Tải bản đầy đủ (.pdf) (104 trang)

Quản lý nhà nước về thuế GTGT đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại chi cục thuế Thành phố Thái Nguyên

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.44 MB, 104 trang )

Số hóa bởi trung tâm học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
–––––––––––––––––––




DƢƠNG VĂN THÁI




QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THUẾ GTGT ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TẠI CHI CỤC
THUẾ THÀNH PHỐTHÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60.62.01.15



LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ



Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. ĐỖ THỊ BẮC







THÁI NGUYÊN - 2013


Số hóa bởi trung tâm học liệu
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn: “Quản lý nhà nước về thuế giá trị
gia tăng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục Thuế thành
phố Thái Nguyên” , số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung
thực và chưa hề được sử dụng đề bảo vệ một học vị nào.
Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên
cứu có tính độc lập riêng, chưa được công bố ở bất kỳ đâu, các số liệu được
sử dụng trong luận văn hoàn toàn trung thực, chính xác và đã được trích dẫn
nguồn gốc rõ ràng.
Thái Nguyên, tháng 06 năm 2013
Tác giả


Dƣơng Văn Thái


Số hóa bởi trung tâm học liệu
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập và thực hiện luận văn: “Quản lý nhà nước về
thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục
Thuế thành phố Thái Nguyên” tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ quý
báu của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài trường.

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Lãnh đạo phòng
quản lý Đào tạo Sau Đại học cùng các thầy cô giáo trường Đại học Kinh tế và
Quản trị Kinh doanh đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
học tập tại trường.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS. Đỗ Thị Bắc người đã
tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Chi cục Thuế thành phố Thái
Nguyên cùng các anh chị em trong Chi cục đã tạo điều kiện cho tôi trong việc
thu thập số liệu và các thông tin cần thiết để tôi hoàn thành luận văn của mình.
Tôi cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của bạn bè và gia đình đã giúp đỡ tôi
thực hiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2013
Tác giả luận văn


Dƣơng Văn Thái


Số hóa bởi trung tâm học liệu
iii
MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ x

MỞ ĐẦU 1
1. Sự cần thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4. Đóng góp mới của luận văn 3
5. Kết cấu luận văn 3
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ
NHÀ NƢỚC VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 4
1.1. Cơ sở lý luận về Thuế giá trị gia tăng 4
1.1.1. Những vấn đề chung về thuế 4
1.1.2. Lý luận cơ bản về Thuế giá trị gia tăng 8
1.2. Những vấn đề chung về doanh nghiệp ngoài quốc doanh 13
1.2.1. Khái niệm 13
1.2.2. Đặc điểm của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh 13
1.2.3. Vai trò của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh 14
1.3. Quản lý Nhà nước về Thuế giá trị gia tăng 17
1.3.1. Khái niệm quản lý Nhà nước về Thuế giá trị gia tăng 17
1.3.2. Sự cần thiết phải tăng cường quản lý Nhà nước về Thuế GTGT 19

Số hóa bởi trung tâm học liệu
iv
1.3.3. Nội dung của quản lý Nhà nước về Thuế GTGT đối với doanh
nghiệp ngoài quốc doanh 19
1.3. Kinh nghiệm về quản lý Nhà nước về Thuế giá trị gia tăng đối với
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh một số nước trên thế giới và
bài học kinh nghiệm cho Việt nam 25
1.3.1. Kinh nghiệm về quản lý Nhà nước về Thuế giá trị gia tăng của
một số nước trên thế giới 25
1.3.2. Những bài học kinh nghiệm rút ra trong quản lý Nhà nước về

Thuế giá trị gia tăng đối với Việt Nam 27
Chƣơng 2: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1. Câu hỏi nghiên cứu 29
2.2. Phương pháp nghiên cứu 29
2.2.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 29
2.2.2. Thu thập số liệu 29
2.2.3. Phương pháp phân tích 31
2.3. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 33
2.3.1. Các chỉ tiêu phản ánh mức độ phát triển của các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh 33
2.3.2. Kết quả kinh doanh bình quân của một doanh nghiệp ngoài
quốc doanh 33
2.3.3. Các chỉ tiêu để đánh giá quản lý Nhà nước về thuế GTGT đối
với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh 33
Chƣơng 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ
, TỈNH
THÁI NGUYÊN 34
3.1. Khái quát về thành phố Thái Nguyên 34

Số hóa bởi trung tâm học liệu
v
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 34
3.1.2. Điều kiện kinh tế của Thành phố Thái Nguyên 34
3.1.3. Điều kiện văn hoá, y tế, giáo dục 35
3.1.4. Kỹ thuật - công nghệ 35
3.2. Thực trạng quản lý Nhà nước về thuế GTGT đối với các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục Thuế thành phố Thái Nguyên 36
3.2.1. Tình hình cơ bản của Chi cục Thuế thành phố Thái Nguyên 36
3.2.2. Số lượng doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thành
phố Thái Nguyên 43

3.2.3. Tình hình thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước trên địa
bàn thành phố Thái Nguyên 45
3.2.4. Thực trạng quản lý Nhà nước về thuế GTGT đối với doanh
nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thành phố Thái Nguyên 49
3.3. Đánh giá hoạt động quản lý Nhà nước về thuế GTGT đối với doanh
nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thành phố Thái Nguyên 71
3.3.1. Những mặt đạt được 71
3.3.2. Những mặt còn hạn chế 76
Chƣơng 4: GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ
NHÀ NƢỚC VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI CÁC
DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TẠI CHI CỤC THUẾ
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN 78
4.1. Quan điểm, đ ớng, mục tiêu tăng cường quản lý Nhà nước
về thuế GTGT đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh 78
4.1.1. Quan điểm 78
4.1.2. Định hướng 78
4.1.3. Mục tiêu 79

Số hóa bởi trung tâm học liệu
vi
4.2. Giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về thuế GTGT đối
với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại
phố Thái Nguyên 81
4.2.1. Công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế 81
4.2.2. Về công tác kê khai, kế toán thuế GTGT 82
4.2.3. Công tác quản lý nợ thuế GTGT 82
4.2.4. Công tác kiểm tra thuế GTGT 83
4.2.5. Về công tác cải cách, hiện đại hoá trang thiết bị phục vụ hoạt
động quản lý Nhà nước về thuế GTGT 84
4.2.

Nhà nước về GTGT đối với
84
4.3. Kiến nghị 85
4.3.1. Kiến nghị với Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên 85
4.3.2. Kiến nghị với Tổng cục Thuế và Bộ tài chính 86
4.3.3. Kiến nghị với UBND các cấp, các tổ chức kinh tế, xã hội,
chính trị trong tỉnh Thái Nguyên 87
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC


Số hóa bởi trung tâm học liệu
vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt
Nội dung
BTC
Bộ tài chính
CBCC
Cán bộ công chức
CP
Chính phủ
DN
Doanh nghiệp
ĐTNT
Đối tượng nộp thuế
GDP
Thu nhập quốc dân

GTGT
Giá trị gia tăng
HTKK
Hỗ trợ kê khai

Nghị định
NNT
Người nộp thuế
NSNN
Ngân sách nhà nước

Quyết định
TCT
Tổng cục thuế
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
TP
Thành phố
TT
Thông tư
TTĐB
Tiêu thụ đặc biệt
UBND
Ủy ban nhân dân
XHCN
Xã hội chủ nghĩa



Số hóa bởi trung tâm học liệu

viii
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1. Số doanh nghiệp điều tra theo loại hình 30
Bảng 2.2. Số doanh nghiệp điều tra theo lĩnh vực hoạt động 31
Bảng 3.1. Số lượng cán bộ, công chức của Chi cục năm 2012 41
Bảng 3.2: Trình độ của cán bộ, công chức Chi cục năm 2012 42
Bảng 3.3. Trang thiết bị quản lý thu thuế của Chi cục Thuế thành phố
Thái Nguyên năm 2012 43
Bảng 3.4: Tăng trưởng doanh nghiệp ngoài quốc doanh theo loại hình
doanh nghiệp giai đoạn 2010 - 2012 44
Bảng 3.5. Kết quả thu ngân sách tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2010 - 2012 46
Bảng 3.6. Số thu ngân sách thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2010 - 2012 48
Bảng 3.7. Số lượng cấp mã số thuế mới năm 2010 - 2012 49
Bảng 3.8: Tình hình quản lý hồ sơ khai thuế GTGT các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh năm 2010-2012 52
Bảng 3.9. Số lượng doanh nghiệp ngoài quốc doanh giải thể, phá sản, bỏ
trốn giai đoạn 2010 - 2012 55
Bảng 3.10: Số liệu kiểm tra hồ sơ khai thuế GTGT tại bàn 57
Bảng 3.11: Số liệu kiểm tra tình hình chấp hành pháp Luật thuế GTGT
tại trụ sở doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Thái Nguyên 59
Bảng 3.12 2010-2012 61
Bảng 3.13: Kết quả thu thuế GTGT các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
năm 2010-2012 tại Chi cục Thuế thành phố Thái Nguyên 63
Bảng 3.14: Nợ thuế GTGT tại Chi cục Thuế thành phố Thái Nguyên
2010 - 2012 64
Bảng 3.15: Tình hình vi phạm chế độ quản lý, sử dụng hoá đơn của các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh 66

Số hóa bởi trung tâm học liệu

ix
Bảng 3.16: Số tiền phạt vi phạm hành chính do vi phạm chế độ quản lý,
sử dụng hoá đơn của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh 67
Bảng 3.17. Tổng hợp các ý kiến nhu cầu về thông tin của doanh nghiệp 69
Bảng 3.18. Tổng hợp các ý kiến nhu cầu về quản lý thuế GTGT 70


Số hóa bởi trung tâm học liệu
x
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 3.1. Cơ cấu tổ chức của Chi cục Thuế thành phố Thái Nguyên 36
Biểu đồ 3.1: Số lượng doanh nghiệp NQD giai đoạn 2010 - 2012 45
Biểu đồ 3.2: Thu NSNN tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2010 - 2012 47
Biểu đồ 3.3: Thu NSNN trên địa bàn thành phố Thái Nguyên giai đoạn
2010 - 2012 48

Số hóa bởi trung tâm học liệu
1
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Luật thuế Giá trị Gia tăng (GTGT) được thông qua ngày 10/5/1997 tại
kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa IX và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/1999.
Qua 14 năm thực hiện, Luật Thuế GTGT đã góp phần tích cực vào việc thúc
đẩy sản xuất trong nước; khuyến khích đầu tư, xuất khẩu; hỗ trợ chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo đảm nguồn thu
cho ngân sách nhà nước và cơ bản đáp ứng được các yêu cầu đặt ra trong quá
trình phát triển kinh tế.
Trong bối cảnh nền kinh tế đang tiếp tục chuyển đổi mạnh mẽ, hội nhập
ngày càng sâu hơn, rộng hơn, với vai trò là một sắc thuế có ảnh hưởng đến

nhiều mặt kinh tế - xã hội của đất nước, vấn đề hoàn thiện thuế GTGT, trong
đó có vấn đề hoàn thiện dưới góc độ pháp lý luôn là một nhiệm vụ cần phải
thực hiện nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường trong thời
kỳ hội nhập, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển theo hướng
lành mạnh, bền vững. Đồng thời, việc nghiên cứu quá trình triển khai áp dụng
Luật thuế GTGT trong hoạt động quản lý nhà nước và đời sống xã hội là thực
tiễn sinh động để làm cơ sở cho việc tiếp tục hoàn thiện các quy định về lĩnh
vực này.
Những năm qua Chi cục Thuế thành phố Thái Nguyên đã thực hiện
hoạt động quản lý Nhà nước về thuế GTGT đối với các doanh nghiệp, trong
đó có các doanh nghiệp ngoài quốc doanh với số thu về thuế GTGT của năm
sau cao hơn năm trước, góp phần hoàn thành nhiệm vụ thu NSNN của thành
phố Thái Nguyên nói riêng và tỉnh Thái Nguyên nói chung. Tuy nhiên quá
trình triển khai thực hiện công tác quản lý Nhà nước về thuế nói chung và
quản lý Nhà nước về thuế GTGT trong thực tế còn có những khó khăn, vướng
mắc cũng như những tồn tại, hạn chế nhất định như: Công tác kê khai, khấu

Số hóa bởi trung tâm học liệu
2
trừ thuế GTGT, công tác kiểm tra, công tác cưỡng chế nợ thuế GTGT vẫn
còn nhiều bất cập.
Xuất phát từ thực tế đó tôi lựa chọn đề tài: “Quản lý Nhà nước về thuế
GTGT đối với doanh nghiệp ngoài Quốc doanh tại Chi cục Thuế thành phố
Thái Nguyên” làm đề tài nghiên cứu luận văn góp phần thiết thực triển khai
thực hiện cải cách chính sách thuế, đặc biệt là thuế GTGT trong lộ trình thực
hiện Chiến lược cải cách hệ thống Thuế giai đoạn 2011 - 2020 mà Thủ tướng
Chính phủ đã phê duyệt.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Phân tích thực trạng quản lý Nhà nước về thuế GTGT đối với doanh

ng
quản lý Nhà nước về thuế GTGT đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại
Chi cục Thuế thành phố Thái Nguyên trong thời gian tới.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- , quản
lý Nhà nước về thuế GTGT đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý Nhà nước về thuế GTGT đối
với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục Thuế thành phố Thái Nguyên.
-
thuế GTGT đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục Thuế thành
phố Thái Nguyên.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các quản lý Nhà nước về
anh tại Chi cục Thuế thành
phố Thái Nguyên.

Số hóa bởi trung tâm học liệu
3
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Đề tài n

- : Nghiên cứu từ năm 2010 - 2012.
- Về nội dung: Nghiên cứu thực trạng quản lý Nhà nước về
Thái Nguyên.
4. Đóng góp mới của luận văn
- Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, có ý nghĩa lý luận và
thực tiễn thiết thực; là tài liệu để nghiên cứu, tham khảo đối với hoạt động
quản lý Nhà nước về
Chi cục Thuế thành phố Thái Nguyên cũng như Chi cục Thuế các Huyện, Thị

trong tỉnh.
- Luận văn nghiên cứu khá toàn diện và có hệ thống các giải pháp tăng
cường quản lý Nhà nước về
doanh tại Chi cục Thuế thành phố Thái Nguyên. Các giải pháp này có ý nghĩa
thiết thực giúp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về thuế GTGT nói riêng,
quản lý Nhà nước về Thuế nói chung tại Chi cục Thuế thành phố Thái Nguyên.
5. Kết cấu luận văn
:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý Nhà nước về thuế
GTGT đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu
Chƣơng 3:

Chƣơng 4
doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục Thuế thành phố Thái Nguyên.

Số hóa bởi trung tâm học liệu
4
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
NGOÀI QUỐC DOANH
1.1. Cơ sở lý luận về Thuế giá trị gia tăng
1.1.1. Những vấn đề chung về thuế
1.1.1.1. Khái niệm về thuế
Thuế ra đời cùng với sự ra đời của Nhà nước và sự phát triển tổn tại
của nền kinh tế hàng hoá tiền tệ. Nhà nước sử dụng thuế như một công cụ để
phục vụ cho việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình. Lịch sử
càng phát triển, các hệ thống thuế khoá, các hình thức thuế khoá và pháp luật
thuế ngày càng đa dạng và hoàn thiện cùng với sự phát triển của nền kinh tế

thị trường, các khoản đóng góp của người dân cho Nhà nước được xác định
và quy định công khai bằng pháp luật của Nhà nước. Các khoản thuế đóng
góp của dân tạo thành quỹ tiền tệ của Nhà nước. Cùng với sự hoàn thiện chức
năng của Nhà nước, phạm vi sử dụng quỹ tiền tệ của Nhà nước ngày càng mở
rộng. Nó không chỉ đảm bảo chi tiêu để duy trì quyền lực của bộ máy Nhà
nước, mà còn để chi tiêu cho các nhu cầu phúc lợi chung và kinh tế.
Thuế là một trong những biện pháp tài chính bắt buộc nhưng phi hình
sự của Nhà nước nhằm động viên một số bộ phận thu nhập từ lao động, từ
của cải, từ vốn, từ các chi tiêu hàng hoá và dịch vụ, từ tài sản của các thể
nhân và pháp nhân nhằm tập trung vào tay Nhà nước để trang trải các khoản
chi phí cho bộ máy nhà nước và các nhu cầu chung của xã hội. Các khoản thu
qua thuế được thể chế bằng luật. (Phan Thị Cúc - Trần Phước - Nguyễn Thị
Mỹ Linh, 2007).

Số hóa bởi trung tâm học liệu
5
1.1.1.2. Vai trò của thuế trong quản lý kinh tế xã hội
Để quản lý, điều hành vĩ mô nền kinh tế, Nhà nước sử dụng nhiều công
cụ như: Kế hoạch hoá, pháp luật, các chính sách tài chính tiền tệ Trong các
công cụ trên thì chính sách tài chính tiền tệ đóng vai trò quan trọng nhất và
thuế là một công cụ quan trọng trong chính sách tài chính tiền tệ, thuế được
nhà nước sử dụng để thực hiện vai trò quản lý vĩ mô kinh tế xã hội. Vai trò
của thuế trong quản lý kinh tế - xã hội của nhà nước được thể hiện theo một
số nội dung cơ bản sau:
a. Thuế là công cụ chủ yếu của nhà nước nhằm huy động tập trung một
phần của cải vật chất trong xã hội vào ngân sách nhà nước, thuế là nguồn thu
chủ yếu của ngân sách nhà nước
Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu
từ nội bộ nền kinh tế quốc dân. Tất cả các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước đều
được đáp ứng qua các nguồn thu từ thuế, phí các hình thức thu khác như: vay

mượn, viện trợ nước ngoài, bán tài nguyên quốc gia, thu khác Song thực tế
các hình thức thu ngoài thuế đó có rất nhiều hạn chế, bị ràng buộc bởi nhiều
điều kiện. Do đó thuế được coi là khoản thu quan trọng nhất vì khoản thu này
mang tính chất ổn định và khi nền kinh tế càng phát triển thì khoản thu này
càng tăng.
b. Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nước đối với nền kinh tế và
đời sống xã hội
Chính sách thuế được đặt ra không chỉ nhằm mang lại số thu đơn thuần
cho ngân sách mà yêu cầu cao hơn là qua thu góp phần thực hiện chức năng
việc kiểm kê, kiểm soát, quản lý hướng dẫn và khuyến khích phát triển sản
xuất, mở rộng lưu thông đối với tất cả các thành phần kinh tế theo hướng phát
triển của kế hoạch nhà nước, góp phần tích cực vào việc điều chỉnh các mặt
mất cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân.

Số hóa bởi trung tâm học liệu
6
Ngày nay, hướng vào việc xử lý các mục tiêu của kinh tế vĩ mô là
nhiệm vụ trọng tâm của chính phủ. Trong nền kinh tế thị trường hiện đại,
người ta thường xác định các mục tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản mà Chính phủ
phải theo đuổi đó là:
Một là, thuế kích thích sự tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm
Để thực hiện mục tiêu này, một trong những công vụ quan trọng mà nhà
nước sử dụng là chính sách thuế. Nội dung điều tiết của thuế gồm hai mặt:
Kích thích và hạn chế. Nhà nước đã sử dụng chính sách thuế một cách linh hoạt
trong từng thời kỳ nhất định, bằng việc tác động vào cung - cầu nhằm điều
chỉnh chu kỳ kinh doanh một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường.
Khi nền kinh tế suy thoái, tức là khi đầu tư ngừng trệ, sản xuất và tiêu
dùng đều giảm thì nhà nước dùng thuế để kích thích đầu tư và khuyến khích
tiêu dùng. Để hạn chế và gây áp lực đối với việc lưu giữ vốn không đưa vào
đầu tư, có thể tăng thuế đánh vào thu nhập về tiền gửi tiết kiệm và thu nhập

về tài sản dự trữ, từ đó sẽ khuyến khích việc đưa vốn vào đầu tư, sản xuất
kinh doanh.
Khi nền kinh tế hưng thịnh, để ngăn chặn nguy cơ một nền kinh tế
“nóng” phát triển dẫn đến lạm phát và khủng hoảng thừa thì nhà nước dùng
thuế để giảm tốc độ đầu tư ồ ạt và giảm bớt mức tiêu dùng của xã hội. Song
việc tăng thuế phải được xem xét trong một giới hạn cho phép để đảm bảo
vừa tăng nguồn thu cho NSNN vừa điều chỉnh cơ cấu ngành nghề hợp lý.
Như vậy, có thể thấy sự tác động của thuế có ảnh hưởng rất lớn đến nền
kinh tế, đến việc điều tiết kinh tế thị trường của Nhà nước. Thông qua thuế,
Nhà nước thực hiện định hướng phát triển sản xuất. Chính sách thuế có định
hướng phân biệt, có thể góp phần tạo ra sự phát triển cân đối hài hoà giữa các
ngành, các khu vực, các thành phần kinh tế, làm giảm bớt chi phí xã hội và
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường xảy ra các chu kỳ

Số hóa bởi trung tâm học liệu
7
kinh doanh đó là chu kỳ dao động lên xuống về mức độ thất nghiệp và tỷ lệ
lạm phát, sự ổn định nền kinh tế với tình trạng có đầy đủ công ăn việc làm,
lạm phát ở mức thấp để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững.
Hai là, thuế thực hiện vai trò tái phân phối các nguồn tài chính, góp
phần đảm bảo công bằng xã hội
Kinh tế thị trường làm tăng sự phân hoá giàu nghèo, sự phân hoá này
có những khi bất hợp lý và làm giảm tính hiệu quả kinh tế xã hội. Do vậy, cần
phải có những biện pháp phân phối lại của cải xã hội nhằm hạn chế sự phân
hoá này, làm lành mạnh xã hội.
Nhà nước dùng thuế để điều tiết phần chênh lệch giữa người giàu và
người nghèo, thông qua việc trợ cấp hoặc cung cấp hàng hoá công cụ. Thông
qua thuế Thu nhập, Nhà nước thực hiện vai trò điều chỉnh vĩ mô trong lĩnh
vực tiền lương và thu nhập, hạn chế sự phân hoá giàu nghèo và tiến tới công
bằng xã hội. Một khía cạnh khác của chính sách thuế nhằm điều chỉnh thu

nhập là các khoản thuế đánh vào tiêu dùng như: Thuế GTGT, thuế Tiêu thụ
đặc biệt.
Với những hàng hoá dịch vụ thiết yếu việc giảm thuế sẽ có lợi cho
người nghèo hơn và sự chênh lệch về thu nhập cũng được giảm bớt. Trái lại
những mặt hàng xa xỉ, cao cấp việc tăng thuế sẽ góp phần phân phối lại một
bộ phận thu nhập của người giàu trong xã hội. Tuy nhiên khi sử dụng công cụ
thuế để điều chỉnh thu nhập, mức thu nên xây dựng hợp lý tránh tình trạng
điều tiết quá lớn làm giảm khát vọng làm giàu của nhà kinh doanh và giảm
khả năng tăng trưởng kinh tế của đất nước.
Ba là, thuế là công cụ kiềm chế lạm phát
Nguyên nhân của lạm phát có thể do cung cầu làm cho giá cả hàng hoá
tăng lên hoặc do chi phí đầu vào tăng. Thuế được sử dụng để điều chỉnh lạm
phát, ổn định giá cả thị trường. Nếu cung nhỏ hơn cầu thì nhà nước dùng thuế

Số hóa bởi trung tâm học liệu
8
để điều chỉnh bằng cách giảm thuế đối với các yếu tố sản xuất, giảm thuế thu
nhập để kích thích đầu tư sản xuất ra nhiều khối lượng sản phẩm nhiều hơn.
Nếu lạm phát do chi phí tăng, gia tăng thất nghiệp, sự trì trệ của tốc độ phát
triển kinh tế, giá cả đầu vào tăng, nhà nước dùng Thuế hạn chế tăng chi phí
bằng cách giảm thuế đánh vào chi phí, kích thích tăng năng suất lao động.
nhập nền kinh tế thế giới
Bảo hộ hợp lý nền sản xuất trong nước tránh khỏi sự cạnh tranh từ bên
ngoài được coi là hết sức cần thiết đối với các nước. Điều này được thể hiện
rõ nét thông qua thuế xuất nhập khẩu. Để kích thích sản xuất trong nước phát
triển, kích thích sản xuất hàng hoá xuất khẩu, nhà nước đánh thuế rất thấp
hoặc không đánh thuế vào hàng xuất khẩu. Khuyến khích xuất khẩu hàng hoá
đã qua chế biến, hạn chế xuất khẩu nguyên liệu thô. Đánh thuế nhập khẩu
thấp đối với hàng hoá máy móc thiết bị trong nước chưa sản xuất được và
đánh thuế nhập khẩu cao đối với hàng hoá máy móc thiết bị trong nước đã sản

xuất được hoặc hàng hoá tiêu dùng xa xỉ.
Hiện nay, xu hướng hội nhập kinh tế đang phát triển mạnh mẽ ở trong
khu vực và trên thế giới. Sự ưu đãi, các hiệp định về thuế, tính thông lệ quốc
tế của chính sách thuế có thể làm gia tăng sự hoà nhập kinh tế giữa một số
quốc gia với khu vực và cộng đồng quốc tế. (Phan Thị Cúc - Trần Phước -
Nguyễn Thị Mỹ Linh, 2007).
1.1.2. Lý luận cơ bản về Thuế giá trị gia tăng
1.1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của Thuế giá trị gia tăng
Thuế GTGT là một sắc thuế trong hệ thống thuế Việt Nam nhằm góp
phần thúc đẩy sản xuất, mở rộng lưu thông hàng hoá và dịch vụ, khuyến khích
phát triển nền kinh tế quốc dân động viên một phần thu nhập của người tiêu
dùng vào ngân sách Nhà nước.

Số hóa bởi trung tâm học liệu
9
Thuế GTGT thuộc loại thuế gián thu và được áp dụng rộng rãi đối với
mọi tổ chức, cá nhân có tiêu dùng sản phẩm hàng hoá hoặc được cung ứng dịch
vụ, nên tạo được nguồn thu lớn và tương đối ổn định cho ngân sách nhà nước.
Sau 14 năm thực hiện, Luật thuế GTGT đã đi vào cuộc sống, phát huy
tác dụng tích cực trên các mặt của đời sống kinh tế - xã hội, như: khuyến
khích phát triển sản xuất kinh doanh; khuyến khích xuất khẩu và đầu tư; thúc
đẩy hạch toán kinh doanh của các doanh nghiệp; tạo nguồn thu lớn và ổn định
cho ngân sách Nhà nước; tạo điều kiện cho Việt Nam tham gia hội nhập quốc
tế; góp phần tăng cường quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp nói chung và quản lý thuế nói riêng.
Thuế GTGT là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm cuả hàng hoá,
dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.(Quốc
hội, 2008 a).
Thuế GTGT có những đặc điểm sau đây:
+ Ðây là một loại thuế tính vào mỗi giai đoạn sản xuất, lưu thông sản

phẩm hàng hoá, từ khi còn là nguyên liệu thô sơ cho đến sản phẩm hoàn
thành, và cuối cùng là giai đoạn tiêu dùng. Chính vì vậy mà chúng ta còn gọi
là thuế doanh thu có khấu trừ số thuế đã nộp ở giai đoạn trước. Thuế gía trị
gia tăng được cộng vào giá bán hàng hoá, dịch vụ, và do người tiêu dùng chịu
khi mua hàng hoá, sử dụng dịch vụ.
+ Thuế GTGT là một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hoá dịch vụ
nhằm động viên người tiêu dùng.
+ Thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn sản xuất kinh doanh nhưng
chỉ trên phần tăng thêm của hàng hoá dịch vụ ở mỗi giai đoạn luân chuyển.
Theo như cách đánh thuế này thì tổng số thuế thu được ở tất cả các giai đoạn
đúng bằng số thuế tính theo giá bán hàng hoá dịch vụ cho người tiêu dùng
cuối cùng.

Số hóa bởi trung tâm học liệu
10
+ Thuế GTGT có tính trung lập cao. Thuế GTGT không chịu ảnh
hưởng bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế, không phải là yếu tố của
chi phí mà chỉ đơn thuần là một khoản được cộng thêm vào giá bán của người
cung cấp hàng hoá, dịch vụ. Thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi quá trình
phân đoạn sản xuất. Nghĩa là mỗi loại sản phẩm hàng hoá dù qua nhiều hay ít
khâu sản xuất kinh doanh đều phải nộp thuế như nhau. Do vậy sẽ khuyến
khích chuyên môn hoá trong sản xuất lưu thông.
+ Thuế GTGT có tính lãnh thổ rõ rệt. Đối tượng chịu thuế GTGT chỉ
giới hạn trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia.
+ Thuế GTGT có khả năng đem lại số thu ổn định cho Ngân sách Nhà
Nước. Thuế GTGT phụ thuộc vào mức tiêu dùng xã hội và xu thế xã hội càng
phát triển thì nguồn thu từ thuế GTGT ngày càng cao hơn.
1.1.2.2.Vai trò của Thuế giá trị gia tăng
Luật Thuế GTGT được Quốc hội khoá IX thông qua tại kỳ họp thứ 11,
có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999, thay thế Luật Thuế doanh thu. Đây

chính là một bước đột phá có tính chất quyết định của công cuộc cải cách thuế
bước 2 của Việt Nam. Đến nay Luật Thuế GTGT đã đi vào cuộc sống được
14 năm và phát huy được tác dụng đối với nền kinh tế nói chung và các cơ sở
kinh doanh nói riêng. Đồng thời thuế GTGT có tác dụng rất lớn trong công
cuộc phát triển sản xuất theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước
phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế.
- Thuế GTGT không thu trùng lặp cho nên góp phần khuyến khích
chuyên môn hoá để nâng cao năng suất, chất lượng.
- Thuế GTGT thuộc loại thuế đánh vào tiêu dùng, được áp dụng rộng
rãi, có phạm vi đối tượng thu rất rộng (thu vào mọi tổ chức, cá nhân có tiêu
dùng hàng hoá, dịch vụ) nên có thể tạo ra nguồn thu cho ngân sách Nhà nước
ngày càng tăng. Ngoài ra, nó còn là loại thuế do người tiêu dùng chịu, không
gây ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.

Số hóa bởi trung tâm học liệu
11
- Thuế GTGT góp phần khuyến khích mạnh mẽ việc sản xuất hàng hoá
xuất khẩu, do hàng hoá xuất khẩu được áp dụng thuế suất 0% và được hoàn
trả lại toàn bộ số thuế GTGT đã thu ở khâu trước. Đồng thời nó còn kết hợp
với thuế nhập khẩu làm tăng giá vốn của hàng hoá nhập khẩu với mục đích
bảo vệ sản xuất kinh doanh nội địa.
- Thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện tốt việc hạch toán và thực hiện
mua bán hàng hoá dịch vụ có hoá đơn, chứng từ, nâng cao tính tự giác của đối
tượng kinh doanh.
- Thuế GTGT tính trên giá bán hàng hoá hoặc giá dịch vụ nên việc tổ
chức quản lý thu dễ dàng hơn các loại thuế trực thu.
- Ðối với hàng xuất khẩu không những không nộp thuế GTGT mà còn
được khấu trừ hoặc được hoàn lại số thuế GTGT đầu vào nên có tác dụng
giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo điều kiện cho
hàng xuất khẩu có thể cạnh tranh thuận lợi trên thị trường quốc tế.

- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc chống thất thu thuế đạt hiệu quả cao.
Việc khấu trừ thuế GTGT được thực hiện căn cứ trên hoá đơn mua vào đã
thúc đẩy người mua phải đòi hỏi người bán xuất hoá đơn, ghi doanh thu đúng
với hoạt động mua bán; khắc phục được tình trạng thông đồng giữa người
mua và người bán để trốn lậu thuế. Trong hoạt động bán lẻ người tiêu dùng
với vai trò là đối tượng tiêu dùng cuối cùng, họ không cần hoá đơn vì không
được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, điều này dẫn đến việc không xuất hóa đơn
của người bán để trốn thuế. Tuy vậy, ở khâu bán lẻ cuối cùng, giá trị tăng
thêm thường không lớn, số thuế thu ở khâu này không nhiều.
- Thuế GTGT thường có 03 mức thuế suất là 0%, 5% và 10% do đó bảo
đảm tính đơn giản, rõ ràng. Với ít thuế suất, loại thuế này mang tính trung lập,
vì về cơ bản không can thiệp sâu vào mục tiêu khuyến khính hay hạn chế sản
xuất, kinh doanh dịch vụ, tiêu dùng, theo ngành nghề cụ thể; không gây phức

Số hóa bởi trung tâm học liệu
12
tạp trong việc xem xét từng mặt hàng, ngành nghề có thuế suất chênh lệch
nhau nhiều.
- Nâng cao được tính tự giác trong việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của
người nộp thuế. Thông thường, trong chế độ kê khai nộp thuế GTGT, cơ quan
thuế tạo điều kiện cho cơ sở kinh doanh kiểm tra, tính thuế, kê khai và nộp
thuế. Từ đó, tạo tâm lý và cơ sở pháp lý cho đơn vị kinh doanh không phải
hiệp thương, thoả thuận về mức doanh thu, mức thuế với cơ quan thuế. Việc
kiểm tra thuế GTGT cũng có mặt thuận lợi vì đã buộc người mua, người bán
phải nộp và lưu giữ chứng từ, hoá đơn đầy đủ nên việc thu thuế tương đối sát
với hoạt động kinh doanh từ đó tập trung được nguồn thu thuế GTGT vào
ngân sách nhà nước ngay từ khâu sản xuất và thu thuế ở khâu sau còn kiểm
tra được việc tính thuế, nộp thuế ở khâu trước nên hạn chế thất thu về thuế.
- Tăng cường công tác hạch toán kế toán và thúc đẩy việc mua bán
hàng hoá có hoá đơn chứng từ; việc tính thuế đầu ra được khấu trừ số thuế

đầu vào là biện pháp kinh tế góp phần thúc đẩy cả người mua và người bán
cùng thực hiện tốt hơn chế độ hoá đơn, chứng từ.
- Việc khấu trừ thuế đã nộp ở đầu vào còn có tác dụng khuyến khích
hiện đại hoá, chuyên môn hoá sản xuất, tăng cường đầu tư mua sắm trang
thiết bị mới để hạ giá thành sản phẩm.
- Thuế GTGT được ban hành gắn liền với việc sửa đổi, bổ sung một số
loại thuế khác như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu góp phần làm
cho hệ thống chính sách thuế cuả Việt Nam ngày càng hoàn thiện, phù hợp
với sự vận động và phát triển cuả nền kinh tế thị trường, tương đồng với hệ
thống thuế trong khu vực và trên thế giới, góp phần đẩy mạnh việc mở rộng
hợp tác kinh tế và thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
- Nhìn chung trong các loại thuế gián thu, thuế GTGT được coi là
phương pháp thu tiến bộ nhất hiện nay, được đánh giá cao do đạt được các

Số hóa bởi trung tâm học liệu
13
mục tiêu lớn của chính sách thuế, như tạo được nguồn thu lớn cho ngân sách
Nhà nước, đơn giản, trung lập Tuy nhiên, trong thời gian đầu áp dụng thuế
GTGT đã phát sinh một số khó khăn, vướng mắc và Nhà nước ta đã từng
bước tháo gỡ những khó khăn đó trong quá trình thực hiện Luật thuế GTGT.
- Thuế GTGT góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế ở nước ta
phù hợp với thông lệ quốc tế, thúc đẩy hợp tác kinh tế giữa các nước trong khu
vực và trên thế giới.(Phan Thị Cúc - Trần Phước - Nguyễn Thị Mỹ Linh, 2007).
1.2. Những vấn đề chung về doanh nghiệp ngoài quốc doanh
1.2.1. Khái niệm
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao
dịch ổn định được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục
đích thực hiện hoạt động kinh doanh.
Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh bao gồm Công ty TNHH, Công ty
cổ phần, Công ty hợp danh, Doanh nghiệp tư nhân và Hợp tác xã. Trong nền

kinh tế thị trường các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là thành phần kinh tế
không thể thiếu và đóng vai trò ngày càng mạnh mẽ, đóng góp xứng đáng vào
sự tồn tại, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Để phát
huy hơn nữa hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đòi
hỏi Nhà nước phải có các chính sách, điều kiện thuận lợi để khu vực này phát
huy được vai trò của mình trong nền kinh tế hiện nay. (Quốc hội, (2005),
Luật Doanh nghiệp)
1.2.2. Đặc điểm của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
- Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh dựa trên quan hệ sở hữu tư nhân,
toàn bộ vốn, tài sản … đều thuộc sở hữu tư nhân.
- Nhiều loại hình doanh nghiệp, ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh đa dạng.
- Đối tượng lao động ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trình độ
chưa cao, trình độ quản lý, trình độ công nghệ còn hạn chế.

Số hóa bởi trung tâm học liệu
14
- Mô hình của các các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chủ yếu là nhỏ
và vừa, vốn điều lệ thấp.
1.2.3. Vai trò của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh có những vai trò sau:
Một là, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh phát triển góp phần làm
tăng của cải vật chất cho xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Nước ta là nước có nền kinh tế đang phát triển, cơ cấu kinh tế nhiều
thành phần do vậy mục tiêu phát triển kinh tế là hàng đầu. Khu vực doanh
nghiệp ngoài quốc doanh là khu vực có nhiều đặc điểm thuận lợi cho việc
phát triển kinh tế ở mọi nơi trong nước, rút ngắn khoảng cách về thu nhập
giữa thành thị và nông thôn, đồng thời góp phần khai thác những tiềm năng to
lớn của nền kinh tế như tài nguyên, sức lao động, thị trường mà vẫn chưa
được khai thác một cách có hiệu quả. Bên cạnh đó do đặc thù rất linh hoạt,
nhanh nhạy trong sản xuất để thu lợi nhuận cao nhất nên khu vực này có khả

năng phát huy nội lực, mở rộng sản xuất kinh doanh phù hợp với nhu cầu của
thị trường. Vậy khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh là khu vực có vai trò
hết sức quan trọng đồng thời là khu vực góp phần vào việc thực hiện các chỉ
tiêu về tăng trưởng kinh tế do Nhà nước đề ra.
Hai là, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh góp phần giải quyết việc
làm cho người lao động
Nước ta là nước có dân số hơn 80 triệu dân, do đó đối tượng lao động
là rất lớn, vấn đề thất nghiệp được đặt ra cần được giải quyết. Trong khu vực
kinh tế Nhà nước và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài luôn đòi hỏi
lao động phải có văn hoá, trình độ kỹ thuật nhất định thì mới có thể làm việc
trong khu vực trên dẫn đến một khối lượng lớn lao động đang ở tuổi lao động
không thể làm việc ở trong hai khu vực này. Vậy điều đáng nói ở đây là so
với hai khu vực trên thì khu vực kinh tế doanh nghiệp ngoài quốc doanh có

×