Tải bản đầy đủ (.doc) (10 trang)

Cơ bản về thị trường chứng khoán

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (100.7 KB, 10 trang )

Thị Trường Chứng Khoán
MỞ ĐẦU
Thị trường chứng khoán Việt Nam đang dần dần hình thành và phát triển
hướng đến sự ổn định và là nơi đầu tư an toàn lành mạnh cho các nhà đầu
tư.Tuy nhiên hiện nay thị trường vẫn còn đang trong giai đoạn hình thành và
phát triển nên vẫn còn rất nhiều sai sót trong điều hành vĩ mô,luật pháp vẫn
chưa chặt chẽ,chưa kiểm soát được thị trường,và điều đó dẫn đến các tác hại
không mong muốn gây hại cho các nhà đầu tư chân chính, làm thị trường
không phát triển lành mạnh được
Thị trường hiện nay đang trong giai đoạn suy giảm mạnh một phần do sự
điều hành yếu kém của các chính sách vĩ mô, một phần vì ảnh hưởng của tình
hình kinh tế thế giới đặc biệt là khủng hoảng tín dụng xấu tại Mỹ đang xấu
đi,dẫn đến sự khủng hoảng TTCK toàn cầu và Việt Nam cũng nằm trong xu
thế đó.Thêm vào đó bản lĩnh và trình độ của các nhà đầu tư Việt Nam còn rất
yếu kém vì thì trường còn rất non trẻ kinh nghiệm chưa có nhiều nên tâm lý
của đa số các nhà đầu tư Việt Nam đều rất hoang mang dẫn đến nhiều đợt bán
tống bán tháo cổ phiếu làm thị trường không gượng dậy được.
Trước tình hình thị trường đang rất khó khăn, ta cũng nên nhớ 1 triết lý
rất nổi tiếng mà các nhà đầu tư thành công hàng đầu trong TTCK Mỹ “Lúc tốt
nhất nên mua cổ phiếu là lúc mọi người bi quan nhất và lúc tổt nhất nên bán
cổ phiếu là lúc mọi người lạc quan nhất”
Thị trường CK cơ bản
1
Thị Trường Chứng Khoán
I. Sơ lược TTCK VN
Thị trường chứng khoán Việt Nam được hình thành trong bối cảnh cải
cách kinh tế toàn diện và xu hướng hội nhập. Trung tâm Giao dịch Chứng
khoán TP HCM bắt đầu hoạt động từ tháng 7/2000, ban đầu chỉ có hai cổ
phiếu niêm yết. Đến cuối tháng 5 năm 2006, sau hơn 5 năm, đã có 36 cổ
phiếu, 01 chứng chỉ quỹ và khoảng 300 trái phiếu được niêm yết và giao dịch.
Chỉ số chứng khoán VN Index, mặc dù đã trải qua một số giai đoạn biến


động, nhưng về tổng thể, từ năm 2000 đến nay đã tăng khoảng 3 lần.
Đầu tháng 3/2005, TTGDCK thứ hai được khai trương tại Hà Nội. Theo
chiến lược phát triển TTCK đến năm 2010 của Ủy ban Chứng khoán Nhà
nước, TTGDCK TP HCM sẽ được nâng cấp phát triển thành sở giao dịch
chứng khoán hiện đại, kết nối với các sở giao dịch chứng khoán của các nước
trong khu vực. Còn TTGDCK Hà Nội sẽ đóng vai trò là sàn giao dịch các cổ
phiếu vừa và nhỏ, các cổ phiếu OTC.
Mặc dầu quy mô TTCK Việt Nam vẫn còn khiêm tốn, nhưng triển vọng
phát triển trong tương lai được đánh giá là khá tiềm năng, dựa trên những cơ
sở sau đây:
• Cổ phần hóa các tổng công ty lớn thuộc sở hữu Nhà nước. Chính phủ
chủ trương sau khi cổ phần hóa sẽ niêm yết cổ phiếu của các tổng công ty này
trên TTGDCK. Chính phủ đang xúc tiến cổ phần hóa một loạt các doanh
nghiệp lớn như Ngân hàng ngoại thương Việt Nam, Vinaconex, v.v.. Những
công ty và ngân hàng này đều có quy mô vốn rất lớn, từ vài trăm đến vài ngàn
tỷ đồng.
• Niêm yết cổ phiếu của các ngân hàng cổ phần. Sacombank (NH Sài
Gòn Thương Tín) đã niêm yết vào tháng 7 năm 2006 là Sacombank và tiếp
theo sẽ có ACB, mỗi ngân hàng có giá trị thị trường hơn 1 tỷ đô la Mỹ.
2
Thị Trường Chứng Khoán
• Cổ phần hoá và niêm yết các công ty đầu tư nước ngoài. Đây cũng là
một nguồn cung quan trọng cho TTCK trong thời gian tới. Công ty đầu tư
nước ngoài đầu tiên đã cổ phần hóa thành công trong tháng 5 năm 2005 là
Cáp điện Taya với số vốn điều lệ là 182,67 tỷ đồng. Và công ty thứ hai là
Interfood với số vốn điều lệ 206.3 tỷ đồng
Trong quá trìh phát triển, TTCK Việt Nam đang phải đối mặt với một số
thách thức cơ bản sau:
• Tính minh bạch thông tin trên TTCK còn thấp.
• Trình độ quản trị công ty của phần lớn các công ty niêm yết còn hạn

chế.
• Thị trường dễ bị chi phối và biến động bởi những yếu tố tâm lý do quy
mô thị trường vẫn còn nhỏ, tính thanh khoản thấp, sự tham gia của các nhà
đầu tư có tổ chức vẫn còn hạn chế.
• Còn thiếu các tổ chức chuyên nghiệp tham gia định thị trường như các
tổ chức tạo lập thị trường .
Bên cạnh đó, khác với nhà đầu tư có tổ chức, các nhà đầu tư cá nhân
còn phải đối mặt thêm với những thách thức sau đây:
• Khả năng tiếp cận thông tin hạn chế hơn so với các nhà đầu tư có tổ
chức.
• Thiếu năng lực để bao quát, theo dõi một số lượng lớn công ty.
• Kỹ năng đánh giá, phân tích không chuyên nghiệp bằng nhà đầu tư có
tổ chức. Với một lượng vốn tương đối nhỏ, mức độ đa dạng hóa đầu tư thấp,
nhà đầu tư cá nhân có xu hướng tập trung vào một số cổ phiếu mà họ quen
thuộc, do vậy làm tăng rủi ro đầu tư khi những cổ phiếu này hoạt động không
như mong muốn.
3
Thị Trường Chứng Khoán
Để giải quyết những thách thức trên, đặc biệt đối với các nhà đầu tư cá
nhân, một trong những giải pháp hữu hiệu là phát triển các quỹ đầu tư.
II. Cơ bản về TTCK
Chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận các quyền và
lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của
tổ chức phát hành, bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư chứng
khoán và các chứng khoán khác theo quy định của pháp luật.
Thị trường chứng khoán là nơi giao dịch mua bán các chứng khoán
trung và dài hạn, bao gồm chủ yếu là cổ phiếu và trái phiếu. Tại các nước phát
triển, phần lớn các hoạt động của TTCK được thực hiện trên thị trường tập
trung, còn gọi là sở giao dịch chứng khoán. Những giao dịch phi tập trung,
diễn ra bên ngoài sở giao dịch được gọi là giao dịch ngoài sàn hay giao dịch

OTC (over the counter). Dưới góc độ kinh tế vĩ mô, TTCK là một kênh huy
động vốn quan trọng cho nền kinh tế. Đối với nhà đầu tư, TTCK là một kênh
đầu tư hấp dẫn, bên cạnh những lựa chọn khác như tiền gửi ngân hàng, mua
vàng, ngoại tệ, kinh doanh bất động sản, v.v.
Chúng ta cùng tìm hiểu thêm về cổ phiếu và trái phiếu, hai chứng khoán
chủ yếu trên thị trường chứng khoán.
Cổ phiếu là giấy chứng nhận cổ phần trong một công ty, thể hiện sự sở
hữu một phần trong công ty đó. Khi bạn mua cổ phiếu của một công ty, bạn
trở thành cổ đông và được chia phần lợi nhuận cũng như gánh chịu thất bại
của công ty theo tỷ lệ nắm giữ cổ phần của mình. Giá trị cổ phần của công ty
được phản ánh thông qua giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Thông
thường, khi công ty làm ăn phát đạt, giá cổ phiếu sẽ đi lên, và ngược lại, khi
công ty không thành công, giá cổ phiếu sẽ giảm.
Bạn có thể đầu tư vào cổ phiếu trên sàn, là những cổ phiếu được niêm
yết và giao dịch trên trung tâm giao dịch chứng khoán. Tuy nhiên, bạn cũng
4
Thị Trường Chứng Khoán
có thể xem xét đầu tư vào những cổ phiếu ngoài sàn (OTC), là những cổ
phiếu không đủ điều kiện niêm yết hoặc đủ điều kiện nhưng chưa niêm yết
trên trung tâm giao dịch chứng khoán. Thường thì các cổ phiếu trên sàn là
những cổ phiếu đã qua chọn lọc, các thông tin tương đối minh bạch và đầy đủ
hơn so với các cổ phiếu ngoài sàn. Nên lưu ý rằng cổ phiếu có lợi nhuận tiềm
năng cao hơn hẳn so với tiền gửi tiết kiệm và trái phiếu, nhưng bù lại mức độ
rủi ro cũng cao hơn.
Trái phiếu: Hiểu theo nghĩa đơn giản nhất, trái phiếu là một khoản vay
giữa bạn (người cho vay) với nhà phát hành (người đi vay). Nhà phát hành có
thể là Chính phủ khi cần huy động vốn cho ngân sách hoặc công ty khi huy
động vốn để đầu tư phát triển kinh doanh.
Trái phiếu thường có kỳ hạn cố định. Nhà phát hành sẽ trả lãi định kỳ
(hay còn gọi là lãi suất coupon) theo định kỳ 6 tháng hoặc 1 năm một lần

trong suốt kỳ hạn của trái phiếu. Khi đến hạn, nhà phát hành sẽ hoàn trả tiền
gốc. Đối với các trái phiếu niêm yết, bạn có thể tự do mua bán trên thị trường
chứng khoán.
Trái phiếu có một số điểm khác biệt cơ bản so với cổ phiếu. Về thu nhập
định kỳ, lãi suất cuống phiếu được ấn định ngay từ khi phát hành, trong khi cổ
tức của cổ phiếu lại biến động tùy theo kết quả hoạt động kinh doanh của
công ty phát hành. So với cổ phiếu, trái phiếu thường được đánh giá có mức
độ rủi ro thấp hơn, do vậy giá trái phiếu thường ít biến động hơn so với giá cổ
phiếu. Đó cũng chính là lý do vì sao trái phiếu hấp dẫn nhà đầu tư. Trong môi
trường lạm phát thấp, đầu tư trái phiếu là một cách an toàn để duy trì nguồn
thu nhập thường xuyên. Khi thị trường chứng khoán biến động, đầu tư trái
phiếu là một cách giúp đảm bảo an toàn vốn đầu tư và đa dạng hoá rủi ro.
Chỉ số chứng khoán
Để xác định hiệu quả hoạt động của cổ phiếu, các nhà đầu tư trên thị
trường thường nhìn vào chỉ số chứng khoán. Chỉ số chứng khoán có thể hiểu
5

×