Tải bản đầy đủ (.doc) (27 trang)

299 Sự cần thiết của kiểm toán trong quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam với hội nhập kinh tế thế giới

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (233.85 KB, 27 trang )

Phần A: Lời mở đầu
Nền kinh tế Việt Nam đang trong qúa trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trờng
và từng bớc tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, tổ chức và quản lí toàn bộ hoạt động
kinh tế xã hội bằng pháp luật, nhằm tạo kiện cho mọi thành phần kinh tế phát triển
năng động và bình đẳng. Trong những năm đổi mới, Nhà nớc đã ban hành rất nhiều các
đạo luật và văn bản pháp quy nhằm tạo môi trờng pháp lý đồng bộ hoàn chỉnh; trong
lĩnh vực tài chính, các vấn đề về phân cấp quản lý thu chi ngân sách đã đợc xác lập,
quyền tự chủ về tài chính cho các doanh nghiệp Nhờ đó, đã đ a đất nớc thoát khỏi
khủng hoảng kinh tế xã hội, chặn đứng lạm phát, tốc độ tăng trởng kinh tế đạt ở mức
độ cao và ổn định. Đất nớc ta đang sống trong thế kỉ của hội nhập quốc tế về kinh tế,
thơng mại, đầu t, tài chính, quá trình đó diễn ra mạnh mẽ cả về bề rộng và bề sâu trên
tất cả khu vực kinh tế trên phạm vi toàn thế giới và trong nền kinh tế của từng quốc gia.
Trong xu thế thời đại đó, quá trình phát triển nền kinh tế ở Việt Nam cũng phải luôn
bám sát, chủ động và tích cực theo đúng xu hớng vận động của tiến trình hội nhập
quốc tế. Tuy nhiên, nền kinh tế thị trờng nảy sinh những hành vi tiêu cực: lạm dụng
chức vụ, quyền hạn để mu cầu và thu lợi cá nhân, tệ tham nhũng đã trở thành quốc
nạn , chế độ tự chủ bị biến tớng thành tự quyền gây ra những tổn thất lớn về tài
sản, tiền vốn, nguồn lực tài chính quốc gia.Hoạt động tại các doanh nghiệp còn nhiều
vấn đề phải có sự kiểm tra kiểm soát để có những hớng điều chỉnh ngay giúp cho các
đơn vi hoạt động nói chung có hiệu quả hơn để đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế thế
giới.
Để phát huy những thành qủa đã đạt đợc và khắc phục những tồn tại trên chúng ta
cần sử dụng tổng hợp các công cụ kiểm tra trong đó hoạt động kiểm toán có vai trò
quan trọng không thể thiếu. Kiểm toán là một hoạt động có đã có từ rất lâu đời, kể từ
thời kì mà các thông tin kế toán đợc phê chuẩn bằng cách đọc lên trong một buổi đợc
phê chuẩn bằng cách đọc lên trong một buổi họp công khai. Cho đến giai đoạn này thì
hoạt động kiểm toán đã thực sự là công cụ hữu hiệu không thể thiếu trong quá trình
hoạtđộng của toàn xã hội. Đặc biệt với sự giới hạn về nguồn lực tài nguyên thiên nhiên,
nguyên vật liệu, nhân công, đòi hỏi con ng ời phải biết quản lí việc sử dụng nó một
cách hiệu quả nhất. Những thông tin tài chính là một trong những nguồn cung cấp
thông tin quan trọng cho việc ra quyết định của nhà quản lí. Sự đóng góp của kiểm


toán ở đây chính là cung cấp sự tin cậy đối với các thông tin này. Những quan điểm
kinh tế dựa trên nền tảng các thông tin không chính xác sẽ có thể là những quan điểm
Nguyễn Thị Hoài-KT43A - 1 -
sai lầm - đó chính là rủi ro thông tin.Nhu cầu mong muốn giảm thiểu rủi ro này đã dẫn
đến sự xuất hiện nhu cầu kiểm toán.
Tóm lại nhu cầu kiểm toán là xu hớng toàn cầu hoá nền kinh tế đang diễn ra
mạnh mẽ hiện nay. Sự quan tâm của cơ quan của cơ quan nhà nớc, ngời thứ ba và yêu
cầu của hội nhập đòi hỏi thông tin tài chính phải đợc công khai, phải đợc kiểm tra,
kiểm soát và Kiểm toán Nhà nớc, kiểm toán độc lập xác nhận bảo đảm trung thực
khách quan. Điều đó giúp cho NSNN, các doanh nghiệp sử dụng có hiệu quả ngày
càng cao các nguồn lực tài chính trong nớc cũng nh nguồn lực tài chính trong nớc cũng
nh nguồn lực tài chính trong cũng nớc cũng nh nguồn lực từ bên ngoài cho sự nghiệp
công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc.
Cuối cùng em xin đợc nói lời cảm ơn tới tập thể thầy cô trong khoa đã tạo điều
kiện cho chúng em có thể tìm hiểu để hiểu sâu hơn về hoạt động kiểm toán đợc vận
hành trong thực tiễn nh thế nào và đã đạt đợc những thành tựu gì trong quá trình hoạt
động.
Nguyễn Thị Hoài-KT43A - 2 -
Phần B: Nội dung
1. Tổng quan về kiểm toán
Hoạt động kiểm toán tuy không còn mới mẻ xong để có nhận thức đúng về kiểm
toán ta tìm hiểu về kiểm toán ở một số vấn đề cơ bán sau.
1.1. Khái niệm
Có nhiều khái niệm khác nhau,mặc dù thuật ngữ kiểm toán đã có từ lâu trên thế
giới,từ khi xuất hiện nhu cầu xác định tính trung thực, độ tin cậy của thông tin trong
báo cáo tài chính, kế toán và thực trạng tài sản của một chủ thể trong quan hệ kinh tế.
Dới đây là một khái niệm về kiểm toán thông dụng nhất:
Kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động cần đợc kiểm
toán bằng hệ thống phơng pháp kỹ thuật của kiểm toán chứng từ và kiểm toán ngoài
chứng từ do các kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ tơng xứng thực hiện trên cơ sở

hệ thống pháp lý có hiệu lực.
1.2. Bản chất
Có nhiều quan điểm khác nhau về bản chất kiểm toán. Do đó, cần hệ thống những
quan điểm chủ yếu và chọn lọc để kế thừa những yếu tố cụ thể và đa ra bản chấtvề
kiểm toán. Bản chất kiểm toán đợc phát triển qua các thời kì khác nhau có tích chất kế
thừa và phát triển để đa ra đợc bản chất của kiểm toán đợc hoàn thiện hơn.
Theo quan điểm thứ nhất, kiểm toán đợc đồng nghĩa với kiểm tra kế toán, một
chức năng của bản thân kế toán,một thuộc tính cố hữu của kế toán. Nội dung của hoạt
động này là rà soát các thông tin từ chứng từ kế toán đến tổng hợp cân đối kế toán.
Đây là quan điểm mang tính truyền thống trong điều kiện kiểm tra cha phát triển
và trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Trong cơ chế này,Nhà nớc vừa là chủ sở hữu
vừa là chủ sở hữu, vừa thực hiện lãnh đạo trực tiếp nền kinh tế. Do đó, chức năng kiểm
tra của Nhà nớc đợc thực hiện trực tiếp với mọi thực thể kinh tế xã hội thông qua
nhiều khâu kể cả kiểm tra kế hoạch, kiểm tra thực hiện kế hoạch, xét duyệt hoàn thành
kế hoạch,kể cả kiểm tra tài chính thờng xuyên, đến việc xét duyệt quyết toán và kể cả
thanh tra các vụ việc cụ thể.
Khi chuyển đổi cơ chế kinh tế, với chủ trơng đa phơng hoá đầu t, đa dạng hoá các
thành phần kinh tế, Nhà nớc không còn là chủ sở hữu duy nhất. Do đó sự can thiệp của
trực tiếp của Nhà nớc bắng kiểm tra trực tiếp không thể thực hiện với các thành phần
Nguyễn Thị Hoài-KT43A - 3 -
kinh tế ngoài quốc doanh, kể cả các nhà đầu t nớc ngoài, thậm chí với các doanh
nghiệp nhà nớc.
Tài liệu kế toán cũng cần tạo niềm tin cho các nhà đầu t, khách hàng,ngời lao
động trong khi họ không có đủ đội ngũ chuyên gia kế toán đông đảo nh Nhà nớc. Cũng
trong quá trình phát triển đó, kiểm toán không chỉ giới hạn ở kiểm toán bảng khai tài
chính hay tài liệu kế toán mà còn thâm nhập vào nhiều lĩnh vực khác nhau nh hiệu quả
của hoạt động kinh tế, hiệu năng của quản lý xã hội, hiệu lực của hệ thống pháp lý
trong từng loại hoạt động.
Nh vậy không thể đồng nhất kiểm toán và kiểm tra kế toán bởi kiểm toán là một
hoạt động độc lập còn kiểm tra kế toán là một chức năng cố hữu của kế toán. Mặt khác

nếu xét về lịch sử phát triển thì sự hình thành kiểm toán đợc dựa trên sự phát triển của
kế toán.
Theo quan điểm thứ hai, kiểm toán đợc hiểu theo đúng thời cuộc của nó : Phát
sinh cùng thời với cơ chế thị trờng. Theo quan niện đó, ngời ta thờng dẫn ra định nghĩa
trong lời mở đầu giải thích các chuẩn mực kiểm toán của Vơng Quốc Anh.
Kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và là sự bày tỏ ý kiến về những bản khai tài
chính của một xí nghiệp do một kiểm toán viên đợc bổ nhiệm để thực hiện những công
việc đó theo đúng với bất cứ nghĩa vụ pháp định có liên quan
Theo quan điểm này khái niệm kiểm toán bao hàm 5 yếu tố cơ bản sau:
1. Chức năng của kiểm toán là xác minh và bầy tỏ ý kiến. Đây là yếu tố cơq bản
chi phối cả quá trình kiểm toán và bộ máy kiểm toán.
2. Đối tợng trực tiếp của kiểm toán là các bản khai tài chính của các tổ chức hay
một tập thể kinh tế.
3. Khách thể kiểm toán đơc xác định là thực thể kinh tế hoặc một tổ chức.
4. Chủ thể kiểm toán là những kiểm toán viên độc lập, có nghiệp vụ.
5. Cơ sở thực hiện kiểm toán là những luật định, tiêu chuẩn hay chuẩn mực
chung. Các luật định hoặc chuẩn mực này đợc giải thích với khái niệm rộng bao gồm
cả lĩnh vực kế toán và kiểm toán hoặc rộng hơn tuỳ theo từng cuộc kiểm toán.
Theo quan điểm này bản chất kiểm toán đợc nêu khá đầy đủ tuy nhiên ở một số
yếu tố sau cần đợc bổ sung.
1. Đối tợng trực tiếp của kiểm toán: Thực trạng hoạt động tài chính, tài liệu kế
toán, thực trạng tài sản và nghiệp vụ tài chính, hiệu quả và hiệu năng.
Nguyễn Thị Hoài-KT43A - 4 -
2. Khách thể kiểm toán: Đơn vị sản xuất kinh doanh, đơn vị hành chính sự
nghiệp.
3. Chủ thể kiểm toán: Kiểm toán viên nhà nớc, kiểm toán viên độc lập, kiểm toán
nội bộ.
Theo quan điểm 3.
Trong quá trình phát triển kiểm toán cũng nh những hoạt động độc lập không chỉ
giới hạn ở một lĩnh vực nhất định mà còn thâm nhập vào những lĩnh vực khác nhau nh

hiệu quả của hoạt động kinh tế, hiệu năng của quản lý xã hội. Vì vậy theo quan điểm
hiện đại, phạm vi kiểm toán rất rộng, bao gồm những lĩnh vực chủ yếu sau:
1. Kiểm toán về thông tin : nhằm hớng vào việc đánh giá tính trung thục và hợp
pháp của các tài liệu làm cơ sở pháp lý cho việc giải quyết các mối quan hệ về kinh tế
và tạo niềm tin cho những ngời quan tâm đến tài liệu kế toán.
2. Kiểm toán tính quy tắ c: Nhằm hớng vào việc đánh giá tình hình thực hiện các
chế độ, thể lệ luật pháp của đơn vị kiểm tra trong quá trình hoạt động.
3. Kiểm toán hiệu qu ả: có đối tợng trực tiếp là các yếu tố, các nguồn lực trong
từng loại nghiệp vụ kinh doanh: mua bán, sản xuất kiểm toán hiệu quả giúp ích trực
tiếp cho việc hoạch định chính sách, phơng hớng và giải pháp cho việc hoàn thiện hoặc
cải tổ hoạt động kinh doanh của đơn vị đợc kiểm toán.
4. Kiểm toán hiệu năng đợc đặc biệt quan tâm ở khu vực công cộng nơi mà lợi
ích và hiệu quả không còn giữ nguyên vẹn ý nghĩa của nó nh trong doanh nghiệp nơi
mà năng lực quản lý cần đợc đánh giá toàn diện và bồi bổ thờng xuyên nhằm không
ngừng nâng cao hiệu năng quản lý của đơn vị kiểm toán.
1.3. Chức năng:
Từ khái niệm và bản chất của kiểm toán chúng ta thấy đợc phần nào đặc điểm của
hoạt động này. Qua đó ta thấy đợc kiểm toán có hai chức năng cơ bản chính đó là xác
minh và bày tỏ ý kiến.
Chức năng xác minh: Nhằm khẳng định mức độ trung thực của tài liệu tính pháp
lý của việc thực hiện các nghiệp vụ hay việc lập các bảng khai tài chính.
Xác minh là chức năng cơ bản đợc thể khác nhau tuỳ đối tợng cụ thể của kiểm
toán. đối với các bản khai tài chính, việc thực hiện chức năng xác minh này trớc hết đ-
ợc thực hiện ở sự xác nhận của ngời kiểm tra độc lập ở bên ngoài. Việc xác minh bản
khai tài chính cần có hai mặt: tính trung thực của các con số và tính hợp thức cuả các
biểu mẫu phản ánh tình hình tài chính. Đối với các thông tin đã đợc lợng hoá việc xác
Nguyễn Thị Hoài-KT43A - 5 -
minh đợc thực hiện trớc hết qua hệ thống kiểm soát nội bộ và kết quả cuối cùng khi đã
xác minh đợc điều chỉnh trực tiếp để có hệ thống thông tin tin cậy và lập các bản khai
tài chính. Đối với kiểm toán các nghiệp vụ kiểm toán hớng nhiều vào việc thực hiện

chức năng thứ hai là bày tỏ ý kiến.
Chức năng bày tỏ ý kiến có thể đợc hiểu rộng với ý nghĩa cả kết luận về chất lợng
thông tin và cả pháp lý, t vấn qua xác minh. Cách thức thực hiện chức năng bày tỏ ý kiến
về trách nhiệm và t vấn cũng rất khác biệt giữa các khách thể kiểm toán và giuã các nớc có
cơ sở kinh tế và pháp lý khác nhau. ở khu vực công cộng đều đặt dới sự kiểm soát của
kiểm toán nhà nớc. Trong quan hệ này chức năng xác minh và kết luận về chất lợng thông
tin của kiểm toán đợc thực hiện tơng tự nhau. ở mức độ cao của chức năng này là sự phán
quyết nh quan toà, có quyền kiểm tra các tài liệu và tình hình quản lý của các tổ chức sử
dụng ngân sách nhà nớc để xác minh tính chính xác và hợp lệ của tài liệu thu chi và quản
lý ngân sách, các quan này có quyền xét xử nh một quan toà bằng các phán quyết của
mình. ở khu vực kinh doanh hoặc các dự án ngoài ngân sách nhà nớc, chức năng bày tỏ ý
kiến này cũng đợc thực hiện qua phơng thức t vấn. Do khách thể chủ yếu là các doanh
nghiệp nên chức năng t vấn chủ yếu đợc biểu hiện dới hình thức các lời khuyên hoặc các
đề án, Do đó trong trờng hợp này, nếu sản phẩm của bày tỏ ý kiến kết quả xác minh về độ
tin cạy của thông tin là báo cáo kiểm toán thì sản phẩm của bày tỏ ý kiến dạng t vấn là th
quản lý.
1.4. Phân loại kiểm toán và đối tợng chung cụ thể của kiểm toán
1.4.1. Phân loại kiểm toán.
Qua nghiên cứu lịch sử và bản chất của kiển toán, chúng ta đã tiếp cận các loại
kiểm toán khác nhau. cũng nh các hoạt động khác, kiểm toán cần và có thể phân loại
theo nhiều tiêu thức khác nhau:
- Theo đối tợng cụ thể có thể phân kiểm toán thành kiểm toán báo cáo tài chính,
kiểm toán nghiệp vụ, kiểm toán liên kết.
- Theo lĩnh vực cụ thể của kiểm toán, có thể phân kiểm toán thành kiểm toán
thông tin, kiểm toán quy tắc, kiểm toán hiệu năng và kiểm toán hiệu quả.
- Theo phơng pháp áp dụng kiểm toán phân thành kiểm toán chứng từ và kiểm
toán ngoài chứng từ.
- Thoe tổ chức bộ máy kiểm toán phân thành kiểm toán nhà nớc, kiểm toán độc
lập và kiểm toán nôị bộ.
Nguyễn Thị Hoài-KT43A - 6 -

Để hiểu khái quát về từng loại kiểm toán ta có một số khái niệm:
- Kiểm toán tài chính là hoạt động xác minh và bày tỏ ý kiến về bản khai tài
chính do các kiểm toán viên thực hiện theo các luật định.
- Kiểm toán nghiệp vụ là việc thẩm tra các trình tự và các phơng pháp tác
nghiệp ở bộ phận hoặc đơn vị kiểm toán. Các tác nghiệp này không chỉ giới hạn ở lính
vực tài chính kế toán mà còn mở rộng sang cả đánh giá cơ cấu tổ chức, cả nghiệp vụ
sử dụng máy vi tính vì vậy, kết quả của kiểm toán nghiệp vụ không chỉ giới hạn ở
củng cố nề nếp tài chính, kế toán mà còn nâng cao đợc hiệu năng và hiệu quả của hoạt
động quản lý.
- Kiểm toán liên kết : là sự sáp nhập các loại kiểm toán trên và thờng đợc ứng dụng
ở các dơn vị công cộng. Đây là việc thẩm định, soát xét công việc quản lý các nguồn tài
chính, nhân lực, vât lực đã uỷ quyền cho ngời sử dụng theo mục tiêu đã đặt ra.
- Kiểm toán nhà n ớc là hệ thống bộ máy chuyên môn của nhà nớc thực hiện các
chức năng kiểm toán tài sản công. Qua quá trình phát triển cho đến nay kiểm toán nhà
nứoc ở các nớc phát triển đều thực hiện chức năng kiểm toán các đơn vị ở khu vực
công cộng.
- Kiểm toán độc lập: là hoạt động đặc trng của kinh tế thị trờng. Đây là các tổ
chức kinh doanh dịch vụ kiểm toán và t vấn theo yêu cầu của khách hàng.
- Kiểm toán nội bộ: l à bộ máy thực hiện chức năng kiểm toán trong phạm vi
đơn vị, phục vụ yêu cầu quản lý nội bọ đơn vị, Do mục tiêu đợc giới hạn ở phạm vi nội
bộ đơn vị nên bộ máy này thờng chỉ bao gồm những kiểm toán viên nội bộ.
1.4.2. Đối tợng của kiểm toán.
Kiểm toán nảy sinh từ kế toán do đòi hỏi của quản lý đối với thông tin kế toán
ngày càng phức tạp,do ngời quan tâm đến tài liệu kế toán ngày càng đa dạng và sự tách
biệt ngày càng xa giữa chủ sở hữu vớí tài sản cùng hệ thống thông tin và kiểm tra tài
sản. Nh vậy đối tợng của kiểm toán đợc xác định trong bất kì cuộc kiểm toán,là một
trong năm yếu tố cần đợc xác định.
1.4.2.1. Thực trạng hoạt động tài chính -Đối tợng chung của kiểm toán
Hoạt động tài chính là dùng tiền để giải quyết các mối quan hệ kinh tế trong đầu
t,trong kinh doanh,trong phân phối và trong thanh toán nhằm đạt tới lợi ích kinh tế xác

định.
Nguyễn Thị Hoài-KT43A - 7 -
Các mối quan hệ kinh tế chính là nội dung bên trong của hoạt động tài chính. Do
đó,để giải quyết tốt các mối quan hệ này theo mục tiêu đã xác định,hoạt động tài chính
phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản sau :
Hoạt động tài chính phải có kế hoạch.
Hoạt động tài chính phải đảm bảo tiết kiệm và có lợi.
Hoạt động tài chính phải bảo đảm tuân thủ pháp luật và thể lệ tài chính.
1.4.2.2. Tài liệu kế toán -Đối tợng cụ thể cụ thể kiểm toán.
Tài liệu kế toán,trớc hết là các bảng khai tài chính,là đối tợng trực tiếp và thờng
xuyên của mọi cuộc kiểm toán. Điều đó đợc lý giải trứơc hết ở vị trí của tài liệu kế toán
trong quan hệ với những ngời quan tâm tới thông tin tài chính trong cơ chế thị trờng. Mặt
khác trong cơ chế thị trờng với tự do cạnh tranh,rủi ro trong kinh doanh và trong đầu t rất
lớn.Do đó sự quan tâm đến tài liệu kế toán không những tăng lên về số lợng mà còn cả về
chất lợng tài liệu kế toán cũng cao hơn Ngoài ra cũng phải kể đến tính phức tạp của quá
trình xử lý thông tin kế toán cũng nh kết cấu của các bảng công bố tài chính. Hậu quả của
tình trạng này không phải mọi ngời quan tâm đều am hiểu đợc tài liệu đó mà đôi khi chính
các kế toán viên cũng gặp nhũng khó khăn trong việc phản ánh các quan hệ phức tạp, đặc
bịêt là những quan mới phát sinh. Tính phức tạp này ngày càng tăng lên theo rất nhiều
nguyên nhân khác nhau: do quy mô của khách thể kiểm toán; không ngừng mở rộng.
Ngoài ra cũng phải kể đến sự cách biệt về chuẩn mực kiểm toán và các điều kiện thực hiện
nó giữa các nớc giữa các thời kỳ Dẫn đến sự nhận thức khác nhau và tổ chức khác nhau,
nhất là sự thay đổi của chế độ kiểm toán tất cả những thực tế đó đòi hỏi kiểm toán phải
đợc thực hiện trớc tiên đối với tài liệu kế toán để tạo niềm tin cho ngời quan tâm và thờng
xuyên hớng dẫn nghiệp vụ, củng cốa nề nếp và cải tiến tổ chức để nâng cao chất lợng
kiểm toán.
1.4.2.3. Thực trạng tài sản và nghiệp vụ tài chính - đối tợng cụ thể của kiểm toán.
Trong một đơn vị kinh doanh hay sự nghiệp, tài sản đều biểu hiện dới hình thái
vật chất khác nhau với yêu cầu về quy cách, phẩm chất khác nhau lại đợc lu trữ trên
nhiều kho với những ngời quản lý khác nhau. mối liên hệ giữa những ngời quản lý với

nhau cũng nh giữa ngời quản lý với ngời sở hữu tài sản đợc thực hiện theo những xu h-
ớng và phơng thức khác nhau song có xu hớng ngày càng tăng dần sự cách biệt giữa
ng ời sở hữu với ng ời bảo quản và sử dụng tài sản. Đồng thời khi sản xuất phát triển quy
mô tài sản và kinh doanh tăng lên các mối liên kết kinh tế ngày càng đa dạng phức tạp.
Cộng vào đó là sự phong phú thêm của khái niệm truyền thống về tài sản đặc biệt là sự
Nguyễn Thị Hoài-KT43A - 8 -
xuất hiện của các tài sản vô hình, các hậu quả của rủi ro dẫn đến những thu nhập hoặc
tổn thất bất thờng về tài sản tất cả những yếu tố này dẫn đến khả năng cách biệt giữa
tài sản với sự phản ánh của nó trong thông tin kiểm toán Thực tế đó đã thúc đẩy sự ra
đời của kiểm toán cùng tính tất yếu phải đặt thực trạng của tài sản vào đối tợng kiểm
toán.
1.4.2.4 . Hiệu quả và hiệu năng - Đối tợng cụ thể của kiểm toán.
Theo quan điểm hiện đại đối tợng kiểm toán còn bao gồm cả hiệu năng và hiệu
quả. Việc mở rông đối tợng kiểm toán nh vậy cũng xuất phát từ những đòi hỏi thực tế
của quản lý trong điệu kiện quy mô kinh doanh và hoạt động ngày càng đòi hỏi mở
rộng,trong khi nguồn lực ngày càng gay gắt để thực hiện tiết kiệm,để thắng thế trong
cạnh tranh vấn đề hiệu quả,hiệu năng cần đ ợc đặt ra trong từng nghiệp hay hoạt
động cụ thể.
1.5. Khái quát về tổ chức công tác kiểm toán.
1.5.1. Khái niệm :
Qua một số nội dung chính về hoạt động kiểm toán chúng ta đã có đợc cái nhìn
khái quát vềcác nhân tố của hoạt động kiểm toán. Song để có thể tổng hợp những nội
dung trên và gắn kết chúng trong một quy trình kiểm toán cụ thể mà còn là tiền đề giúp
chúng ta phát triển vào tổ chức công tác kiểm toán ở những loại hình cụ thể nh kiểm
toán tài chính,kiểm toán nghiệp vụ.Đồng thời qua đó cho chúng ta có thể hiểu đợc quá
trình vận hành của kiểm toán để đạt đợc mục tiêu đặt ra.Và khi đó hoạt động kiểm toán
mới có thể giúp cho khách thể kiểm toán nói chung có thể điều chỉnh và phát triển. Từ
đó từng bộ phận trong nền kinh tế phát triển sẽ là bàn đạp tạo điều kiện đẩy nhanh tiến
trình hội nhập kinh tế thế giới.
Tổ chức kiểm toán hớng tới việc tạo ra mối liên hệ khoa học và nghệ thuật các

phơng pháp kỹ thuật kiểm toán dùng để xác minh và bày tỏ ý kiến về đối tợng.
Kiểm toán là một hệ thống có chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng
tài chính.Các yếu tố của xác minh và bày tỏ ý kiến là kiểm toán cân đối,đối chiếu
logic,đối chiếu trực tiếp,thực nghiệm và điều tra Các yếu tố này cần đ ợc kết hợp theo
một trình khoa học phù hợp với đối tợng cụ thể khác nhau và mang lại hiệu quả cụ thể
khác nhau. Đó chính là tính nghệ thuật của tổ chức.
1.5.2. Trình tự công tác kiểm toán.
Trình tự công tác kiểm toán thực hiện theo một quy trình chung với 3 bớc cơ bản:
Nguyễn Thị Hoài-KT43A - 9 -
o Chuẩn bị kiểm toán
o Thực hành kiểm toán
o Kết thúc kiểm toán
1.5.2.1. Chuẩn bị kiểm toán.
Chuẩn bị là bớc công việc đầu tiên của tổ chức công tác kiểm toán nhằm tạo ra tất
cả tiền đề và điện kiện cụ thể trớc khi thực hành kiểm toán.Đây là công việc có ý nghĩa
quyết định chất lợng kiểm toán.Do đó,những công việc trong giai đoạn này cần đợc
xác định rõ ràng chính xác nhằm tạo đợc cơ sở pháp lý,kế hoạch kiểm toán cụ thể và
các điều kiện vật chất cho công tác kiểm toán.Các công việc đó đợc xác định thành 5
ngời :
Xác định mục tiêu,phạm vi kiểm toán
Mục tiêu kiểm toán là đích cần đạt tới đồng thời là thớc đo kết quả kiểm toán cụ
thể.Mục tiêu chung của kiểm toán phải gắn chặt với mục tiêu, yêu cầu của quản lí.Vì
vậy,trớc hết mục tiêu kiểm toán phải tuỳ thuộc vào quan hệ giữa chủ thể với khách thể
kiểm toán, tuỳ thuộc vào loại hình kiểm toán.
Phạm vi kiểm toán là sự giới hạn về không gian và thời gian của đối tợng kiểm
toán. Phạm vi kiểm toán thờng đợc xác định đồng thời với mục tiêu kiểm toán và là
một hớng cụ thể hoá mục tiêu này.
Chỉ định ngời phụ trách công việc kiểm toán và chuẩn bị các điều kiện vật
chất cơ bản
Công việc này có thể làm đồng thời với việc xây dựng mục tiêu cụ thể song cần

thực hiện trớc khi thu thập thông tin,đặc biệt là việc làm quen với đối tợng,với khách
thể mới của kiểm toán. Với yêu cầu của công việc này là phải có ngời có trình độ tơng
xứng với mục tiêu,phạm vi kiểm toán nói riêng và tơng xứng với vị trí,yêu cầu,nội
dung và tinh thần của cuộc kiểm toán nói chung. Đồng thời chúng ta cần chuẩn bị các
thiết bị và điều kiện vật chất khác kèm theo ;phơng tiện tính toán kèm theo
Thu thập thông tin
ở bớc chuẩn bị, thu thập thông tin chỉ hớng tới việc đa ra các bớc quyết định về
kiểm toán mà cha đặt ra tơng ứng vơí mục tiêu và phạm vi kiểm toán song nói chung
cần quan tâm đến chiều rộng hơn là chiều sâu. Thậm chí có trờng hợp chỉ xét tới khả
năng hiện diện của các nguồn tài liệu cụ thể nh: chế độ, chuẩn mực có liên quan,
truyền thống và tín nhiệm của khách thể kiểm toán trong thu thập thông tin tr ớc hết
Nguyễn Thị Hoài-KT43A - 10 -

×