Tải bản đầy đủ (.pdf) (138 trang)

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG NGÔ LAI MỚI TẠI HUYỆN LÂM THAO TỈNH PHÚ THỌ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.58 MB, 138 trang )




ĐẠI HỌC THÁI
NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG
LÂM









LÝ QUANG ĐẠI





ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA MỘT SỐ GIỐNG NGÔ LAI MỚI TẠI HUYỆN LÂM
THAO TỈNH PHÚ THỌ







Chuyên ngành: Trồng
trọt

Mã số:
60.62.01











LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP















Thái Nguyên –
2011



ĐẠI HỌC THÁI
NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG
LÂM









LÝ QUANG ĐẠI





ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA MỘT SỐ GIỐNG NGÔ LAI MỚI TẠI HUYỆN LÂM
THAO TỈNH PHÚ THỌ




Chuyên ngành: Trồng
trọt

Mã số:
60.62.01








LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP







Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Hữu
Hồng














Thái Nguyên -
2011



Lời cam đoan


Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận
văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn
này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn đều đã được chỉ rõ
nguồn gốc.



Tác giả luận văn










Lý Quang Đại


































i




Lời cảm
õn



Để hoàn thành luận văn thạc sỹ nông nghiệp, trong quá trình học tập
và nghiên cứu, bên cạnh sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được
sự giúp đỡ rất nhiệt tình của tập thể, cá nhân, gia đình và người thân.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới:

PGS.TS. Nguyễn Hữu Hồng, Trưởng phòng Đào tạo, Giảng viên
trường Đại học nông lâm Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, tạo
mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài và trong
quá trình hoàn chỉnh luận văn;
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô giáo trong
khoa Nông học đặc biệt là các thầy cô ở Bộ môn Cây lương thực đã cung

cấp tài liệu, vật liệu trong quá trình nghiên cứu.
Nhân dịp này tôi xin cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo, các đồng
nghiệp, gia đình và bạn bè đã động viên, khuyến khích và tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này.





Tác giả luận

n








Quang
Đ

i
















ii




MỤC LỤC

Mở đầu: 1. Đặt vấn
đề

1


2. Mục đích, yêu cầu của đề tài 3

2.1. Mục đích 3

2.2. Yêu cầu 3

3 . Ý nghĩa khoa học và thự tiễn của đề tài 4


3.1. Ý nghĩa khoa học 4

3.2. Ý nghĩa thực tiễn 4

CH
Ƣ
Õ
NG
1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
5

1.1. Cơ sở khoa học của đề tài 5

1.2. Các loại giống ngô 6

1.2.1. Giống ngô thụ phấn tự do 6

1.2.2. Giống ngô lai 8

1.3. Tình hình sản xuất ngô trên Thế giới và trong nước ……………
10


1.3.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngô trên Thế giới ……………….
10


1.3.2. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam
15



1.3.3. Tình hình sản xuất ngô ở Phú Thọ
22


1.4. Tình hình nghiên cứu ngô trên thế giới và trong nước
24


1.4.1. Tình hình nghiên cứu ngô trên thế giới
24


1.4.2. Tình hình nghiên cứu ngô ở Việt Nam
25


CH
Ƣ
Õ
NG

2:

ĐỐ
I

T
Ƣ


NG, N

I

DUNG

P
H
Ƣ
ÕNG

P

P

NG
H
I
ÊN
CỨU
28


2.1. Vật liệu và phương pháp bố trí thí nghiệm
28


2.1.1. Vật liệu thí nghiệm
28



2.1.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm ………………………………….
29


2.2. Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu
31


2.2.1. Địa điểm nghiên cứu
31



2.2.2. Thời gian nghiên cứu 31

2.3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu 31

2.3.1. Nội dung 31

2.3.2. Quy trình kỹ thuật trồng trọt áp dụng trong thí nghiệm 31

2.3.3. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 33

2.3.4. Thu thập số liệu 37

2.3.5. Phân tích số liệu 37

CH
Ƣ

Õ
NG
3: KẾT QUẢ THẢO LUẬN
38

3.1. Diễn biến thời tiết - khí hậu trong thời gian thí nghiệm 38

3.1.1. Nhiệt độ 40

3.1.2. Độ ẩm không khí 41

3.1.3. Lượng mưa 41

3.2. Đặc điểm sinh trưởng, phát triển của các giống ngô thí nghiệm vụ

Xuân và Thu Đông 2010 tại Phú Thọ 43

3.2.1. Các giai đoạn sinh trưởng ………………………………………. 45

3.2.2. Tốc độ tăng trưởng ……………………………………………… 48

3.3. Đặc điểm hình thái của các giống ngô thí nghiệm vụ Xuân và vụ

Thu Đông 2010 ……………………………………………………… 52

3.3.1. Chiều cao cây của các giống thí nghiệm ……………………… 52

3.3.2. Độ cao đóng bắp của các giống thí nghiệm …………………… 54

3.3.3. Số lá và chỉ số diện tích lá ……………………………………… 56


3.4. Đặc tính chống chịu của các giống ngô lai ……………………… 60

3.4.1. Sâu đục thân 62

3.4.2. Rệp cờ 62

3.4.3. Bệnh khô vằn 63

3.5. Trạng thái cây, trạng thái bắp và độ bao bắp của các giống ngô lai 64


3.5.1. Trạng thái cây 64

3.5.2. Trạng thái bắp ………………………………………………… 65

3.5.3. Độ bao bắp ………………………………………………………
66


3.6. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất …………………… 66

3.6.1. Các yếu tố cấu thành năng suất 69

3.6.2. Năng suất của các giống ngô thí nghiệm ……………………… 71

KẾT LUẬN - ĐỀ
NGH



75

1. Kết luận 75

2. Đề nghị 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

I. TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT
77


II. TÀI LIỆU TIẾNG ANH 78


Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t



CCC Chiều cao cây


CIMMYT

CS

Trung tâm cải tạo Ngô và Lúa mỳ Quốc tế

Cộng sự



CT Công thức

Đ/C Đối chứng

FAO Food and Agriculture Orangization

(Tổ chức Nông lương của Liên Hợp Quốc)
Bộ NN&PTNT Bộ nụng nghiệp và phỏt triển nụng thụn
TPTD Thụ phấn tự do
CSDTL Chỉ số diện tớch lỏ
NSLT Năng suất lý thuyết
NSTT Năng suất thực thu
NXB Nhà xuất bản
P
1000
hạt Khối lượng nghìn hạt
TGST Thời gian sinh trưởng
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
CP GCT
Cổ phần giống cây trồng






















vi










Danh
mục
các
b

n

g


STT
T
ê
n
bảng Trang


1.1. Tình hình sản suất ngô của một số khu vực trên thế giới giai đoạn 2006 –
2007 11
1.2.
Tình hình sản

xuất ngô của một số nước trên

thế giới

giai

đoạn
2007-2009 13

1.3. Dự báo nhu cầu ngô thế giới đến năm 2020 15

1.4. Tình hình sản xuất ngô của Việt Nam giai đoạn 1961 – 2009 17

1.5. Tình hình sản xuất ngô ở các tỉnh miền núi phía Bắc giai đoạn 2006 – 2008 19


1.6. Tình hình sản xuất ngô của Phú Thọ từ năm 2001 – 2009 23

2.1. Nguồn gốc các giống ngô lai thí nghiệm vụ Xuân và vụ Thu Đông

tại xã Cao Xá, Lâm Thao, Phú Thọ năm 2010 29

3.1. Diễn biến thời tiết năm 2010 tại Phú Thọ 39

3.2. Thời gian sinh trưởng và các giai đoạn phát dục của các giống ngô

thí nghiệm vụ Xuân và vụ Thu Đông 2010 tại Phú Thọ 44

3.3. Tốc độ tăng trưởng của các giống ngô thí nghiệm trong vụ Xuân và

vụ Thu Đông 2010 tại Phú Thọ 49

3.4. Một số đặc tính hình thái của các giống ngô thí nghiệm vụ Xuân và

vụ Thu Đông 2010 tại Phú Thọ 53

3.5. Số lá, chỉ số diện tích lá của các giống thí nghiệm vụ Xuân và Thu

Đông 2010 tại Phú Thọ 57

3.6. Mức độ nhiễm sâu bệnh của các giống ngô thí nghiệm vụ Xuân và

Thu Đông 2010 tại Phú Thọ 61

3.7. Trạng thái cây, trạng thái bắp, độ bao bắp của các giống ngô thí


nghiệm vụ Xuân và Thu Đông 2010 tại Phú Thọ 64




vii



3.8. Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống ngô thí nghiệm vụ

Xuân 2010 tại Phú Thọ 67

3.9. Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống ngô thí nghiệm vụ Thu

Đông
2010 tại Phú Thọ 68

3.10. Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của các giống ngô thí

nghiệm vụ Xuân và Thu Đông 2010 tai Phú Thọ 72
























































viii







1. Đặt vấn
đ



MỞ
Đ


U

Cây ngô (Zea mays L.) là cây lương thực được phát hiện cách đây

7.000 năm tại Mêxicô và Pêru, là một trong ba cây lương thực quan trọng
nhất trên toàn thế giới và chỉ đứng sau lúa mì, lúa nước về diện tích. Tuy
nhiên về năng suất và sản lượng thì lại là cây trồng đứng đầu. Với những
đặc điểm nông sinh học quý như: Tính thích ứng rộng, chống chịu tốt với điều
kiện bất thuận và sâu bệnh hại, tiềm năng năng suất cao nên cây ngô đã nhanh
chóng được gieo trồng rộng rãi, phố biến trên các vùng lãnh thổ. Trong giai
đoạn 1985-2005 mức tăng trưởng bình quân hàng năm của cây ngô trên thế
giới về diện tích là: 0,8%, năng suất là: 2,1% và sản lượng là 3,15%. Hai thập
kỷ gần đây (1985-2005), tăng trưởng năng suất ngô ở các nước đang phát
triển là 2,55%/năm, riêng ở Mỹ năng suất ngô vẫn tăng liên tục 2,8%/năm.
(FAOSTAT, 2008).
Cây ngô có vai trò rất quan trọng trong nền nông nghiệp nói riêng
cũng như trong nền kinh tế nói chung. Giai đoạn 1995-1997 sản lượng ngô
làm lương thực chiếm 17%, thức ăn cho chăn nuôi 66%, nguyên liệu cho công
nghiệp 5%, xuất khẩu > 10% (Ngô Hữu Tình, 2003). Ngô cung cấp lương thực
cho 1/3 dân số thế giới, các nước như: Ấn Độ, Philippin, Mêxico và một số
nước ở Châu Phi đã dùng ngô làm lương thực chính, có tới 90% sản lượng
ngô của Ấn Độ, 66% của Philippin dùng làm lương thực cho con người
(Dương Văn Sơn và cs, 1997). Ở nước ta nhân dân nhiều vùng: Tây Bắc, Việt
Bắc, Tây Nguyên đã dùng ngô làm lương thực chính, từ ngô có thể chế biến
thành bột ngô, bánh ngô, xôi ngô, mèn mén (một món ăn phổ biến của đồng
bào Mông) Ngoài việc cung cấp lương thực nuôi sống con người cây ngô
còn là nguồn thức ăn chủ lực cho chăn nuôi, gần 70% chất tinh trong thức ăn
tổng hợp của gia súc là ngô (Ngô Hữu Tình, 2003). Ngoài ra ngô còn là thức
ăn xanh và ủ chua lý tưởng cho đại gia súc đặc biệt là bò sữa. Tại các nước



phát triển, tỉ lệ ngô làm thức ăn cho chăn nuôi chiếm trên 70%.



Ngoài ra, ngô còn là nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao: ngô
bao tử là một loại rau cao cấp. Các loại ngô siêu ngọt, ngô nếp, ngô đường
dùng làm qùa ăn tươi hoặc đóng hộp xuất khẩu. Ngô cũng là nguồn nguyên
liệu để sản xuất tinh bột, cồn, bánh kẹo… Người ta đã sản xuất khoảng 670
mặt hàng từ ngô để phục vụ các ngành kinh tế khác nhau.
Chính nhờ vai trò quan trọng đó của cây ngô trong nền kinh tế thế giới
mà trong những năm gần đây diện tích, năng suất và sản lượng ngô tăng lên
không ngừng. Năm 1980 diện tích trồng ngô chỉ có khoảng 121,6 triệu ha với
tổng sản lượng là 376,9 triệu tấn nhưng đến năm 2007, diện tích ngô tăng lên
đáng kể đạt 157,9 triệu ha, năng suất 4,9 tấn/ha và sản lượng đạt 784,8 triệu
tấn (FAOSTAT, 2008). Năng suất và chất lượng ngô cũng có sự chuyển biến
rõ rệt do ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật về canh tác, cơ giới hoá,
bảo vệ thực vật …
Đầu thế kỷ XX, thế giới biết đến ngô lai bởi nó là một thành tựu cực kỳ
quan trọng trong nông nghiệp, nhờ ứng dụng thành công ưu thế lai mà các
giống ngô lai lần lượt được ra đời, tạo ra bước nhảy vọt về năng suất và sản
lượng, góp phần cung cấp lương thực cho nhân loại trên toàn cầu. Tuy nhiên
để có giống ngô cho năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với điều kiện sinh
thái của từng vùng trong giai đoạn hiện nay thì các nhà khoa học cần tập
trung nghiên cứu khả năng chống chịu của các giống ngô lai với các điều kiện
bất thuận của ngoại cảnh như chịu hạn, rét…
Ở Việt Nam cây ngô là cây trồng mới được nhập nội khoảng trên 300
năm nhưng diện tích trồng ngô đã tăng lên nhanh chóng. Năm 2009 diện tích
ngô của cả nước là 1.086.800 ha, trong đó diện tích ngô lai đã chiếm khoảng

95,5%. Sản lượng ngô năm 2009 đạt 4.431.800 tấn, năng suất 40,8 tạ/ha (Bộ
NN&PTNT, 2009)[9], so với năm 1990 khi chưa trồng ngô lai thì sản lượng
tăng gấp 6,6 lần, năng suất hơn 2,63 lần. Mặc dù vậy năng suất ngô nước ta
vẫn còn thấp, năm 2007 mới chỉ bằng 81,0% năng suất ngô bình quân trên thế giới.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến năng suất ngô nước ta còn thấp



là do ngô được trồng chủ yếu ở các vùng khó khăn. Các tỉnh miền núi diện



tích ngô tương đối lớn chiếm khoảng 34,8% diện tích ngô của cả nước, nhưng
lại gặp điều kiện bất thuận của yếu tố ngoại cảnh như khí hậu, thời tiết khắc
nghiệt, hạn hán, rét kéo dài, không có hệ thống thuỷ lợi, còn sử dụng các
giống cũ, lẫn tạp, thoái hoá… Vì vậy, để sản xuất ngô của Việt Nam theo kịp
các nước trong khu vực và đạt năng suất trung bình của thế giới cần phải thay
đổi cơ cấu giống và tăng cường đầu tư thâm canh. Giống là yếu tố hàng đầu
trong các yếu tố để tạo nên năng suất, chất lượng của cây trồng. Hiện nay
hàng năm, hàng vụ có rất nhiều giống mới được tạo chọn tạo ra có nhiều ưu
điểm như: năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu với điều kiện bất thuận
tốt. Tuy nhiên việc xác định tiềm năng năng suất, tính ổn định, khả năng thích
ứng của các giống đặc biệt là những giống ngô mới với điều kiện sinh thái,
tập quán canh tác của từng vùng, từng địa phương là vô cùng cần thiết
Xuất phát từ những cơ sở trên chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:

"Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống
ngô lai mới tại huyện Lâm Thao – tỉnh Phú Thọ"
2. Mục đích,
yêu cầ

u
của
đề
tài

2.1. Mục đích

Xác định được các giống có khả năng sinh trưởng phát triển, khả năng
chống chịu tốt, thích nghi với điều kiện sinh thái tại Phú Thọ để giới thiệu cho
sản xuất.
2.2. Yêu cầu

- Nghiên cứu tình hình sinh trưởng, phát triển của các giống ngô lai

trong điều kiện vụ Xuân và vụ Đông 2010 tại huyện Lâm Thao – tỉnh Phú Thọ.

- Nghiên cứu một số đặc tính chống chịu của các giống ngô lai (chống
chịu sâu bệnh, chống đổ gãy…).
- Nghiên cứu về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các
giống ngô lai tham gia thí nghiệm



- So sánh và sơ bộ kết luận về khả năng thích ứng của các giống. Chọn
được các giống tốt có triển vọng để đưa ra sản xuất trên diện rộng của địa
phương.
3 . Ý nghĩa khoa học và thực
ti

n

của
đề
tài


3.1. Ý nghĩa khoa học

Đề tài cung cấp những thông tin về khả năng sinh trưởng, phát triển và
đặc biệt cung cấp những thông tin về các đặc trưng và đặc tính của các giống
ngô mới tham gia thí nghiệm trong điều kiện tự nhiên của huyện Lâm Thao –
tỉnh Phú Thọ,
làm
cơ sở xây dựng cơ cấu
giống
ngô
mới
cho hiệu quả kinh tế cao hơn.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn

Chọn ra được 1 - 2 giống ngô mới có triển vọng, phù hợp với điều kiện
sinh thái của vùng để đưa vào cơ cấu giống ngô của huyện Lâm Thao – tỉnh
Phú Thọ, từ đó để phát triển ra diện rộng mang lại hiệu quả kinh tế cao.











CH
Ƣ
Õ
NG 1


TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN C

U

1.1.

sở
khoa học của
đề
tài

Trong sản xuất nông nghiệp, giống là tư liệu để duy trì và phát triển sản
xuất nông nghiệp. Giống có vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao
năng suất và sản lượng cây trồng. Muốn có những giống ngô mới năng suất,
chất lượng cao, khả năng chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh cần nghiên
cứu lai tạo và chọn lọc một cách kỹ lưỡng, xác định vùng thích nghi của các
giống mới trước khi đưa vào sản xuất trên diện rộng. Vì thế các giống cây
trồng nói chung cũng như các giống ngô lai nói riêng cần được đưa vào khảo
nghiệm ở các vùng sinh thái khác nhau, để đánh giá đầy đủ, khách quan khả
năng thích nghi của giống với vùng sinh thái cũng như khả năng sinh trưởng
phát triển, khả năng chống chịu với những điều kiện bất lợi khác.
Ngày nay sản xuất ngô muốn phát triển theo hướng hàng hoá với sản

lượng cao, quy mô lớn nhằm phục vụ nhu cầu thị trường, cần phải có các biện
pháp hữu hiệu như thay thế các giống ngô cũ năng suất thấp bằng các giống
ngô mới năng suất cao, chống chịu tốt. Đặc biệt là ở các tỉnh miền núi sử
dụng giống có khả năng chịu hạn, chịu rét tốt, năng suất cao vừa phát huy
hiệu quả kinh tế của giống vừa góp phần xoá đói giảm nghèo cho đồng bào
các dân tộc.
Trong quá trình tạo giống, các nhà chọn giống thường loại đi các tổ hợp
lai biểu hiện những yếu điểm về các đặc tính nông sinh học như: thời gian
sinh trưởng quá dài, cây quá cao, chống đổ kém, dễ nhiễm sâu bệnh và có
sức sống kém… Chọn lựa theo kiểu hình đã phần nào loại bỏ được những đặc
tính không mong muốn, tuy nhiên phải thực hiện thí nghiệm trên nhiều vùng,
trong nhiều thời vụ và điều kiện sinh thái.



Các đặc tính nông sinh học như: thời gian sinh trưởng, đặc điểm hình
thái, khả năng chống chịu, năng suất phải được mô tả chi tiết, từ kết quả đánh
giá này các nhà chọn tạo giống sẽ đưa ra nhận định về khả năng của từng
giống, xác định giống cho các vùng sinh thái và thời vụ cụ thể.
1.2. Các loại giống ngô

Theo phương pháp chọn tạo

giống, giống ngô được phân chia thành
2
loại
chính:

- Giống ngô thụ phấn tự do (TPTD - Open Pollinated Variety)


- Giống ngô lai (Maize Hybrid)

1.2.1. Giống ngô thụ phấn tự do (TPTD - open pollinated variety)

Giống ngô TPTD là một danh từ chung để chỉ các loại giống mà trong
quá trình sản xuất hạt giống con người không cần can thiệp vào quá trình thụ
phấn, chúng được tự do thụ phấn (thụ phấn mở). Tên gọi này nhằm phân biệt
với các loại giống ngô lai. Các giống TPTD đặc điểm sau: sử dụng hiệu ứng
gen cộng, có nền di truyền rộng, khả năng thích ứng rộng và năng suất cao, độ
đồng đều chấp nhận, dễ sản xuất và thay giống, giống sử dụng 2 đến 3 đời,
giá giống rẻ. Giống ngô TPTD nghĩa rộng bao gồm: giống ngô địa phương,
giống ngô tổng hợp, giống ngô hỗn hợp, giống ngô TPTD cải thiện (TPTD
nghĩa hẹp).
1.2.1.1. Giống ngô địa phương (local variety)

Là giống ngô đã tồn tại trong một thời gian dài ở địa phương, phù hợp
với điều kiện khí hậu, tập quán canh tác và khả năng chống chịu tốt với điều
kiện bất lợi của vùng. Giống địa phương năng suất thường không cao nhưng
chất lượng tốt và là nguồn vật liệu khởi đầu rất quan trọng trong công tác
chọn tạo giống mới.
Hiện nay, ở những vùng núi xa xôi hẻo lánh người dân vẫn sử dụng
nhiều giống địa phương như: tẻ Mèo, nếp Lù Tây Ninh, gié Bắc Ninh, Xiêm
(Ngô Hữu Tình, 1997)
1.2.1.2. Giống ngô tổng hợp (synthetic variety)

Là thế hệ tiến triển của giống lai nhiều dòng bằng thụ phấn tự do.


Giống tổng hợp được sử dụng đầu tiên trong sản xuất do đề xuất của Hayes và




Garbes (1919). Ngô Hữu Tình (1997) cho rằng sản xuất giống ngô cải tiến
bằng phương pháp tái tổ hợp nhiều dòng tự phối có ưu điểm hơn so với lai
đơn, lai kép bởi vì giống này có thể sử dụng 2 đến 3 vụ. Muốn tạo giống tổng
hợp cần tiến hành các bước sau:
Bước 1: Chọn tạo các dòng thuần.

Bước 2: Xác định khả năng kết hợp chung của các dòng thuần.

Bước 3: Lai giữa các dòng tốt và có khả năng kết hợp chung cao để tạo
tổng hợp.
Bước 4: Duy trì và cải thiện quần thể (tổng hợp) bằng các phương pháp thanh

lọc trong quần thể.

Ngoài việc sử dụng trực tiếp làm giống trong sản xuất, giống tổng hợp
còn là nguyên liệu tốt cho công tác rút dòng để tạo giống lai (Ngô Hữu Tình,
1997), ở nước ta đã có một số giống ngô tổng hợp nổi tiếng như giống ngô:
TH2A, TH nếp trắng, HSB1…được tao ra bằng phương pháp này.
1.2.1.3. Giống ngô hỗn hợp (composite)

Là thế hệ tiến triển của tổ hợp các nguồn vật liệu ưu tú có nền di truyền khác
nhau. Nguồn vật liệu di truyền này gồm các giống thụ phấn tự do, tổng hợp, lai
kép…được chọn theo một số chỉ tiêu như năng suất, thời gian sinh trưởng, đặc điểm
của hạt, tính chống chịu…song chúng phải có đặc tính quí và khả năng kết hợp tốt. Ý
tưởng
sử dụng
giống
hỗn hợp

đầu
tiên thuộc về các nhà khoa học
Ấn
Độ và Mêhicô.
Quá trình chọn tạo một giống hỗn hợp cần tiến hành các bước:

Bước 1: Chọn thành phần bố mẹ.

Bước 2: Lai thử, chọn các cặp lai cho năng suất cao ở F1 và ít suy giảm ở
F2.


Bước 3: Tạo lập hỗn hợp bằng cách thụ phấn dây chuyền hoặc luân
giao.


Bước 4: Duy trì và cải thiện giống bằng phương pháp chọn lọc quần
thể.
Giống hỗn hợp có vai trò đáng kể trong nghề trồng ngô các nước nhiệt
đới

đang phát triển trong những năm qua (Ngô Hữu Tình, 1997). Ở nước ta đã có

những giống ngô hỗn hợp nổi tiếng như: VM1, TSB2, MSB49, TSB1…

1.2.1.4. Giống ngô thụ phấn tự do cải thiện



Giống ngô TPTD cải thiện được định nghĩa là: “tập hợp các kiểu hình

tương đối đồng đều, đại diện cho phần ưu tú nhất của một quần thể trong một chu
kỳ cải thiện nào đó”.
Quy trình chọn tạo một giống ngô TPTD bao gồm các bước:

Bước 1: Tạo vốn gen

Bước 2: Tạo vốn quần thể

Bước 3: Tạo giống thí nghiệm

Bước 4: Khảo nghiệm giống thí nghiệm

Bước 5: Đưa vào sản xuất

1.2.2. Giống ngô lai (Maize Hybrid)

Ngô lai là thành tựu khoa học nông nghiệp nổi bật nhất của thế kỷ
XX, đó là kết quả của ứng dụng ưu thế lai trong chọn tạo giống (Ngô Hữu
Tình, 1997). Giống ngô lai có những đặc điểm sau:
- Hiệu ứng trội và siêu trội được sử dụng trong quá trình tạo giống.

- Giống có nền di truyền hẹp, thích ứng hẹp.

- Yêu cầu thâm canh cao, năng suất cao và có độ đồng đều tốt.

- Hạt giống chỉ sử dụng được một đời F1.

Hiện nay ngô lai được chia thành hai loại: giống ngô lai không quy ước
và giống ngô lai quy ước.
1.2.2.1. Ngô lai không quy ước (non-conventional hybrid)


Là giống ngô lai mà trong đó ít nhất có một bố hoặc mẹ không phải là
dòng thuần.
Ngô lai không quy ước là bước chuyển tiếp từ giống TPTD sang giống
ngô lai không quy ước. Thuận lợi chính của giống này là sử dụng bố không
thuần nên dễ sản xuất giống và giảm được giá thành (Ngô Hữu Tình, 1997).
Khả năng sinh trưởng, phát triển, chống chịu và năng suất của ngô lai không
quy ước cao hơn so với ngô TPTD nhưng thấp hơn so với ngô lai quy ước.
Đặc điểm này rất phù hợp với điều kiện kinh tế kỹ thuật ở các nước đang phát
triển, đặc biệt là các nước đang trong giai đoạn chuyển từ giống TPTD sang



giống ngô lai vì quá trình sản xuất hạt giống dễ dàng, giá thành hạt giống rẻ
mà năng suất khá cao.
Ngô lai không quy ước được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam vào giai
đoạn 1990 - 1995, hai giống được trồng phổ biến trong thời kỳ này là LS6 và
LS8 với tiềm năng năng suất 5 – 7 tấn/ha.
Có nhiều thể loại giống lai không quy ước, song thường gặp nhất là:

- Giống x giống

- Giống x dòng hoặc dòng x giống (lai đỉnh)

- Gia đình x gia đình

- Lai đơn x giống (lai đỉnh kép)

Trong đó lai đỉnh (dòng x giống) và lai đỉnh kép (lai đơn x giống) được


ứng dụng rộng rãi nhất.

Hiện nay ở các nước đang phát triển, sử dụng chủ yếu là lai đỉnh kép và
lai đỉnh kép cải tiến. Trong tương lai khi các nước này có đủ điều kiện về kinh
tế và kỹ thuật thì vai trò của các giống ngô lai không qui ước sẽ thu hẹp và
thay thế dần bằng các giống lai qui ước (Ngô Hữu Tình, 1997).
Ở nước ta, nhóm ngô lai không qui ước được sử dụng chủ yếu trong
những năm 1990 vì chương trình ngô lai Việt Nam lúc đó mới bắt đầu.
1.2.2.2. Giống ngô lai quy ước (conventional hybrid)

Là giống ngô lai được tạo ra giữa các dòng thuần. Tuỳ theo số dòng tự
phối sử dụng trong chọn giống mà giống ngô lai qui ước được phân chia
thành những loại chính sau:
* Lai đõn (A x B): Lai đơn là giống tạo ra giữa 2 dòng thuần. Lai đơn
có ưu điểm là: năng suất, độ đồng đều cao, yêu cầu thâm canh cao nhưng
phạm vi thích ứng hẹp. Ở nước ta trong những năm gần đây nhờ sử dụng
giống ngô lai đơn trong sản xuất nên đã nâng cao năng suất và sản lượng ngô.
Một số giống ngô lai đơn có năng suất cao, phẩm chất tốt được sử dụng phổ
biến trong sản xuất như: LVN 10, LVN4, LVN20, LVN99
* Lai kép [(A x B) x (C x D)]: Là giống lai tạo ra bằng cách lai giữa


hai giống lai đơn. Giống lai kép có những ưu điểm nổi bật như: năng suất hạt



giống cao, giá thành hạ. Trong sản xuất hạt giống do cây bố là lai đơn nên cho
phấn nhiều hơn dòng tự phối vì vậy tăng được tỷ lệ cây mẹ trong ruộng sản
xuất giống. Hơn nữa lai đơn có khả năng chống chịu môi trường bất thuận tốt
hơn dòng tự phối nên làm giảm rủi ro trong sản xuất hạt giống. Bên cạnh đó

giống lai kép còn tồn tại những yếu điểm như: độ đồng đều thấp, năng suất
kém hơn lai đơn.
* Lai ba [(A x B) x C]: Giống lai ba là giống lai giữa giống lai đơn và
một dòng tự phối. Giống lai ba có những ưu điểm là: tiềm năng năng suất cao
hơn giống lai không qui ước và lai kép. Do sử dụng giống lai đơn làm mẹ nên
năng suất hạt giống cao, giá thành hạt giống hạ, khả năng thích ứng rộng.
Tuy nhiên giống lai ba có những mặt hạn chế sau: Qui trình sản xuất hạt
giống đòi hỏi thêm một vụ và thêm bãi cách ly, độ an toàn không cao, độ
đồng đều của cây và bắp không cao bằng lai đơn. Những giống lai ba đang
được sử dụng như: LVN17, LVN27, LVN29…
* Lai ba cải
ti
ến
[(A x B x (C x C’)]: Là giống lai tạo ra giữa một
giống lai đơn với một tổ hợp lai giữa các dòng chị em nên có khả năng sinh
trưởng tốt hơn, lượng phấn nhiều hơn, thời gian tung phấn nhiều hơn, kết quả
là hạn chế được rủi do, độ đồng đều khá.
* Lai đõn
cả
i ti
ến
(A x A’) x B
hoặc
(A x A’) x (B x
B

)
.



Giống ngô lai qui ước được chia thành nhiều loại khác nhau, nhưng để

tạo giống ngô lai qui ước trải qua ba bước chính:

Bước 1: Phát triển dòng thuần.

Bước 2: Thử khả năng kết hợp của các dòng thuần.

Bước 3: Kết hợp các dòng thuần để tạo ra con lai có ƯTL cao, (Ngô Hữu

Tình, 1997).

Hiện nay các giống ngô lai quy ước được sử dụng rất rộng rãi trong
sản xuất.Ví dụ: LVN-10, DK-888, LVN-98, LVN-4, LVN-17, C-919, LVN-
23 (ngô rau), LVN-24…



Nhìn chung giống ngô lai qui ước có ưu điểm về năng suất, độ đồng đều
về dạng cây, dạng bắp. Nhu cầu hạt giống ngô lai qui ước ở Việt Nam hiện
nay là 3.000 – 4.000 tấn/năm.
1.3. Tình hình sản xuất ngô trên
Th
ế
giới và trong nƣớc

1.3.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngô trên Thế giới

* Tình hình sản xuất ngô trên Thế giới
:



Sản xuất ngô trên thế giới phát triển liên tục từ đầu thế kỷ 20 đến nay,
đặc biệt hơn 40 năm gần đây nhờ ứng dụng rộng rãi công nghệ ưu thế lai, kỹ
thuật nông học tiên tiến và những thành tựu của các ngành khoa học khác như
công nghệ sinh học, công nghệ chế biến và bảo quản, cơ khí hoá, công nghệ
tin học,…vào sản xuất. Ngô là cây phân bố vào loại rộng rãi nhất trên Thế
giới, trải rộng hơn 90 vĩ tuyến: từ dưới 40
0
N (lục địa châu Úc, Nam châu Phi,
Chi Lê,…) lên gần đến 55
0
B (bờ biển Ban Tích, trung lưu sông Vônga,…).

Từ độ cao 1-2 mét đến gần 4.000m so với mặt nước biển (Nguyễn Đức

Lương, Dương Văn Sơn, Lương Văn Hinh, 2000).

Theo số liệu của CIMMYT (1986) mức tăng trưởng bình quân hàng năm
của cây ngô trên toàn Thế giới về mặt diện tích là 0,7%, năng suất là 2,4% và
sản lượng là 3,1%. Tuy nhiên diện tích, năng suất, sản lượng ngô giữa các
châu lục trên Thế giới có sự chênh lệch tương đối lớn được thể hiện ở bảng 1.1.
Bảng 1.1: Tình hình sản suất ngô của một số khu vực trên
Th
ế
giới
giai


đoạ

n
2008

2009




Khu
v

c

Di

n
tích

(triệu ha)
Năng
s
u

t


(tạ/ha)

Sản lƣợng


(triệu tấn)
2008
2009
2008
2009
2008
2009
Châu Âu
15,4
13,8
60,4
60,7
93,2
83,9
Châu Á
52,17
52,85
45,63
44,20
238,09
233,63
Châu Mỹ
64,12
62,49
68,46
70,75
439,02
442,20
Châu Phi
29,29

30,26
18,86
18,72
55,27
56,68

×