thức khi thấy cần
thiết; giúp giáo viên thích thú, gây trực quan mới; tiết kiệm thời gian, tăng sự linh
hoạt trong bài giảng; giúp học sinh nắm được kiến thức thông qua một “sơ đồ” thể
hiện sự liên kết chặt chẽ của tri thức; giúp giáo viên và học sinh cùng làm việc tập
thể một cách tích cực, sáng tạo. Với bản đồ tư duy, nó rất thích hợp dùng để củng
cố nội dung của cả văn bản hoặc bài khái quát, bài ôn tập phần đọc văn.
* Ví dụ: Khi dạy bài Khái quát văn học Việt Nam, sau khi dạy xong chúng ta
có thể yêu cầu học sinh nhớ lại kiến thức thông qua việc vẽ bản đồ tư duy. Chúng
ta có thể yêu cầu các em khái quát từng nội dung của bài học hoặc cả bài tùy ý.
Hoặc khi dạy đến bài Ôn tập phần văn học, cúng ta cũng có thể yêu cầu các em áp
dụng việc vẽ bản đồ tư duy này.
2.3. Bảng phụ:
- Đây là một công cụ hỗ trợ khá hiệu quả cho giáo viên và đã được sử dụng
khá lâu trong các giờ dạy học nói chung và giờ dạy văn nói riêng. Nó có nhiều ưu
điểm sau: dễ làm, gọn nhẹ, ít hao tốn,…Và trong giờ đọc văn nó thường được sử
dụng với những mục đích sau: ghi đoạn thơ, đoạn văn cần phân tích, bình giảng
hay minh họa; ghi kết quả thảo luận của học sinh; lập bảng kẻ sẵn rồi cho học sinh
hoàn thành theo yêu cầu của giáo viên; …
* Ví dụ: khi dạy bài Đất nước- Ngyễn Khoa Điềm, vì đây là bài thơ khá dài
nên chúng ta có thể ghi một số đoạn lên bảng phụ để thuận lợi hơn trong việc thầy
và trò cùng tìm hiểu, khám phá đoạn thơ. Hoặc trong tiết Ôn tập phần văn học, để
ôn lại kiến thức cơ bản của các văn bản đã học, chúng ta có thể kẻ bảng với tên các
văn bản đã điền vào sẵn và tương ứng là các phần để trống như bố cục, chủ đề,
nghệ thuật, ý nghĩa văn bản,…sau đó yêu cầu các em học sinh hoàn thành.
2.4. Công nghệ thông tin:
- Vài năm trở lại đây, khi Bộ Giáo dục & Đào tạo phát động phong trào Đổi
mới phương pháp dạy học và Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học thì việc
sử dụng công nghệ thông tin trong việc dạy học được ứng dụng rộng rãi. Lợi ích
của các tư liệu liên quan đến công nghệ thông tin mang lại là rất lớn. Nó giúp cho
giáo viên có thể dễ dàng minh họa bài dạy của mình; giúp giáo viên chủ động tiết
kiệm thời gian; giúp cho học sinh hiểu hơn về bài học; giúp học sinh cảm thấy
hứng thú hơn trong giờ học,… Sau đây, người viết xin đề cập đến một số tư liệu
7
công nghệ thông tin quen thuộc như: đoạn video, đoạn âm thanh Mp3, hình ảnh,
bài giảng Powerpoint, bài giảng Violet,…
* Ví dụ: Ở chương trình Ngữ văn 12, khi dạy bài Rừng xà nu- Nuyễn Trung
Thành, giáo viên trình chiếu những hình ảnh về Tây Nguyên trong các trận chiến ác
liệt thời kì chống Mĩ hay các hình ảnh ảnh của cánh rừng xà nu bát ngát, bạt ngàn;
khi dạy bài Vợ nhặt- Kim Lân ta có thể chiếu đoạn Video về nạn đói khủng khiếp
năm 1945 để học sinh có thể hình dung về bối cảnh của nạn đói ấy; hay khi dạy về
bài thơ Đất nước- Nguyễn Khoa Điềm ta có thể cho học sinh xem các đoạn Video
hoặc hình ảnh có liên quan đến Vịnh Hạ Long, hòn trống mái, núi bút non nghiên,
…để minh họa bài học.
2.5. Trò chơi:
- Từ xưa đến nay, do mọi người quá đề cao tính chất nghiêm túc của một tiết
học mà yếu tố trò chơi ít được nhắc đến và áp dụng. Nếu có chăng cũng dành cho
những tiết ngoại khóa hoặc tiết học ngoài giờ lên lớp hay hướng nghiệp,…Ở đây,
người viết xin mạnh dạn đề xuất: nếu thấy hợp lí thì cần áp dụng hình thức trò chơi
vào một số tiết học cụ thể để tạo ra không khí vui tươi và đạt hiệu quả cao trong tiết
học. Riêng đối với đối tượng học sinh 12, vì áp lực học tập và áp lực thi là khá lớn
thì hình thức tổ chức trò chơi trong tiết học cần được phát huy. Đặc biệt ở những
tiết đọc văn. Một số trò chơi mà người viết xin đề xuất: Trò chơi ô chữ, trò chơi
bốc thăm trả lời có thưởng, trò chơi ai nhanh hơn,…
* Ví dụ: Trong một số tiết bám sát, hoặc tiết Ôn tập phần văn học, giáo viên
chủ động soạn một số câu hỏi theo ba mức độ: tái hiện, thông hiểu, vận dụng và
mỗi loại câu hỏi ấy cho vào một hộp. Sau đó chúng ta quy định như sau: mỗi học
sinh khi lên tham gia trò chơi thì phải bốc thăm và trả lời câu hỏi ở ô thứ nhất
trước, trả lời được câu hỏi ở ô thứ nhất sẽ sang bốc thăm câu hỏi ở ô thứ hai và cuối
cùng là ô thứ ba. Và giáo viên cần chú ý để tạo tính kích thích, hấp dẫn cho trò
chơi, chúng ta có thể thêm vào hộp câu hỏi số ba một số thăm may mắn bằng
những phần quà nhỏ. Và nếu học sinh bốc được thăm này thì khỏi cần phải trả lời
câu hỏi. Nhưng giáo viên cần chú ý là tỉ lệ các câu hỏi may mắn không nên vượt
quá 5% trong tổng số câu hỏi ở hộp.
- Một số kết quả đáng lưu ý khi áp dụng tư liệu dạy học trực quan bằng trò
chơi:
+ Đa số các em học sinh cảm thấy rất thích thú.
+ Kết quả khắc sâu kiến thức ở các em được nâng cao rõ rệt.
+ Giáo viên cảm thấy hứng khởi hơn trong tiết dạy văn.
+ Tiết học văn trở nên lí thú và thân thiện hơn.
8
+ Kết quả khảo sát về sự hứng thú của học sinh đối với việc sử dụng tư liệu
dạy học trực quan bằng trò chơi ( Kết quả được khảo sát ở lớp 12A2, năm học
2012-2013):
ĐẦU HỌC KÌ I CUỐI HỌC KÌ II
Chưa
từng
tiếp
xúc
Đã
từng
tiếp
xúc
Số học
sinh
không
hứng thú
Số học sinh
hứng thú
Số học sinh
không hứng
thú
Số học
sinh hứng
thú
37 30
(81 %)
7
(9 %)
32
(86.4 %)
5
(13.6 %)
8
(21.6 %)
29
(79.4 %)
+ Thông qua kết quả trên, chúng ta có thể thấy rằng sau khi học sinh tiếp xúc
với tư liệu dạy học trực quan bằng trò chơi đã có sự chuyển biến rõ rệt theo chiều
hướng tích cực. Và tôi tin rằng kết quả ấy đã phần nào góp phần tạo nên kết quả
học tập rất đáng khích lệ của các em học sinh.
2.6. Tham quan thực tế:
- Có thể nói rằng, tham quan thực tế là một hình thức rất tích cực sau những
tiết học lí thuyết trên lớp. Thông qua các buổi tham quan thực tế, giáo viên và học
sinh có thể hiểu hơn nhưng gì mình đã dạy và học, đồng thời họ có thể sưu tầm
thêm một số tư liệu cần thiết cho mình. Tuy nhiên, có một điều rằng, việc tham
quan thực tế là rất tốn kém, mất khá nhiều thời gian của giáo viên và học sinh vì thế
hình thức này xưa nay ít được áp dụng.
* Ví dụ: Khi dạy xong các bài đọc văn thuộc phần văn học Việt Nam, chúng
ta có thể tổ chức cho các em tham quan thực tế một số điểm như: tham quan Lăng
cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc ( thân sinh chủ tịch Hồ Chí Minh) ở thành phố Cao
Lãnh- Đồng Tháp; Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Hà Nội; Mộ cụ Nguyễn Đình
Chiểu ở huyện Ba Tri- Bến Tre,…
3. Những công việc chuẩn bị cho một tiết dạy có sử dụng tư liệu dạy học trực
quan:
- Người giáo viên phải chủ động kiểm tra các tư liệu dạy học mà mình đang
có. Tất cả phải dảm bảo các tư liệu ấy phải mang tính sư phạm, thẩm mỹ, khoa học
và có lợi ích thiết thực khi minh họa cho tiết dạy.
- Để có một tiết dạy đạt được kết quả cao, nhất thiết người giáo viên phải đào
sâu nghiên cứu kĩ nội dung bài và soạn giảng nghiêm túc. Trước khi lên lớp cần
hình dung trước các vấn đề sau: cần nhấn mạnh trọng tâm nội dung nào, áp dụng
phương pháp dạy nào, cần sử dụng tư liệu dạy học nào, phân bố thời gian ra sao,…
9
- Ngoài ra, giáo viên còn phải chủ động liên hệ với thư viện, phòng thiết bị
để mượn những tư liệu có liên quan hoặc các phương tiện hỗ trợ ( máy chiếu, màn
hình, máy hát,…) nếu như tiết dạy đó có ứng dụng công nghệ thông tin.
- Đối với một số tiết dạy, giáo viên yêu cầu học sinh trực tiếp hoàn thành các
tư liệu thì chúng ta cần chú ý: kiểm tra sự chuẩn bị của các em xem có hoàn thành
chưa, dặn dò các em một số lưu ý trước khi trình bày sản phẩm của mình ( chẳng
hạn chú ý dung lượng, thời gian,…)
4. Một số lưu ý khi sử dụng tư liệu dạy học trực quan:
4.1. Lưu ý cụ thể:
4.1.1. Đối với việc sử dụng hình ảnh:
- Giáo viên nên chú ý là không phải bài giảng nào cũng có thể sử dụng hình
ảnh để minh họa hay sử dụng hình nào cũng được mà phải có sự lựa chọn phù hợp.
- Để có một bức ảnh mang tính thẩm mỹ, khoa học và phù hợp với nội dung
dạy thì ít nhất người giáo viên cần phải có một chút kiến thức về hội họa như màu
sắc, đường nét, bố cục,…
- Khi sử dụng tư liệu ảnh thì giáo viên cần chuẩn bị những câu hỏi, nội dung
bình giảng, lời dẫn dắt hợp lí để tránh lúng túng hoặc mất thời gian trong lúc tìm
hiểu văn bản.
4.1.2. Đối với việc sử dụng sơ đồ:
- Sơ đồ dùng để sơ đồ hóa kiến thức nên nó chỉ thích hợp cho các nội dung
củng cố, bài ôn tập hay bài khái quát.
- Sơ đồ cần mang tính thẩm mỹ, khoa học, ngắn gọn và bám sát nội dung bài
học.
4.1.3. Đối với việc sử dụng bản đồ:
- Đối với bản đồ địa lí, lịch sử:
+ Trước khi sử dụng bản đồ này, giáo viên cần chú ý bản đồ phải thích hợp
với nội dung bài dạy.
+ Người giáo viên phải có những kiến thức tối thiểu về lĩnh vực lịch sử, địa
lí có liên quan.
- Đối với bản đồ tư duy:
+ Bản đồ phải cô động, súc tích và mang tính thẩm mỹ.
+ Tránh ghi lại nguyên cả đoạn văn dài dòng.
+ Tránh ghi chép quá nhiều ý không cần thiết.
+ Tránh dành quá nhiều thời gian để vẽ, viết, tô màu.
10
4.1.4. Đối với việc sử dụng bảng phụ:
- Người giáo viên cũng nên tránh lạm dụng mà phải sử dụng vào các tiết học
phù hợp.
- Bảng phụ tuy thiết kế khá đơn giản nhưng cần phải đảm bảo tính thẩm mỹ
và khoa học.
- Những nội dung thể hiện trên bảng phụ phải đơn giản, ngắn gọn và bám sát
nội dung bài học.
4.1.5. Đối với việc ứng dụng công nghệ thông tin:
- Người giáo viên phải có kiến thức cơ bản về công nghệ thông tin.
- Việc sử dụng tư liệu công nghệ thông tin không được chiếm quá nhiều thời
gian ảnh hưởng đến tiết dạy.
- Giữa quá trình dẫn dắt, lời bình giảng với bài giảng, phần ghi bảng phải có
sự thống nhất.
- Nếu là bài giảng là powerpoint, violet thì cần thiết kế mang tính thẩm mỹ,
khoa học, tránh màu mè, sử dụng quá nhiều hiệu ứng,…
4.1.6. Đối với việc sử dụng trò chơi:
- Người giáo viên phải tuyệt đối chủ động về thời gian, tránh ảnh hưởng đến
tiết học.
- Trò chơi phải sinh động, tạo được sự hứng thú cho lớp học.
- Lúc phân nhóm cho các học sinh tham gia phải đảm bảo tất cả các em đều
được tham gia.
- Các dụng cụ, công cụ hỗ trợ cho trò chơi phải được chuẩn bị cẩn thận, tránh
việc trục trặc trong quá trình tiến hành.
4.1.7. Đối với việc tham quan thực tế:
- Giáo viên phải nắm được địa điểm các điểm tham quan thực tế có liên quan
đến nội dung bài học.
- Khi đến điểm tham quan, giáo viên các em học sinh phải được hướng dẫn
đồng thời giáo viên yêu cầu học sinh có sự ghi chép bổ ích và phải thể hiện nó
trong bài thu hoạch của mình.
- Trong quá trình tham quan, giáo viên cần đảm bảo an toàn cho học sinh.
4.2. Lưu ý chung:
- Khi sử dụng đồ dùng trực quan giáo viên phải suy nghĩ, tìm tòi đảm bảo
vừa phù hợp với lứa tuổi học sinh nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu sách giáo khoa,
tránh đưa những tư liệu hình ảnh phản cảm, thiếu tính giáo dục.
11
- Phải hiểu và biết tường tận những chi tiết cần thiết trong mỗi tư liệu trực
quan để phát huy hết tác dụng của những tư liệu trực quan đó.
- Để học sinh quan sát có hiệu quả cần xác định mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ
quan sát, hướng dẫn quan sát, cách ghi chép những điều quan sát được. Trên cơ sở
đó giúp họ rút ra những kết luận đúng đắn, có tính khái quát và biểu đạt những kết
luận đó dưới dạng văn nói hoặc văn viết một cách rõ ràng, chính xác.
- Phải xem tư liệu trực quan như một loại hình kiến thức riêng biệt cần được
nghiên cứu, khai thác, sử dụng chứ không phải là tư liệu trực quan minh hoạ đơn
thuần.
- Muốn sử dụng tốt và có được những đồ dùng trực quan có giá trị về thẩm
mỹ, nội dung, mang tính giáo dục cao, người giáo viên cần phải thường xuyên đọc
báo, nghe đài, xem truyền hình, tìm hiểu những thông tin trên mạng Internet, tìm
hiểu tình hình địa phương để nắm bắt kịp thời những tin tức thời sự mới nhất, chính
xác nhất để đưa vào bài giảng hợp lí nhất và hay nhất.
- Cần có định hướng sử dụng hợp lí cho từng phương tiện trực quan ở từng
bài dạy.
- Cần tránh quá lạm dụng làm mất đi đặc trưng của bộ môn.
- Cần uốn nắn kịp thời những suy nghĩ lệch lạc của học sinh khi quan sát,
tiếp cận tư liệu trực quan.
- Kết hợp linh hoạt với phương pháp dạy truyền thống như phát vấn, bình
giảng để đạt được hiệu quả cao nhất.
- Để đảm bảo tính khoa học và sư phạm, giáo viên cần chú ý đến nguồn gốc
xuất xứ của tư liệu trực quan mà mình chuẩn bị sử dụng.
5. Một số khó khăn khi sử dụng tư liệu trực quan:
- Điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu thốn, các thiết bị phục vụ cho giảng dạy
còn hạn chế như máy tính, máy chiếu, phòng chức năng, hội trường,…
- Việc chuẩn bị tốt cho một tiết dạy có sử dụng đồ dùng dạy học một cách
hiệu quả người giáo viên phải hao tốn rất nhiều thời gian, công sức, có khi cả tiền
bạc .
- Kỹ năng sử dụng, nhận xét, đánh giá, rút ra bài học từ đồ dùng dạy học của
học sinh còn yếu.
- Một số tư liệu dạy học và thiết bị hiện đại còn mới mẻ đối với nhiều giáo
viên.
- Tập huấn của sở Giáo dục & Đào tạo về đổi mới phương pháp nói chung và
cách thức sử dụng hiệu quả tư liệu dạy học trực quan nói riêng còn hạn chế.
12
PHẦN C. PHẦN KẾT LUẬN:
I. Kết quả:
1. Kết quả chung:
1.1. Về phía giáo viên:
- Giáo viên đã làm quen dần với các tiết dạy có sử dụng các tư liệu dạy học
trực quan.
- Bản thân giáo viên có hứng thú hơn trong giờ dạy văn và hiệu quả lên lớp
tăng lên rõ rệt.
- Giáo viên cũng có ý thức hơn trong việc tạo sự hứng thú học tập cho học
sinh trong các giờ đọc văn.
- Giáo viên được nâng cao hơn về kĩ năng chuyên môn và đáp ứng được
phần nào về yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học trong giờ học văn.
1.2. Về phía học sinh:
- Các em đã tích cực, tự giác và chủ động hơn trong việc tiếp thu kiến thức.
- Trong các tiết dạy có sử dụng tư liệu dạy học trực quan, học sinh học sôi
nổi, hứng thú hơn.
- Đa số học sinh đã nhớ và khắc sâu được kiến thức.
- Nâng cao được khả năng quan sát, nhanh nhạy, tư duy logic và sáng tạo ở
các em.
- Mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh ngày càng thân thiện hơn.
2. Kết quả cụ thể:
- Sau một thời gian sử dụng tư liệu dạy học trực quan trong giờ đọc văn- văn
học Việt Nam lớp 12, tôi nhận thấy việc hứng thú của các em và kết quả học tập
cũng đã dược tăng lên đáng kể. Sau đây tôi xin đưa ra một số kết quả khảo sát
thông qua việc thăm dò khách quan bằng phiếu đối với học sinh ( Kết quả khảo sát
được thực hiện lớp 12A2 trong năm học 2012- 2013):
Sĩ số Số học sinh có hứng thú với
giờ đọc văn
Số học sinh có điểm trung bình
môn từ 6.5 trở lên
Đầu HK I Cuối năm Cuối HK I Cuối HK II
17 ( 45.9%) 28 (75.6 %) 2 ( 7.4%) 15 ( 40.5%)
- Một điều đáng khích lệ là tỉ lệ số học sinh có hứng thú với giờ đọc văn và
số học sinh có điểm trung bình môn từ 6.5 trở lên qua hai học kì đã tăng lên đáng
kể. Tuy không thể nói rằng việc sử dụng tư liệu dạy học trực qua là điều duy nhất
13
để làm thay đổi kết quả trên nhưng nó cũng là một trong những yếu tố trong rất
nhiều yếu tố để tạo nên điều đó.
II. Kinh nghiệm:
- Giáo viên cần không ngừng học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp, tìm các
thông tin mới, hấp dẫn từ nhiều nguồn.
- Giáo viên cũng cần nắm vững tâm lí học sinh, gần gũi, chuyện trò cùng các
em đển nắm bắt thái độ, nguyện vọng của các em đối với bộ môn cũng như giờ học
Ngữ văn.
- Trước hết giáo viên phải nhận thức đúng và đầy đủ vai trò của việc sử dụng
tư liệu dạy học trực quan vào đổi mới phương pháp giảng dạy.
- Khi dạy giáo án điện tử giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách ghi bài và
khắc sâu chuẩn kiến thức kỹ năng.
- Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học không phải là một
phương pháp mới mà chỉ là sự hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học bằng các công
cụ, phương tiện.
- Giáo viên phải thường xuyên trao đổi với tổ chuyên môn để cùng trao đổi
kinh nghiệm, bàn luận để khắc phục kịp thời những vướng mắc.
- Giáo viên phải biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến của học sinh và kịp thời
chỉnh sửa hợp lí.
III. Đề xuất và kiến nghị:
- Sở cần giao cho nhà trường chủ động mua sắm trang thiết bị dạy học nhằm
đáp ứng nhu cầu thực tế và đảm bảo tính thiết thực.
- Sở cần có những buổi tập huấn về nâng cao tính hiệu quả trong việc sử
dụng tư liệu dạy học trực quan.
- Nhà trường cần bố trí phòng học bộ môn, phòng dạy ứng dụng công nghệ
thông tin,…để dễ dàng cho giáo viên và học sinh trong quá trình dạy và học.
- Nhà trường cần tận dụng những tư liệu dạy học trực quan có hiệu quả bằng
cách lưu giữu cẩn thận và cho vào danh mục thiết bị dạy học của nhà trường.
- Tổ chuyên môn cần linh hoạt hơn trong việc họp tổ. Chúng ta có thể mạnh
dạn họp chuyên đề một cách thường xuyên, trong đó có bàn về tạo sự hứng thú học
tập cho học sinh bằng các tư liệu dạy học trực quan.
- Ngoài ra, giáo viên cần hướng dẫn học sinh tự làm đồ dùng phục vụ cho
việc học của các em.
14
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình tâm lí giáo dục.
2. Tài liệu giáo dục học.
3. Sách giáo khoa Ngữ văn 12 ( hai tập).
4. Sách giáo viên Ngữ văn 12 ( hai tập).
5. Sách thiết kế bài giảng Ngữ văn 12.
15
MỤC LỤC
Trang
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài………………………………………………… ……1
II. Mục đích nghiên cứu……………………………………………… …1
III. Đối tượng nghiên cứu…………………………………………………1
IV. Phương pháp nghiên cứu……………………………………… ……2
B. PHẦN NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận…………………………………….………………………3
II. Cơ sở thực tiễn………………………………… …………………… 3
III. Thực trạng…………………………………….….………………….…3
IV. Một số biện pháp nhằm phát huy hiệu quả của tư liệu dạy học
trực quan trong tiết đọc văn- văn học Việt Nam lớp 12… ……………….4
1. Một số khái niệm có liên quan………………………….……….… 4
1.1. Trực quan…………………………………………….……………4
1.2. Phương tiện trực quan……………………………….…………….4
1.3. Phương tiện dạy học………………………………….……… … 4
2. Một sô tư liệu dạy học trực quan………………………….………….5
2.1. Hình ảnh………………………………………………….……… 5
2.2. Sơ đồ, bản đồ…………………………………………….……… 6
2.3. Bảng phụ…………………….……………………….…….….… 7
2.4. Công nghệ thông tin……… …………………… ……………… 7
2.5. Trò chơi………………………………………… …………………8
2.6. Tham quan thực tế……………………………… …………… ….9
3. Những công việc chuẩn bị cho một tiết dạy có sử dụng tư liệu dạy
học trực quan…………………………………………………………… 9
4. Một số lưu ý khi sử dụng tư liệu dạy học trực quan…………….…… 10
4.1. Lưu ý cụ thể…………………………………………………….… 10
4.1.1. Đối với việc sử dụng hình ảnh……………………………… ….10
16
4.1.2. Đối với việc sử dụng sơ đồ………………………………… … 10
4.1.3. Đối với việc sử dụng bản đồ…………………………………… 10
4.1.4. Đối với việc sử dụng bảng phụ………………………………… 11
4.1.5. Đối với việc ứng dụng công nghệ thông tin…………… ………11
4.1.6. Đối với việc sử dụng trò chơi…………………………………….11
4.1.7. Đối với việc tham quan thực tế……………………………….….11
4.2. Lưu ý chung……………………………………………………….…12
5. Một số khó khăn khi sử dụng tư liệu trực quan……………………… 12
C. PHẦN KẾT LUẬN
I. Kết quả…………………………………………………………………….13
1. Kết quả chung………………………………………………… …… 13
1.1. Về phía giáo viên…………………………………………….…… 13
1.2. Về phía học sinh…………………………………………………….13
2. Kết quả cụ thể………………………………………………………… 13
II. Kinh nghiệm……………………………………………………… …….14
III. Đề xuất và kiến nghị………………………………………….…………14
* Tài liệu tham khảo………………………………………………….……… 15
17