Tải bản đầy đủ (.doc) (13 trang)

tiểu luận luật phá sản năm 2014 ở việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (124.6 KB, 13 trang )

Phá sản doanh nghiệp theo luật phá sản 2014
LỜI MỞ ĐẦU
Nước ta đang chuyển sang nền kinh tế thị trường, phá sản doanh nghiệp là hiện
tượng kinh tế - xã hội tồn tại khách quan. Tính tất yếu khách quan của hiện tượng
phá sản doanh nghiệp được lý giải bằng các lý do cơ bản sau:
Thứ nhất, về thực chất doanh nghiệp cũng chỉ là thực thể xã hội và như vậy, cũng
như các thực thể khác, doanh nghiệp cũng có quá trình sinh ra, phát triển và diệt
vong.
Thứ hai, trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận luôn là mục đích tối cao mà mọi
doanh nghiệp đều hướng tới, là cơ sở cho sự tồn tại của mỗi doanh nghiệp, đồng
thời là động lực cơ bản thúc đẩy họ lao vào quá trình cạnh tranh nhằm tối đa hoá
lợi nhuận. Do vậy cạnh tranh là một quy luật khách quan. Khi tồn tại quyền tự do
cạnh tranh, các doanh nghiệp có cơ sở pháp lý để tham gia vào các cuộc cạnh tranh
nhằm dành dựt thị trường, khách hàng, lợi nhuận. Trong cuộc chiến trên thương
trường đó, có sự phân hoá kẻ mạnh, người yếu và do đó kẻ mạnh vươn lên chiếm
lĩnh thị trường, phát triển; những doanh nghiệp khác kinh doanh kém hiệu quả,
không đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ tài chính buộc phải chấm dứt hoạt động, rút
khỏi thị trường.
Thứ ba, kinh doanh là chấp nhận rủi ro, vì trong kinh doanh rủi ro là rất lớn.
Thậm chí có những doanh nghiệp chịu sự rủi ro ngay khi mới thành lập và bị phá
sản. Hơn nữa, sự đa dạng của các lý do thất bại trong kinh doanh còn thể hiện ở
việc: sự yếu kém về năng lực tổ chức, quản lý hoạt động sản xuất – kinh doanh, sự
thiếu khả năng thích ứng với những biến động trên thương trường; vi phạm các chế
độ, thể lệ quản lý…
Tóm lại: phá sản là hiện tượng tất yếu trong nền kinh tế thị trường nó hiện hữu
như là 1 sản phẩm của quá trình cạnh tranh chọn lọc và đào thải tự nhiên của nền
kinh tế thị trường phát triển ở các nước trên thế giới hay nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
SVTH: NHÓM 06- DHKT6TH Trang 1 GVHD: ThS. Nguyễn Thái Bình
Phá sản doanh nghiệp theo luật phá sản 2014
NỘI DUNG


CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU VỀ PHÁ SẢN
Phá sản là hiện tượng kinh tế bình thường, khách quan, phát sinh khi các doanh
nghiệp kinh doanh thua lỗ kéo dài và rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán.
Phá sản hiện nay không chỉ là việc chấm dứt hoạt động, thu hồi toàn bộ tài sản của
doanh nghiệp và thanh toán cho các chủ nợ theo một thứ tự nhất định. Phá sản còn
một khía cạnh đáng lưu ý là, tạo cơ hội cho doanh nghiệp làm ăn thua lỗ thỏa thuận
với các chủ nợ, tái cấu trúc lại doanh nghiệp và lên kế hoạch trả nợ hợp lý để trở lại
hoạt động bình thường.
I) Khái niệm phá sản
1)Định nghĩa
Theo điều 3 Luật phá sản 2014 thì:” Doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả
năng thanh toán nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá
sản.”
Nợ đến hạn là nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần đã rõ ràng và
không có tranh chấp
Chủ nợ có yêu cầu thanh toán nhưng không thanh toán được
2)Ý nghĩa
Căn cứ pháp lý để khởi kiện
Căn cứ pháp lý để Tòa án mở thủ tục phá sản.
3) Đặc điểm của phá sản.
- Phá sản là thủ tục thanh toán nợ đặc biệt.
- Thanh toán theo danh sách chủ nợ đến hạn và chưa đến hạn.
- Thanh toán nợ trên cơ sở giá trị tài sản cò lại của doanh nghiệp.
- Chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp.
- Chế tài được áp dụng đối với người quản lý, điều hàn doanh nghiệp (cấm thành
lập, quản lý doanh nghiệp từ 1 đến 3 năm)
II) Nguyên nhân phá sản:
- Do yếu kếm về năng lực tổ chức quản lí
- Thiếu khả năng thích ứng với những biến động của thương trường( trong xu
hướng hội nhập)

- Do vi phạm các chế độ, thể lệ quản lí
- Do bất trắc và biến động khách quan trên thị trường (trong nước cũng như nước
ngoài)
SVTH: NHÓM 06- DHKT6TH Trang 2 GVHD: ThS. Nguyễn Thái Bình
Phá sản doanh nghiệp theo luật phá sản 2014
CHƯƠNG 2: QUY TRÌNH XEM XÉT PHÁ SẢN
Việc phá sản doanh nghiệp tại Việt Nam được quy định trong Luật phá sản năm
2014 và các văn bản hướng dẫn liên quan.
Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp không có khả năng
thanh toán các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu.
Các giai đoạn tiến hành thủ tục phá sản doanh nhiệp
Thủ tục phá sản được áp dụng đối với doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá
sản gồm các bước sau:
- Nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản
- Phục hồi hoạt động kinh doanh
- Thanh lí tài sản, các khoản nợ
Tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản
1, Quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
a) Quyền nộp đơn
- Chủ nợ có bảo đảm một phần
- Chủ nợ không được bảo đảm
- Đại diện của người lao động
- Đại diện chủ sở hữu ,DN nhà nước
- Cổ đông, nhóm cổ đông của CTCP
- Thành viên hợp danh của CTHD
b)Nghĩa vụ nộp đơn
- Chủ DN, người quản lý DN
2, Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
- Ngày, tháng, năm làm đơn
- Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã

- Căn cứ của việc mở yêu cầu mở thủ tục phá sản
Lưu ý: Tuỳ theo đối tượng nộp đơn mà bổ sung thêm các mục và giấy tờ sau.
Đối với các chủ nợ
- Tên, địa chỉ của người làm đơn
- Các khoản nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần đến hạn mà không
được DN, hợp tác xã thanh toán
- Quá trình đòi nợ
Đối với đại diện người lao động:
SVTH: NHÓM 06- DHKT6TH Trang 3 GVHD: ThS. Nguyễn Thái Bình
Phá sản doanh nghiệp theo luật phá sản 2014
- Tên, địa chỉ của người làm đơn
- Số tháng nợ tiền lương, tổng số tiền lương và các khoản nợ khác mà DN, hợp
tác xã không trả được cho người lao động
Đối với các chủ DN hoặc đại diện hợp pháp của DN, hợp tác xã, chủ sở hữu
của DN nhà nước:
- Báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh của DN, hợp tác xã,trong đó giải
trình nguyên nhân và hoàn cảnh liên quan đến tình trạng mất khả năng thanh toán
- Báo cáo mà các biện pháp mà doanh nghiệp, hợp tác xã đã thực hiện, nhưng
vẫn không khắc phục được tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến
hạn.
- Bảng kê chi tiết tài sản của doanh nghiệp,hợp tác xã và địa điểm nơi có tài sản
nhìn thấy được.
- Danh sách các chủ nợ của doanh nghiệp hợp tác xã trong đó ghi rõ tên,địa chỉ
của các chủ nợ,ngân hàng mà chủ nợ có tài khoản
- Danh sách những người mắc nợ của doanh nghiệp,hợp tác xã trong đó ghi rõ
họ tên địa chỉ của họ,ngân hàng mà họ có tài khoản
- Danh sách ghi rõ họ tên địa chỉ của các thành viên,nếu doanh nghiệp mắc nợ là
1 công ty có thành viên liên đới chiu về các khoản nợ của doanh nghiệp
- Những tài liệu khác mà tòa án yêu cầu doanh nghiệp,hợp tác xã phải cung cấp
theo quy định của pháp luật.

Đối với các cổ đông của công ty cổ phần
- Báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh của doanh của doanh nghiệp, hợp
tác xã, trong đó giải trình nguyên nhân và hoàn cảnh liên quan đến tình trạng mất
khả năng thanh toán.
- Báo cáo về các biện pháp mà doanh nghiệp, hợp tác xã đã thực hiện nhưng
vẫn không khắc phục được tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến
hạn.
SVTH: NHÓM 06- DHKT6TH Trang 4 GVHD: ThS. Nguyễn Thái Bình
Phá sản doanh nghiệp theo luật phá sản 2014
- Bảng kê chi tiết tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã và địa điểm nơi có tài
sản nhìn thấy được.
- Danh sách các chủ nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã trong đó gi rõ tên, địa
chỉ của các chủ nợ, ngân hàng mà chủ nợ có tài khoản.
3, Cơ quan có thẩm quyền giải quyết thủ tục phá sản.
Toà án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với
doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện đó,
Toà án nhân dân cấp tỉnh xử lý các vụ việc liên quan đến các đối tượng còn lại.
Việc tiến hành thủ tục phá sản tại Toà án nhân dân cấp huyện do một Thẩm
phán phụ trách, tại Toà án nhân dân cấp tỉnh do một Thẩm phán hoặc Tổ Thẩm
phán gồm có ba Thẩm phán phụ trách.
4, Thụ lý đơn và Mở thủ tục phá sản.
a) Thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.
Sau khi nhận được đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản nếu thấy cần sửa đổi đơn, bổ
sung tài liệu thì Toà án yêu cầu người nộp đơn thực hiện việc sửa đổi, bổ sung
trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Toà án.
Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, kể từ ngày người nộp đơn xuất
trình biên lai nộp tiền tạm ứng phí phá sản. Trường hợp người nộp đơn không phải
nộp tiền tạm ứng phí phá sản thì ngày thụ lý đơn là ngày Toà án nhận được đơn.
Toà án phải cấp cho người nộp đơn giấy báo đã thụ lý đơn.(điều 22)
b)Mở thủ tục phá sản.

Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Toà án
phải ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản.
Toà án ra quyết định mở thủ tục phá sản khi có các căn cứ chứng minh doanh
nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản. Trong trường hợp cần thiết, trước
khi ra quyết định mở thủ tục phá sản, Tòa án có thể triệu tập phiên họp với sự tham
gia của người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, chủ doanh nghiệp hoặc đại diện
hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu cầu mở thủ tục phá sản, cá nhân, tổ
SVTH: NHÓM 06- DHKT6TH Trang 5 GVHD: ThS. Nguyễn Thái Bình
Phá sản doanh nghiệp theo luật phá sản 2014
chức có liên quan để xem xét, kiểm tra các căn cứ chứng minh doanh nghiệp, hợp
tác xã lâm vào tình trạng phá sản.
Quyết định mở thủ tục phá sản phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định;
b) Tên của Toà án; họ và tên Thẩm phán phụ trách tiến hành thủ tục phá sản;
c) Ngày và số thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; tên, địa chỉ của người làm
đơn yêu cầu;
d) Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản;
đ) Thời gian, địa điểm khai báo của các chủ nợ và hậu quả pháp lý của việc
không khai báo.
Toà án ra quyết định không mở thủ tục phá sản nếu xét thấy doanh nghiệp, hợp
tác xã chưa lâm vào tình trạng phá sản.(Điều 28)
Quyết định của Toà án về mở thủ tục phá sản được gửi cho doanh nghiệp, hợp
tác xã, lâm vào tình trạng phá sản, các chủ nợ , người mắc nợ của doanh nghiệp
,hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.Viện kiểm sát cùng cấp và đăng trên báo địa
phương nơi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản có địa chỉ chính,
báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên tiếp.
Thời hạn gửi và thông báo quyết định này là bảy ngày, kể từ ngày Toà án ra
quyết định mở thủ tục phá sản.
5, Tổ Quản lý, thanh lý tài sản
Tổ quản lý, thanh lý tài sản được lập để quản lý, giám sát việc sử dụng tài sản

của doanh nghiệp sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản doanh nghiệp và chịu
trách nhiệm trước thẩm phán về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình
6, Các hoạt động kinh doanh được cho phép trong quá trình phá sản
Trong quá trình phá sản doanh nghiệp, mọi hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp vẫn được tiến hành bình thường nhưng phải chịu sự giám sát, kiểm tra của
thẩm phán và tổ quản lý tài sản. Có một số hoạt động theo quy định của Luật Phá
sản bị cấm và một số hoạt động khác chỉ được phép thực hiện sau khi có sự đồng ý
bằng văn bản của Thẩm phán.
7, Hội nghị chủ nợ và phục hồi hoạt động kinh doanh
SVTH: NHÓM 06- DHKT6TH Trang 6 GVHD: ThS. Nguyễn Thái Bình
Phá sản doanh nghiệp theo luật phá sản 2014
- Hội nghị chủ nợ được Thẩm phán triệu tập và chủ trì để thông qua các vấn đề
về kiểm kê tài sản, phê duyệt phương án phục hồi hoạt động kinh doanh, phương án
thanh lý tài sản và các vấn đề khác liên quan.
- Thẩm phán ra quyết định áp dụng phục hồi hoạt động kinh doanh khi được Hội
nghị chủ nợ lần thứ nhất thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh.
- Thời hạn để doanh nghiệp thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh
là ba (03) năm.
- Khi doanh nghiệp đã hoàn thành xong phương án phục hồi kinh doanh, Thẩm
phán ra quyết định đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp
lâm vào tình trạng phá sản được coi không còn lâm vào tình trạng phá sản.
8, Thanh lý tài sản- Thứ tự phân chia tài sản.
a) Các trường hợp mở thủ tục thanh lý tài sản
Trường hợp đặc biệt: Doanh nghiệp bị thua lỗ đã được Nhà nước áp dụng biện
pháp đặc biệt để phục hồi hoạt động kinh doanh, nhưng vẫn không phục hồi được
và không thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ yêu cầu thì Tòa án mở
thủ tục thanh lý mà không phải triệu tập Hội nghị chủ nợ
Chủ doanh nghiệp, đại diện hợp pháp của doanh nghiệp không tham gia hội nghị
chủ nợ mà không có lý do chính đáng sau khi Hội nghị chủ nợ đã hoãn một lần
trong trường hợp chủ nợ, người lao động nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.

Không đủ số chủ nợ tham gia hội nghị chủ nợ sau khi hội nghị chủ nợ đã được
hoãn một lần nếu người nộp đơn là cổ đông công ty cổ phần, thành viên công ty
hợp danh, doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, chủ sở hữu doanh nghiệp nhà
nước
Doanh nghiệp không xây dựng được phương án phục hồi
Hội nghị chủ nợ không thông qua phương án phục hồi
Doanh nghiệp thực hiện không đúng hoặc không thực hiện được phương án phục
hồi
b) Thứ tự phân chia tài sản
-Phí phá sản
Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp
luật và các quyền lợi khác theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã
ký kết
SVTH: NHÓM 06- DHKT6TH Trang 7 GVHD: ThS. Nguyễn Thái Bình
Phá sản doanh nghiệp theo luật phá sản 2014
-Các khoản nợ có bảo đảm
-Các khoản nợ không có bảo đảm
Trường hợp giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi thanh toán đủ các
khoản quy định trên mà vẫn còn thì phần còn lại thuộc về chủ sở hữu doanh nghiệp,
xã viên hợp tác xã.
9, Tuyên bố phá sản doanh nghiệp
Sau khi phương án phân chia tài sản đã được thực hiện xong, Thẩm phán sẽ ra
quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp đồng thời với việc ra quyết định đình chỉ
thủ tục thanh lý tài sản.
CHƯƠNG 3:TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG VÀ PHÁ SẢN CỦA DN HIỆN
NAY, MẶT TÍCH CỰC, HẠN CHẾ VÀ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT CỦA NHÓM.
I)Tình hình hoạt động và phá sản của DN hiện nay.
Năm 2011 được cho là năm khó khăn nhất đối với các doanh nghiệp từ sau Đổi
Mới.
Kinh tế khó khăn, lạm phát cao, lãi suất tăng cao và đồng tiền mất giá. Chi phí

ngày càng đội lên ở phía đầu vào trong khi ở đầu ra thì sức mua giảm mạnh. Khó
khăn bủa vây doanh nghiệp từ mọi hướng. Nhiều "chiến sĩ trên mặt trận kinh tế" đã
hy sinh.
Báo cáo của Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội cho thấy, trong 6 tháng đầu năm nay,
có khoảng 30% số doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh đã phá sản, giải thể, đóng
cửa, tạm ngừng sản xuất.
Theo VietNamNet chỉ trong 9 tháng đầu năm, đã có tới hơn 48.000 doanh nghiệp
phá sản. Những DN còn "trụ" lại được trong cơn bão khủng hoảng cũng đang gồng
mình, gắng sức vượt bão.
Các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn do tiếp cận nguồn vốn ngân hàng do
thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt và lãi suất cho vay vượt quá khả năng chịu
đựng của doanh nghiệp.
Đa số doanh nghiệp cho biết họ gặp nhiều khó khăn hơn các năm trước cả về
việc tiếp cận vốn cũng như chi phí vốn.
Vụ phá sản của Siêu thị điện máy Wonder Buy tại TP.HCM vào giữa tháng
6/2011 gióng hồi chuông báo động cả nước. Giải thích lý do phá sản, ban lãnh đạo
Công ty Cổ phần Điện máy - Máy tính - Viễn thông Hợp Nhất, đơn vị sở hữu
SVTH: NHÓM 06- DHKT6TH Trang 8 GVHD: ThS. Nguyễn Thái Bình
Phá sản doanh nghiệp theo luật phá sản 2014
thương hiệu Wonder Buy, cho biết, đã lỗ hơn 52 tỷ đồng chỉ trong một năm hoạt
động
Nhưng theo ông Phan Thanh Hà, Tổng giám đốc Hợp Nhất, Wonder Buy không
phải là siêu thị điện máy đầu tiên rơi vào cảnh phá sản tại thị trường TP.HCM, mà
trước đó nhiều siêu thị nhỏ lẻ khác đã âm thầm ngừng hoạt động.
Nhưng phá sản không chỉ là những trường hợp đã chính thức tuyên bố như
Wonder Buy. Một công ty nhỏ tại Hà Nội vừa trả lại văn phòng trên phố Thái Hà
sầm uất ở quận Đống Đa để rút về đặt văn phòng tại nhà riêng của giám đốc ở quận
Long Biên, cách xa trung tâm. "Làm thương mại, chủ yếu buôn bán thiết bị máy
tính mà giờ rút về đây cũng là việc cực chẳng đã. Khách mấy ai tới đây mua đâu.
Chỉ cố giữ để chờ khấm khá hơn thì tái hoạt động, không thì coi như bỏ", vị giám

đốc (không muốn nêu tên) chua chát nói.
Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp bỗng dưng muốn đổi ngành kinh doanh chính
để sống tạm qua thời khó khăn.
Theo số liệu của Sở Công Thương TP.HCM, 6 tháng đầu năm 2011, nhiều doanh
nghiệp chọn phương án sản xuất cầm chừng. Một số doanh nghiệp tạm đình hoãn,
dãn tiến độ thực hiện dự án, hạn chế đầu tư mở rộng quy mô
Thời điểm khó khăn hiện nay mang lại quá nhiều bất lợi và đe dọa sự sống còn
của doanh nghiệp ở nhiều ngành.
Tuy nhiên trong giông bão không phải là không có cơ hội và doanh nghiệp phải
bình tĩnh nhìn nhận cơ hội để tìm cửa sống cho mình.
Phải tìm mọi cách để giảm áp lực khó khăn. Chẳng hạn, hợp tác với các doanh
nghiệp trong chuỗi cung ứng với mình để cùng san sẻ khó khăn và chi phí. Đồng
thời, nên hướng tới sự phát triển dài hạn về sau.
II)Mặt tích cực và tiêu cực của phá sản
Phá sản là một hiện tượng kinh tế xã hội tất yếu trong môi trường kinh doanh
cạnh tranh như hiện nay.Trong nền kinh tế thị trường thì phá sản là con dao 2 lưỡi
bởi vì: Phá sản vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực.
a) Tích cực:
Phá sản là tiếng chuông cảnh tỉnh đối với các doanh nghiệp
SVTH: NHÓM 06- DHKT6TH Trang 9 GVHD: ThS. Nguyễn Thái Bình
Phá sản doanh nghiệp theo luật phá sản 2014
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay cạnh tranh là tất yếu doanh nghiệp nào
mạnh sẽ tồn tại, doanh nghiệp nào yếu thì sẽ bị "đào thải" và phá sản là một trong
những trường hợp loại trừ các doanh nghiệp yếu.
b) Tiêu cực
Gây thất nghiệp
Thiệt hại về kinh tế cho các củ nợ
Gây bất ổn trong xã hội
Các tập đoàn kinh tế lớn phá sản sẽ làm mất cân bằng nền kinh tế, làm suy yếu
nền kinh tế của một quốc gia.

III) Ý kiến đề xuất của nhóm
Để cho việc “phá sản” không còn là nỗi kinh hoàng, nhức nhói của hàng ngàn,
hàng vạn doanh nghiệp không những của riêng Việt Nam mà còn của cả Thế giới
thì nhóm chúng tôi có đưa ra một số đề xuất sau:
a) Về luật phá sản 2014
Thứ nhất: Khái niệm phá sản vẫn chưa triệt để.
Điều 3 Luật phá sản 2014 không quy định rõ số nợ và thời gian quá hạn không
thực hiện nghĩa vụ thanh toán của con nợ. Điều này có thể dẫn đến sự lạm dụng
quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản từ phía các chủ nợ.
Luật nên quy định rõ số nợ và thời gian quá hạn không thực hiện nghĩa vụ
thanh toán của con nợ.
Thứ hai: Về các loại chủ nợ.
_Về nguyên tắc, Luật phá sản 2014 đã thể hiện tinh thần bảo vệ lợi ích của chủ
nợ có đảm bảo triệt để hơn so với chủ nợ không có đảm bảo.
_Tuy nhiên một số quy định của Luật phá sản 2014 lại không phù hợp với tinh
thần chủ đạo đó. Cụ thể, ngay từ khi có quyết định thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục
phá sản thì quyền được thanh toán nợ đến hạn của chủ nợ có đảm bảo đã bị hạn
chế, bị tạm đình chỉ cho đến khi có quyết định thanh lý tài sản (điều 27, điều 35),
trừ khi trường hợp được tòa án cho phép. Trong khi đó các chủ nợ không có đảm
bảo vẫn có thể được thanh toán các khoản nợ đến hạn của mình sau khi có quyết
định thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Việc thanh toán các khoản nợ không có
đảm bảo chỉ bị cấm sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản (điều 31).
SVTH: NHÓM 06- DHKT6TH Trang 10 GVHD: ThS. Nguyễn Thái Bình
Phá sản doanh nghiệp theo luật phá sản 2014
 Luật cần nêu rõ và bảo vệ quyền lợi của các loại “chủ nợ”, nhất là chủ nợ có
đảm bảo.
Thứ ba: Chủ nợ mới.
_Ngoài chủ nợ có bảo đảm, chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một
phần, còn một loại chủ nợ nữa mà Luật không đề cập đến mặc dù sự hiện diện của
loại chủ nợ này trong thủ tục phá sản là hoàn toàn hiện thực và chủ nợ này có

quyền đặc trưng của mình.
_Đó là chủ nợ mới – chủ nợ xuất hiện trên cơ sở các hoạt động kinh doanh của
DN sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản. Luật đề cập đến các khoản nợ mới
(Điều 31) nhưng Luật lại không nói về chủ nợ mới. Luật thừa nhận sau khi có quyết
định mở thủ tục phá sản mọi hoạt động kinh doanh của DN vẫn tiến hành bình
thường nhưng phải chịu giám sát, kiểm tra của Thẩm phán, Tổ quản lý tài sản (Điều
30). Điều này có nghĩa là DN có thể giao kết hợp đồng mới – xuất hiện những chủ
nợ mới, các khoản nợ mới. Đây cũng là điểm không chặt chẽ của Luật 2014. Trong
khi đó DN có quyết định mở thủ tục phá sản vẫn tồn tại, vẫn hoạt động kinh doanh,
vẫn phải ký kết các giao dịch mới, có các chủ nợ mới và chỉ chấm dứt hoạt động
kinh doanh khi có quyết định thanh lý tài sản (Điều 82).
 Luật cần nêu rõ khái niệm, vai trò và quyền lợi hợp pháp của những chủ nợ
mới, nhằm bảo vệ quyền lợi của chủ nợ mới và góp phần gầy dựng lại sự nghiệp
cho các DN lâm vào tình trạng phá sản.
Thứ tư: Tính khả thi không cao, rườm rà thủ tục.
_Chỉ riêng việc báo cáo cho tòa đã phải làm tới 6 loại khác nhau. Ngoài ra, còn
phải tốn tiền (tạm ứng chi phí phá sản), mất thời gian. Nếu làm trôi chảy đúng như
quy định thì chỉ riêng giai đoạn từ lúc mở thủ tục phá sản đến khi mở thủ tục thanh
lý tài sản đã mất ít nhất là 6 tháng trời. Nhưng từ khi có Luật Phá sản đến nay chưa
có vụ nào “trơn tru” như vậy cả mà ít nhất cũng là hơn 1 năm trời. Điều đáng nói
nữa là theo quy định chỉ có doanh nghiệp ngoài quốc doanh mới bị ràng buộc về
nghĩa vụ yêu cầu mở thủ tục phá sản, còn đối với doanh nghiệp Nhà nước thì nghĩa
SVTH: NHÓM 06- DHKT6TH Trang 11 GVHD: ThS. Nguyễn Thái Bình
Phá sản doanh nghiệp theo luật phá sản 2014
vụ ấy lại được ưu tiên xem là quyền lợi. Quy định như vậy rõ ràng trong bối cảnh
hiện nay càng hợp pháp hóa cho nhiều doanh nghiệp trốn tránh việc phá sản.
 Luật nên đi vào thực tế hơn, hiệu quả hơn (nâng cao giá trị thu hồi nợ của các
chủ nợ, giảm bớt chi phí và rút ngắn thời gian xử lý một vụ kiện…).
b) Về phía các doanh nghiệp
-Phá sản, dù đã chính thức hay đang chạm bờ vực, là điều không ai muốn

-Vì vậy DN luôn có cho mình chiến lược kinh doanh phù hợp, được điều chỉnh
linh hoạt tại từng thời điểm.
-Nếu quá khó khăn, thậm chí doanh nghiệp phải áp dụng chiến lược tạm co cụm
để bảo toàn vốn.
-Bên cạnh đó các DN nên hợp tác để chia sẻ khó khăn, lúc thị trường khó khăn,
ảm đạm và vắng vẻ .
-Trong khó khăn, doanh nghiệp vẫn cần chú trọng quản lý nguồn lực con người,
đặc biệt là quản lý nhân tài. Doanh nghiệp cần thu hút và giữ chân được những
nhân tài trong doanh nghiệp vì họ mới là những người giải quyết được các vấn đề
phức tạp của thị trường và môi trường tổ chức.
-Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng phải linh hoạt điều chỉnh sản phẩm, thị trường
phù hợp với điều kiện mới.
Trong lúc khó khăn, nếu doanh nghiệp bỏ qua những khoản lợi nhuận nhỏ và
không chuyên tâm, cẩn trọng với từng đường đi nước bước thì rất dễ rơi vào tình
trạng phá sản.

SVTH: NHÓM 06- DHKT6TH Trang 12 GVHD: ThS. Nguyễn Thái Bình
Phá sản doanh nghiệp theo luật phá sản 2014
KẾT LUẬN
Nền kinh tế thị trường giống như một cơ thể sống, những tế bào mới sinh ra,
những tế bào già chết đi. Trong nền kinh tế phát triển, hàng ngày vẫn có những bố
cáo thành lập DN, đồng thời cũng có DN đóng cửa.Việc chấm dứt hoạt động của
DN có nhiều cách, có thể là giải thể, có thể là tạm ngừng hoạt động, và phá sản chỉ
là một trong những hình thức ngừng hoạt động có trả nợ. Có điều, khi tuyên bố phá
sản thì tình trạng trầm trọng hơn, vì vậy lúc đó có các cơ quan tư pháp tham gia vào
giúp thực hiện việc đòi nợ một cách có trật tự. Làm như vậy, nền kinh tế có trật tự
hơn, tránh tình trạng hỗn loạn.
Một DN khi đã có đầy đủ dấu hiệu của phá sản thiết nghĩ cũng nên nhanh chóng
xử lý theo luật, nhằm hạn chế những tổn thất rủi ro cho các nhà đầu tư vào DN, hạn
chế những tác đông xấu mang tính phản ứng dây chuyền lên toàn bộ nền kinh tế.

Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chủ sở hữu hoặc người quản lý doanh
nghiệp, các chủ nợ, người lao động trong các doanh nghiệp nhận thức đúng đắn về
vai trò của thủ tục phá sản và sử dụng Luật Phá sản như là một công cụ hữu hiệu để
lành mạnh hoá tình hình tài chính doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp phục hồi, trở
lại hoạt động kinh doanh bình thường.
SVTH: NHÓM 06- DHKT6TH Trang 13 GVHD: ThS. Nguyễn Thái Bình

×