Tải bản đầy đủ (.docx) (10 trang)

tìm hiểu về pháp luật phá sản ở việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (123.43 KB, 10 trang )

Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
MỞ ĐẦU
Phá sản là hiện tượng kinh tế khách quan trong lại nền kinh tế thị trường mà
hậu quả cuả nó là sự xung đột lợi ích của các bên tham gia quan hệ kinh doanh.
Phá sản không chỉ là sự xung đột lợi ích giữa con nợ mất khả năng thanh toán với
các con nợ của nó mà con dẫn đến sự xung đột với lợi ích của tập thể người lao
động làm việc trật tự trị an tại một địa phương, vùng lãnh thổ nhất định nào đó.
Ban hành pháp luật phá sản là mong muốn của nhà làm luật sử dụng những thuộc
tính của pháp luật với tư cách là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội trong điều
kiện tồn tại Nhà nước như tính quy phạm, tính bắt buộc chung nhằm tác động
một cách hiệu quả nhất đến quan hệ giữa các chủ thể quan hệ phá sản, giải quyết
xung đột lợi ích của các chủ thể đó theo đúng bản chất vốn có của nó. Ngoài ra,
việc giải quyết xung đột giải quyết này cũng không thể không tính đến những
nhiệm vụ cụ thể đặt ra trước các nhà làm luật ở mỗi quốc gia trong từng thời kỳ
phát triển kinh tế của mình.
Như vậy phá sản là hiện tượng bình thường và cần thiết của kinh tế thị trường,
còn pháp luật phá sản là sự can thiệp có ý thức của Nhà nước vào hiện tượng này
nhằm hạn chế tối đa những hậu quả tiêu cực và khai thác những mặt tích cực và
khai thác những mặt tích cực của nó. Thông qua pháp luật phá sản, Nhà nước và
Toà án có thể can thiệp vào quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với
một cách nhìn hện đại, năng động và hết sức mềm dẻo.
GVHD: TRẦN THỊ THUÝ HẰNG
Trang: 1
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
NỘI DUNG
Phân tích điều 37 cho biết thấy “các khoản nợ” được hiểu là nghĩa vụ tài sản
của doanh nghiệp hình thành từ các hợp đồng dân sự, thương mại và lao động. Còn
các khoản nợ thuế, các nghĩa vụ tài sản khác như nghĩa vụ bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng, nghĩa vụ thanh toán các khoản phạt hành chính của doanh
nghiệp không được đề cập đến. vậy giải quyết các nghĩa vụ có tính chất tài sản này
của doanh nghiệp như thế nào khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản?


I. Vai trò của pháp luật phá sản
1. Bảo vệ lợi ích chính đáng của chủ nợ
Với một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước nền
kinh tế thị trường đã hình thành đã phát triển ở nước ta rất phong phú, đa dạng với
nhiều loại hình doanh nghiệp. Tuy nhiên do sự tác động của các quy luật kinh tế
như quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị, quy luật cung cầu, trong nền kinh tế
nước ta cũng đã xảy ra nhiều hiện tượng hay quan hệ kinh tế vốn không tồn tại
trong cơ chế kế hoạch hóa. Một trong hiện tượng đó là sự phá sản của các doanh
nghiệp. Khi một doanh nghiệp bị phá sản sẽ kéo theo nhũng hậu quả nhất định như
sự xáo trộn trong sản xuất, ảnh hưởng đến công ăn việc làm của người lao động
đến lợi ích chung của nhà nước và xã hội. Do đó, để đảm bảo, duy trì mối quan hệ
hài hòa những lợi ích nêu trên, đòi hỏi chúng ta phải có một cơ chế pháp lý thống
nhất và chặt chẽ. Pháp luật phá sản ra đời là bộ phận cấu thành không thể thiếu của
pháp luật kinh doanh để giải quyết mối quan hệ nợ nần trong hoàn cảnh đặt biệt:
khi mà doanh nghiệp lâm vào tình trạng khánh liệt tài chính không thể phục hồi.
Khi một nhà đầu tư cho các doanh nghiệp vay vốn, họ có hai phương pháp đòi nợ:
Đòi nợ bằng phương pháp thông thường, thông qua việc đưa đơn kiện ra Tòa án,
Trọng tài kinh tế hoặc đòi nợ bằng một cơ chế đặc biệt – thông qua thủ tục phá sản,
Pháp luật phá sản với cơ chế thủ tục phá sản được biết đến như một thủ tục đòi nợ
tập thể, trong đó vấn đề trọng tâm là bảo vệ và đảm bảo công bằng cho các chủ nợ.
GVHD: TRẦN THỊ THUÝ HẰNG
Trang: 2
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
Pháp luật phá sản với cơ chế thủ tục phá sản được biết đến như một thủ tục đòi
nợ tập thể, trong đó vấn đề trọng tâm là bảo vệ và đảm bảo công bằng cho các chu
nợ. Bản chất của thủ tục phá sản là các chủ nợ thông qua việc yêu cầu Toà án tuyên
bố con nợ bị phá sản để thu hồi vốn của mình. Cơ hội đòi nợ thông qua thủ tục phá
sản càng cao thì thủ tục đó càng hấp dẫn các chủ nợ, vì vậy cho nên thủ tục phá sản
nhanh chóng trở thành một công cụ hiệu quả bảo vệ lợi ích các chủ nợ, mở rộng
khả năng đòi hỏi của chủ nợ. Bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ nợ, qua đó

tạo điều kiện duy trì và phát triển thị trường vốn, bảo vệ chủ nợ là mục tiêu rất
quan trọng của Luật Phá sản. Khi nhà đầu tư tiềm năng thấy phần vốn đầu tư của
mình không an toàn, khó có thể đòi lại được vì những lí do phi thị trường thì nhà
đầu tư sẽ không yên tâm bỏ vốn kinh doanh, cho vay nợ Hậu quả tiếp theo là thị
trường vốn cung cấp cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng.
Khó có thể hình dung được một nền kinh tế thị trường mà không có được một thị
trường vốn lành mạnh, phát triển. Ngoài ra pháp luật phá sản còn dùng để bảo vệ
lợi ích của chính bản thân các doanh nghiệp mắc nợ, bảo vệ lợi ích của bản thân
người lao động; đảm bảo trật tự an toàn xã hội, và giúp cơ cấu lại nên kinh tế.
Ví dụ : Công ty A thế chấp một tài sản trị giá 600 triệu đồng để vay ngân hàng
Y số tiền 350 triệu đồng. Nếu công ty A lâm vào tình trạng phá sản và đang tiến
hành thủ tục tuyên bố phá sản thì Ngân hàng Y là chủ nợ sẽ bằng tài sản của doanh
nghiệp mắc nợ hoặc của người thứ ba mà giá trị tài sản đảm bảo ít hơn khoản nợ
đó.
Ví dụ : Công ty X nợ Công ty Z 180 triệu đồng, trong khi đó tài sản của Công
ty X thế chấp để đảm bảo trả nợ là 150 triệu đồng.Như vậy nếu Công ty X lâm vào
tình trạng phá sản và đang tiến hành thủ tục tuyên bố phá sản thì Công ty Z bằng
tài sản của doanh nghiệp mắc nợ hoặc của người thứ ba.
2. Bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản.
Ngành tòa án nhận định rằng: “Các doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá
không ít, nhưng yêu cầu tuyên bố phá sản tại tòa án thì ngày càng ít đi” (trích Báo
cáo tổng kết ngành tòa án năm 2001). Do nhiều vướng mắc cho nên Luật phá sản
chưa thực sự trở thành một công cụ pháp lý quan trọng bảo vệ quyền và lợi ích hợp
GVHD: TRẦN THỊ THUÝ HẰNG
Trang: 3
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
pháp của giới chủ nợ, thúc đẩy hoạt động kinh doanh có hiệu quả bằng biện pháp
phục hồi/tái tổ chức doanh nghiệp bị mất khả năng thanh toán, có lúc còn là tiềm
ẩn phát sinh tội phạm hình sự lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Có nhiều vấn đề cần bổ
sung, sửa đổi nhằm mục đích làm cho luật phá sản trở thành đạo luật quan trọng

trong hoạt động kinh doanh, góp phần bảo vệ trật tự kỷ cương xã hội, làm lành
mạnh môi trường kinh doanh.
Một thực tế mà ai cũng biết là ở Việt Nam chúng ta chỉ nắm được con số các
doanh nghiệp mới thành lập, còn chịu không nắm được con số doanh nghiệp đang
hoạt động và nhất là có bao nhiêu doanh nghiệp chấm dứt hoạt động vì bị phá sản,
đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho Luật phá sản doanh nghiệp tuy
được ban hành từ năm 1993 nhưng ít được áp dụng. Trong số các vụ tuyên bố phá
sản, có những vụ không phải doanh nghiệp con nợ lâm vào tình trạng phá sản mà
là chây ỳ không thi hành án. Do vậy đơn vị phải thi hành án đành phải mượn con
đường yêu cầu tòa án tuyên bố phá sản để đơn vị này (một doanh nghiệp của nhà
nước) phải trả nợ để được tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường (vụ Công ty
thực phẩm công nghệ Hải Phòng yêu cầu Tòa án kinh tế Hà Nội giải quyết phá sản
đối với Công ty hỗ trợ sản xuất và du lịch thương mại (doanh nghiệp công ích
thuộc Công đoàn ngành thương mại) trong các năm 2000-2002). Nhưng trường
hợp này cũng rất hạn hữu vì theo quy luật của Luật công ty trước đây cho phép
quyền tự do thành lập doanh nghiệp và không hề kiểm tra nguồn tài sản đưa vào
tạo thành vốn điều lệ của doanh nghiệp. Do đó phần lớn các công ty trách nhiệm
hữu hạn đã sử dụng chiến thuật “ve sầu lột xác” để khỏi phải thực hiện nghĩa vụ trả
nợ bằng cách chuyển tài sản và vốn để thành lập một công ty mới, để lại công ty cũ
với các khoản nợ. Tuy nhiên cũng không phải doanh nghiệp nào cũng thành công
trong viêc sử dụng luật phá sản thành công cụ để khỏi thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Ví
dụ như trường hợp công ty XNK Kim Liên tai Hải Phòng cũng đã nộp đơn xin
tuyên bố phá sản để khỏi phải trả nợ cho công ty VIDAMCO, nhưng đã bị tòa kinh
tế Hải Phòng từ chối thụ lý vì xác định việc không trả nợ là do chây ỳ chứ không
phải mất khả năng thanh toán như quy định của Luật phá sản. Kinh doanh không
GVHD: TRẦN THỊ THUÝ HẰNG
Trang: 4
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
bao giờ cũng đưa lại lợi nhuận, nhưng không phải lúc nào sự phá sản cưa doanh
nghiệp cũng là hệ quả tất yếu của quy luật kinh tế mà cũng có trường hợp có sự

xếp đặt vì mục đích không lành mạnh như là trốn tránh nghĩa vụ đối với chủ nợ,
đôi khi còn có tính chất hình sự. Do đó để ngăn chặn các trường hợp phá sản để
quy dịnh trình tự và điều kiện nộp đơn yêu cầu giải quyết phá sản, xác định nghĩa
vụ về tài sản và các biện pháp bảo toàn tài sản trong thủ tục tài sản… Chúng tôi
thấy rằng luật phá sản doanh nghiệp hiện hành không kiểm soát được tình trạng
trốn tránh nghĩa vụ trả nợ của các doanh nghiệp con nợ, gây thiệt hại cho các
doanh nghiệp chủ nợ thậm trí khi đã có bản án của Tòa án. Chúng tôi xin lấy một
ví dụ điển hình: đó là trường hợp của Công ty lien doanh ô tô Việt Nam – Daewoo
( công ty VIDAMCO) bán xe ô tô cho 1 công ty trách nhiệm hữu hạn ( công ty
thương mại Quốc Hiếu, trụ sở tại 122 Triệu Việt Vương) để kinh doanh taxi, đến
hạn bên mua không trả nợ được thế là công ty VIDAMCO khởi kiện. trong khi tòa
án đang giải quyết vụ kiện tranh chấp kinh tế thì chủ sở hữu Công ty Quốc Hiếu đã
rút hết vốn để thành lập một doanh nghiệp mới song song với việc giải quyết tại
tòa án. Khi có bản án của Tòa án năm 2001, cơ quant hi hành án vào cuộc. Sau một
thời gian thi hành án, công ty VIDAMCO nhận được văn bản của Phòng thi hành
án Hà Nội trả lại đơn yêu cầu thi hành án vì đơn vị phải thi hành án đã lâm vào tình
trạng phá sản ( không có tài sản, tiền mặt và bản thân không hoạt động). Tuy biết
rõ công ty này không hề phá sản nhưng công ty VIDAMCO không thể làm gì được
hơn và cũng chẳng yêu cầu tòa án giải quyết phá sản vì biết rằng sẽ chẳng có kết
quả gì lại mất thêm lệ phí giải quyết phá sản, mất thêm thời gian. Bởi theo quy
định của luật phá sản hiện hành tuy doanh nghiệp đã hoàn toàn mất khả năng thanh
toán, chẳng có lấy một tài sản nào, thế nhưng Hội nghị chủ nợ vẫn phải họp và
thông qua phương án, phân chia giá trị tài sản doanh nghiệp( điểm 6 điều 37 Luật
phá sản ). Quy định này quả là hình thức và không giải quyết được gì cho các chủ
nợ. Theo chúng tôi đối với những trường hợp này thì tòa án có thể tuyên bố phá
sản luôn theo yêu cầu của Hội nghị chủ nợ để khỏi mất thêm thời gian.
GVHD: TRẦN THỊ THUÝ HẰNG
Trang: 5
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
Với quy định như vậy sẽ tránh được các hành vi tẩu tán tài sản của doanh

nghiệp con nợ, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho doanh nghiệp chủ nợ, cũng
cố niềm tin niềm tin cho doanh nghiệp yên tâm chờ đợi tòa án ra phán quyết. Bởi
vì theo quy định hiện hành chỉ khi có bản án của tòa án, cơ quan thi hành án ra
quyết định thi hành và đồng thời ra quyết định phong tỏa tài sản. Lúc đó doanh
nghiệp mới không có quyền tẩu tán tài sản. Do thủ tục tố tục kinh tế quá dài nên đã
tạo cơ hội cho con nợ tẩu tán tài sản bằng nhiều con đường hợp pháp thông qua các
giao dịch dân sự. Tuy pháo luật tố tụng kinh tế có quy định quyền được yêu cầu tòa
án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với doanh nghiệp con nợ. Nhưng vì
nhiều lí do nên quy định này hạn hữu mới được áp dụng bởi động chạm đến nhiều
đối tượng khác( ví dụ người lao động doanh nghiệp), mặt khác nhiều thẩm phán có
tâm lý không muốn ra quyêt định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vì không
muốn chịu trách nhiệm nếu có sự cố xảy ra.
3. Bảo vệ lợi ích người người lao động
Khi doanh nghiệp phá sản, bên cạnh sự thiệt hại của chủ nợ và con nợ, mà nó
còn ảnh hưởng trực tiếp đến những người lao động. trước những sự khó khăn đó,
luật phá sản dã cho phép những người làm công được hưởng một số quyền lợi đặc
biệt:
Được quyền ưu cầu tòa án tuyên bố phá sản hoặc phản đối tuyên bố phá sản
của các chủ nợ đối với doanh nghiệp được quyền cử đại diện tham gia tổ quản lý
và thanh tra tài sản , được tham gia hội nghị chủ nợ, được ưu tiên thanh toán nợ và
một số quyền lợi khác.
Luật phá sản là luật nhân đạo đưa ra để bảo vệ quyền lợi của các ban liên
quan.
Tránh việc một số doanh nghiêp làm an thua lỗ và cầm chừng không trả
lương cho người lao động và cũng vì thế vị trí của người lao động đã được đề cao
sau phí phá sản
Vi dụ có tình huống đặt ra như sau: Tôi là công nhân làm việc cổ phần, công ty
tôi cổ phần hoá từ năm 1999 đến nay, do làm ăn thô lỗ nên chúng tôi không có việc
GVHD: TRẦN THỊ THUÝ HẰNG
Trang: 6

Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
làm, nay công ty phá sản chúng tôi phải nghĩ việc thì được hưởng chế độ như thế
nào?
Thứ nhất: Chế độ người lao động được hưởng khi công ty phá sản
Thủ tục phá sản: Thẩm quyền tuyên bố công ty phá sản do toà án.
Trường hợp Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục than lý đối với doanh nghiệp,
thì việc phân chia giá trị tài sản của doanh nghiệp, theo thứ tự sau đây:
a) Phí tài sản;
b) Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật
và các quyền lợi khác theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã kí
kết;
c) Các khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho các chủ nợ trong danh sách chủ nợ
theo nguyên tắc nếu giá trị tài sản đủ để than toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ đều
được thanh toán đủ được số nợ của mình; nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán
các khoản nợ thì mỗi chủ nợ chỉ được thanh toán một phần các khoản nợ của mình
theo tỷ lệ tương ứng
Trợ cấp: Theo quy định Điều 42 Luật lao động: áp dụng đối với người lao động
làm việc thường xuyên cứ một năm việc trợ cấp ½ tháng lương.
4. Góp phần cơ cấu lại nền kinh tế thị trường
Pháp luật là một hiện tượng tự nhiên của nền kinh tế thị trường.Mặc dù có
đời sống ngắn rất khác nhau, nhưng nhìn chung các doanh nghiệp thường có một
sống của doanh nghiệp phụ thuộc vào thành tích kinh doanh và môi trường hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp đó. Mặt khác, trong hoạt động kinh doanh, việc
các doanh nghiệp nợ và chiếm dụng vốn lẫn nhau là rất phổ biến. Vậy giải quyết
như thế nào khi có doanh nghiệp đã rơi vào giai đoạn suy thoái hoặc gặp những
vấn đề nghiêm trọng về tài chính, mà kết là không thể thanh toán được các khoản
nợ thương mại.
Pháp luật phá sản doanh nghiệp ra đời nhằm điều chỉnh các vấn đề phát sinh
trong trường hợp này. Theo đó, một doanh nghiệp được coi là lâm vào tình trạng
phá sản khi thực chất đã mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn và nếu

không còn khả năng tổ chức lại để phục hồi khả năng thanh toán thì buộc bị phá
sản theo một thủ tục chặt chẽ tại toà để phân chia tài sản còn lại cho các chủ nợ.
GVHD: TRẦN THỊ THUÝ HẰNG
Trang: 7
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
Sự ra đời của pháp luật phá sản nhằm bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp
của các bên có liên quan. Đối với chủ nợ, thủ tục phá sản cho phép chủ nợ có biện
pháp kiểm soát đuợc tình hình tài chính của doanh nghiệp nợ, hạn chế những rủi
rovà thiệt hại xảy ravà đảm bảo việc thu hồi nợ một cách công bằng. Pháp luật phá
sản còn bảo vệ và tạo ra những cơ hội mới cho các doanh nghiệp nợ. Thạt vậy, thủ
tục phá sán sẽ tạo cho doanh nghiệp thua lỗ nợ nần có cơ hội thương lượng tập thể
với các khoản nợ và tránh được các biện pháp đòi nợ bất hợp pháp, ví dụ xiết nợ.
Đây còn là cơ hội tốt nhất để buộc doanh nghiệp một cách triệt để: loại bỏ nguyên
nhân gây tổn hại đến tình trạng tài chính doanh nghiệp, phát huy các mặt tích cực
để cải thiện kết quả kinh doanh. Nếu việc tổ chức lại không có kết quả, thủ tục phá
sản và thanh lý giúp doanh nghiệp hoát khỏi tình trạng nợ nần để có thể bắt đầu trở
lại công cuộc kinh doanh với một tình trạng tài chính hoàn toàn mới mẻ và sạch sẽ.
Quyền lợi của người lao động được pháp luật ưu tiên bảo vệ khi doanh nghiệp tiến
hành thủ tục phá sản, mặc dù có tâm lý do ngại thủ tục phá sản doanh nghiệp sẽ
làm mất việc làm của người lao động. Thực chất quyền lợi của người lao động phải
được đặt ra trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp, chứ không chỉ đến
giai đoạn phá sản.
Thực hiện tốt pháp luật về phá sản còn là biện pháp bảo vệ trật tự, an toàn xã
hội, tránh được tình trạng đe doạ, cưỡng bức doanh nghiệp để đòi nợ theo”luật
rừng”, đảm bảo việc giải quyết nợ theo một trật tự nhất định, do một cơ quan có đủ
thẩm quyền kiểm soát. Đối với nền kinh tế, phá sản có tác dụng sàng lọc các doanh
nghiệp làm ăn thua lỗ, không hiệu quả, thay thế các doanh nhân kém khả năng
bằng những nhà quản lý khác có tính chuyên nghiệp hơn, làm cho nền kinh tế mới
phát triển lành mạnh. Có thể nói, lợi nhuận đối với doanh nghiệp giống như “củ cà
rốt” thì phá sản lại là “ chiếc gậy” nhằm răn đe các doanh nhân, cảnh báo tính chất

khắc nghiệt của thương trường.
5. Đảm bảo trật tự,kỷ cương xã hội
Luật phá sản doanh nghiệp được chia ra nhăm bảo vệ lợi ích cho mọi thành
phần tham gia doanh nghiệp tránh được tình trạng hỗn lộn của nền kinh tế khi một
GVHD: TRẦN THỊ THUÝ HẰNG
Trang: 8
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
hay nhiều doanh nghiệplâm vào tình trạng phá sản bên cạnh đó phá sản không
hoàn toàn là tiêu cực trên một khía cạnh nào đó, nó thậm chí là một hành động tích
cực đối với nền kinh tế giúp thúc đẩy hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn.
• Răn đe các doanh nghiệp làm ăn hiệu quả( không được quá mạo hiểm liều lĩnh)
• Xoá bỏ doanh nghiệp làm ăn thô lỗ
• Tạo điều kiện cho môi trường kinh doanh mới lành mạnh hơn cho các nhà đầu tư
hoạt động và những ảnh hưởng gián tiếp khác
C. KẾT BÀI
Trong nền kinh tế thị trường, phá sản doanh nghiệp là hiện tượng kinh tế - xã
hội tồn tại khách quan.
Phá sản luôn là hiện tượng tất yếu trong nền kinh tế thị trường, nó hiện hữu như
một sản phẩm của quá trình cạnh tranh, chọn lọc và đào thải tự nhiên của nền kinh
tế thị trường, bất kể đó là nền kinh tế thị trường phát triển ở các nước trên thế giới
hay nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, phá sản là khái niệm dùng để chỉ doanh
nghiệp lâm vào tình trạng phá sản với dấu hiệu đặc trưng nhất là mất khả năng
thanh toán nợ đến hạn. Tuy nhiên, doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản chưa
hẳn đã bị phá sản. Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản chỉ được coi là bị phá
sản khi đã tiến hành thủ tục phá sản.
Phá sản - thủ tục phục hồi doanh nghiệp hoặc thanh lý nợ đặc biệt. Luật phá sản
gồm 95 điều, trong đó có 12 điều (Điều 1 đến Điều 12) về những quy định chung
và một điều về điều khoản thi hành còn lại 82 điều (từ Điều 13 đến Điều 94) ghi
nhận các vấn đề liên quan đến thu tục phục hồi doanh nghiệp và thủ tuc thanh lý nợ

của doanh nghiệp. Như vậy, Luật phá sản là luật về thủ tục phục hồi và thanh lý nợ
của doanh nghiệp. Tuy nhiên, theo tinh thần của Luật phá sản, các thủ tục phục hồi
hoặc thanh lý nợ ở đây khác với quá trình phục hồi khi doanh nghiệp tự phục hồi
săp xếp lại hoạt động sản xuất kinh doanh của mình hoặc thủ tục thanh toán nợ
trong tố tụng dân sự.
Tóm lại, thực hiện tốt pháp luật về phá sản còn là biện pháp bảo vệ trật tự, an
toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động, tránh được tình
trạng đe dọa, cưỡng bức doanh nghiệp để đòi nợ theo “luật rừng” đảm bảo giải
GVHD: TRẦN THỊ THUÝ HẰNG
Trang: 9
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
quyết nợ theo một trật tự nhất định, do một cơ quan có đủ thẩm quyền kiểm soát.
Đối với nền kinh tế, phá sản có tác dụng sàng lọc các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ,
không hiệu quả, thay thế các doanh nhân kém khả năng bằng những nhà quản lý
khác có tính chuyên nghiệp hơn, làm cho nền kinh tế mới phát triển lành mạnh. Có
thể nói, lợi nhuận đối với doanh nghiệp giống như “củ cà rốt” thì phá sản là chiếc
gậy nhằm răn đe các doanh nhân, cảnh báo tính chất khắc nghiệt của thương
trường.

GVHD: TRẦN THỊ THUÝ HẰNG
Trang: 10

×