Tải bản đầy đủ (.pdf) (100 trang)

xây dựng và sử dụng bản đồ tư duy hướng dẫn học sinh tự học phần sinh thái học (sinh học 12)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.31 MB, 100 trang )

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM



NGUYỄN THỊ HÀ



XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƢ DUY
HƢỚNG DẪN HỌC SINH TỰ HỌC PHẦN
SINH THÁI HỌC (SINH HỌC 12)

Chuyên ngành: LL & PPDH BỘ MÔN SINH HỌC
Mã số: 60.14.10




LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC



Hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Phúc Chỉnh






Thái Nguyên, năm 2012

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi. Các số
liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Tác giả


Nguyễn Thị Hà

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ii
LỜI CẢM ƠN
Bằng tấm lòng biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy
giáo PGS.TS Nguyễn Phúc Chỉnh - người đã tận tâm giúp đỡ em trong suốt quá
trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Em xin chân thành cảm ơn tới quý thầy cô trong tổ Lý luận và phương pháp dạy
học Sinh học, quý thầy cô giáo khoa Sinh - KTNN, Khoa sau Đại học, Trung tâm học
liệu Đại học Thái nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho em thực hiện đề tài.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trong
tổ Hóa - Sinh trường THPT Tiên Du 1, trường THPT Tiên Du 3 - tỉnh Bắc Ninh đã
nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện để em tiến hành thực nghiệm thành công.
Xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè luôn ủng hộ, động viên, giúp đỡ
em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu!
Thái nguyên, tháng 5 năm 2012

Học viên


Nguyễn Thị Hà













Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1

1.1. Xuất phát từ nhiệm vụ đổi mới phương pháp dạy học ở trường học
phổ thông 1
1.2. Xuất pháp ưu điểm của bản đồ tư duy 2
1.3. Xuất pháp từ nội dung phần Sinh thái học (Sinh học 12) 2
2. Mục đích nghiên cứu 3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4. Nội dung nghiên cứu 3
5. Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 3
6. Phương pháp nghiên cứu 3
6.1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết 3
6.2. Phương pháp thực nghiệm sư phạm 4
6.3. Phương pháp phân tích số liệu và thống kê toán học 4
7. Giả thuyết khoa học 4
8. Đóng góp mới của luận văn 4
8.1. Đề xuất được quy trình và nguyên tắc xây dựng BĐTD hướng dẫn
HS tự học phần Sinh thái học (Sinh học 12). 4
8.2. Xây dựng được hệ thống BĐTD hướng dẫn HS tự học phần Sinh
thái học (Sinh học 12). 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iv
8.3. Xác định được tiêu chí đo khả năng tự học phần Sinh thái học (Sinh
học 12) của HS. 4
8.4. Thiết kế được một số giáo án mẫu về sử dụng BĐTD để hướng dẫn
HS tự học phần Sinh thái học (Sinh học 12). 4
9. Cấu trúc luận văn 4
Chƣơng 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƢ
DUY HƢỚNG DẪN HỌC SINH TỰ HỌC 5
1.1. Bản đồ tư duy 5

1.1.1. Khái niệm về bản đồ tư duy 5
1.1.2. Nguyên lý hoạt động của bản đồ tư duy 5
1.1.3. Nguyên tắc xây dựng bản đồ tư duy 7
1.1.4. Lập bản đồ tư duy 8
1.1.5. Tổng quan về bản đồ tư duy 9
1.2. Vấn đề tự học 12
1.2.1. Khái niệm về tự học 12
1.2.2. Các mức độ của năng lực tự học 14
1.2.3. Vai trò của tự học trong đổi mới giáo dục hiện nay 15
1.2.4. Tiêu chí đánh giá năng lực tự học 16
1.2.5. Tổng quan về vấn đề tự học 17
Chƣơng 2: XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƢ DUY HƢỚNG
DẪN HỌC SINH TỰ HỌC PHẦN SINH THÁI HỌC (SINH HỌC 12) 20
2.1. Phân tích cấu trúc, nội dung phần Sinh thái học (Sinh học 12) 20
2.1.1. Cấu trúc chương trình 20
2.1.2. Nội dung chương trình 21
2.1.3. Một số lưu ý về kiến thức Sinh thái học 23
2.2. Xây dựng BĐTD trong phần Sinh thái học (Sinh học 12) 26
2.2.1. Các nguyên tắc xây dựng BĐTD hướng dẫn HS tự học phần Sinh
thái học (Sinh học 12) 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

v
2.2.2. Quy trình thiết kế BĐTD hướng dẫn HS tự học phần Sinh thái học
(Sinh học 12) 29
2.2.3. Xây dựng một số BĐTD phần Sinh thái học (Sinh học 12) 32
2.3. Sử dụng BĐTD để hướng dẫn HS tự học phần Sinh thái học (Sinh học
12) trong khâu NCTL mới 44
2.3.1. Quy trình sử dụng BĐTD hướng dẫn HS tự học phần Sinh thái

học (Sinh học 12) trong khâu nghiên cứu tài liệu mới 44
2.3.2. Giáo án mẫu 47
2.4. Đề kiểm tra đánh giá 64
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM 65
3.1. Mục đích thực nghiệm 65
3.2. Nội dung thực nghiệm 65
3.3. Phương pháp thực nghiệm 65
3.3.1. Chọn trường, lớp thực nghiệm 65
3.3.2. Bố trí thực nghiệm 65
3.3.3. Phương pháp phân tích kết quả thực nghiệm 66
3.4. Kết quả thực nghiệm sư phạm 66
3.4.1. Phân tích kết quả tại thực nghiệm 66
3.4.2. Phân tích kết quả sau thực nghiệm 70
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 75
1. Kết luận 75
2. Đề nghị 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

BĐTD : Bản đồ tư duy
BVMT : Bảo vệ môi trường
CĐTCS : Cấp độ tổ chức sống
NCTL : Nghiên cứu tài liệu
SGK : Sách giáo khoa
SV : Sinh viên

ĐC : Đối chứng
TN : Thực nghiệm
GV : Giáo viên
HS : Học sinh
PPDH : Phương pháp dạy học
PT : Phổ thông
Nxb : Nhà xuất bản
MT : Môi trường
THPT : Trung học phổ thông
TW : Trung ương
QĐ : Quyết định


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Thời lượng chương trình Sinh học 12 20
Bảng 2.2: Tóm tắt quy trình tự học trên lớp 45
Bảng 2.3. Các phương pháp tổ chức hoạt động tự học cho HS 46
Bảng 3.1. Các bài thực nghiệm 65
Bảng 3.2. Tần suất trắc nghiệm tại thực nghiệm 66
Bảng 3.3. Tần suất hội tụ tiến các bài kiểm tra trắc nghiệm tại thực nghiệm 67
Bảng 3.4. Kiểm định
X
điểm trắc nghiệm tại thực nghiệm 69
Bảng 3.5. Phân tích phương sai điểm trắc nghiệm tại thực nghiệm 70
Bảng 3.6. Tần suất điểm kiểm tra sau thực nghiệm 70
Bảng 3.7. Tần suất hội tụ tiến của bài kiểm tra sau TN 71

Bảng 3.8. Kiểm định
X
điểm kiểm tra sau TN 72
Bảng 3.9. Phân tích phương sai điểm kiểm tra sau TN 73



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

viii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1. Chức năng thần kinh của bán cầu não trái - não phải [44] 7
Hình 1.2. Các thành phần của BĐTD 7
Hình 2.1. BĐKN về phổ các cấp độ tổ chức sống trên Trái đất [38] 21
Hình 2.2. Mối quan hệ giữa các cấp độ tổ chức sống 24
Hình 2.3. Sơ đồ lôgíc cấu trúc chương trình Sinh thái học ở trường PTTH 25
Hình 2.4. Sơ đồ các bước xây dựng BĐTD 29
Hình 2.5. Bản đồ tư duy bài Môi trường sống và các nhân tố sinh thái 33
Hình 2.6. BĐTD bài “Quần thể sinh vật và mối quan hệ giữa các cá thể
trong quần thể” 35
Hình 2.7. BĐTD bài “Biến động số lượng cá thể của quần thể” 37
Hình 2.8. BĐTD bài “Quần xã sinh vật và một số đặc trưng cơ bản của quần xã” 39
Hình 2.9. BĐTD bài “Diễn thế sinh thái” 41
Hình 2.10. BĐTD bài “Hệ sinh thái” 43
Hình 2.11. BĐTD khái niệm quần thể 49
Hình 2.12. BĐTD quá trình hình thành quần thể 49
Hình 2.13. BĐTD quan hệ giữa các cá thể trong quần thể 50
Hình 2.14. BĐTD khái niệm và các dạng biến động số lượng cá thể của quần thể 53
Hình 2.15. BĐTD nguyên nhân gây biến động số lượng cá thể quần thể 53

Hình 2.16. BĐTD sự điều chỉnh số lượng cá thể của quần thể 54
Hình 2.17. BĐTD khái niệm quần xã sinh vật 56
Hình 2.18. BĐTD một số đặc trưng cơ bản của quần xã 57
Hình 2.19. BĐTD mối quan hệ giữa các loài trong quần xã 58
Hình 2.20. BĐTD hiện tượng khống chế sinh học 59
Hình 2.21. BĐTD khái niệm diễn thế sinh thái 61
Hình 2.22. BĐTD các loại diễn thế sinh thái 62
Hình 2.23. BĐTD nguyên nhân diễn thế sinh thái 63
Hình 2.24. BĐTD ý nghĩa của diễn thế sinh thái 63
Hình 3.1. Biểu đồ tần suất điểm trắc nghiệm tại thực nghiệm 67
Hình 3.2. Đồ thị tần suất hội tụ tiến điểm trắc nghiệm tại thực nghiệm 68
Hình 3.3. Biểu đồ tần suất điểm bài kiểm tra sau TN 71
Hình 3.4. Đồ thị tần suất hội tụ tiến điểm kiểm tra sau TN 72

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Xuất phát từ nhiệm vụ đổi mới phương pháp dạy học ở trường học phổ thông
Đổi mới PPDH là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của cải cách
giáo dục. Hiện nay, vấn đề đổi mới PPDH nói chung cũng như đổi mới PPDH Sinh
học nói riêng đã được pháp chế hóa trong các đường lối, quan điểm chỉ đạo của
Đảng và nhà nước về giáo dục.
Nghị quyết TW2 (khóa VIII) nêu rõ: “Đổi mới mạnh mẽ các phương pháp giáo
dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của
người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và các phương tiện hiện đại
vào trong quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho
HS, nhất là SV đại học. Phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và
rộng khắp trong trong toàn dân, nhất là thanh niên” [2], [4], [10].

Điều 24.2 Luật Giáo dục quy định: “Phương pháp dạy học phổ thông phải
phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm của
từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo
nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm,
đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS” [29], [30], [38].
Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010 (Ban hành kèm theo QĐ số
201/2001/QĐ/TTg ngày 28/12/2001, của Thủ tướng Chính phủ), ở mục 5.2. ghi rõ: “Đổi
mới và hiện đại hóa phương pháp giáo dục. Chuyển từ việc truyền thụ tri thức thụ động,
thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri
thức; dạy cho người học phương pháp tự học, thu nhận thông tin một cách có hệ thống
và có tư duy phân tích, tổng hợp; phát triển năng lực cho mỗi cá nhân, tăng cường tính
chủ động, tích cực của HS, SV trong quá trình học tập” [2], [10].
Như vậy, tăng cường năng lực tự học cho HS là một yếu tố quan trọng góp
phần đổi mới PPDH và nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường THPT. Việc
hướng dẫn HS tự học là biện pháp giúp các em có thể tự học, tự đọc, tự ghi chép, tự
kiểm tra đánh giá kết quả học tập của mình.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
1.2. Xuất pháp ƣu điểm của bản đồ tƣ duy
Bản đồ tư duy (BĐTD) là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc và hình
ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng. Có thể mô tả BĐTD là một kỹ thuật hình
họa, với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp tương thích
với cấu trúc hoạt động và chức năng của bộ não giúp con người khai phá tiềm năng
vô tận của bộ não. BĐTD giúp chúng ta làm chủ cuộc sống như ghi nhớ, quản lý,
sáng tạo, lập kế hoạch và thành công [7].
Ưu điểm của BĐTD là các mối quan hệ giữa các nội dung được thể hiện rõ
ràng, có thể bổ sung, phát triển và sắp xếp lại. Mặt khác, các hướng tư duy được để
mở ngay từ đầu, giúp phát triển khả năng tư duy, sáng tạo của con người [13].

Lợi thế của BĐTD là có sự kết hợp hoạt động của cả hai bán cầu đại não,
làm tăng khả năng sáng tạo của con người. Đồng thời tránh được sự nhàm chán, đơn
điệu, phát huy khả năng tư duy khi tự mình lập ra BĐTD.
Với ưu điểm và lợi thế trên, BĐTD không chỉ được ứng dụng trong hoạt
động học của HS mà còn là công cụ hữu ích của các giáo viên trong việc giảng dạy.
1.3. Xuất pháp từ nội dung phần Sinh thái học (Sinh học 12)
Sinh thái học là môn khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh vật với sinh vật
và sinh vật với MT. Tuy là một ngành khoa học còn trẻ nhưng Sinh thái học có ý nghĩa
to lớn với con người và sinh quyển, nó cung cấp tri thức sinh thái cho con người làm cơ
sở khoa học để tăng năng suất trong sản xuất nông nghiệp, sử dụng hợp lý và tiết kiệm
tài nguyên thiên nhiên. Ngoài ra, tri thức sinh thái còn gắn liền với kiến thức về giáo dục
và BVMT. Trong điều kiện tình hình MT sống hiện nay đang bị suy thoái nghiêm trọng
thì việc nâng cao chất lượng dạy học Sinh thái học ở trường PT là việc làm cấp bách.
Một số nước trên thế giới từ lâu đã đưa bộ môn Sinh thái học vào THPT. Ở
Việt Nam, Sinh thái học mới được đưa vào giảng dạy ở trường PT từ sau khi nước
ta thực hiện cải cách giáo dục (1980). Năm 2005, thực hiện chương trình đổi mới
SGK, kiến thức Sinh thái được trình bày trong phần 7 của chương trình Sinh học 12,
thể hiện quan điểm tiếp cận cấu trúc hệ thống.
Các mối quan hệ sinh thái đều nằm trong một hệ thống cấu trúc, các thành
phần trong hệ thống đều có quan hệ với nhau về cấu trúc và chức năng. Đây là điểm
thuận lợi để có thể vận dụng xây dựng BĐTD vào để thể hiện các mối quan hệ đó.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3
Mặt khác, Sinh thái học có nội dung rất rộng và mang tính thực tiễn cao. Đây
là phần kiến thức khó ngay cả với GV, thời lượng không nhiều, rất ít tiết thực hành
và không có buổi tham quan thiên nhiên. Vì vậy, cần rèn luyện kỹ năng tự học, phát
huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS.
Từ những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Xây dựng và

sử dụng BĐTD để hướng dẫn học sinh tự học phần Sinh thái học (Sinh học 12)”.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Xây dựng và sử dụng BĐTD để hướng dẫn HS tự học góp phần nâng cao
chất lượng dạy học Sinh thái học (Sinh học 12).
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Xác định nguyên tắc, quy trình xây dựng BĐTD.
- Đề xuất phương án sử dụng BĐTD hướng dẫn HS tự học phần Sinh thái
học (Sinh học 12).
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của những phương án đã đề xuất.
4. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn của BĐTD
- Xác định nguyên tắc, quy trình xây dựng BĐTD hướng dẫn HS tự học phần
Sinh thái học (Sinh học 12).
- Đề xuất phương án sử dụng BĐTD hướng dẫn HS tự học phần Sinh thái
học (Sinh học 12).
- Thực nghiệm sư phạm.
5. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: BĐTD và sử dụng BĐTD hướng dẫn HS tự học
trong dạy học Sinh thái học (Sinh học 12).
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học sinh học 12.
6. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1. Phƣơng pháp nghiên cứu lí thuyết
- Nghiên cứu các chỉ thị nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Bộ giáo dục và Đào
tạo về đổi mới PPDH theo hướng phát huy khả năng tự học, tự nghiên cứu của HS.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
- Nghiên cứu các tài liệu lý luận về xây dựng BĐTD hướng dẫn HS tự học.
- Nghiên cứu phần mềm mindmapper.

- Nghiên cứu cấu trúc nội dung chương trình Sinh học 12 - THPT, đặc biệt là
phần Sinh thái học để xây dựng BĐTD hướng dẫn HS tự học.
- Truy cập mạng internet.
6.2. Phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm
TN có ĐC nhằm kiểm chứng giả thuyết của đề tài. Phương pháp thực nghiệm
sư phạm sẽ được trình bày kỹ ở chương 3.
6.3. Phƣơng pháp phân tích số liệu và thống kê toán học
Số liệu thu được từ thực nghiệm sư phạm sẽ được phân tích và xử lý bằng
thống kê toán học.
7. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu sử dụng BĐTD để hướng dẫn HS tự học trong dạy học phần Sinh thái
học (Sinh học 12) sẽ góp phần nâng cao kết quả học tập của HS.
8. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
8.1. Đề xuất đƣợc quy trình và nguyên tắc xây dựng BĐTD hƣớng dẫn HS tự
học phần Sinh thái học (Sinh học 12).
8.2. Xây dựng đƣợc hệ thống BĐTD hƣớng dẫn HS tự học phần Sinh thái học
(Sinh học 12).
8.3. Xác định đƣợc tiêu chí đo khả năng tự học phần Sinh thái học (Sinh học 12)
của HS.
8.4. Thiết kế đƣợc một số giáo án mẫu về sử dụng BĐTD để hƣớng dẫn HS tự
học phần Sinh thái học (Sinh học 12).
9. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của luận văn được trình bày
trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc sử dụng BĐTD hướng dẫn HS tự học
Chương 2: Xây dựng và sử dụng BĐTD hướng dẫn HS tự học phần Sinh thái
học (Sinh học 12)
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


5
Chƣơng 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƢ DUY
HƢỚNG DẪN HỌC SINH TỰ HỌC
1.1. Bản đồ tƣ duy
1.1.1. Khái niệm về bản đồ tư duy
BĐTD (lược đồ tư duy, giản đồ ý) theo từ điển tiếng việt có nghĩa là một sơ đồ
được sử dụng để đại diện cho các từ, các ý tưởng, các nhiệm vụ hoặc các mục khác liên
quan đến và sắp xếp xung quanh một từ khóa trung tâm hay ý tưởng trung tâm. BĐTD
được sử dụng để tạo ra, hình dung, cấu trúc và phân loại các ý tưởng; nó giúp cho việc
nghiên cứu, tổ chức thông tin, giải quyết vấn đề, đưa ra quyết định và viết.
Tony Buzan là người đã xây dựng tên tuổi của mình bằng một ý tưởng rất
đơn giản mà ông gọi là BĐTD. Trong cuốn “Bản đồ tư duy trong công việc” ông
định nghĩa: BĐTD là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc và hình ảnh, để mở
rộng và đào sâu các ý tưởng. Ở giữa bản đồ là một ý tưởng hay hình ảnh trung tâm.
Ý tưởng hay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh tượng trưng
cho những ý chính và đều được nối với trung tâm [7].
Từ ý tưởng đơn giản đó, BĐTD được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực trong đó
có lĩnh vực giảng dạy. BĐTD được sử dụng là một phương pháp học tập của HS và
phương pháp giảng dạy của GV. Trong giảng dạy, BĐTD là phương pháp tổ chức
rèn luyện tạo được những sơ đồ học tập ở trong tư duy của HS, trên cơ sở đó hình
thành phong cách tư duy khoa học mang tính hệ thống [12].
1.1.2. Nguyên lý hoạt động của bản đồ tư duy
Bộ não chính là chìa khóa dẫn tới thành công trong bất kỳ lĩnh vực nào và
chúng ta càng sử dụng nó hiệu quả thì càng gặt hái được nhiều thành công. Nếu
kích thích trí óc bằng những công cụ tư duy và học tập phù hợp, nó sẽ đem lại giải
pháp tuyệt vời cho bất kỳ vấn đề nào. Tóm lại, chúng ta có khả năng giải phóng trí
sáng tạo vô hạn và tuyệt vời của mình [7].
Sự sáng tạo là điều thiết yếu để dẫn đến thành công trong học tập cũng như

trong công việc. Chúng ta hay gặp phải những vấn đề khi phải đưa ra những ý

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
tưởng độc đáo hay một giải pháp sáng tạo thì đầu óc họ lại trống rỗng? Lời giải
thích đơn giản là do chúng ta chưa sử dụng tối đa năng lực bộ não của mình. Thông
thường, một người trung bình chỉ sử dụng chưa đến 10% năng lực bộ não trong các
lĩnh vực sáng tạo, ghi nhớ và học tập - vậy thử tưởng tượng xem chúng ta sẽ đạt
được gì khi sử dụng 20%, 40% hay thậm trí 100% tiềm năng của não?
Nếu chỉ ghi chép thông tin bằng ký tự; đường thẳng; con số, với cách ghi
chép này, chúng ta mới chỉ sử dụng một nửa của bộ não - não trái, mà chưa hề sử
dụng khả năng nào bên phải, nơi xử lý các thông tin về nhịp điệu, màu sắc, không
gian và sự mơ mộng. Hay nói cách khác, chúng ta vẫn thường đang chỉ sử dụng
50% của bộ não khi ghi nhận thông tin [7].
Các dòng kẻ, chữ và số được xử lý bởi kỹ năng thần kinh của não trái. Đây
chính là bán cầu não mà theo truyền thống được sử dụng để thực hiện tốt các công
việc bình thường. Do đó, khi sử dụng nó, tư duy sáng tạo của bạn sẽ bị giới hạn. Để
thực sự trở nên sáng tạo bạn cần phải sử dụng trí tưởng tượng - chức năng hoạt
động của bán cầu não phải. Các chức năng thần kinh của bán cầu não phải gồm có
sự tri nhận màu sắc, hình ảnh, nhịp điệu và khả năng không gian [7], [42], [43],
[44]. Với mục tiêu giúp chúng ta sử dụng tối đa khả năng của bộ não, Tony Buzan
đã đưa ra BĐTD để giúp mọi người thực hiện được mục tiêu này. Sử dụng BĐTD,
chúng ta hoàn toàn có thể bắt đầu tận dụng tối đa tiềm năng bộ não của mình.
BĐTD không những sử dụng chữ và số mà còn sử dụng màu sắc và hình
ảnh; nhờ vậy nó kết hợp hoạt động của cả hai bán cầu não trái và phải [7], [42],
[44]. Điều này giải thích vì sao có thể phát huy toàn bộ khả năng tư duy của mình
khi sử dụng BĐTD. Mỗi bán cầu đại não đều đồng thời nhận sự hỗ trợ và củng cố
cho nửa kia nhằm đem đến khả năng sáng tạo vô biên (hình 1.1).
Nghiên cứu của giáo sư Sperry và Ornstein (1970) cho thấy, mọi người ai

cũng có thể sử dụng tối đa khả năng của não trái và phải của mình. Và một điều
chắc chắn là nếu cả hai bán cầu cùng sử dụng một lúc sẽ trở nên mạnh mẽ hơn, và
sẽ kết hợp với nhau tạo sản phẩm sáng tạo nhất của chúng. Điều này theo đó, sẽ
củng cố khả năng liên kết bền vững giữa hai bán cầu não. Nhờ vậy, khả năng trí tuệ
và sáng tạo của bạn sẽ được tăng cường [7], [42].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7

Hình 1.1. Chức năng thần kinh của bán cầu não trái - não phải [44]
Như vậy, sử dụng BĐTD kết hợp được sự hoạt động của hai bán cầu đại não,
tăng khả năng tư duy, sáng tạo của bản thân. Không những thế, BĐTD còn tránh
được sự nhàm chán, đơn điệu, phát huy khả năng tư duy khi tự mình lập ra BĐTD.
1.1.3. Nguyên tắc xây dựng bản đồ tư duy

Hình 1.2. Các thành phần của BĐTD

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
Các thành phần cấu tạo nên BĐTD gồm có: chủ đề trung tâm, các chủ đề cấp
1, các chủ đề cấp 2,…; các nhánh chính, các nhánh phụ cấp 1, nhánh phụ cấp 2…;
hình ảnh; màu sắc.
Nguyên tắc xây dựng một BĐTD
1. Viết tên chủ đề trung tâm ở vị trí trung tâm, hay vẽ một hình ảnh phản ánh
chủ đề.
2. Từ chủ đề trung tâm vẽ các nhánh chính tới các chủ đề cấp 1. Trên mỗi
nhánh chính viết một khái niệm phản ánh một nội dung lớn của chủ đề (Viết bằng
chữ in hoa). Nhánh và chữ viết trên đó được vẽ và viết cùng một màu.

3. Từ mỗi nhánh chính sẽ vẽ các nhánh phụ để khai thác tiếp nội dung thuộc
nhánh chính đó. Các chữ trên nhánh phụ được viết bằng chữ in thường.
4. Tiếp tục như vậy ở các chủ đề tiếp theo.
Chú ý
1. Nên sử dụng ít nhất 3 màu khác nhau.
2. Phát huy phong cách cá nhân của bản thân, óc sáng tạo, tránh căng thẳng.
3. Làm cho bản đồ rõ ràng bằng cách phân cấp các nhánh, sử dụng số thứ tự
hoặc giàn ý để bao quát các nhánh của bản đồ.
4. Sử dụng từ ngữ đơn giản để thể hiện thông tin. Tránh những từ dư thừa sẽ
làm bản đồ trở nên lộn xộn.
5. Chữ viết phải rõ ràng, dễ đọc.
6. Sử dụng các liên kết đan chéo, sẽ thấy được mối quan hệ giữa các từ khóa.
7. Sử dụng các đường kẻ cong thay vì các đường kẻ thẳng vì các đường kẻ
cong được tổ chức rõ ràng sẽ thu hút sự chú ý của mắt nhiều hơn.
8. Từ khóa của vấn đề nên sử dụng hình ảnh vì một hình ảnh có thể diễn đạt
cả ngàn từ và giúp bạn sử dụng trí tưởng tượng của mình.
1.1.4. Lập bản đồ tư duy
Lập BĐTD là việc bắt đầu từ một ý tưởng trung tâm và viết ra những ý tưởng
khác liên quan tỏa ra từ trung tâm. Bằng cách, tập chung vào những ý tưởng chủ
chốt được viết bằng từ ngữ của mình, sau đó tìm ra những ý tưởng liên quan và kết

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
nối những ý tưởng lại với nhau hình thành nên một BĐTD. Ý tưởng của BĐTD là
những suy nghĩ sáng tạo và liên kết bằng một cách thức phi tuyến tính.
Trong dạy học, khi lập một BĐTD cho một tổ hợp kiến thức sẽ giúp HS ghi
nhớ, hiểu, khái quát hóa những thông tin mới và nắm kiến thức sâu hơn.
Có 2 cách lập BĐTD
- Lập BĐTD trên giấy

- Sử dụng phần mềm Mindmapping
Có thể tải các phần mềm thiết kế BĐTD từ những địa chỉ sau:
Phần mềm Buzan’s iMindmap
TM
. Trang chủ tại www.imindmap.com
Phần mềm inspiration. Trang chủ tại www.inspiration.com
Phần mềm visual mind. Trang chủ tại www.visual-mind.com
Phần mềm Freemind. Trang chủ tại:
Http://freemind.sourceforge.net/wiki/index.php/Main_page
Ngoài ra có thể tham khảo danh sách các phần mềm mindmapping tại địa chỉ
sau:
1.1.5. Tổng quan về bản đồ tư duy
1.1.5.1. Những nghiên cứu về BĐTD trên thế giới
BĐTD đã được sử dụng trong nhiều thế kỷ cho việc học tập, động não, tư
duy trực quan, giải quyết vấn đề của các nhà giáo dục, nhà tâm lý học, kỹ sư, doanh
nhân và của nhân dân nói chung.
Các hiện vật đầu tiên cho chúng ta biết rằng, BĐTD đã được biết đến và sử
dụng vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên. Các nhà tư tưởng Hy Lạp thừa nhận rằng
họ đã sử dụng BĐTD để dễ dàng truyền đạt các khái niệm, ý tưởng, ý nghĩa của vấn
đề. Họ áp dụng BĐTD để hình dung khái niệm của Aristotle về chủng loại. Các
phương pháp trực quan đã giúp nắm bắt được suy nghĩ phức tạp của Aristotle và
khuyến khích thảo luận và giải quyết vấn đề xung quanh một chủ đề trọng tâm. Đặc
biệt trong thời gian này, BĐTD đã được hệ thống trong một cuốn sách.
Ramon Llull, một nhà tâm lý Tây Ban Nha thế kỷ thứ 13, đã tạo ra hình tượng
sáng tạo của mình bằng các sơ đồ, trong đó có sơ đồ gọi là “Cây của kiến thức”.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10
Đến thời Trung cổ, mở đầu sang một kỷ nguyên mới của khoa học và nghệ

thuật, Leonardo da Vinci, một trong những nghệ sĩ nổi tiếng, đã sử dụng hình ảnh
và văn bản một cách phi tuyến tính cho các ghi chú.
Cuối năm 1950, Alam Collin và 1960 M. Ros Quillian phát triển các khái
niệm về mạng sematic như một cách để hiểu và mô tả việc học của con người, sự
sáng tạo và mối liên quan đến chức năng của bộ não. Ông cho rằng: sự sáng tạo và
đổi mới luôn đồng hành với việc sử dụng BĐTD.
Mười năm sau đó, phương pháp này phát triển vào cuối thập niên 60 của thế
kỷ 20 bởi Tony Buzan như một cách để giúp học sinh “ghi lại bài giảng” mà chỉ
dùng các từ then chốt và các hình ảnh. Cách ghi chép này sẽ nhanh hơn, dễ nhớ và
dễ ôn tập hơn.
Đến giữa thập niên 70 Peter Russell đã làm việc chung với Tony và họ đã truyền
bá kỹ xảo về BĐTD cho nhiều cơ quan quốc tế cũng như các học viện giáo dục.
Tony Buzan là một trong số ít người dành nhiều thời gian nghiên cứu, tìm
ra quy luật của bộ não và làm việc theo quy luật đó để đạt được những thành
công đáng kinh ngạc. Ông là tác giả đi đầu trong lĩnh vực về não và phương
pháp học tập với hơn 80 tác phẩm và 3 triệu bản đã được bán ra. Nhiều cuốn
sách và những sản phẩm dành được những thành công lớn ở hơn 100 nước với
30 ngôn ngữ, doanh thu lên đến hơn 100 triệu bảng Anh. Là giảng viên hàng đầu
trên thế giới trong lĩnh vực này Tony Buzan được coi là “thầy phù thủy về tư
duy”, với nhiều bài thuyết giảng cho đông đảo khán giả - từ những trẻ em 5 tuổi,
những SV thiệt thòi hay những SV tốt nghiệp hàng đầu của ĐH Oxbridge, cho
đến những giám đốc kinh doanh hàng đầu thế giới.
Sinh năm 1942 tại Luân đôn, Tony Buzan là cha đẻ của phương pháp tư duy
Mind Map và khái niệm xóa mù tư duy. Tony Buzan từng nhận bằng Danh dự về
tâm lý học, văn chương Anh, toán học và nhiều môn khoa học tự nhiên của ĐH
British Columbia năm 1964. Tony Buzan được biết đến nhiều nhất qua cuốn “Use
your head”. Trong đó ông trình bày cách thức ghi nhớ tự nhiên của não bộ cùng với
các phương pháp Mind map [42].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


11
Phương pháp Mind map được Tony Buzan sáng tạo như một “công cụ đa
năng của não bộ” - ứng dụng trong mọi lĩnh vực, từ thay đổi cách quản lý, ghi chú,
tư duy đến cách giải quyết mọi vấn đề. Ý tưởng chủ đạo trong Mind map cho thấy
trí nhớ của con người được hình thành bằng trí tưởng tượng và khả năng liên tưởng.
Trong hơn 30 năm, Tony Buzan đã đi khắp thế giới để thực hiện sứ mệnh
của mình. Sứ mệnh đó là giải phóng sức mạnh của não bộ, nhằm khám phá và sử
dụng năng lực mạnh mẽ của mỗi con người một cách dễ dàng nhất.
Phương pháp tư duy của ông được dạy và sử dụng ở khoảng 500 tập đoàn,
Công ty hàng đầu thế giới. Tạp chí Forbes từng bình luận: “Buzan chỉ ra cho các
lãnh đạo doanh nghiệp cách thức giải phóng năng lực sáng tạo của bản thân”. Hơn
2500 triệu người đang sử dụng phương pháp Mind map của Tony Buzan. Ông
thường xuyên tham gia các chương trình truyền hình. Khoảng 3 tỉ người đã từng
xem và nghe chương trình của ông [7].
1.1.5.2. Những nghiên cứu BĐTD ở Việt Nam - Thực trạng sử dụng BĐTD trong
dạy học
Tiến sỹ Trần Đình Châu và Tiến sỹ Đặng Thị Thu Thủy là hai tác giả đầu
tiên ở Việt Nam phổ biến công cụ này tới các trường ở PT. Sử dụng BĐTD không
chỉ giúp HS được phương pháp học, học tập một cách tích cực mà còn giúp cán bộ,
GV chủ nhiệm trong việc lập kế hoạch giảng dạy [8], [9].
Trong 3 năm gần đây, TS Châu cùng các cán bộ nghiên cứu thuộc Viện
Nghiên cứu Giáo dục Việt Nam, Dự án Phát triển Giáo dục THCS II kết hợp với Vụ
Giáo dục Trung học và Cục Nhà giáo của Bộ GD - ĐT và Sở GD - ĐT các tỉnh đến
các vùng miền của đất nước để nghiên cứu và nhân rộng dần phương pháp mới này
với hy vọng sẽ giúp học sinh thoát khỏi lối học vẹt, đóng góp phần mình vào công
việc chung của ngành giáo dục. Trên 30 bài báo khoa học cùng với 4 cuốn sách:
“Dạy tốt - học tốt các môn học bằng BĐTD” dùng cho GV và HS từ lớp 4 đến lớp
12 và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học của hai TS Châu, TS Thuỷ do
Nxb giáo dục phát hành đã thu hút mạnh sự quan tâm của các cấp quản lý giáo dục

và đội ngũ thầy cô giáo, phụ huynh và các em HS PT.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
Năm 2010, ứng dụng BĐTD trong dạy và học đã được triển khai thí điểm tại
355 trường trên toàn quốc và được cả GV cũng như HS các trường hồ hởi tiếp nhận.
Nhiều Sở, Phòng Giáo dục và Đào tạo sau khi được Dự án THCS II tập huấn cho
cốt cán cấp THCS đã chủ động phổ biến đến cả cấp tiểu học và THPT. Kết quả ghi
nhận ban đầu cho thấy: Việc vận dụng BĐTD trong dạy học sẽ dần hình thành cho
HS tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, “định vị trong đầu” được
các kiến thức, sự kiện cơ bản, có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học, học
tốt không chỉ kiến thức trong sách vở mà còn cả từ thực tiễn cuộc sống.
Trước kết quả khả quan này, năm 2011, Bộ GD & ĐT đã quyết định đưa
chuyên đề phương pháp dạy học bằng BĐTD thành 1 trong 5 chuyên đề tập huấn
cho giáo viên THCS trên toàn quốc.
Qua thực tế ứng dụng, nhiều GV đánh giá: Kết hợp với các phương pháp dạy
học tích cực khác (ứng dụng công nghệ thông tin) mà ngành giáo dục đã và đang
triển khai, BĐTD sẽ là đòn bẩy góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, giúp HS
tích cực chủ động và có tư duy tốt hơn.
Nhìn chung, các nghiên cứu trên đã nêu được hướng của đổi mới PPDH là
biến quá trình dạy học thành quá trình tự học và vai trò của của BĐTD trong việc
đổi mới PPDH. Tuy nhiên, việc xây dựng BĐTD hướng dẫn học sinh tự học chưa
được đi sâu nghiên cứu. Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu là: “Xây dựng và
sử dụng BĐTD để hướng dẫn HS tự học phần Sinh thái học (Sinh học 12).
1.2. Vấn đề tự học
1.2.1. Khái niệm về tự học
Trong quá trình dạy học ở nước ta hiện nay, tự học của người học đang là
vấn đề được quan tâm. Để học được suốt đời thì phải có quá trình tự học. Khả năng
này cần được rèn luyện ngay trong khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Vì vậy, quá

trình dạy học phải bao hàm dạy tự học, rèn luyện cho học sinh kỹ năng tự học.
Có nhiều khái niệm khác nhau về tự học:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn đào tạo, tác giả Nguyễn Cảnh
Toàn - một tấm gương sáng về tự học cho rằng: “Tự học là tự mình động não, suy

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp,…) và có
khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động
cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí
tiến thủ, không ngại khó khăn, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa
học,…), để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó thành sở hữu của mình”.
Theo tác giả Nguyễn Đăng Đạo (Đại học Quốc Gia Hà Nội) đã có vài suy
nghĩ chung về vấn đề tự học: “Tự học là công việc suốt cả cuộc đời mỗi người. Số
thời gian dành cho việc học với sự giúp đỡ của người thầy là rất ít, chỉ chiếm
khoảng 1/4 của một đời người. Thời gian còn lại chủ yếu dành cho việc tự học, cho
lao động sáng tạo. Ngay cả trong giai đoạn đi học, việc tự học luôn luôn có vai trò
đặc biệt quan trọng. Những người biết tự học, năng động, sáng tạo trong quá trình đi
học là những người có triển vọng và tiến xa trong cuộc đời này”.
Tác giả Nguyễn Kỳ trong Tạp chí nghiên cứu giáo dục số 7/1998 cũng bàn
về khái niệm tự học: “Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức
kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình. Tự học là tự đặt mình vào
tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề,
thử nghiệm các giải pháp…Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học”.
Theo tác giả Lưu Xuân Mới: “Tự học là hình thức hoạt động nhận thức của
cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính bản thân người học
tiến hành ở trên lớp hay ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và SGK đã
được quy định”.
Theo tác giả Nguyễn Như An: “Tự học, tự đào tạo, tự lực trong công tác học

tập là yếu tố quan trọng và là nguyên nhân bên trong trực tiếp tác động đến chất
lượng đào tạo”.
Theo tác giả Thái Duy Tuyên: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến
thức, kỹ năng, kỹ xảo,… và kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người nói chung và của
chính bản thân người học”.
Theo tác giả Nguyễn Phúc Chỉnh: “Tự học là một hoạt động tâm lý đặc trưng
của con người, hoạt động tự học là hoạt động tự giác, tích cực, tự chiếm lĩnh tri thức
khoa học bằng hành động của cá nhân hướng tới những mục tiêu nhất định”.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14
Về vai trò của người thầy trong dạy học hiện đại, theo quan điểm của nhiều
tác giả như Nguyễn Cảnh Toàn, Trần Bá Hoành, Nguyễn Kì, Jean - Marc
Denommé…, chức năng chính của người thầy trong quá trình dạy học hiện đại là
người tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi cho người học hoạt động, để tự
người học thu lượm tri thức, chiếm lấy làm tài sản sở hữu của mình. Người dạy giúp
đỡ người học thực hiện phương pháp học. Như vậy, trong dạy học hiện đại, quá
trình điều khiển của thầy phải hướng đến tự phủ định mình, nghĩa là dạy học phải
làm sao cho HS dần dần tự học tập, nghiên cứu mà không cần giáo viên hướng dẫn
nữa. Đó là điều cốt lõi giúp HS khi ra trường có đủ sức làm chủ bản thân, có khả
năng hội nhập và tự thích ứng cao với hoàn cảnh, trong điều kiện tri thức của nhân
loại tăng rất nhanh [35].
1.2.2. Các mức độ của năng lực tự học
Theo Nguyễn Kỳ: “Năng lực là sự tích hợp tổng thể cách học và kỹ năng tác
động đến nội dung trong hàng loạt tình huống, vấn đề khác nhau. Trong bất cứ một
con người Việt Nam nào, trừ những người bị tâm thần, khuyết tật, đều tiềm ẩn một
tiềm lực, một tài nguyên Quốc gia vô giá đó là năng lực tự tìm tòi, tự nghiên cứu, tự
giải quyết vấn đề thực tiễn, tự đổi mới, tự sáng tạo trong công việc hàng ngày, đó là
năng lực tự học sáng tạo”.

Như vậy có thể thấy rõ: Năng lực tự học luôn tiềm ẩn trong mỗi con người
và nó chính là nội lực phát triển của bản thân mỗi người học.
Khái niệm hoạt động tự học là rất rộng, nó có thể diễn ra với người học khi
có GV trực tiếp giảng dạy hoặc có sự điều khiển gián tiếp của GV thậm chí không
có GV hướng dẫn.
Tự học có hai mức độ khác nhau:
- Tự học có hướng dẫn
Là hình thức tự học để chiếm lĩnh tri thức và hình thành kỹ năng tương ứng
với sự tổ chức, hướng dẫn của GV.
Có 2 hình thức:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
+ Người học có SGK và có thêm sự hướng dẫn từ xa của người thầy, nghĩa là
vẫn có các quan hệ trao đổi thông tin giữa thầy và trò dưới dạng phản ánh thắc mắc
làm bài, chấm bài.
+ Người học có SGK và có thầy giáp mặt một số tiếp học, tuần học, tháng
học,…bằng những hình thức thông tin trực tiếp.
- Tự học không có sự hướng dẫn của thầy (Tự học hoàn toàn)
Là hình thức tự học, tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn
luyện kỹ năng thực hành không có sự hướng dẫn trực tiếp của GV.
Người học phải biết lựa chọn tài liệu, tìm ra những điểm chính, điểm quan
trọng trong các tài liệu đã đọc, đã nghe, phải biết cách ghi chép những điều cần
thiết, biết viết tóm tắt và làm đề cương, biết cách tra cứu từ điển và SGK tham khảo,
biết cách làm việc trong thư viện.
Vì vậy, phải học một cách hệ thống với thầy, rồi với sách và ngày nay cách
học đó phải dẫn tới việc thông minh sáng tạo, học một biết mười vì khi nghe nắm
chắc các kiến thức cơ bản, có hệ thống rồi mới nhờ năng lực tự học sẽ tìm được
nhiều kiến thức mới.

Với đề tài này chúng tôi tập chung nghiên cứu mức: Tự học có hướng dẫn
(người học có SGK, có thầy lên lớp tổ chức, giải đáp thắc mắc).
1.2.3. Vai trò của tự học trong đổi mới giáo dục hiện nay
* Đối với người học
Tự học có vai trò và ý nghĩa rất lớn, không chỉ ý nghĩa trong nhà trường mà
còn trong cuộc sống. Trong nhà trường, bản chất của sự học là tự học. Do đó, kết
quả học tập của HS tỷ lệ thuận với năng lực tự học của họ. Ngoài ra, tự học còn tạo
điều kiện hình thành và rèn luyện khả năng hoạt động độc lập, sáng tạo của mỗi
người, trên cơ sở đó tạo tiền đề và cơ hội cho họ học tập suốt đời [19].
* Đối với người dạy
Theo V.P Xtơrôricôrin (1981), tổ chức tự học cho HS còn có vai trò sau:
- Nâng cao tính tích cực, tự giác và tính vững chắc trong việc nắm kiến thức
của HS.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

16
- Rèn cho HS kỹ năng, kỹ xảo được quy định trong chương trình của mỗi
môn, phù hợp với mục đích của nhà trường.
- Dạy cho HS biết cách áp dụng các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đã thu nhận
được vào cuộc sống và lao động công ích.
- Phát triển khả năng nhận thức của HS (tính quan sát, tính ham hiểu biết,
khả năng tư duy logic, tính tích cực sáng tạo).
- Luyện cho HS khả năng lao động có kết quả, biết say mê vươn tới những
mục đích đặt ra.
- Chuẩn bị cho HS để các em có thể tiếp tục tự học một cách có kết quả.
- Tự học là biện pháp tối ưu nhất làm tăng độ bền kiến thức của mỗi HS.
* Đối với đổi mới dạy học
Trong quá trình bùng nổ thông tin như hiện nay, tự học có ý nghĩa vô cùng to
lớn, nó giúp cho con người chủ động tiếp thu tri thức khoa học ở mọi lúc, mọi nơi.

Chính vì vậy mà việc áp dụng kiến thức đó một cách tự nhiên, khả năng vận dụng
vào cuộc sống dễ dàng hơn. Đối với ngành giáo dục, để nâng cao chất lượng dạy
học cần phải đổi mới mọi mặt, trong đó việc tìm ra phương pháp để hướng dẫn HS
không chỉ tự học trong SGK mà còn tự học trong cuộc sống hàng ngày là điều cấp
thiết hiện đang được đặc biệt quan tâm. Thực tế, thời gian HS học trong SGK không
nhiều so với thời gian lao động, tiếp xúc trực tiếp với cuộc sống thực tại. Hơn nữa,
với tốc độ phát triển của khoa học như hiện nay, người thày không thể truyền đạt
hết lượng kiến thức đó mà chỉ dạy người học cách học, cách tiếp thu kiến thức một
cách tốt nhất. Như vậy, trong mọi thời đại, tự học là một phương pháp rất tốt để có
thể chiếm lĩnh được kho tàng tri thức.
1.2.4. Tiêu chí đánh giá năng lực tự học
* Năng lực tự học cần có ở HS
- Năng lực thu nhận thông tin
- Năng lực xử lý thông tin
- Năng lực diễn đạt nội dung thu được
- Năng lực vận dụng kiến thức

×