Tải bản đầy đủ (.doc) (64 trang)

Thực trạng kiểm soát nguồn thu thuế GTGT từ các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội và giải pháp hoàn thiện

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (311.47 KB, 64 trang )

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Trong điều kiện hiên nay, do sự phát triển không ngừng của cách
mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ, đòi hỏi phải tăng cờng chức năng kinh
tế, xã hội của Nhà nớc. Để thực hiện các chức năng đó, Nhà nớc cần phải sử
dụng các công cụ khác nhau để tác động đến nền kinh tế, nhằm thoả mãn các
nhu cầu xã hội.
Việc tăng cờng vai trò kinh tế, xã hội của Nhà nớc dẫn đến tốc độ chi
tiêu của Nhà nớc ngày càng tăng lên, điều đó tất yếu đòi hỏi Nhà nớc phải
mở rộng quỹ tài chính của mình. Quỹ tài chính của Nhà nớc đợc hình thành
nên từ các nguồn thu. Trong đó thuế vừa là nguồn thu chủ yếu của NSNN,
vừa là một công cụ đắc lực để quản lí nền kinh tế, đặc biệt là GTGT.
Thuế GTGT đợc áp dụng ở Việt Nam từ ngày 1/1/1999. Sau hơn hai
năm thực hiện, ngoài những u điểm giúp cho việc kiểm soát nguồn thu tơng
đối chặt chẽ và thuận lợi nh : Đơn giản, dễ hiểu, có tính chất liên hoàn, tăng
cờng công tác hạch toán, kế toán tại doanh nghiệp... Luật Thuế GTGT và quy
trình quản lí thuế GTGT cũng bộc lộ những nhợc điểm, ảnh hởng tới công tác
kiểm soát nguồn thu, do vậy ảnh hởng trực tiếp tới kế hoạch thu ngân sách
của Nhà nớc. Kiểm soát tốt đợc nguồn thu thuế GTGT cũng đồng nghĩa với
việc tăng thu cho NSNN.
Xuất phát từ vai trò quan trọng đó nên việc đánh giá đúng thực trạng
và tìm ra đợc những giải pháp nhằm tăng cờng kiểm soát nguồn thu thuế
GTGT là một vấn đề vô cùng bức thiết, do vậy đề tài tôi chọn trong chuyên
đề này là: Thực trạng kiểm soát nguồn thu thuế GTGT từ các doanh
nghiệp trên địa bàn Hà Nội và giải pháp hoàn thiện.
2. Mục đích nghiên cứu của chuyên đề
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chuyên đề nghiên cứu thực trạng kiểm soát nguồn thu thuế GTGT đối
với các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội. Hệ thống hoá những
quan điểm mới về kiểm soát phù hợp với vai trò quản lí của Nhà nứớc, trên


cơ sở đó đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của kiểm soát nguồn
thu thuế GTGT- một nguồn thu quan trọng của Nhà nớc.
3. Nội dung chuyên đề
Ngoài lời mở đầu và kết luận , chuyên đề gồm 2 chơng:
Chơng1: Thực trạng kiểm soát nguồn thu thuế GTGT từ các doanh
nghiệp trên địa bàn Thành phố Hà Nội
Chơng2: Những giải pháp tăng cờng kiểm soát nguồn thu thuế GTGT
từ các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội.
4. Đối tợng, phạm vi nghiên cứu của chuyên đề
Chuyên đề nghiên cứu thc trạng kiểm soát nguồn thu thuế GTGT từ
các doanh nghiệp thực hiện Luật Thuế GTGT theo phơng pháp khấu trừ.
Phạm vi nghiên cứu: Các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội.
5. Phơng pháp nghiên cứu
Vận dụng phơng pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của
Chủ nghĩa Mác - Lê nin, kết hợp với các phơng pháp tổng hợp, phân tích và
phơng pháp so sánh.
6. Những đóng góp của chuyên đề
Chuyên đề làm rõ ý nghĩa quan trọng của việc tăng cờng kiểm
soát nguồn thu thuế GTGT, nêu lên thực trạng của hoạt động kiểm soát
nguồn thu thuế GTGT đối với các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà
Nội, đồng thời nêu ra những giải pháp và kiến nghị có tính khả thi nhằm
nâng cao hiệu quả của hoạt động này.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chơng I
Thực trạng kiểm soát nguồn thu thuế GTGT
từ các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hà Nội
1.1. Quá trình triển khai Luật Thuế GTGT với kiểm soát nguồn thu
thuế GTGT từ các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội.
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập với khu vực và quốc tế. Để có
chính sách thuế phù hợp với thông lệ quốc tế và cơ chế thị trờng, Việt Nam

đã tiến hành cải cách hệ thống và chính sách thuế. Ngày 10/05/1997, Quốc
hội khoá IX, kỳ họp thứ 11 đã thông qua 2 Luật thuế mới: Luật Thuế GTGT
và Luật Thuế TNDN và đợc áp dụng từ ngày 01/01/1999.
Qua 2 năm thực hiện Luật thuế mới, Luật Thuế GTGT đã tỏ ra có hiệu
quả trong việc kích thích sản xuất kinh doanh, góp phần phát triển sản xuất,
giúp cho việc ổn định và tăng trởng nguồn thu vào NSNN. Tuy nhiên, qua
thực hiện, có nhiều điểm trong Luật Thuế còn bất cập, không phù hợp với
tình hình thực tế. Đã có quá nhiều văn bản sửa đổi, bổ sung, điều này đã gây
khó khăn cho các doanh nghiệp và cho các nhà quản lý. Vì vậy, ngày
29/12/2000, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 79/2000/NĐ-CP hớng dẫn
chi tiết thực hiện Luật Thuế GTGT, thực hiện từ 1/1/2001. Nghị định này ban
hành thay thế các Nghị định hớng dẫn về thuế GTGT của Chính phủ đã ban
hành trớc đây. Bộ Tài Chính đã ban hành Thông t số 122/2000/ TT - BTC
ngày 29/12/2000 hớng dẫn thi hành Nghị định này. Thông t này thay thế các
Thông t hớng dẫn về thuế GTGT của Bộ Tài chính đã ban hành trớc đây.
Để thực hiện tốt luật thuế mới trên địa bàn Thành phố Hà Nội, UBND
Thành phố Hà Nội đã thành lập Ban chỉ đạo thực hiện các Luật thuế mới bao
gồm lãnh đạo các sở, ban, ngành chức năng nhằm tập trung chỉ đạo tổ chức
thực hiện từ ngày 1/1/1999. Công tác chuẩn bị đợc thực hiện tơng đối tốt.
Cục thuế Hà Nội đã mở nhiều lớp tập huấn quy trình quản lý thuế, chế độ kế
Website: Email : Tel : 0918.775.368
toán và việc sử dụng Hoá đơn theo Luật Thuế GTGT. Đồng thời, các doanh
nghiệp cũng đã mua Hoá đơn mới để chuẩn bị sử dụng vào ngày 1/1/1999.
Đến 31/12/1998 đã có 75% số doanh nghiệp mua Hoá đơn GTGT, số còn lại
tiếp tục mua vào quý 1/1999.
Bên cạnh việc mở các lớp tập huấn, Cục thuế Hà Nội đã phối hợp với
các cơ quan thông tin đại chúng để tuyên truyền phổ biến các Luật thuế mới,
đặc biệt là Luật Thuế GTGT và việc sử dụng Hoá đơn GTGT cho các đối t-
ợng nộp thuế. Cục thuế Hà Nội cũng đã phối hợp với Đài phát thanh và
Truyền hình Hà Nội thực hiện chuyên mục thuế để tuyên truyền những nội

dung cơ bản của Luật Thuế GTGT, giải đáp các khó khăn, vớng mắc trong
việc sử dụng Hoá đơn, chứng từ mới và kê khai thuế, nộp thuế.
Nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của việc triển khai Luật Thuế
GTGT và vai trò của mình, Cục thuế Hà Nội đã thực hiện kiện toàn bộ máy
tổ chức, xác định rõ các chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm của từng phòng,
ban.
Cơ cấu tổ chức bộ máy Cục thuế Hà Nội từ khi thực hiện Luật Thuế
GTGT nh sau:
Sơ đồ 1 : Cơ cấu tổ chức bộ máy Cục thuế Hà Nội sau khi triển
khai thực hiện Luật Thuế GTGT.
Phòng Nghiệp vụ
Phòng ấn chỉ
Phòng Trước bạ
Phòng Máy tính
Phòng Tài vụ
Phòng Hành chính
Phòng
Thanh tra, Xử
lý tố tụng
Các phòng
Quản lý thu
quốc doanh
Các phòng
Quản lý thu
Ngoài quốc
doanh
Phòng Kế hoạchCác Cục PhóPhòng Tổ chức
Cán bộ
Cục trưởng Cục Thuế
TP Hà Nội

Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Các Phòng Quản lý thu: bao gồm các Phòng Quản lý thu các doanh
nghiệp Quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, doanh nghiệp
Ngoài quốc doanh...Các phòng này có nhiệm vụ :
+ Quản lý đối tợng nộp thuế: theo dõi tình hình biến động về đối tợng
nộp thuế trên lĩnh vực, địa bàn quản lý nh: nắm số doanh nghiệp phát sinh,
doanh nghiệp phá sản, giải thể, sáp, nhập, liên doanh, liên kết... Phân tích
tình hình thu nộp, tham gia việc lập dự toán thu, khai thác nguồn thu trong
lĩnh vực đợc giao quản lý, tham mu, đề xuất với lãnh đạo Cục các biện pháp
quản lý thuế.
+ Hớng dẫn đối tợng nộp thuế các thủ tục kê khai đăng ký thuế, kê
khai thuế, lập hồ sơ miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế và quyết toán thuế... giải
đáp các thắc mắc của đối tợng nộp thuế liên quan đến việc tính thuế, thu nộp
thuế, lập và tổ chức lu giữ hồ sơ các doanh nghiệp.
+ Thực hiện việc kiểm tra các chỉ tiêu kê khai trên các tờ khai đăng ký
kinh doanh, kê khai nộp thuế, hồ sơ đề nghị miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế
và quyết toán thuế, liên hệ với đối tợng nộp thuế để chỉnh sửa việc kê khai
theo đúng quy định.
+ Đề xuất và tham mu cho lãnh đạo Cục giải quyết các trờng hợp miễn
thuế, giảm thuế, hoàn thuế, lập các thủ tục xét miễn, giảm, hoàn thuế theo
quy định, kiểm tra hồ sơ quyết toán thuế, xác định số thuế quyết toán từng
doanh nghiệp, cung cấp các thông tin trên cho bộ phận tính thuế.
+ Thực hiện việc ấn định thuế cho các đối tợng nộp thuế không nộp
hoặc chậm nộp tờ khai thuế; xác định các đối tợng nộp thuế cần phát hành
lệnh thu hoặc phạt hành chính thuế.
+ Theo dõi tình hình nộp thuế của các doanh nghiệp và đôn đốc, nhắc
nhở các doanh nghiệp nộp đúng hạn...
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Phòng Kế hoạch - Kế toán - Thống kê và Máy tính có nhiệm vụ:
+ Căn cứ số liệu tình hình phát triển kinh tế, xã hội tại địa phơng, phân

tích số liệu thống kê thuế để lập dự toán thu hàng năm của đơn vị, phân bổ kế
hoạch và theo dõi tiến độ thực hiện kế hoạch.
+ Thực hiện nhập tờ khai đăng ký thuế và quản lý hệ thống cấp mã số
đối tợng nộp thuế, in giấy chứng nhận đăng ký thuế.
+ Xử lý tính thuế, tính nợ, tính phạt nộp chậm, nhận giấy nộp tiền từ
Kho bạc, chấm nợ, nhận các kết quả xét miễn, giảm, hoàn thuế, quyết toán
thuế và các kết quả thanh tra, kiểm tra từ các Phòng Quản lý thu và Phòng
Thanh tra - xử lý tố tụng để tính điều chỉnh số thuế phải nộp của từng đối t-
ợng nộp thuế.
+ Thực hiện công tác kế toán, thống kê thuế theo chế độ quy định,
kiểm tra đối chiếu số thu với Kho bạc.
- Phòng Thanh tra - Xử lý tố tụng:
+ Kiểm tra phát hiện các đối tợng có hoạt động sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ nhng không kê khai đăng ký nộp thuế để đa vào diện quản lý thu
thuế.
+ Lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra trình lãnh đạo Cục duyệt, tổ chức
lực lợng kiểm tra và tiến hành kiểm tra các đối tợng cần kiểm tra về hoạt
động sản xuất kinh doanh, dịch vụ, kiểm tra sổ sách kế toán, Hoá đơn chứng
từ mua bán hàng hoá, phát hiện kịp thời các hành vi khai man, trốn lậu thuế,
đề xuất các hình thức xử lý theo pháp luật.
+ Hỗ trợ các Phòng Quản lý thu để quản lý, đôn đốc thu nộp và thực
hiện các biện pháp cỡng chế thu đối với những đối tợng cố tình vi phạm Luật
thuế.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+Kiểm tra việc chấp hành các quy định về quản lý thu và tính thuế của
các bộ phận trong Cơ quan Thuế để kịp thời chấn chỉnh những sai sót.
Để chuẩn bị cho việc thực hiện Luật Thuế GTGT, Tổng Cục Thuế đã ban
hành Quyết định số 1368/TCT-QĐ-TCCB ngày 16/12/1998 về Quy trình
quản lý thu thuế. Các bộ phận trên sẽ phối hợp đồng bộ để kiểm soát thu thuế
theo 5 Quy trình cụ thể là:

- Quy trình đăng ký thuế và cấp mã số thuế.
- Quy trình xử lý tờ khai, chứng từ nộp thuế,
- Quy trình xử lý hoàn thuế,
- Quy trình xử lý miễn thuế, giảm thuế, tạm giảm thuế,
- Quy trình xử lý quyết toán thuế.
Các quy trình trên có thể tóm tắt bằng sơ đồ 2:
Sơ đồ số 2 : Quy trình kiểm soát nguồn thu thuế.
(3)
(4)
(3) (4) (5) (1)+(2) (2)
(5)
(1)+(2)
Kho bạc
Ngân hàng
Doanh nghiệp
Phòng Hành chính
Website: Email : Tel : 0918.775.368
(2)
(3)
(4)
(4) (1)+(2)
(2)+(4)
(1) Đăng ký, cấp mã số thuế, doanh nghiệp nộp tờ khai
(2) Xử lý tờ khai, chứng từ nộp thuế, Thông báo thuế, miễn thuế, giảm thuế,
tạm giảm thuế
(3) Doanh nghiệp nộp thuế
(4) Hoàn thuế.
(5) Quyết toán thuế.
Quy trình quản lý thu thuế này hoàn toàn trên cơ sở các doanh nghiệp
tự đăng ký, kê khai và nộp thuế vào Kho bạc.

- Đăng ký và cấp mã số thuế : Doanh nghiệp nộp hồ sơ bao gồm quyết
định thành lập, đăng ký kinh doanh, trong đó kê khai rõ tên, địa chỉ kinh
doanh, lọai hình doanh nghiệp, các hoạt động kinh doanh, các mặt hàng kinh
doanh, tài khoản giao dịch ở ngân hàng... cho Phòng Hành chính. Hồ sơ này
sẽ đợc các Phòng Quản lý thu thuế kiểm tra, xác minh. Sau khi kiểm tra hồ
Các Phòng
Quản lý thu thuế
Phòng Thanh tra,
Xử lý tố tụng
- Phòng Kế hoạch- Kế
toán - Thống kê
- Phòng Máy tính
Phòng
Nghiệp vụ
Website: Email : Tel : 0918.775.368
sơ đăng ký mã số thuế, Phòng Quản lý thu sẽ chuyển hồ sơ cho bộ phận Máy
tính để cấp mã số thuế cho doanh nghiệp.
- Kê khai thuế, nộp thuế : Hàng tháng, doanh nghiệp phải kê khai
doanh thu, thuế GTGT đầu ra, giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào, thuế GTGT
đầu vào, tự tính thuế phải nộp, gửi tờ khai cho Cục Thuế qua Phòng Hành
chính. Các Phòng Quản lý thu sẽ kiểm tra tờ khai và chuyển cho Phòng Máy
tính để hạch toán số thuế phải nộp của doanh nghiệp và ra Thông báo thuế
gửi cho doanh nghiệp qua Phòng Hành chính. Trong quá trình xử lý tờ khai,
nếu có dấu hiệu nghi vấn, Phòng Quản lý thu sẽ phối hợp với Phòng Thanh
tra - Xử lý tố tụng để xác minh chính xác số thuế phải nộp.
Trên cơ sở Thông báo thuế, doanh nghiệp tự giác lập giấy nộp tiền vào
NSNN và chuyển tiền đến Kho bạc Nhà nớc để nộp thuế.
- Miễn thuế, giảm thuế, tạm giảm thuế : Trên cơ sở các quy định của
Luật Thuế GTGT và các Luật có liên quan, doanh nghiệp có thể đợc miễn
thuế, giảm thuế, tạm giảm thuế. Trong trờng hợp đó, doanh nghiệp phải gửi

đầy đủ hồ sơ đến Cục Thuế để Cục Thuế xem xét, quyết định. Đối với các
doanh nghiệp đã gửi hồ sơ đề nghị miễn thuế, giảm thuế, tạm giảm thuế,
Phòng Quản lý thu phối hợp với Phòng Thanh tra - Xử lý tố tụng để xác minh
và trình Lãnh đạo Cục Thuế quyết định.
- Hoàn thuế : Các doanh nghiệp sẽ đợc hoàn thuế nếu nh số thuế
GTGT đầu vào đợc khấu trừ lớn hơn số thuế GTGT đầu ra. Nếu doanh nghiệp
có những dấu hiệu vi phạm trong quá trình hoàn thuế, Phòng Quản lý thu
phải phối hợp với phòng Thanh tra - Xử lý tố tụng để xác minh lại. Trong tr-
ờng hợp doanh nghiệp đợc hoàn thuế, Phòng Quản lý thu thuế sẽ phối hợp
với Phòng Nghiệp vụ để trình Lãnh đạo Cục Thuế Quyết định hoàn thuế cho
doanh nghiệp. Quyết định hoàn thuế đợc gửi cho doanh nghiệp và Kho bạc
để chuyển trả lại tiền thuế cho doanh nghiệp.
- Quyết toán thuế: Hàng năm, căn cứ vào quyết toán thuế GTGT và
báo cáo tài chính của doanh nghiệp, Cục thuế Hà Nội tiến hành kiểm tra việc
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chấp hành luật thuế tại đơn vị. Việc quyết toán thuế hàng năm chính là một
hoạt động kiểm soát của Nhà nớc thông qua cơ quan quản lí là Cục Thuế
nhằm kiểm soát chặt chẽ các nguồn thu cho NSNN, nhất là nguồn thu từ thuế
GTGT.
1.2. Thực trạng công tác kiểm soát nguồn thu thuế GTGT từ các doanh
nghiệp theo quy trình quản lý thuế.
1.2.1 - Tác động của Quy trình quản lý thuế đối với Kiểm soát
nguồn thu thuế GTGT.
Sau 2 năm triển khai thực hiện Luật Thuế GTGT, thực tế đã chứng
minh Luật Thuế GTGT đã đi vào thực tiễn cuộc sống. Công chúng và các
doanh nghiệp đã tạo đợc thói quen tính toán hiệu quả kinh tế cũng nh sử
dụng Hoá đơn, Chứng từ trên cơ sở của Thuế GTGT. Đồng thời, thực tế cũng
đã chứng minh: Thuế GTGT là loại thuế có tính khoa học, chuyên môn hoá
cao, có tác dụng kích thích mạnh mẽ sản xuất kinh doanh, đầu t và tạo điều
kiện thuận lợi đối với công tác quản lý Nhà nớc về kinh tế. Có thể thấy tác

dụng của Luật Thuế GTGT trên một số khía cạnh sau:
Thứ nhất, thuế GTGT tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá
phát sinh trong quá trình luân chyển từ sản xuất đến tiêu dùng nên đã loại bỏ
triệt để tính trùng lắp, thuế trùng lên thuế của Thuế Doanh thu trớc đây. Điều
đó thể hiện tính khoa học của thuế GTGT và tạo điều kiện thuận lợi để thuế
GTGT đợc các doanh nghiệp chấp nhận, ủng hộ.
Thứ hai, Luật Thuế GTGT tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất
nhập khẩu. Đối với hoạt động nhập khẩu, thuế GTGT đánh vào hàng nhập
khẩu (điều mà thuế doanh thu không thực hiện đợc) đã tạo ra ba khả năng
quan trọng: (1) góp phần khuyến khích và bảo hộ hợp lý sản xuất nội địa(2)
cho phép có thể giảm thuế nhập khẩu, thúc đẩy tiến trình Việt Nam hội nhập
Website: Email : Tel : 0918.775.368
kinh tế với Thế giới mà trớc mắt là khối ASEAN (3) góp phần chuyển dịch
cơ cấu thuế theo hớng nội địa hoá.
Đối với hoạt động xuất khẩu, Luật Thuế GTGT đã khuyến khích mạnh
mẽ hàng xuất khẩu. Với thuế suất 0% cho hàng hoá xuất khẩu, toàn bộ thuế
GTGT đầu vào đợc hoàn trả cho doanh nghịêp xuất khẩu. Thực chất đây là
một biện pháp trợ giá cho các doanh nghiệp xuất khẩu nên đã giúp các doanh
nghiệp tập trung đợc nguồn hàng trong nớc để xuất khẩu và có lợi thế do
giảm đợc giá vốn hàng xuất khẩu, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị tr-
ờng Quốc tế. Đó là một động lực mạnh mẽ đối với hoạt động xuất khẩu mà
không một sắc thuế nào có thể tạo ra. Vì thế năm 1999, năm đầu tiên thực
hiện Luật Thuế GTGT, khoảng 1.720 tỷ đồng thuế GTGT đã đợc hoàn trả cho
các đơn vị xuất khẩu, góp phần quan trọng thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu
tăng 23,8%, gấp gần 4 lần chỉ tiêu do Quốc hội đề ra.
Thứ ba, Luật Thuế GTGT khuyến khích mạnh mẽ việc đầu t tài sản cố
định, đổi mới công nghệ nhằm nâng cao chất lợng sản phẩm, giảm giá thành
sản xuất. Theo Luật Thuế GTGT, thiết bị máy móc, phơng tiện vận tải
chuyên dùng nằm trong dây chuyền công nghệ và vật t xây dựng thuộc loại
trong nớc cha sản xuất đợc, cần nhập khẩu thì không thuộc diện chịu thuế

GTGT. Ngoài ra, toàn bộ thuế GTGT đầu vào của công trình xây dựng đợc
khấu trừ hoặc hoàn trả mà không cấu thành nguyên giá công trình, đồng thời,
kể từ ngày 1/9/1999, hoạt động xây dựng và lắp đặt đợc giảm thuế suất từ
10% xuống 5%. Tất cả những điều đó đã tạo điều kiện giảm giá thành xây
dựng, lắp đặt, từ đó làm giảm chi phí khấu hao tài sản cố định trong giá thành
sản phẩm.
Thứ t, Luật Thuế GTGT tạo điều kiện thuận lợi cho việc phản ảnh
trung thực tình trạng sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, giải quyết mối
quan hệ giữa Nhà nớc và doanh nghiệp một cách khách quan, công bằng. Cơ
chế vận hành của thuế GTGT là lấy thuế đầu ra trừ đi số thuế đầu vào trong
cùng kỳ. Thuế đầu ra phản ánh doanh thu, thuế đầu vào phản ánh giá trị tài
Website: Email : Tel : 0918.775.368
sản, vật t, dịch vụ mua trong kỳ. Nếu doanh nghiệp không tạo đợc thêm
GTGT trong quá trình sản xuất, kinh doanh thì không phải nộp thuế. Điều
này giúp cho các doanh nghiệp có điều kiện để phục hồi, phát triển sản xuất.
Thứ năm, Luật Thuế GTGT tạo điều kiện cho công tác quản lý Nhà n-
ớc về kinh tế, thể hiện trên 2 mặt: Một là, Luật Thuế GTGT giúp tăng cờng
chế độ hạch toán kế toán tại các doanh nghiệp. Việc tính thuế đợc thực hiện
trên Hoá đơn bán hàng và mua hàng, vì thế các doanh nghiệp ngày càng chú
trọng hơn công tác kế toán nhằm hạch toán một cách chính xác giá trị vật t,
hàng hoá, dịch vụ đầu vào, tiết kiệm chi phí, tránh đợc những chi phí khống,
giúp sản xuất có hiệu quả hơn. Đồng thời các doanh nghiệp cũng thực hiện lu
giữ, bảo quản tốt sổ sách, hoá đơn, chứng từ. Hai là, Luật Thuế GTGT tạo
tiềm năng chống trốn thuế. Với phơng pháp hành thu liên hoàn làm cho Luật
thuế chặt chẽ và tạo cơ chế tự kiểm soát giữa những ngời nộp thuế, từ đó, để
đợc khấu trừ thuế, những ngời mua hàng đều phải cần đến Hoá đơn GTGT,
buộc ngời bán phải xuất hoá đơn, loại bỏ hiện tợng giấu doanh thu nh đã từng
gặp đối với thuế doanh thu trớc đây. Qua đó, bảo đảm công bằng giữa các
doanh nghiệp trong việc thực hiện nghĩa vụ đối với NSNN.
Những tác động tích cực của Luật Thuế GTGT có thể phát huy đợc,

một phần quan trọng phụ thuộc vào việc xây dựng đợc một Quy trình quản lý
thu thuế một cách khoa học. Quá trình thực hiện Luật Thuế GTGT đã cho
thấy Quy trình quản lý thu thuế mới đã cải cách công tác hành thu, nâng cao
hiệu quả công tác quản lý thu thuế, đóng góp không nhỏ vào công cuộc cải
cách thuế bớc 2, góp phần giúp cho Nhà nớc kiểm soát chặt chẽ đợc nguồn
thu thuế GTGT.
Về thủ tục hành chính thuế, có thể nói từ khi triển khai Luật Thuế
GTGT và thực hiện Quy trình quản lý thu thuế mới, thủ tục hành chính thuế
đã đợc cải cách một bớc rất đáng kể. Thông qua việc quy định các doanh
nghiệp tự tính thuế, tự kê khai và nộp thuế đã khơi dậy đợc ý thức trách
nhiệm trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế. Mặt khác, phát huy đợc chức năng,
Website: Email : Tel : 0918.775.368
quyền hạn của Cơ quan Thuế trong việc hành thu theo chức năng Nhà nớc
quy định, từng bớc xoá bỏ chế độ chuyên quản thuế. Ngoài ra, việc ra Thông
báo thuế đã giúp cho các doanh nghiệp nâng cao ý thức trách nhiệm trong
việc nộp thuế đầy đủ và đúng kỳ hạn, giảm đợc tình trạng dây da, nợ đọng
thuế, từ đó giúp cho Cơ quan Thuế quản lý tốt nguồn thu phát sinh, kiểm soát
chặt chẽ nguồn thu thuế GTGT.
Đặc biệt, Cục thuế Hà Nội đã chú trọng tới kiểm tra, kiểm soát việc
đăng ký, cấp mã số thuế cho các doanh nghiệp, việc kê khai thuế, tăng cờng
việc xác minh, xử lý hoá đơn, xác định chính xác thuế suất các mặt hàng, xác
định số thuế phải nộp của các doanh nghiệp. Từ khi áp dụng Quy trình quản
lý thu thuế mới, hầu hết các doanh nghiệp đã có ý thức tự giác chấp hành
Luật Thuế và việc nộp thuế đầy đủ, đúng kỳ hạn đã trở thành một mối quan
tâm thờng xuyên đối với các doanh nghiệp. Tất cả những điều đó đã đem lại
kết quả đáng kể trong việc huy động nguồn thu vào NSNN. Kết quả cụ thể đ-
ợc thể hiện trên bảng 1.
Bảng 1: Kết quả thu NSNN và thu thuế GTGT trên điạ bàn
thành phố Hà Nội trong những năm qua:
Đơn vị : Tỷ đồng.

TT
Chỉ tiêu
Thực
hiện
Thực
hiện
% so sánh thực hiện 2000
Dự toán
năm 2000
của BTC
Dự toán năm
2000 của
UBNDTP
Thực hiện
1999
1.
2.
Thu từ DNNNTW
Trong đó thuế GTGT
Thu từ các DNĐP
Trong đó: Thuế GTGT
6.244
1.606
289
124
675
7.533
1.192
290
127

789
132,91 %
95,37 %
132,18 %
124,12 %
105,23 %
132,91 %
95,37 %
125,77 %
122,59 %
105,23 %
120,64 %
74,24 %
100,04 %
102,43 %
116,94 %
Website: Email : Tel : 0918.775.368
3.
4.
Thu DOANH NGHIệP có
vốn ĐTNN
Trong đó: Thuế GTGT
Thu ngoài quốc doanh
Trong đó: Thuế GTGT
321
463
244
405
457
227

121,53 %
80,56 %
73,66 %
121,53 %
80,56 %
73,66 %
126,08 %
98,62 %
93,17 %
Tổng cộng:
Trong đó: Thuế GTGT
7.671
2.295
9.069
1.951
118,22 %
97,86 %
125,69 %
97,80 %
118,22 %
85,01 %
Trên địa bàn Thành phố Hà Nội, những kết quả trên đã chứng minh
Quy trình quản lý thu thuế cơ bản là phù hợp với tình hình thực tế của địa bàn
và việc thực hiện tốt Quy trình quản lý thu thuế là một nhân tố quan trọng để
đạt kết quả đó.
Tóm lại : Việc xác định thuế GTGT dựa trên cơ sở thuế đầu ra trừ thuế
đầu vào, đã tạo điều kiện cho việc kiểm tra chặt chẽ hoạt động kinh doanh
của các doanh nnghiệp, từ đó đã góp phần quan trọng trong kiểm soát nguồn
thu thuế GTGT. Việc xây dựng một Quy trình nộp thuế một cách khoa học
hợp lý sẽ góp phần nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc tự

kiểm tra giám sát nghĩa vụ của mình đối với Nhà nớc cũng nh giúp cho Cục
Thuế là ngời thay mặt Nhà nớc thực hiện tốt nhiệm vụ của mình là kiểm soát
đợc các nguồn thu và ổn định nguồn thu cho NSNN.
1.2.2 - Những mặt tồn tại của Luật Thuế GTGT và quy trình kiểm
soát nguồn thu Thuế GTGT.
Việc thực hiện Quy trình quản lý thu thuế mới đã có những tác động
tích cực không thể phủ nhận. Tuy vậy, trong quá trình kiểm soát nguồn thu
Thuế GTGT không tránh khỏi những khó khăn, vớng mắc xuất phát từ các
quy định của Luật Thuế GTGT và bản thân Quy trình quản lý thu thuế.
Những vớng mắc trong Luật Thuế GTGT có thể đợc khái quát trên một
số khía cạnh sau:
Thứ nhất là việc đánh thuế GTGT đối với hàng nhập khẩu.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Theo Quy trình quản lý thu thuế, ngời nhập khẩu phải kê khai và nộp
thuế GTGT ngay tại cửa khẩu. Giá tính thuế thuế GTGT hàng nhập khẩu
bằng giá nhập khẩu (giá CIF) cộng thuế nhập khẩu. Rõ ràng ở khâu nhập
khẩu lại xuất hiện hiện tợng thuế chồng lên thuế. Hơn nữa, giá nhập khẩu
(giá CIF) cộng thuế nhập khẩu của hàng hoá nhập khẩu không phải là giá trị
tăng thêm của hàng hoá. Cơ chế này tạo ra hai tác động tiêu cực đối với cơ sở
sản xuất kinh doanh:
Một là, doanh nghiệp nhập khẩu phải chịu chi phí đầu vào cao hơn, do
đó dẫn tới tăng giá bán ra, điều này ảnh hởng tới ngời tiêu dùng. Do vậy tốc
độ tiêu thụ hàng hoá của các doanh nghiệp này sẽ bị chậm, doanh thu giảm,
ảnh hởng tới kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp nhập khẩu, nhất là
những đơn vị nhập khẩu hàng tiêu dùng.
Hai là, việc nộp thuế GTGT đồng thời với thuế nhập khẩu sẽ gây khó
khăn cho doanh nghiệp về vốn, doanh nghiệp phải ứng ngay vốn trong khi
nguyên vật liệu cha đợc đa vào quá trình sản xuất, vốn cha luân chuyển.
Những tác động này cần phải đợc khắc phục để tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh, có thể dới hình thức thuế khác với mục tiêu bảo

hộ sản xuất trong nớc.
Thứ hai là đối với việc quy định sử dụng hai loại hoá đơn:
Trong quá trình thực hiện Luật Thuế GTGT, Bộ Chính trị đã có chỉ đạo
tại thông báo số 41/TB-TW ngày 12/02/1997 là những ngời kinh doanh có
nơi sản xuất, có cửa hàng, cửa hiệu cố định đều là đối tợng áp dụng thuế
GTGT, không nên phân biệt hộ kinh doanh lớn, hộ kinh doanh nhỏ. Những
ngời kinh doanh không có nơi cố định thì áp dụng chế độ khoán .
Căn cứ vào thực tiễn nớc ta, căn cứ vào sự chỉ đạo của Bộ Chính trị,
Luật Thuế GTGT đã đa ra 2 phơng pháp tính thuế là: phơng pháp khấu trừ
thuế và phơng pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT. Phơng pháp khấu trừ thuế
đợc áp dụng đối với các doanh nghiệp đợc thành lập, hoạt động theo Luật
Website: Email : Tel : 0918.775.368
DNNN, Luật ĐTNN, Luật Công ty, Luật Hợp tác xã và những hộ kinh doanh
lớn chấp hành tốt chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ. Phơng pháp tính thuế
trực tiếp trên GTGT áp dụng chủ yếu đối với những hộ kinh doanh cá thể cha
thực hiện tốt chế độ hoá đơn chứng từ. Để triển khai, ứng với 2 phơng pháp
tính thuế có 2 loại hoá đơn tơng ứng là Hoá đơn GTGT (dùng cho đối tợng
nộp thuế theo phơng pháp khấu trừ) và Hoá đơn bán hàng (dùng cho đối tợng
nộp thuế theo phơng pháp trực tiếp).
Thực chất của phơng pháp tính thuế GTGT trực tiếp là biện pháp
khoán thuế giống nh thuế doanh thu trớc đây. Hiện nay, chính sách thuế đã
sửa đổi, cho phép cả Hoá đơn GTGT và Hoá đơn bán hàng đều đợc khấu trừ
thuế thì việc quy định sử dụng 2 loại hoá đơn cho 2 đối tợng kinh doanh khác
nhau nh hiện nay là không còn phù hợp.
Thứ ba là về Thuế suất thuế GTGT.
Chuyển từ 11 mức thuế suất thuế doanh thu xuống còn 4 mức thuế suất
GTGT (0% - 5% - 10% - 20%) đợc xác định là giai đoạn đầu để dần tiến tới
còn 1 mức thuế suất theo mục tiêu, yêu cầu đơn giản, bình đẳng, công bằng
mà cải cách thuế bớc II đã đặt ra. Nếu so với mức thuế doanh thu trớc kia thì
với 4 mức thuế suất GTGT là bớc tiến lớn trong việc cải cách chính sách

thuế, thể hiện sự tiến bộ và đơn giản của Luật Thuế GTGT. Tuy nhiên thực tế
đặt ra 2 vấn đề cần giải quyết:
Thuế suất đợc định ra trên cơ sở công dụng, mục đích sử dụng của
hàng hoá, nhng tiêu chí để phân định mục đích sử dụng của hàng hoá, dịch
vụ là rất phức tạp, dẫn đến tình trạng cùng một mặt hàng nhng có thể áp dụng
các mức thuế suất khác nhau, chênh lệch nhau. Chẳng hạn, nhiều sản phẩm
không có tiêu thức để phân định là sản phẩm cơ khí tiêu dùng hay cơ khí là t
liệu sản xuất, các loại hoá chất cơ bản và hoá chất thông thờng...
- Việc quy định 4 mức thuế suất với sự chênh lệch tơng đối lớn giữa
các mức thuế suất thuế GTGT và thuế doanh thu trớc đây, do vậy nhiều
Website: Email : Tel : 0918.775.368
doanh nghiệp trớc đây nộp thuế doanh thu thấp, nay nộp thuế GTGT với mức
thuế suất cao hơn, gặp nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh.
Bên cạnh những vớng mắc của Luật Thuế, Quy trình quản lý thu thuế
cũng còn một số hạn chế.
Việc ra Thông báo thuế cũng có những bất cập. Hầu hết các văn bản
pháp luật về thuế hiện hành đều quy định: các doanh nghiệp phải nộp theo số
thuế và thời hạn ghi trong thông báo của Cơ quan Thuế, mà không đa ra yêu
cầu các doanh nghiệp sau khi kê khai thuế phải chủ động, tự giác nộp đầy đủ
số thuế đã kê khai vào Kho bạc Nhà nớc theo thời hạn quy định của Luật
Thuế. Từ đó tạo ra cho doanh nghiệp có t tởng trông chờ vào thông báo nộp
thuế hoặc đổ lỗi chậm nộp do Cơ quan Thuế chậm gửi Thông báo thuế. Bên
cạnh đó, thông báo nộp thuế của Cơ quan Thuế vẫn có những tồn tại, chẳng
hạn:
- Số thuế phải nộp trên Thông báo thuế không đồng nhất với số thuế
phải nộp trên tờ khai thuế do việc tính toán lại số thuế phải nộp trên máy vi
tính của Cơ quan Thuế hoặc do việc nhập số liệu không kịp thời, không đồng
bộ các loại tờ khai thuế và giấy nộp tiền vào NSNN của doanh nghiệp. Từ đó
dẫn đến tình trạng phản ứng của doanh nghiệp khi nhận đợc Thông báo thuế.
- Thời điểm gửi Thông báo nộp thuế đến doanh nghịêp nhiều khi còn

chậm so với thời hạn nộp thuế đợc quy định trong các Luật thuế, dẫn đến các
doanh nghiệp nộp chậm thuế, chậm chí còn có trờng hợp doanh nghiệp đôn
đốc Cơ quan Thuế gửi Thông báo để nộp thuế. Từ đó đã làm giảm đi tính tích
cực, chủ động của doanh nghiệp trong việc nộp thuế.
- Việc in ấn, chỉnh sửa số liệu nhiều lần dẫn đến việc ra Thông báo
nộp thuế lãng phí nhiều thời gian, công sức, chi phí và kém hiệu quả.
Đánh giá một cách chung nhất, trên thực tế Quy trình quản lý thu thuế
hiện nay vẫn cha xoá bỏ đợc triệt để chế độ chuyên quản thuế. Mặc dù quy
trình quản lý thuế mới quy định cá nhân Cán bộ thuế không đợc quan hệ trực
tiếp với Đối tợng nộp thuế, nhng các quy định khác (nh chế độ báo cáo thông
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tin về doanh nghiệp...) buộc Cán bộ thuế phải trực tiếp tới doanh nghiệp để
lấy thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh. Do vậy, tạo ra sự cả nể
trong khi làm việc giữa Cán bộ thuế và Đối tợng nộp thuế, mặt khác, ngành
Thuế vẫn phải mất khá nhiều nhân lực vào công tác thu thuế mà hiệu quả
công tác lại không cao.
Bên cạnh đó, do Quy trình quản lý thu thuế cha có những quy định rõ
ràng về việc phối hợp giữa các Cơ quan Thuế ở các địa phơng khác nhau nên
đối với trờng hợp doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn nhiều tỉnh phải kê
khai đăng ký và nộp thuế riêng biệt tại từng tỉnh, đã gặp nhiều khó khăn
trong việc kê khai, nộp thuế, có doanh nghiệp còn lợi dụng điểm này để trốn
thuế. Cá biệt, vì bệnh thành tích, các Cơ quan Thuế ở các địa phơng còn cạnh
tranh nhau để thu thuế các đối tợng này. Đây là những vớng mắc trong việc
thực hiện Quy trình quản lý thu thuế cần phải đợc khắc phục ngay nhằm nâng
cao hiệu quả kiểm soát nguồn thu, nhất là nguồn thu từ thuế GTGT.
1.3. Công tác tổ chức Bộ máy quản lý Thuế đối với kiểm soát nguồn thu
thuế GTGT từ các doanh nghiệp.
Theo cơ cấu tổ chức của Cục thuế Hà Nội, các Phòng Quản lý thu quốc
doanh sẽ trực tiếp kiểm soát đối với các DNNN, các Công ty cổ phần và các
doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài. Các Phòng Quản lý thu ngoài quốc

doanh quản lý các doanh nghiệp t nhân và Công ty TNHH. Tất cả các cán bộ
quản lý ở các Phòng Quản lý thu quốc doanh đều có trình độ từ Đại học trở
lên, vì vậy việc kiểm soát các nguồn thu, đặc biệt là nguồn thu từ thuế GTGT
đợc thực hiện tơng đối tốt. Việc kiểm tra, phát hiện những sai sót trong quá
trình kê khai thuế, kiểm tra quyết toán thuế hàng năm đã làm tăng nguồn thu
cho NSNN.
Tuy nhiên, việc kiểm soát nguồn thu Thuế GTGT từ các Doanh nghiệp
Ngoài quốc doanh cha đợc chặt chẽ. Bên cạnh việc ban hành QĐ1368, Bộ
Tài Chính đã ban hành Thông t 110/1998-TT-BTC ngày 3/8/1998 sửa đổi về
Website: Email : Tel : 0918.775.368
bộ máy Cục Thuế nhằm tổ chức quản lý tập trung các doanh nghiệp, tổ chức
nộp thuế GTGT theo phơng pháp khấu trừ tại Cục Thuế. Thực hiện nghiêm
túc quy định này, các Doanh nghiệp Ngoài quốc doanh trớc đây do các Chi
cục thuế quản lý đã chuyển về Cục Thuế quản lý trực tiếp. Tuy vậy, trong quá
trình triển khai thực hiện các Luật thuế mới, đặc biệt từ khi Luật doanh
nghiệp đợc thực hiện thì số doanh nghiệp tăng lên rất nhanh. Do đó, số lợng
các đối tợng nộp thuế do Cục thuế Hà Nội quản lý quá lớn, với 80 cán bộ ở 2
Phòng Quản lý thuế các Doanh nghiệp Ngoài quốc doanh (trên 5.870 doanh
nghiệp). Cán bộ thuế chỉ đủ thời gian để xét duyệt các tờ khai thuế và làm
các thủ tục hành chính, không còn thời gian để thực hiện các khâu khác của
Quy trình quản lý thu thuế. Và đó cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng là
mặc dù sản lợng hàng năm của các Doanh nghiệp Ngoài quốc doanh tăng
lên, mức đóng góp vào GDP của toàn Thành phố tăng lên nhng do bị buông
lỏng quản lý, kiểm soát thu thuế GTGT khu vực ngoài quốc doanh trên địa
bàn Hà Nội cha thực hiện tốt, từ đó dẫn đến kết quả thu thuế GTGT của các
Doanh nghiệp Ngoài quốc doanh còn thấp, cha đạt chỉ tiêu so với kế hoạch
đã đề ra.
1.4. Công tác kiểm tra việc chấp hành luật thuế của các doanh nghiệp
thông qua quyết toán thuế.
Để làm tốt công tác kiểm tra, kiểm soát nguồn thu thuế GTGT từ các

doanh nghiệp, ngoài việc kiểm tra tại chỗ trên cơ sở các tờ khai hàng tháng,
hàng năm, Cục thuế Hà Nội còn tổ chức kiểm tra quyết toán thuế tại các
doanh nghiệp. Kiểm tra quyết toán thuế thực chất là kiểm tra thực trạng hoạt
động tài chính của các doanh nghiệp. Việc kiểm tra quyết toán thuế giúp cho
các doanh nghiệp xác định chính xác số thuế phải nộp cũng nh giúp cho Nhà
nớc kiểm soát chặt chẽ đợc nguồn thu thuế của mình.
Việc thực hiện kiểm tra quyết toán thuế đợc tiến hành trên những nội
dung sau:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Thứ nhất là kiểm tra tính trung thực của các nội dung trên tờ khai
thuế : doanh thu bán hàng, số thuế GTGT đầu ra, giá trị vật t, hàng hoá mua
vào, các chi phí phục vụ cho quá trình sản xuất, thuế GTGT đầu vào đợc
khấu trừ. Việc kiểm soát doanh thu và chi phí của các doanh nghiệp đợc thực
hiện trên cơ sở hoá đơn, chứng từ. Hoá đơn, chứng từ mua, bán hàng hoá,
dịch vụ là chứng từ gốc để hạch toán tại doanh nghiệp. Hoá đơn cũng là căn
cứ để xác định doanh thu, chi phí, từ đó xác định chính xác số thuế GTGT
đầu ra , số thuế đầu vào đợc khấu trừ và số thuế GTGT phải nộp hoặc đợc
hoàn. Việc kiểm soát chặt chẽ hoá đơn, chứng từ còn là cơ sở để xác định
chính xác kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp. Trên thực tế, nhiều
doanh nghiệp đã kê khai không đúng thuế GTGT đầu vào cũng nh thuế đầu
ra do hiểu không đúng chế độ hoặc cố tình giấu doanh thu. Do đó việc kiểm
tra sẽ chỉ ra tính hiện thực của các thông tin mà doanh nghiệp kê khai để từ
đó xác định chính xác số thuế phải nộp.
Thứ hai là kiểm tra tính hợp pháp của các biểu mẫu, của trình tự lập và
luân chuyển chứng từ. Việc kiểm tra này sẽ phát hiện những sai phạm trong
quá trình hạch toán doanh thu, chi phí vào các khoản mục khác (nh hàng tồn
kho, các khoản phải thu...) để trốn thuế của doanh nghiệp
Thứ ba là kiểm tra tính hợp lý của các đối tợng kế toán và nội dung
của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Nhiều doanh nghiệp có quá trình mua
bán hàng hoá dịch vụ rất phức tạp, qua nhiều công đoạn. Nh trong xây dựng

cơ bản, hiện tợng phổ biến là nhợng thầu, bán thầu...Việc kiểm tra đúng tính
chất nghiệp vụ phát sinh để áp đúng thuế suất sẽ giúp Cơ quan Thuế kiểm
soát chặt chẽ hơn việc tính thuế GTGT của doanh nghiệp.
Thứ t là kiểm tra tính pháp lý trong việc thực hiện chế độ tài chính của
doanh nghiệp. Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp hạch toán vào chi phí cả
những TSCĐ, do đó làm tăng chi phí, giảm thuế TNDN phải nộp... Do vậy,
kiểm tra việc thực hiện chế độ tài chính sẽ giúp Cơ quan Thuế xác định chính
Website: Email : Tel : 0918.775.368
xác giá trị doanh thu, chi phí cũng nh thu nhập chịu thuế theo chế độ tài
chính của Nhà nớc.
Kiểm tra quyết toán thuế hàng năm, ngoài việc kiểm tra chấp hành luật
thuế, kiểm soát nguồn thu cho NSNN còn chính là thực hiện kiểm tra thực
trạng tài chính của các doanh nghiệp. Qua kiểm tra, Cục thuế Hà Nội đã phát
hiện ra nhiều sai phạm, nhầm lẫn trong quá trình lập báo cáo của doanh
nghiệp, khai thác tăng thu cho NSNN.
Sau đây là bảng số liệu cho thấy Kết quả khai thác tăng thu nguồn thu
thuế GTGT ở một số doanh nghiệp sau kiểm tra quyết toán thuế.
Bảng 2: Kết quả khai thác tăng thu Thuế GTGT qua kiểm tra quyết
toán thuế
Đơn vị : Triệu đồng
TT Tên đơn vị
Kết quả năm 1999 Kết quả năm 2000
Số
báo
cáo
Số
kiểm
tra
Chênh
lệch

Số
báo
cáo
Số
kiểm
tra
Chênh
lệch
1 CT Cơ điện trần phú 1260 1083 -177 1956 1956 0
2 CT Đt XD hạ tầng -152 -152 0 671 814 143
3 CT Khảo sát đo đạc 61 107 46 119 328 209
4 CT Xlắp&KDVTTbị 844 1091 247 688 783 95
5 CT Vận tải biển 210 235 25 -318 107 425
6 CT Công trình 246 -135 1513 1648 766 890 124
7 CTXDCôngtrình Việt -
Lào
47 61 14 -483 -426 57
8 CT Địa chính Hà Nội 350 372 22 274 353 79
9 CT XD Thủ đô 123 295 172 213 270 57
10 CT Xdựng số 2 1290 2595 1305 595 650 55
Tổng cộng 3898 7200 3302 4481 5725 1244
Tuy vậy, việc kiểm tra quyết toán thuế vẫn còn nhiều hạn chế do tình
hình thực tế hiện nay cũng nh cách quy định xác định doanh thu trong một số
Website: Email : Tel : 0918.775.368
lĩnh vực nhất là trong lĩnh vực xây dựng cơ bản và vận tải còn nhiều vớng
mắc.
Từ khi thực hiện Luật Thuế GTGT, hoá đơn đã và đang trở thành vấn
đề nổi cộm, thu hút sự quan tâm nhất của các doanh nghiệp và các nhà quản
lý. Nhìn chung, đại bộ phận các doanh nghiệp đã có nhiều chuyển biến trong
việc chấp hành chế độ quản lý, sử dụng hoá đơn, chứng từ. Tuy nhiên, đã có

không ít doanh nghiệp sử dụng hoá đơn, chứng từ để trốn lậu thuế, gây thất
thoát cho nguồn thu NSNN. Các hình thức vi phạm phổ biến là:
- Trong thực tế, hiện nay việc sử dụng tiền mặt để mua hàng hoá còn là
tình trạng phổ biến. Ngời bán sẵn sàng thông đồng với ngời mua bằng cách
ghi liên 2 cao hơn liên 1 để trốn thuế cho ngời bán hàng và tham ô cho ngời
mua hàng. Từ đó dẫn tới việc khai khống thuế GTGT đầu vào, làm giảm thuế
GTGT phải nộp, gây thất thu cho NSNN.
- Mua hoá đơn giả (không do Bộ Tài chính in và phát hành) để kê khai
tăng số thuế đầu vào để đợc khấu trừ.
- Bán hàng xuất hoá đơn nhng không kê khai nộp thuế (phổ biến ở các
Doanh nghiệp Ngoài quốc doanh).
- Không viết hoá đơn khi bán hàng: hình thức này phổ biến xảy ra ở
các đơn vị bán lẻ và ở nớc ta, do thói quen ngời tiêu dùng rất ít khi đòi hỏi
ngời bán hàng phải xuất Hoá đơn bán hàng. Thói quen này đã vô tình tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp trốn thuế. Hiện nay vẫn cha có quy định xử
lý nghiêm minh đối với việc bán hàng nhng không viết hoá đơn của các
doanh nghiệp Đây là một trong những khó khăn, vớng mắc rất lớn đối với
việc kiểm soát chặt chẽ thuế GTGT đầu ra.
- Một số doanh nghiệp báo mất hoá đơn nhng thực chất là bán và hoá
đơn vẫn đợc lu hành. Nhiều doanh nghiệp lại mua lại các hoá đơn báo mất
này và sử dụng làm hoá đơn đầu vào để đợc khấu trừ.
Nh vậy, có thể thấy rằng trong điều kiện bộ máy thanh tra thuế, Cán
bộ thuế còn mỏng, trang bị cho ngành Thuế nh máy tính, nối mạng còn thiếu,
Website: Email : Tel : 0918.775.368
sự phối kết hợp giữa ngành Thuế và các cơ quan chức năng cha chặt chẽ, các
quy định xử phạt cha nghiêm thì vẫn còn rất nhiều sơ hở trong quản lý hoá
đơn để các doanh nghiệp lợi dụng trốn thuế và rút tiền của Nhà nớc.
Trong lĩnh vực Xây dựng cơ bản cũng xuất hiện những vớng mắc nhất
định. Theo quy định, các doanh nghiệp xây lắp đều thực hiện viết hoá đơn và
kê khai doanh thu trên cơ sở biên bản nghiệm thu, bàn giao khối lợng xây

dựng cơ bản hoàn thành giữa bên A( Chủ đầu t) và bên B (Bên nhận thầu), và
lúc này, bên B phải nộp thuế theo giá trị doanh thu trên, đồng thời bên A lại
đợc hoàn thuế theo đúng số thuế viết trên hoá đơn. Tuy vậy, sau đó, khi cơ
quan cấp vốn (Kho bạc - đối với vốn NSNN) , hoặc cơ quan có thẩm quyền
(đối với các loại vốn khác) thẩm định lại quyết toán công trình, thì giá trị
thanh toán là gía trị đợc duyệt sau khi thẩm định, thờng là thấp hơn giá trị
trên biên bản nghiệm thu, bàn giao trớc đó. Vậy, thực chất doanh thu chịu
thuế là giá trị khối lợng sau khi đã đợc thẩm định chứ không phải giá trị đã
viết trên hoá đơn, điều này vô tình đã làm thất thoát tiền thuế của Nhà nớc do
số thuế đầu vào đợc khấu trừ của bên A lớn hơn số thuế đầu ra phải nộp của
bên B. Đây là một trong những vớng mắc cần đợc tháo gỡ kịp thời để xác
định doanh thu trong lĩnh vực xây dựng cơ bản một cách chính xác, tránh gây
thất thu cho NSNN theo kiểu nêu ở trên
1.5. Đánh giá công tác thanh tra thuế GTGT.
Hiện nay, Quy trình quản lý thu thuế GTGT thực chất là quy trình tự
tính, tự kê khai và nộp thuế vào Kho bạc. Quy trình này đòi hỏi tính tự giác
cao của các doanh nghịêp trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế theo Luật
định, đồng thời phát huy chức năng, quyền hạn của Cơ quan Thuế trong việc
hành thu, áp dụng biện pháp xử phạt nghiêm minh đối với các trờng hợp khai
man trốn lậu thuế. Vì vậy, vai trò của công tác thanh tra thuế trở nên rất quan
trọng. Nếu buông lỏng thanh tra, kiểm tra thuế sẽ có thể dẫn đến thất thu
thuế, không ngăn chặn đợc các hành vi trốn lậu thuế. Khi áp dụng Quy trình
Website: Email : Tel : 0918.775.368
quản lý thu thuế với việc tự tính, tự kê khai và tự nộp thuế, ngành Thuế càng
phải tăng cờng công tác thanh tra, kiểm tra.
Nhận thức đợc tầm quan trọng của công tác thanh tra, kiểm tra, Cục
thuế Hà Nội đã triển khai việc thanh tra, kiểm tra thờng xuyên, kiểm tra
quyết toán thuế và kiểm tra sau hoàn thuế. Đối với công tác thanh tra thờng
xuyên, trong năm 2000 Cục thuế Hà Nội đã Thanh tra 62 doanh nghịêp quốc
doanh, 197 Doanh nghiệp Ngoài quốc doanh, xác định số thuế phải nộp vào

NSNN là 38,7 tỷ đồng, trong đó truy thu và phạt hành chính 27 tỷ đồng.
Trong việc kiểm tra quyết toán thuế, Cục thuế Hà Nội đã kiểm tra 542
DNNN và 1.898 Doanh nghiệp Ngoài quốc doanh, sau kiểm tra quyết toán
thuế khai thác tăng thu 174 tỷ đồng. Riêng đối với kiểm tra sau hoàn thuế,
Cục thuế Hà Nội đã kiểm tra đợc 24 doanh nghiệp đợc hoàn thuế, sau kiểm
tra phát hiện số thuế phải truy hoàn là 20 tỷ đồng. Qua kiểm tra phát hiện có
10 doanh nghiệp vi phạm chế độ hoàn thuế, đã xử lý phạt 99 triệu đồng.
Mặc dù vậy, những kết quả trên cha phản ánh đúng thực trạng của việc
vi phạm pháp luật thuế mà công tác thanh tra phải kiểm soát đợc. Thực hiện
cải cách hành chính thuế, dần dần xoá bỏ chế độ chuyên quản nhng các
Phòng Quản lý thu thuế vẫn coi công tác thanh tra, kiểm tra là của Phòng
Thanh tra. Sự phối hợp giữa Phòng Thanh tra- Xử lý tố tụng với các Phòng
Quản lý thu thuế cha mạnh mẽ và thờng xuyên. Cục thuế Hà Nội vẫn cha xây
dựng đợc kế hoạch kiểm tra, thanh tra một cách cụ thể cho từng phòng. Do
vậy, trong năm 2000, kiểm tra quyết toán thuế, kiểm tra hoàn thuế, kiểm tra
sử dụng hoá đơn cha đợc thực hiện tốt, nhất là kiểm tra sau hoàn thuế là công
việc rất mới và phức tạp, có thể có nhiều doanh nghiệp lợi dụng hoàn thuế để
chiếm đoạt tiền của Nhà nớc.
Mặt khác, vì bỏ chế độ chuyên quản nên việc nắm bắt thông tin về tình
hình sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của các doanh nghiệp nhiều khi
không đợc kịp thời, chính xác, ảnh hởng đến việc đánh giá, phân tích về thuế
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đối với các doanh nghiệp, các khu vực kinh tế, đặc biệt là các đơn vị hạch
toán toàn ngành, các Tổng công ty 90,91.
Về phơng pháp kiểm soát thuế GTGT, hiện nay các Cán bộ thuế vẫn sử
dụng các phơng pháp kiểm soát trên chứng từ là chủ yếu. Việc kiểm tra vẫn
dựa trên tờ khai thuế GTGT do các doanh nghiệp tự kê khai là chính trên cơ
sở đối chiếu trực tiếp với hoá đơn, chứng từ. Trên thực tế, để trốn thuế, doanh
nghiệp hoàn toàn có thể hoàn chỉnh bộ chứng từ gốc gồm hoá đơn, chứng từ
và sổ cái, sổ phụ, nhật ký chứng từ... với việc kê khai thuế GTGT. Do vậy,

phơng pháp đối chiếu trực tiếp không phát huy hiệu quả khi doanh nghiệp
không kê khai doanh thu mua, bán hàng hoá. Để thực hiện triệt để chống thất
thu thuế GTGT, ngành Thuế cần phải đối chiếu hoá đơn mua, bán hàng hoá
của các doanh nghiệp có liên quan với sự trợ giúp của máy tính.
Về các dấu hiệu nghi ngờ vi phạm trên tờ khai thuế GTGT, hiện nay
theo Quy trình quản lý thu thuế thực hiện theo nguyên tắc: doanh thu tháng
này tăng, giảm quá mức so với tháng trớc; thuế phát sinh tháng này tăng,
giảm quá mức so với tháng trớc; thuế đợc khấu trừ quá lớn so với thuế đầu
ra...Trong tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có nhiều diễn biến
phức tạp do thị trờng, do sự thay đổi của cơ chế chính sách...nh hiện nay thì
những dấu hiệu vi phạm trên là quá cứng nhắc để Cơ quan Thuế thực hiện
kiểm tra, thanh tra đối với doanh nghiệp.
Việc xử lý vi phạm pháp luật về thuế hiện nay cũng còn rất nhiều điều
cần bàn. Trớc hết là do các quy định xử phạt hành chính, kinh tế và hình sự
đối với các đối tợng nộp thuế cha có tính răn đe mạnh. Và dờng nh các quy
định về thuế chỉ chú trọng tới việc tháo gỡ khó khăn vớng mắc cho các doanh
nghiệp, các ngành, các lĩnh vực mà cha quan tâm tới việc chấp hành Luật
thuế. Chẳng hạn, hiện nay quy định doanh nghiệp bị phạt nộp chậm 0,1%
một ngày trên số tiền thuế chậm nộp theo Thông báo thuế nhng hầu nh tất cả
các quy định về thuế đều cho phép doanh nghiệp đợc điều chỉnh, bổ sung

×