Tải bản đầy đủ (.doc) (26 trang)

176 Kiểm toán độc lập ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp để nâng cao chất lượng kiểm toán

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (207.03 KB, 26 trang )

I) Lời giới thiệu.
Chúng ta đã đi những bớc đầu tiên trên con đờng tiến tới nền kinh tế thị tr-
òng theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Cứ mỗi tiến nên, chúng ta lại gặp những
vấn đề mới mẻ trong lĩnh vực quản lý kinh tế, quản lý tài chính đối với cả nhà
nớc lẫn doanh nghiệp. Qua giai đoạn khởi động, nền kinh tế đã đến lúc Nâng
cấp trình độ quản lý tài chính nhằm mở đờng cho kinh tế thị trờng nớc ta phát
triển theo cả bề rộng và bề sâu . Một trong những công cụ chủ yếu để làm việc
đó là công tác kiểm toán trong nền kinh tế thị trờng, hoạt động kiểm toán độc
lập đã trở thành nhu cầu tất yếu đối với hoạt động kinh doanh và nâng cao chất
lợng quản lý của các doanh nghiệp. Kiểm toán luôn đi kèm và là sự tiếp lối với
hoạt động kế toán. Nếu kế toán làm nhiệm vụ tổ chức thu thập, xử lý và cung
cấp những thông tin thì kiểm toán chính là cái quan trọng hơn là để qua đó hoàn
thiện quá trình tổ chức thông tin phục vụ có hiệu quả cho các đối tợng sử dụng
thông tin kế toán. Trên thế giới đặc biệt là các nớc có nền kinh tế thị trờng phát
triển thì hoạt động kiểm toán đợc quan tâm sử dụng và phát triển mạnh mẽ. Hoà
nhập vào nền kinh tế thị trờng quốc tế, Việt nam cũng đã hình thành và từng b-
ớc phát triển hệ thống kiểm toán độc lập.Đây là một lĩnh vực khá mới mẻ đối
với chúng ta vì thế nó đã thu hút đợc sự quan tâm chú ý của rất nhiều ngời.
Ơ bài viết này em xin trình bày về vấn đề: Kiểm toán độc lập ở Việt nam-
Thực trạng và giải pháp để nâng cao chất lợng kiểm toán.
I. Tổng quan về kiểm toán độc lập
1. Kiểm toán độc lập là gì?
Kiểm toán độc lập là hoạt động kiểm toán đợc tiến hành bởi các kiểm toán
viên độc lập thuộc các công ty, các văn phòng kiểm toán chuyên nghiệp. Kiểm
toán độc lập là hoạt động t vấn đợc pháp luật thừa nhận và bảo hộ, đợc quản lý
chặt chẽ bởi các hiệp hội chuyên ngành về kiểm toán. Theo đinh nghĩa của liên
đoàn kế toán quốc tế IFAC thì kiểm toán độc lập là quá trình kiểm tra các số
liệu tài liệu của doanh nghiệp do các kiểm toán viên độc lập thực hiện để xác
nhận tính trung thực, hợp lý của các báo cáo tài chính và cung cấp kết quả kiểm
toán cho những ngời trả phí kiểm toán. Để đảm bảo tính độc lập khách quan,
kiểm toán độc lập thờng đợc tổ chức thành các công ty cổ phần, chi nhánh hoặc


văn phòng kiểm toán và các kiểm toán viên độc lập. Các kiểm toán viên độc lập
là đội ngũ hành nghề chuyên nghiệp, có kỹ năng nghề nghiệp và đạo đức, phải
trải qua các cuộc thi tuyển quốc gia và phải đạt đợc các tiêu chuẩn nhất định về
bằng cấp và kinh nghiệm. ở Việt nam, quy chế về kiểm toán độc lập trong nền
kinh tế quốc dân( Ban hành theo nghị định số 07-CP 29/1/1994củachính phủ)
đã ghi rõ: Kiểm toán độc lập là việc kiểm tra và xác nhận của kiểm toán viên
chuyên nghiệp thuộc các tổ chức kiểm toán độc lập về tính đúng đắn hợp lý của
các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo quyết toán của các doanh nghiệp, các cơ
quan, các tổ chức đoàn thể, các tổ chức xã hội (gọi tắt là các đơn vị kế toán) khi có
yêu cầu của các đơn vị này
Ii. những vấn đề còn tồn tại
1- Khung pháp lý.
a) Măc dù hiện nay,Việt Nam đã có qui chế về Kiểm toán độc lập,nó vẫn cha
xây dựng xong các chuẩn mực kế toán- kiểm toán tiến gần đến chuẩn mực quốc
tế vì thế nhiều công ty kiểm toán độc lập phải vận dụng các chuẩn mực kế toán
và kiểm toán quốc tế dù rằng biết rõ có nhiều điểm không phù hợp với khung
cảnh nền kinh tế Việt nam đang trong giai đoạn chuyển đổi. Từ đó dẫn đến
những hệ quả khác nhau chẳng hạn nh:
- Việc đánh giá chất lợng của một báo cáo kiểm toán còn thiếu
căn cứ chung để làm thớc đo
- Hoạt động kiểm toán cha đợc chuẩn hoá
- Khi có tranh chấp nổ ra, chúng ta cũng cha có đến cơ sở giải quyết các vấn
đề thuộc trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên
Cũng chính vì thiếu một hệ thống chuẩn mực này cho nên quan diểm
của các kiểm toán viên so với quan điểm của cơ quan thuế vụ vẫn còn nhiều
khoảng cách. Điều này khiến cho nhiều doanh nghiệp có vốn nớc ngoài ngạc
nhiên vì sao các báo cáo kết quả kiểm toán ít đợc cơ quan thuế thừa nhận dẫn
đến sự nghi ngờ về chất lợng kiểm toán
b) Một khía cạnh khác cũng cần lu ý đó là t cách pháp lý của các công ty
kiểm toán độc lập.

-Có nhiều công ty kiểm toán độc lập Việt nam thuộc loại hình doanh nghiệp, có
cơ quan chủ quản là bộ tài chính đã khiến cho rất nhiều ngời băn khoăn, nghi
ngờ về tính độc lập của những công ty này
- Đến nay, theo các đạo luật về loại hình doanh nghiệp Việt nam thì hầu hết
các công ty kiểm toán độc lập ỏ Việt nam đều thuộc loại công ty trách nhiệm
hữu hạn. Kể cả các công ty kiểm toán độc lập ở nớc ngoài đang thuộc loại công
ty hợp danh, chịu trách nhiệm vô hạn nhng khi vào Việt nam, theo luật đầu t n-
ớc ngoài lại đợc thành lập doanh nghiệp theo loại hình công ty trách nhiệm hữu
hạn. Điều này nếu cứ tiếp tục sẽ khiến cho những ngời sử dụng báo cáo kết quả
kiểm toán nghi ngờ về khả năng bồi thờng của công ty khi có sự cố xảy ra
c) Việc cho phép các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài làm ăn tại Việt
nam đã góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên nói riêng trong lĩnh
vực kế toán- kiểm toán còn có nhiều bất cập nảy sinh:
- Quy định các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài phải thực hiện chế độ
kế toán hiện hành của Việt nam, nếu có nhu cầu thực hiện chế độ kế toán khác
phải đợc bộ tài chính chấp nhận bằng văn bản. Nh vậy khó cho các doanh
nghiệp 100% vốn nớc ngoài và các đơn vị hợp tác kinh doanh vì nếu áp dụng
chế độ kế toán Việt nam sẽ gặp bất cập so với chế độ kế toán tại nớc ngoài yêu
cầu .tính đặc thù ở các tài khoản ,các báo cáo định kì ,chứng từ gốc trong khi
pháp lệnh kế toán thống kê đang có hiệu lực ,không cho phép tồn tại hai hệ
thông kế toán khó đánh giá hiệu quả kinh doanh.
- Từ đó đặt ra vấn đề là mức độ áp dụng pháp lí của các báo cáo tài chính đã
đợc kiểm toán.
- Hiện nay các tiêu chuẩn của kiểm toán đang thu hút đợc nhiều nhà quản
lí .ở Việt nam bên cạnh những công ty kiểm toán độc lập trong nớc bộ tài chính
đã cho phép một số công ty kiểm toán nớc ngoài hoạt động nhng vì có những
bất cập về kế toán và kiểm toán nên báo cáo tài chính của nhiều doanh nghiệp
có vốn nớc ngoài và liên doanh đợc công ty kiểm toán nớc ngoài không đợc bộ
tài chính Việt nam thừa nhận .đối phó với tình hình một số doanh nghiệp đã mời
hai công ty kiểm toán một của Việt nam một của nớc ngoài hai công ty này

kiểm toán và xác nhận báo cáo tài chính ,tuy nhiên đó không phải là một giải
pháp tối u
2- Về phía các tổ chức kiểm toán độc lập trong nớc cho thấy
- a.Do thiếu hiểu biết về quản trị doanh nghiệp trong cơ chế thị trờng thiếu
những chuyên gia có liên quan cho nên các tổ chức kiểm toán cha mạnh dạn các
dịch vụ t vấn quản trị là điều mà các nhà quản lí quan tâm .Ơ các nớc mà hoạt
động kiểm toán trở thành quen thuộc ngời ta coi nghề kiểm toán ngang hàng với
nghề luật s và nghề thầy thuốc. Đối với kiểm toán viên thông qua hoạt động
kiểm toán họ phải chuẩn đoán đợc "sức khoẻ" của doanh nghiệp từ đó đề xuất
các dịch vụ t vấn có giá tri giúp cho doanh nghiệp nếu đã " khoẻ " lại càng
"khoẻ" nếu có "bệnh" thì đa ra các giải pháp hữu hiệu giúp cho doanh nghiệp đa
ra các giải pháp hữu hiệu
- b- Xét về khía cạnh con ngời
- Về số lợng đội ngũ cán bộ và chức danh kiểm toán viên còn thiếu trầm
trọng so với nhu cầu công việc
- Về chất lợng đội ngũ kiểm toán viên phần lớn cha đợc bồi dỡng cơ bản và
bài bản về chuyên môn nghiệp vụ và các kiến thức liên quan.Mặc dù đã đợc đào
tạo chính quy chuyên ngành về kế toán, tài chính và một số chuyên ngành kinh
tế kỹ thuật khác , họ có kinh nghiệm vè công tac kế toán , tài chính ...Nhng vẫn
cha đáp ứng đợc yêu cầu kiến thức về kiểm toán .Bởi vì kiểm toán là một hoạt
động nghề nghiệp đòi hỏi phải có sự đào tạo chuyên môn nghiệp vụ , phong
cách , kỹ năng , kỹ xảo thành thục trớc khi thực thi nhiệm vụ
- Một điểm nữa cần lu ý đó là những tri thức ứng dụng khoa học kỹ thuật
hiện đại trong kiểm toán cha đợc áp dụng . Hiẹn nay tại Việt nam cũng có rất
nhiều công ty đa áp dụng hình thức kế toán máy nên đã giảm một khối lợng lớn
công việc ghi chép, giữ sổ và lập báo cáo nh trớc đây. Tuy nhiên đội ngũ kiểm
toán viên độc lập cũng cha đợc đào tạo để thích ứng với yêu cầu kiểm toán
trong môi trờng máy vi tính
- c- Vì đạo đức nghề nghiệp các tổ chức kiểm toán và kiểm toán viên không
đợc tự quảng cáo công khai về mình dới bất cứ hình thức nào nhng không phải

vì thề mà kiểm toán viên không đợc chủ động tiếp cận khách hàng tìm hiểu nhu
cầu và đề xuất các dịch vụ thiết thực mang lại hiệu qủa cao cho khách hàng .
Chính điều này cũng đã làm cho nhiều khách hàng cha đến với các tổ chức
kiểm toán Việt nam
3- Vì hoạt động kiểm toán ở nơc ta còn mới mẻ , kiến thức chuyên môn còn
hạn hẹp nên nhận thức của công chúng và những ngời quan tâm cha thực sự tin
tởng vào chất lợng công việc của kiểm toán cũng nh vai trò của kiểm toán .
Điều đó đã làm hạn chế đến sự phát triển của kiểm toán
- Trừ những đơn vị kế toán có sự tham gia quản lý của nớc ngoài , hầu hết
những ngời quản lý ở các đơn vị cha hiẻu hết mục đích của hoạt động kiểm toán
, cha thấy đợc lợi ích thiết thực từ những t vấn của kiểm toán viên .
- Nhiều doanh nghiệp đặc biệt là những doanh nghiệp nhà nớc , công ty t
nhân , công ty cổ phần , cha muốn tiết lộ những thông tin thực về hoạt động của
doanh nghiệp mình cho ngời khác , trừ khi bị bắt buộc hoặc khi doanh nghiệp
có sự cố
-Vì vâỵ mà khách hàng của các tổ chức kiểm toán Việt nam hiện nay chủ
yếu là các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài,liên doanh với nớc ngoài , các
tổ chức viện trợ hoặc tiếp nhận viện trợ ( là những tổ chức bị bắt buộc phải kiểm
toán ), một số doanh nghiệp khác có sự cố tài chính ...
iII. một số giải pháp để nâng cao chất lợng kiểm toán
báo cáo tài chính
Dù ở phơng diện xu thế phát triển , phơng diện môi trờng kiểm toán , môi
trờng quiản lý hay là nhu cầu tự thân thì việc nâng cao chất lợng kiểm toán đã
nổi nên nh một nhu cầu bức xúc , nếu không nói là đã trở thành một đòi hỏi
khách quan , một sự thách thức có tầm quan trọng lớn trên con đờng tự đổi mới
và hoàn thiện hoạt động kiểm toán .
Muốn có chất lợng kiểm toán cần phải có những yếu tố đảm bảo :
1. Yếu tố về công cụ pháp lý , tức là các luật và các văn bản pháp quy phải đầy
đủ , rõ ràng , dễ hiểu khi điều chỉnh các quan hệ kiểm toán và cả khi điều chỉnh
các hoạt động của đối tợng kiểm toán

2-Phải xây dựng chuẩn mực kiểm toán đợc nghiên cứu công phu làm chỗ
dựa hành nghề cho kiểm toán viên , làm thớc đo đánh giá chất lợng kiểm toán
. Chuẩn mực này phải là một hệ thống các tiêu chuẩn khoa học , khách quan ,
phù hợp với môi trờng pháp lý và điều kiện quản lý của Việt nam , lại phù hợp
với những chuẩn mực chung đã đợc quốc tế thừa nhận
3- Đào tạo và bồi dỡng đội ngũ kiểm toán viên
- Với sự đòi hỏi của thực tế phải có một đội ngũ kiểm toán viên
- Có đủ t cách và trình độ chuyên môn cao , phù hợp với yêu cầu kiểm toán .
Sự chính trực , lơng tâm nghề nghiệp và trình độ am hiểu về luật pháp , về quản
lý tài chính về nghiệp vụ kế toán và kiểm toán có ý nghĩa quyết định chất lợng
hoạt động của mỗi kiểm toán viên nói riêng cũng nh của cả cuộc kiểm toán nói
chung .
- Thứ nhất : Thống nhất quan điểm về đào tạo đối tợng kiểm toán
- Có ý kiến cho rằng trong các trờng đại học tài chính kế toán , các trờng
kinh tế có thể hình thành chuyên ngành "đào tạo kiểm toán" có ý kiến khác lại
cho rằng nghề kiểm toán không thể đào tạo cùng một lúc , song song với các
chuyên ngành khác trong nhà trờng , đối tợng đào tạo kiểm toán phải là giai
đoạn nâng cao tiếp theo đối với những sinh viên đã tốt nghiệp đại học hoặc đã
trải qua chuyên ngành kế toán .Còn theo quan điểm của mình ngời viết nhgiêng
về ý kiến thứ hai sở dĩ nh vậy là vì đối với kiểm toán viên là rất cao họ không
chỉ có phẩm chất đạo đức tốt mà họ còn phải có vốn kiến thức kinh tế xã hội
chuyên môn nghiệp vụ pháp luật am hiẻu các thông lệ quốc tế và đặc biệt phải
có vốn thực tế từng trải mới có thể độc lập xử lí đợc những tình huống phức tạp
diễn ra trong hoạt động kiểm toán
- Thứ hai:cần xây dựng mục tiêu trơng trình đào tạo và bồi dỡng thống
nhất trong toàn quốc về bồi dỡng và đào tạo kiểm toán viên .Để thực hiện đợc
giải pháp này bộ tài chính có thể chủ trì thành lập hội đồng gồm các thành viên
có liên quan
- để biên soạn mục tiêu chơng trình đào tạo và bồi dỡng kiểm toán viên
thống nhất toàn quốc

- Thứ ba:Sau khi có trơng trình thống nhất chúng ta có thể cho phép "tự do
hoá " việc đào tạo và bồi dỡng cán bộ kiểm toán .Xung quanh vấn đề này ,có ý
kiến cho rằng nhà nớc nên khống chế chỉ cho một số trờng đại học đợc phép
đào tạo cán bộ kiểm toán nhng chúng tôi cho rằng nh vậy sẽ làm giảm mức độ
cạnh tranh mà nên để nhiều trờng đợc phép đào tạo trong lĩnh vực này để tạo ra
sự ganh đua giữa các trờng cũng nh giữa các sinh viên học chuyên ngành kiểm
toán trong các trờng đó
- Thứ t:Xây dựng hệ thống tài liệu phục vụ giảng dạy học tập bao gồm các
giáo trình lí thuyết các bài giảng thực tiễn các tình huống và quy trình kiểm
toán các văn bản pháp luật...Đồng thời đổi mới phơng pháp giảng dạy nhằm
nâng cao chất lợng và hiệu quả đào tạo ,bồi dỡng ,đào tạo một đội ngũ giáo viên
.Hơn nữa ,qua đào tạo các chuyên gia giảng dạy có thể tác động tới những sinh
viên giỏi tham gia vào công tác kế toán kiểm toán
- Thứ năm:Đổi mới công tác tuyển chọn cán bộ đầu vào nhằm cả vào hai đối
tợng: Chỉ lựa chọn cán bộ cũ có đủ điều kiện và thi tuyển kiểm toán viên từ
những sinh viên u tú của các trờng đại học để bồi dỡng thành một lớp kiểm toán
viên giỏi phù hợp với yêu cầu mới và có đủ khả năng đảm trách nhiệm vụ lâu
dài
- Thứ sáu:Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về đào tạo bồi dỡng kiểm toán
viên giúp kiểm toán viên có cơ hội và điều kiện hội nhập với quiốc tế từ đó có
thể học hỏi kinh nghiệm từ các nớc có nền kiểm toán phát triển nh
:Đức,Malayxia ,Nhật ,Anh....mối quan hệ quốc tế đó sẽ góp phần nâng cao chất
lợng đào tạo và nghiên cứu khoa học phục vụ cho hoạt động kiểm toán
- Tóm lại đào tạo và bồi dỡng đội ngũ kiểm toán viên là vấn đề quan trọng
và bức bách của hoạt động kiểm toán nói chung và kiểm toán độc lập nói riêng .
Muốn đào tạo đội ngũ kiểm toán viên có năng lực trí tụê hoạt động có hiệu quả
thì phải có chiến lợc và việc xây dựng tiềm lực cho công tác đào tạo và bồi dỡng
. Điều đó sẽ đóng góp vào sự phát triển của đội ngũ kiểm toán viên trong tơng
lai.
4. Thời gian giá phí chất l ợng kiểm toán:

Chất lợng sản phẩm là một khái niệm tơng đối, biến đổi theo thời gian , không
gian, theo sự phát triển của nhu cầu xã hội và sự biến đổi của khoa học kỹ thuật.
Vậy chất lợng dịch vụ kiểm toán đợc đánh giá nh thế nào ?Chất lợng dịch vụ
kiểm toán là mức độ thoả mãn mong muốn có đợc ý kiến xác đáng và đảm bảo
bí mật về đối tợng kiểm toán của các đối tợng sử dụng thông tin đợc kiểm toán
đồng thời thoả mãn ớc muốn về những đóng góp của kiểm toán vẫn nhằm nâng
cao hiệu quả quản lý kế toán tài chính theo chế độ chính sách Nhà nớc của chủ
thể sử dụng dịch vụ kiểm toán với thời gian định trớc và mức giá phù hợp
.*(Theo định nghĩa của Ngô Đức Long :Về chất lợng kiểm toán tạp chí Kế
toán số 14/98).
Từ khái niệm này chất lợng kiểm toán dợc đánh giá thông qua 3 chỉ tiêu :
Chỉ tiêu 1 : Mức độ xác đáng của ý kiến nhận xét về đối tợng kiểm toán và
đảm bảo tính bí mật thông tin.
Chỉ tiêu 2 : Mức độ thoả mãn mong muốn về sự đóng góp của KTV cho chủ
thể sử dụng dịch vụ kiểm toán nhằm nâng cao hiệu quả quản lý kế toán tài
chính theo đúng chế độ chính sách Nhà nớc .
Chỉ tiêu 3 : Đảm bảo đúng thời gian đã đề ra một cách hợp lý và giá phí phù
hợp.
Giá phí và thời gian kiểm toán là một chỉ tiêu trong ba chỉ tiêu đánh giá chất l-
ợng kiểm toán. Nó gắn liền với 2 chỉ tiêu còn lại , thể hiện sự chọn trong việc sử
dụng vốn về quản lý chi phí của doanh nghiệp thực hiện kiểm toán.
Thời gian đủ cần thiết để đảm bảo thực hiện cuộc kiểm toán là khoảng thời gian
không quá dài, làm tăng chi phí lao động ảnh hởng đến hiệu quả kinh tế của tổ
chức kiểm toán nhng không thể quá ngắn chỉ để thực hiện một số bớc công việc
cần thiết nhằm đảm bảo cho ý kiến của mình, đồng thời phải kịp thời, phù hợp
với yêu cầu về thời gian sử dụng các thông tin đợc kiểm toán. Thời gian tiến
hành kiểm toán dài hay ngắn phụ thuộc giá phí mà khách hàng có thể trả và giá
phí kiểm toán là yếu tố đầu tiên tác động đến đơn vị khách hàng lựa chọn mời
công ty kiểm toán nào.?
Để nâng cao chất lơng kiểm toán thì KTV và công ty kiểm toán phải đặt giá phí

kiểm toán ở mức độ phù hợp với thu nhập của các doanh nghiệp Việt Nam trong
một khoảng thời gian kiểm toán phù hợp.
5. Một số kinh nghiệm rút ra qua kiểm toán ở Việt Nam (của một số công
ty kiểm toán ) nhằm nâng cao chất lợng kiểm toán báo cáo tài chính:
Đối với các nớc khác , kiểm toán độc lập báo cáo tài chính là bắt buộc nhng ở
Việt Nam do hoạt động kiểm toán còn mới mẻ cho nên Nhà nớc cha bắt buộc
mọi doanh nghiệp phải đợc kiểm toán và do doanh nghiệp cha hiểu kiểm toán là
gì? , mặt khác, họ không muốn ngời thứ ba can thiệp vào tình hình tài chính của
doanh nghiệp. Trong thực tế có những doanh nghiệp biết về công việc kiểm
toán và hoạt động của các công ty kiểm toán qua các phơng thức tiến hành kiểm
tra hoạt động tài chính phụ thuộc vào nội dung và yêu cầu của từng hợp đồng
kiểm toán.
Sau đây tôi xin trình bày một số kinh nghiệm rút ra trong quá trình thực hiện
kiểm toán ở Việt nam:
1. Trong công việc Tìm hiểu khách hàng : Đối với khách hàng thờng xuyên
sau mỗi cuộc kiểm toán công ty phải đánh giá và quan tâm đến những thay đổi
trong kinh doanh của khách hàng và KTV phải bổ sung thêm thông tin vào hồ
sơ thờng trực. Đối với khách hàng mới chấp nhận mời kiểm toán thì trong giai
đoạn tiếp theo phải hoàn thiện hồ sơ thờng trực về khách hàng. Khi thu thập
thông tin về khách hàng phải bố trí những KTV giàu kinh nghiệm và am hiểu
lĩnh vực kinh doanh của khách hàng.
2. Trong việc kiểm tra tính pháp lý của khách hàng, KTV cần phải kiểm tra
chi tiết một số vấn đề sau:
Giấy phép thành lập và điều lệ công ty khách hàng. Đối với công ty liên
doanh có vốn đầu t nớc ngoài cần xem xét:Nguồn vốn đầu t, vốn pháp định,
giấy phép đầu t, tổng số vốn đồng góp, dạng vốn góp và các chứng từ liên quan
đến vốn góp. Trong thực tế, có nhiều công ty liên doanh đã cố tình ghi trùng,
ghi khống số tài sản góp (bên nớc ngoài)vốn ,có nhiều loại ngoại tệ (kỳ này
ngoại tệ này, kỳ sau ngoại tệ khác) làm cho vốn góp tăng lên nhiều lần
Các biên bản họp , các hợp đồng kinh tế quan trọng Từ các tài liệu này có

thể giúp KTV phát hiện đợc lý do thực hiện kiểm toán (để vay vốn ngân hàng,
để ban giám đốc đợc ký hợp đồng tiếp với ban quản trị , ) và nắm vững đ ợc
một cách tổng quát về tình hình tài chính của doanh nghiệp.
3. Trong việc lập kế hoạch kiểm toán :Ngời lập kế hoạch (KTV độc lập cao
cấp )phải xác định rõ mục đích kiểm toán, đánh giá rủi ro, tính toán mẫu và
những công việc phải làm, ngoài ra phải giành quỹ thời gian để hớng dẫn , giúp
đỡ đơn vị sửa lại sổ sách, báo cáo và hớng dẫn nghiệp vụ kế toán nếu cần thiết,
cần lựa chọn ngời tham gia cuộc kiểm toán, u tiên những ngời có sự hiểu biết về
lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp và những ngời tham gia kiểm toán đơn vị
(nếu là khách hàng thờng xuyên). Kế hoạch kiểm toán phải đợc trao đổi trong tổ
kiểm toán.
Đối với các hợp đồng lớn kéo dài, khối lợng công việc phải thực hiện nhiều cần
lập kế hoạch chung cho cả đợt và kế hoạch chi tiết theo từng tháng, từng tuần và
có thể cho từng tổ.(Nh bảng kế hoạch của công ty VIBA, Bắc Nam)
4. Trong thực hiện kiểm toán :
Hiện tại, các công ty kiểm toán ở Việt Nam vẫn sử dụng phơng pháp kiểm
toán theo khoản mục , phơng pháp này dễ thực hiện nhng có nhiều hạn chế ,
mức độ rủi ro phát hiện cao . Do giữa từng khoản mục có mối quan hệ chặt chẽ,
liên quan tới nhau mà kiểm toán theo khoản mục lại bỏ qua các quan hệ này.
Theo phơng pháp hiện đại các công ty kiểm toán quốc tế sử dụng là phơng pháp
kế toán theo chu trình, phơng pháp này dựa vào quan hệ chặt chẽ giữa các
khoản mục, các quá trình cấu thành các yếu tố trong một chu trình của hoạt
động tài chính. Để nâng cao chất lợng kiểm toán, các công ty kiểm toán Việt
Nam nên sử dụng phơng pháp này để phát hiện bằng chứng kiểm toán và phân
tích nhằm đa ra kết luận hợp lý về tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Bằng chứng kiểm toán là cơ sở quan trọng bậc nhất cho việc đánh giá chất l-
ợng cuộc kiểm toán, nó là cơ sở để kiểm toán viên đa ra những kết luận về báo
cáo tài chính và tình hình hoạt động của doanh nghiệp.
Trong quá trình kiểm toán , KTV phải thu thập các bằng chứng thông qua các
phơng pháp :

+Ph ơng pháp 1 :Kiểm tra vật chất.
+Ph ơng pháp 2 : Lấy xác nhận.
+Ph ơng pháp 3: Xác minh tài liệu.
+Ph ơng pháp 4 : Quan sát.
+Ph ơng pháp 5 : Điều tra.
+Ph ơng pháp 6 : Tính toán.
+Phơng pháp 7: Phân tích.
Cần lu ý khi bằng chứng kiểm toán cha thật đáng tin cậy thì không đợc sử dụng
vì nó dễ dẫn tới những kết luận sai lầm. Khi có nguồn thông tin đối lập thì phải
mở rộng diện điều tra Hết sức cẩn thận khi xét đoán những bằng chứng kiểm
toán có tác dụng khẳng định kết luận này nhng phải phủ định kết luận khác.
Trong việc phân tích và đánh giá cần phải phân bổ tính trọng yếu cho từng
khoản mục. Dựa vào các bằng chứng thu đựoc để phân tích đánh giá, điều quan
trọng là sử dụng hệ thống các tỷ suất tài chính để phân tích, đánh giá tình hình
tài chính của doanh nghiệp. Đối với những khoản mục không có đủ bằng chứng
cần phải thu thập thêm hoặc từ chối đa ra kết luận đối với khoản mục đó.
5. Một vấn đề hết sức quan trọng ảnh hởng đến chất lợng kiểm toán đó là mối
quan hệ giữa KTV và các đối tợng khác trong quá trình thực hiện kiểm toán:
Quan hệ KTV với trợ lý:Trong quá trình kiểm toán, KTVphải giám sát,
kiểm tra các phần việc của trợ lý đợc giao. Và tự thân thẩm định kết luận
các t liệu đó có sử dụng đợc không. Nếu những t liệu của trợ lý đợc sử
dụng mà dẫn đến sai phạm trọng yếu thì KTV phải chịu trách nhiệm trớc
pháp luật.
Quan hệ KTV với chuyên gia :Trong trờng hợp đặc biệt , KTV có thể
phải xin ý kiến chuyên gia. Nếu ý kiến của chuyên gia là thiếu khách
quan, KTV có thể thay chuyên gia khác và có thể trích dẫn ý kiến của
chuyên gia nếu đợc sự đồng ý của chuyên gia hoặc cấp trên.
Quan hệ KTV với khách hàng: Là quan hệ xuyên suốt cuộc kiểm toán.
Khách hàng là thợng đế nhng lại bị kiểm tra, phỏng vấn những câu hỏi mà
họ không muốn trả lời, kể cả cấp cao nhất của doanh nghiệp. Song KTV

không làm hết chức năng của mình thì sẽ phải chịu trách nhiệm trớc pháp
luật.
Quan hệ của KTV với KTV nội bộ.
Quan hệ của KTV với các KTV khác.
Quan hệ KTV với ngời thứ ba:Trong nhiều trờng hợp KTV phải gặp
trực tiếp hoặc xác nhận qua th với ngời thứ ba để xác minh các thông tin
về tài chính của doanh nghiệp. Khi lấy ý kiến của ngời thứ ba, KTV phải
có văn bản có chữ ký xác nhận hoặc chứng từ gốc để khi cần thiết có thể
truy cứu trách nhiệm.
Nguyên tắc cơ bản nhất đối với mọi KTV là tính độc lập, nó đợc thể hiện qua t
thế, tác phong và bản lĩnh nghề nghiệp. Song nó không đồng nghĩa với việc
KTVchỉ thông qua chứng từ sổ sách để có thể đ a ra ý kiến kết luận vì bất cứ
cuộc kiểm toán nào cũng không đủ thời gian, chi phí cho KTV làm việc này.
Mỗi KTV phải tranh thủ và thu thập thông tin, tài liệu của mọi ngời liên quan ở
trên . Do vậy, mối quan hệ giữa KTV với những ngời này ảnh hởng tới chất lợng
cuộc kiểm toán và tuân thủ các chuẩn mực đã đề ra. KTVgiải quyết tất cả các
quan hệ này và kết hợp với tính độc lập của một ngời kiểm toán viên sẽ nâng
cao chất lợng của cuộc kiểm tóan.
iv. kết luận: Tóm lại trong một nền kinh tế đang chuyển đổi , tuy còn
nhiều vấn đề là những cản ngại cho quiá trình phát triển thị trờng kiểm toán nh-
ng đồng thời nó cũng mở ra nhiều cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp nói
chung và các công ty kiểm toán độc lập nói riêng . Đó là mảnh đất màu mỡ
đang chờ đợi các công ty kiểm toán độc lập lựa chọn giống tốt để gặt hái thành
công .

×