Tải bản đầy đủ (.doc) (86 trang)

giải pháp đẩy mạnh thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011- 2015 của huyện từ liêm

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (587.53 KB, 86 trang )

Khoa Kế Hoạch và Phát Triển PGS.TS LÊ HUY ĐỨC
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là chuyên đề do em tự viết dựa trên việc tham khảo sách
báo, tài liệu của phòng Tài Chính Kế Hoạch và các tài liệu trên wedsite đã chú
thích, ngoài ra không hề sao chép bất kỳ tài liệu, luận văn hay chuyên đề nào khác
Hà Nội, Ngày 17 tháng 5 năm 2013
Chữ ký của sinh viên
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Nguyễn Thành Mạnh
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển PGS.TS LÊ HUY ĐỨC
MỤC LỤC
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Nguyễn Thành Mạnh
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển PGS.TS LÊ HUY ĐỨC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
QSD : quyền sử dụng
UBND : ủy ban nhân dân
KH&DT : kế hoạch và đầu tư
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Nguyễn Thành Mạnh
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển PGS.TS LÊ HUY ĐỨC
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
SƠ ĐỒ
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Cơ cấu kinh tế huyện Từ Liêm năm 2011 Error: Reference source
not found
Biểu đồ 2: Cơ cấu các ngành kinh tế của huyện Từ Liêm 2012 37
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Nguyễn Thành Mạnh
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển PGS.TS LÊ HUY ĐỨC
LỜI NÓI ĐẦU
Kế hoạch là công cụ quan trọng của chính phủ trong việc can thiệp vào nền
kinh tế. Ngoài chức năng định hướng, nó còn là cách mà chính phủ phân bổ nguồn
lực một cách hiệu quả, khắc phục được những thất bại vốn có của thị trường. Trong
hệ thống kế hoạch hóa ở Việt Nam, đối với cấp huyện kế hoạch 5 năm phát triển


kinh tế xã hội chính là kế hoạch quan trọng nhất vì nó vừa mang tính định hướng
cho cả huyện trong một thời gian dài, hơn nữa lại là công cụ để hiện thực hóa quy
hoạch và chiến lược phát triển.
Huyện Từ Liêm là trung tâm của Hà Nội mở rộng, trong quy hoạch tổng thể
của thành phố, huyện là vùng được đầu tư phát triển về thương mại, dịch vụ cao cấp
hướng tới trở thành khu vực vui chơi, giải trí, trung tâm thương mại hàng đầu của
thủ đô. Đứng trước cơ hội lớn như vậy huyện cần có kế hoạch phát triển một cách
hợp lý để tận dụng tốt nhất nguồn lực và kế hoạch 5 năm chính là công cụ quan
trọng giúp huyện quản lý một cách tổng thể, phân bổ nguồn lực một cách hợp lý,
đối phó tốt với những biến động của nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên một kế hoạch
với hệ thống mục tiêu và chỉ tiêu lớn lại được lập cho thời gian 5 năm nên cần thiết
công tác theo dõi thường xuyên và đánh giá định kỳ nhằm giúp các nhà quản lý nắm
bắt tốt nhất tình hình thực hiện để có biện pháp can thiệp hợp lý, hướng các hoạt
động theo đúng quỹ đạo đã đặt ra. Chính bởi lý do này em lựa chọn đề tài “Giải
pháp đẩy mạnh thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011- 2015
của huyện Từ Liêm” với mục đích nghiên cứu, đánh giá tình hình thực hiện trong
nửa đầu kỳ kế hoạch, dựa vào đó để có những đề xuất về giải pháp phù hợp thúc
đẩy việc thực hiện kế hoạch trong thời gian tiếp theo. Và đặc biệt việc nghiên cứu
còn phục vụ cho cuộc họp báo cáo thực hiện kế hoạch giữa nhiệm kỳ của đảng ủy
vào tháng 6 năm 2013.
Ngoài lời mở đầu và kết thúc chuyên đề gồm có 3 phần:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về kế hoạch hóa phát triển kinh tế xã hội ở địa
phương
Chương 2: Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch 5 năm trong giai đoạn đầu 2011-
tháng 6 năm 2013
Chương 3: Đề xuất giải pháp đẩy mạnh thực hiện cho giai đoạn còn lại của kế
hoạch 5 năm 2011- 2015
Em xin gửi lời cám ơn chân thành và sâu sắc nhất tới thầy trưởng khoa
PGS.TS LÊ HUY ĐỨC đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em thực hiện đề tài trong
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Nguyễn Thành Mạnh

1
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển PGS.TS LÊ HUY ĐỨC
suốt thời gian thực tập; em xin gửi lời cám ơn của mình tới toàn thể các thầy cô
đang giảng dạy trong khoa đã cung cấp cho em rất nhiều kiến thức trong suốt thời
gian học tập tại trường để em xây dựng và hoàn thiện đề tài. Em cũng chân thành
cám ơn những anh chị trong phòng Tài chính- kế hoạch huyên Từ Liêm đã nhiệt
tình giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất để em hoàn thành quá trình thực tập của mình.
Trong thời gian thực hiện đề tài dù đã cố gắng rất nhiều nhưng không thể
tránh khỏi các sai sót, em rất mong nhận được sự đóng góp của thầy cô để chuyên
đề của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Nguyễn Thành Mạnh
2
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển PGS.TS LÊ HUY ĐỨC
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KẾ HOẠCH HÓA
PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI Ở ĐỊA PHƯƠNG
1.1. Kế hoạch hóa phát triển kinh tế xã hội trong quản lý nền kinh tế
1.1.1. Cơ sở lý luận của kế hoạch hóa trong nền kinh tế thị trường
1.1.1.1. Kế hoạch hóa là một công cụ can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế
thị trường
Trong lịch sử phát triển kinh tế có một vấn đề rất được quan tâm đó là vai trò
của nhà nước và thị trường trong việc điều tiết hoạt động của nền kinh tế, có khi các
nhà kinh tế cho rằng vai trò của nhà nước là mờ nhạt trong chủ nghĩa trọng nông
cũng có khi nhà nước đóng vai trò chủ đạo quyết định đến sự phát triển kinh tế như
trong các học thuyết của keynes. Trong nền kinh tế hiện đại, các nhà kinh tế đều đi
tới thống nhất là phải có sự phối hợp giữa nhà nước và thị trường trong việc điều
hành nền kinh tế chứ không nên xét cái nào quan trọng hơn. Nhà nước thể hiện vai
trò của mình trong các vấn đề sau: thứ nhất nhà nước phải can thiệp nhằm khắc
phục những khuyết tật của thị trường như độc quyền, ngoại ứng, hàng hóa công
cộng và thông tin bất đối xứng. Đây là những vấn đề mang tính chất vĩ mô đòi hỏi

nguồn lực lớn để thực hiện nên nhà nước là thích hợp hơn cả. Thứ hai là vấn đề
phân phối lại thu nhập nhằm thực hiện công bằng xã hội và hàng hóa khuyến dụng;
thị trường là không hoàn hảo tất yếu dẫn tới sự thiếu công bằng trong phân phối thu
nhập nên vai trò của nhà nước phải đứng ra phân phối lại, tránh tình trạng phân hóa
giàu nghèo gia tăng với tốc độ nhanh. Thứ ba là vấn đề định hướng hoạt động kinh
tế xã hội của đất nước theo những mục tiêu mà chính phủ cần đạt tới.
Nhà nước có vai trò rất quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế thế nhưng
điều tiết bằng cách nào cũng là một vấn đề cần quan tâm. Thế giới đã chứng kiến sự
sụp đổ của Liên Xô, sự thay đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh
tế thị trường ở rất nhiều quốc gia theo chế độ xã hội chủ nghĩa. Điều này chứng tỏ
nhà nước can thiệp quá sâu vào nền kinh tế cũng không mang lại hiệu quả, nhà
nước không nên chi phối mọi mặt của nền kinh tế mà chỉ nên can thiệp bằng những
công cụ thích hợp. Thứ nhất đó là hệ thống pháp luật và những quy định dưới luật.
Cũng giống như một trận bóng đá muốn diễn ra công bằng thì phải có luật chơi quy
định những người chơi phải tuân theo thì việc tổ chức và điều hành một nhà nước
cũng như vậy. Nhà nước cần phải xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ để các cá
nhân và tổ chức tuân theo. Theo đó mọi công dân có quyền tự do, chủ động sáng tạo
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Nguyễn Thành Mạnh
3
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển PGS.TS LÊ HUY ĐỨC
trong giới hạn cho phép của pháp luật. Chỉ có như vậy con người mới có thể điều
chỉnh hành vi của mình theo chuẩn chung của xã hội, và khi các cá nhân và tổ chức
cùng tuân theo thì sẽ tạo ra sự nhất quán trong hành vi, nhờ vậy nhà nước có thể
quản lý nền kinh tế dễ dàng hơn. Thứ hai đó là công cụ hoạch định phát triển bao
gồm: chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế xã hội. Đây
là công cụ hữu hiệu để thực hiện chức năng định hướng cho nền kinh tế. Nhờ có
công cụ này mà chính phủ có thể đánh giá tình hình kinh tế hiện tại và mức độ, giải
quyết các vấn đề kinh tế xã hội tại một thời điểm nhất định; xây dựng các mục tiêu
chiến lược định hướng trong tương lai; liên kết mục tiêu đặt ra với nguồn lực, ưu
tiên đầu tư cần thiết để thực hiện tốt các mục tiêu đề ra. Đây là cách tốt nhất để

chính phủ và nhân dân cùng hình dung ra khung cảnh nền kinh tế trong tương lai
và cùng thống nhất trong việc đề ra cách thức thực hiện. Công cụ thứ ba mà chính
phủ thường sử dụng đó là hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô. Trong công cụ này lại
có hai loại là chính sách định hướng phát triển và chính sách điều tiết vĩ mô. Chính
sách định hướng phát triển có chức năng hướng dẫn các hoạt động kinh tế xã hội để
hướng tới các mục tiêu đề ra. Hệ thống này bao gồm: chính sách phát triển các
ngành kinh tế: nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ; chính sách phát triển các vùng
kinh tế; chính sách phát triển các lĩnh vực kinh tế xã hội như: dân số, nguồn lao
động, khoa học công nghệ, đất đai, chính sách đầu tư, chính sách mở cửa, hội nhập,
… loại thứ hai đó là chính sách điều tiết vĩ mô bao gồm chính sách tài khóa và
chính sách tiền tệ nhằm điều tiết nền kinh tế theo hướng thúc đẩy tăng trưởng, ổn
định kinh tế vĩ mô, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Hai chính sách này tập
trung điều chỉnh lãi suất, tỷ giá, tỷ lệ dự trữ bắt buộc… sao cho phù hợp nhất với
tình hình kinh tế đặt ra, nó được ví như những liều thuốc ảnh hưởng rất mạnh tới
sức khỏe của nền kinh tế, nếu dùng đúng lúc và đúng cường độ là rất tốt còn nếu
không sẽ để lại nhiều hậu quả. Công cụ cuối cùng mà chính phủ sử dụng để tạo ra
sự can thiệp của mình vào thị trường đó là lực lượng kinh tế nhà nước. Hệ thống
này được chia làm hai nhóm: thứ nhất là các doanh nghiệp nhà nước thuộc lĩnh vực
sản xuất như công nghiệp, nông nghiệp; các ngân hàng thương mại nhà nước, công
ty bảo hiểm nhà nước. Nhóm thứ hai là hệ thống phi doanh nghiệp nhà nước bao
gồm Ngân Sách Nhà Nước, Ngân hàng nhà nước; Kho bạc nhà nước, các quỹ dự trữ
quốc gia, hệ thống tài nguyên, khoáng sản và đất đai; các dịch vụ công cộng do nhà
nước đảm nhận. Các thành phần này có vị thế lớn trong thị trường nhằm đảm bảo sự
kiểm soát hiệu quả của nhà nước đối với nền kinh tế khi cần có sự điều chỉnh hay
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Nguyễn Thành Mạnh
4
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển PGS.TS LÊ HUY ĐỨC
chính sách thì đây sẽ là những thành phần trong nền kinh tế chịu tác động đầu tiên,
và những tác động này có thể chi phối toàn bộ thị trường.
Như các phân tích đã nêu ở trên kế hoạch phát triển là một trong những công

cụ để nhà nước can thiệp vào nền kinh tế thị trường. Nó giúp nhà nước có thể khắc
phục những thất bại của thị trường và hướng thị trường vào những mục tiêu mà xã
hội cần có. Đặc trưng của công cụ này ở chỗ đây là phương pháp quản lý nền kinh
tế của nhà nước theo mục tiêu thể hiện bằng việc chính phủ cần nhận biết được sự
vận động của thị trường, chủ động xác định mục tiêu định hướng phát triển phải đạt
được trong một khoảng thời gian nhất định của quốc gia, một vùng hay một lĩnh
vực nào đó rồi đưa ra những giải pháp chính sách cần thiết để đạt được mục tiêu với
hiệu quả và hiệu lực cao nhất.
1.1.1.2. Kế hoạch là công cụ huy động và phân bổ nguồn lực khan hiếm
nhằm đạt được những mục tiêu ưu tiên.
Chúng ta luôn sử dụng các nguồn lực trong tình trạng khan hiếm, và đó cũng
chính là lí do ra đời của các môn học về kinh tế. Nếu cứ để thị trường tự điều tiết thì
chắc chắn các nguồn lực này sẽ hướng vào việc sản xuất hàng hóa nhiều lợi nhuận
phục vụ cho một số ít người trong xã hội mà không hướng vào các hoạt động mang
tính chất an sinh xã hội, phát triển bền vững. Chính vì thế các nguồn lực cần được
phân bố có kế hoạch nhằm đảm bảo hiệu quả cả về kinh tế lẫn về xã hội, không chỉ
hướng tới mục tiêu tăng trưởng mà quan trọng hơn đằng sau nó là sự phát triển.
1.1.1.3. Kế hoạch là công cụ để thu hút các nguồn tài trợ từ nước ngoài.
Để nhận được sự đầu tư của nước ngoài điều cần thiết là chúng ta phải có
những mục tiêu đặt ra cụ thể với những dự án được thiết kế cẩn thận nhằm tạo dựng
sự tin tưởng vào tương lai phát triển của đất nước. Việc mô tả dự án càng tỷ mỷ và
cụ thể trong một khuôn khổ phát triển kinh tế xã hội càng toàn diện bao nhiêu thì
sức hút của chúng đối với các nhà đầu tư nước ngoài càng lớn bấy nhiêu. Chính bởi
vậy kế hoạch có chức năng rất quan trọng là giao tiếp tạo được sự đồng thuận giữa
nhà nước và các nhà đầu tư nhằm hướng tới sự hợp tác đôi bên cùng có lợi.
1.1.1.4. Kế hoạch là công cụ để chính phủ công bố các mục tiêu phát triển
của mình và huy động nguồn lực xã hội cùng hướng tới mục tiêu
Như đã nói ở trên kế hoạch là công cụ giao tiếp rất hữu hiệu nhưng không
chỉ là với các nhà đầu tư nước ngoài mà quan trọng hơn đó là công cụ giao tiếp của
nhà nước với nhân dân. Một tổ chức có thể thực hiện các mục tiêu đề ra hay không

phụ thuộc rất lớn vào sự đồng tâm nhất chỉ của các cá nhân trong tổ chức đó, nếu tất
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Nguyễn Thành Mạnh
5
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển PGS.TS LÊ HUY ĐỨC
cả cùng hướng về một mục tiêu chung thì chắc chắn kéo theo huy động nguồn lực
vào đó, điều này sẽ giúp mục tiêu đặt ra dễ dàng thực hiện hơn. Kế hoạch sẽ giúp
nhà nước phác họa một cách rõ nét về bức trang của đất nước trong tương lai, các cá
nhân, doanh nghiệp sẽ dựa vào các định hướng đó để biết rằng lĩnh vực nào được
ưu tiên phát triển trong tương lai, khu vực nào được ưu tiên đầu tư trong thời gian
tới;… nhờ thế mà họ có thể điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với mục tiêu
chung của toàn xã hội.
1.1.2. Bản chất của kế hoạch hóa và sự thể hiện trong các phương thức kế
hoạch hóa
Kế hoạch hóa là phương thức quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân của nhà
nước theo mục tiêu, là hoạt động của con người trên cơ sở nhận thức và vận dụng
các quy luật xã hội và tự nhiên, đặc biệt là quy luật kinh tế để tổ chức, quản lý các
đơn vị kinh tế, các ngành, các lĩnh vực và toàn bộ nền kinh tế quốc dân theo những
mục tiêu thống nhất, dự kiến trước phương hướng cơ cấu, tốc đô phát triển và có
những biện pháp tương ứng bảo đảm thực hiện nhắm đạt hiệu quả kinh tế.( theo từ
điển bách khoa Việt Nam). Vậy bản chất của kế hoạch hóa được mô tả như là một
loạt các mục tiêu kinh tế, xã hội cần đạt được trong khoảng thời gian định sẵn; và
nó được thể hiện ở cách thức mà chính phủ sử dụng để thực hiện sự can thiệp vào
nền kinh tế.
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung mệnh lệnh mà điển hình là nền
kinh tế của Liên Xô cũ, Đông Âu, và Việt Nam trước thời kỳ đổi mới ( năm 1986
trở về trước), chính phủ không những điều hành về mặt chính trị mà còn điều tiết
mọi mặt về các vấn đề kinh tế. Nhà nước không chế trực tiếp các hoạt động kinh tế
bằng cách tập trung phân bổ nguồn lực thông qua các quy định mang tính mệnh
lệnh từ trung ương. Tất cả các mục tiêu cụ thể đã được bộ phận kế hoạch triển khai
sẵn một cách toàn diện và đầy đủ, sau đó được chuyển xuống cấp dưới theo phương

thức cấp phát - giao nộp vốn, vật tư, lao động, sản phẩm hàng hóa và những chỉ thị
mệnh lệnh mang tính hành chính. Như vậy nhà nước có thể kiểm soát tất cả mọi mặt
của nền kinh tế nhưng chính điều đó làm triệt tiêu mọi quy luật thị trường, làm nền
kinh tế mất đi sự cạnh tranh, dần dần làm mất động lực phấn đấu của các cá nhân
trong xã hội.
Khác biệt với cách thể hiện trên, trong nền kinh tế thị trường kế hoạch hóa
vẫn đóng vai trò quan trọng nhưng nó chỉ là sự nỗ lực có ý thức của chính phủ trong
việc chủ động thiết lập các quan hệ giữa nhu cầu tiêu dùng của xã hội với khả năng
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Nguyễn Thành Mạnh
6
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển PGS.TS LÊ HUY ĐỨC
nguồn lực hạn chế, nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng cao nhất của mọi tầng lớp dân
cư trong xã hội trên cơ sở sử dụng nguồn lực một cách có hiệu quả nhất. Rõ ràng ở
đây kế hoạch hóa không còn sự can thiệp một cách trực tiếp và toàn diện như trên
mà nó chỉ đóng vai trò định hướng phát triển, trong đó các mục tiêu và chỉ tiêu được
xác định mang tính định hướng, dự báo, nó chỉ thể hiện ở một số lĩnh vực chủ yếu,
đực ưu tiên trong từng giai đoạn phát triển nhất định. Trong nền kinh tế này, nhà
nước với vai trò là chủ thể của quá trình kế hoạch hóa chỉ can thiệp gián tiếp thông
qua các chính sách định hướng và điều tiết vĩ mô nhưng vẫn phải đảm bảo tôn trọng
các quy luật thị trường. Từ xưa tới nay thị trường kinh tế đã được hình thành và duy
trì bởi những quy luật mang tính tự nhiên chẳng hạn như quy luật giá trị, quy luật về
cạnh tranh,… Vậy nên vai trò của nhà nước không phải là bẻ gãy các quy luật của
thị trường và tự mình kiểm soát tất cả mà phải thuận theo tự nhiên mà dẫn dắt cho
hợp lý.
Bản chất của kế hoạch hóa là giống nhau trong cả nền kinh tế kế hoạch hóa
tập trung và nền kinh tế thị trường tuy nhiên nó chỉ khác nhau về cách thức thể hiện
giữa một bên mang tính cưỡng chế trực tiếp và một bên là thuyết phục gián tiếp. Kế
hoạch phát triển mang tính thuyết phục gián tiếp được xem là công nghệ của sự lựa
chọn tối ưu, ngăn chặn để cho nền kinh tế khỏi đi lạc với mục tiêu tăng trưởng ổn
định bằng những công cụ năng động và gián tiếp, là phương thức áp dụng kế hoạch

hóa tiên tiến và phù hợp với sự phát triển của thời đại.
1.1.3. Chức năng và các nguyên tắc chủ yếu của kế hoạch phát triển
1.1.3.1. Các chức năng của kế hoạch phát triển
Chức năng điều tiết, phối hợp, ổn định kinh tế vĩ mô
Trên phương diện kinh tế vĩ mô, hoạt động kế hoạch hóa phải được hướng
theo các mục tiêu chinh đó là: ổn định giá, bảo đảm công ăn việc làm, tăng trưởng
và cân bằng cán cân thanh toán quốc tế. Các mục tiêu này có sự liên quan chặt chẽ
tới nhau. Việc thiên lệch hay quá nhấn mạnh vào mục tiêu nào sẽ ảnh hưởng tới
việc thực hiện các mục tiêu còn lại vô hình chung ảnh hưởng đến sự cân bằng tổng
thể nền kinh tế. Chức năng này của kế hoạch hóa thể hiện rõ ở:
Hoạch định chung tổng thể của nền kinh tế, đưa ra và thực thi chính sách cần
thiết bảo đảm các cân đối kinh tế nhằm sử dụng tổng hợp nguồn lực, phát huy hiệu
quả tổng thể kinh tế - xã hội, thúc đẩy tăng trưởng nhanh theo hướng thống nhất bảo
đảm tính chất xã hội của các hoạt động kinh tế.
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Nguyễn Thành Mạnh
7
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển PGS.TS LÊ HUY ĐỨC
Bảo đảm môi trường kinh tế ổn định và cân đối. Tạo những điều kiện thuận
lợi về cơ sở hạ tầng kinh tế, kỹ thuật, xã hội, bảo vệ môi trường, tạo tiền đề và hành
lang pháp lý cho phát triển kinh tế lành mạnh.
Bảo đảm sự công bằng xã hội giữa các vùng, các tầng lớp nhân dân bằng kế
hoạch sử dụng ngân sách và các chính sách điều tiết.
Kế hoạch hóa còn thể hiện chức năng điều tiết nền kinh tế phù hợp xu thế hội
nhập, toàn cầu hóa ngày càng gia tăng. Để thực hiện chức năng này kế hoạch hóa
phải xây dựng những chính sách chuyển giao công nghệ thuận lợi tìm ra được
hướng đi tắt đón đầu giúp cho nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, nhanh chóng
đuổi kịp các quốc gia tiên tiến khác.
Chức năng định hướng phát triển
Đây chính là chức năng thể hiện rõ bản chất của công tác kế hoạch hóa trong
nền kinh tế, chức năng này thể hiện ở việc công tác kế hoạch hóa phải xây dựng

được các chiến lược và quy hoạch phát triển toàn bộ nền kinh tế cũng như quy
hoạch phát triển theo ngành, vùng lãnh thổ, xây dựng kế hoạch phát triển dài hạn.
Kế hoạch đưa ra hệ thống mục tiêu phát triển vĩ mô nền kinh tế, xây dựng các dự
án, các chương trình, tìm giải pháp thực hiện, dự báo khả năng, phương hướng phát
triển, xác định các cân đối lớn,… nhằm thực hiện chức năng dẫn dắt, định hướng
phát triển, xử lý kịp thời các mất cân đối xuất hiện trong nền kinh tế thị trường.
Chức năng kiểm tra giám sát
Chức năng này bao gồm việc chính phủ thông qua các cơ quan chức năng,
thường xuyên theo dõi, kiểm tra tình hình thực hiện các tiến độ kế hoạch, thực hiện
và tuân thủ các cơ chế, thể chế, chính sách hiện hành áp dụng trong thời kỳ dài.
Đánh giá kết quả của việc thực hiện các chính sách, mục tiêu đề ra. Phân tích hiệu
quả tài chính, hiệu quả kinh tế xã hội đảm bảo các luận cứ quan trọng cho việc xây
dựng các kế hoạch của các thời kỳ tiếp theo
1.1.3.2. Các nguyên tắc kế hoạch hóa phát triển
Nguyên tắc tập trung dân chủ
Tính tập trung của kế hoạch hóa phát triển thể hện ở các mặt sau đây:
Chính phủ thông qua các cơ quan kế hoạch hóa quốc gia thực hiện chức năng
định hướng, chủ động hình thành khung vĩ mô, các chỉ tiêu định hướng và cân đối
cơ bản của nền kinh tế quốc dân trong thời kỳ kế hoạch, đưa ra các chương trình
phát triển kinh tế xã hội lớn, ban hành hệ thống chính sách, thể chế điều tiết và
khuyến khích sự phát triển của mọi thành phần kinh tế.
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Nguyễn Thành Mạnh
8
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển PGS.TS LÊ HUY ĐỨC
Các chương trình, kế hoạch, dự báo phát triển phải được xây dựng, soạn thảo
trên cơ sở các quan điểm chính trị, các mục tiêu kinh tế, xã hội do đảng và nhà nước
yêu cầu, phải bảo đảm sự thể hiện nhất trí cao độ giữa kinh tế và chính trị trong
cùng thời kỳ.
Kế hoạch phát triển hướng các đơn vị, thành phần kinh tế hoạt động theo quỹ
đạo mục tiêu chung của quốc gia. Nhà nước chủ động xây dựng và tổ chức, điều tiết

các bước đi trong kế hoạch kinh tế đối ngoại, hội nhập, các hoạt động tài chính tiền
tệ, không chế các con số cân đối thương mại và cán cân thanh toán quốc tế.
Tính dân chủ trong kế hoạch hóa thể hiện ở các phương diện sau đây: Thứ nhất, sử
dụng sự tham gia của các bên vào xây dựng và thực thi kế hoạch. Thứ hai, sử dụng
sự tham gia của khu vực tư nhân trong công tác kế hoạch hóa. Thứ ba, chính phủ
phải đưa ra các cam kết cụ thể của mình với từng địa phương, ngành và doanh
nghiệp. Thứ tư, thể hiện trong việc tăng cường hình thức kế hoạch hóa phi tập
trung. Thức năm là mở rộng tính chất dân chủ trong quan hệ tác động giữa nhà
nước với cấp trên trong xây dựng và triển khai kế hoạch.
Dân chủ và kế hoạch là hai tính chất không thể tách rời của kế hoạch, nó có
thể thay đổi phụ thuộc vào nhiệm vụ và các đặc trưng phát triển trong từng giai
đoạn của đất nước, phụ thuộc vào các điều kiện trong và ngoài nước. Nhưng cũng
cần lưu ý một điều, nếu quá chú trọng vào tính tập trung sẽ dẫn kế hoạch hóa đi
theo cơ chế tập trung mệnh lệnh, quan liêu bao cấp. Tuy nhiên nếu quá nhấn mạnh
vào tính dân chủ nghĩa là xa rời bản chất của kế hoạch hóa.
Nguyên tắc thị trường
Xem xét trên góc độ thị trường và kế hoạch là hai công cụ điều tiết nền kinh
tế thì giữa chúng có mối quan hệ kết hợp giữa một bên là công cụ trực tiếp (bằng kế
hoạch) và công cụ gián tiếp( thông qua thị trường); là sự kết hợp định hướng nền
kinh tế tuân theo các quy luật của thị trường. Nếu coi sự vận hành của nền kinh tế
giống như một dây chuyền sản xuất ô tô thì kế hoạch đóng vai trò như bản thiết kế
của dây chuyền đó, việc sử dụng những loại máy móc gì, đặt chúng ở đâu để đạt
được hiệu quả tối đa đều được dự định từ trước phù hợp với các yêu cầu về nguồn
lực. Như vậy nguyên tắc thị trường đặt ra yêu cầu: kế hoạch không tìm cách thay
thế thị trường mà ngược lại bổ sung, bù đắp những khiếm khuyết cho thị trường.
Mặt khác kế hoạch cũng phải căn cứ vào thị trường để đưa ra các mục tiêu hợp lý,
phải luôn cân nhắc các công cụ can thiệp để tạo ra sự hiệu quả, phải tính đến các
yếu tố có thể kiểm soát cũng như không thể kiểm soát được.
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Nguyễn Thành Mạnh
9

Khoa Kế Hoạch và Phát Triển PGS.TS LÊ HUY ĐỨC
Nguyên tắc linh hoạt mềm dẻo
Xuất phát từ nguyên tắc nêu trên, nguyên tắc này đảm bảo cho kế hoạch hóa
tuân theo các quy luật của thị trường. Nền kinh tế thị trường luôn luôn chứa đựng
nhiều biến động: sự thay đổi của thị hiếu, giá cả,… và hơn nữa đó là sự thay đổi của
nền kinh tế toàn cầu nói chung đòi hỏi công tác kế hoạch hóa cũng hải xây dựng
được nhiều phương án để có thể đối phó với sự thay đổi. Kế hoạch càng linh hoạt
thì sự đe dọa của các sự kiện chưa lường trước được càng ít. Nguyên tắc này là kim
chỉ nam xuyên suốt quá trình kế hoạch hóa từ khâu soạn lập cho tới tổ chức thực
hiện kế hoạch cũng như tổ chức bộ máy kế hoạch. Trong quá trình soạn lập kế
hoạch phải xây dựng được nhiều phương án kế hoạch gắn với mỗi biến số về các
điều kiện hiện tại cũng như tương lai. Kế hoạch được chọn cũng không phải là
không thay đổi, các biến số trong kế hoạch cũng được xây dựng trong một khoảng
linh động chứ không cứng nhắc.
Nguyên tắc đảm bảo hiệu quả kinh tế của các hoạt động kinh doanh
Các chủ thể trong nền kinh tế tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh đều
dựa trên lợi ích riêng của họ mà quan tâm hàng đầu là hiệu quả tài chính, lợi nhuận thu
được. Kế hoạch hóa phát triển với vị trí vĩ mô phải điều tiết sao cho những mục tiêu
ngắn hạn của doanh nghiệp phải phù hợp với mục tiêu tổng thể và dài hạn của toàn bộ
nền kinh tế. Cái mà kế hoạch hóa hướng tới là sự phân bổ, sắp xếp nền kinh tế sao cho
hiệu quả nhất do việc việc định hướng điều tiết các doanh nghiệp cũng phải đảm bảo
hiệu quả kinh tế thể hiện ở các mặt sau: thứ nhất cơ quan kế hoạch hóa quốc gia phải
đóng vai trò quyết định trong việc xác định khung vĩ mô cho sự phát triển kinh tế dài
hạn của đất nước. Đưa ra các dự báo, chiến lược, mục tiêu phù hợp với xu thế phát
triển. Thứ hai bảo đảm tính hệ thống trong kế hoạch hóa như việc thống nhất giữa
đường lối phát triển với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển trong trung hạn (5
năm) và ngắn hạn (hàng năm). Thứ ba bảo đảm quản lý và thẩm định các dự án phát
triển để quyết định hướng phân bổ nguồn lực sao cho hiệu quả nhất.
1.2. Quy trình kế hoạch hóa phát triển kinh tế xã hội cấp huyện
1.2.1. Xây dựng kế hoạch

Sơ đồ1: Tổng quát quy trình lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội cấp huyện
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Nguyễn Thành Mạnh
10
Bước 1
Phân tích tiềm
năng và thực
trạng phát triển
Bước 2
Xác định mục
tiêu, chỉ tiêu và
chỉ số
Bước 3
Xác định các cân
đối vĩ mô chủ yếu
Bước 4
Các giải pháp
thực hiện
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển PGS.TS LÊ HUY ĐỨC
1.2.1.1. Phân tích tiềm năng và thực trạng phát triển kinh tế xã hội
Khái niệm và các yêu cầu cơ bản
Khái niệm: phân tích tiềm năng và đánh giá thực trạng bao gồm việc sử dụng
các phương pháp nghiên cứu cần thiết để làm rõ các yếu tố nguồn lực và hiện trạng
phát triển kinh tế xã hội bao gồm việc phân tích và làm rõ các lợi thế về nguồn lực
của huyện và khả năng khai thác, sử dụng chúng trong thời kỳ kế hoạch. Thêm vào
đó, cần có sự đánh giá, làm rõ trình độ phát triển của địa phương về các mặt kinh tế
xã hội trong mối quan hệ với các địa phương, vùng miền khác. Kết quả sau khi
phân tích tiềm năng và thực trạng chúng ta sẽ có cái nhìn tổng quát về các nguồn
lực phát triển, môi trường kinh doanh, các thị trường tiêu thụ cơ bản trong mối
tương quan với các vùng miền khác; đó là những căn cứ quan trọng cho việc xác
định mục tiêu và giải pháp cho kế hoạch tương lai. Việc đánh giá này phải làm rõ

các yêu cầu cơ bản: Từ việc phân tích các tiềm năng cần làm rõ khả năng và điều
kiện khai thác chúng trong tương lai; đặt sự phát triển của quốc gia trong sự phát
triển tổng thể với các địa phương khác, với đất nước và khu vực, rộng hơn nữa là
trên thế giới; đề ra mục tiêu và phương pháp khắc phục yếu kém, phát huy điểm
mạnh trong giai đoạn tới
Nội dung đánh giá tiềm năng và thực trạng phát triển kinh tế xã hội
Phân tích tiềm năng phát triển kinh tế xã hội
Các yếu tố về vị trí địa lý và tự nhiên: vị trí địa lý; đặc điểm địa hình, tự
nhiên, danh lam thắng cảnh và ảnh hưởng của nó tới việc phát triển các lĩnh vực
công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và khả năng giao lưu hàng hóa trên thị trường;
đặc điểm về khí hậu, thủy văn; tài nguyên nước (nước mặt và nước ngầm)
Các yếu tố tiềm năng gắn với đất: hiện trạng về quy mô và cơ cấu sử dụng
đất như đất nông nghiệp, phi nông nghiệp, đất chưa sử dụng, khả năng khai thác
quỹ đất cho công nghiệp hóa và đô thị hóa; tài nguyên biển và ven biển; tài nguyên
rừng, tức là dự kiến về khả năng gỗ có thể khai thác; tài nguyên khoáng sản
Các tiềm năng không gắn với đất: hệ thống các công trình văn hóa, các giá trị
phi vật thể có tiềm năng khai thác; tiềm năng về nguồn nhân lực cao gồm cả về số
lượng và chất lượng; nguồn lực tài chính và khả năng huy động cho đầu tư phát
triển bao gồm nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, khu dân cư, nguồn thu hút từ bên
ngoài
Các đặc điểm về lịch sử, truyền thống, tập quán dân cư.
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Nguyễn Thành Mạnh
11
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển PGS.TS LÊ HUY ĐỨC
Phân tích thực trạng phát triển kinh tế, xã hội
Bao gồm việc phân tích: thực trạng phát triển kinh tế: các chỉ số kinh tế vĩ
mô cơ bản, thực trạng phát triển công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ; thực trạng phát
triển xã hội: thu nhập và mức sống dân cư; dân số, lao động và việc làm; thực trạng
phát triển giáo dục đào tạo; y tế; môi trường sinh thái; các lĩnh vực khác; thực trạng
phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật: giao thông, điện, nước, bưu chính viễn thông.

Tổng hợp các vấn đề then chốt
Sau khi có sự phân tích về tiềm năng và thực trạng chúng ta cần có sự đánh
giá một cách tổng quát về tình hình của địa phương trên các khía cạnh:
Bảng 1: Tổng hợp các vấn đề then chốt khi phân tích tiềm năng và thực trạng
Thách thức: là những mối đe dọa từ một xu hướng
hoặc một hoàn cảnh bên ngoài có thể ảnh hưởng xấu
tới địa phương, cần có sự phân tích, dự báo để địa
phương có thể ứng phó kịp thời từ đó đưa ra các biện
pháp khắc phục, không để bị động quá nhiều.
Điểm yếu: những yếu tố

mang tính chủ quan được
thể hiện là những khiếm
khuyết, hạn chế hay thiếu
hụt nguồn lực, phải biết
mình yếu ở đâu để có thể
Điểm mạnh
: những yếu tố
mang tính chủ quan bên
trong mà địa phương tạo
nên hay nhưng yếu tố
Tình hình địa phương
Cơ hội: những đặc điểm hay điều kiện khách quan bên
ngoài có lợi cho địa phương. Đó là những thời cơ quan
trọng, những điều kiện mang tính chất quyết định có
thể tạo nên sự đột phá trong sự phát triển, có thể gấp
nhiều lần trong điều kiện bình thường.
1.2.1.2. Xác định mục tiêu và chỉ tiêu
Mục tiêu
Khái niệm: mục tiêu là đích mà kế hoạch muốn đạt đến trong khoảng thời

gian nhất định. Mục tiêu kế hoạch giúp làm rõ trong thời gian tới (ngắn, trung và
dài hạn), kế hoạch muốn đạt được kết quả định tính nào.
Trong bản kế hoạch phát triển kinh tế xã hội cần phân biệt được 4 cấp mục
tiêu sau: Mục tiêu cuối cùng( còn gọi là tác động) là mục tiêu cao nhất của địa
phương mà kế hoạch đang xây dựng góp phần thực hiện; Mục tiêu trung gian ( còn
gọi là kết quả) là cái đích mà kế hoạch trực tiếp vươn tới, và việc có đạt được mục
tiêu trung gian không sẽ quyết định mức độ thành công của kế hoạch; Mục tiêu đầu
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Nguyễn Thành Mạnh
12
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển PGS.TS LÊ HUY ĐỨC
ra( hay còn gọi là sản phẩm) trực tiếp của kế hoạch là những sản phẩm hữu hình cụ
thể mà kế hoạch có thể tạo ra được ( hàng hóa, dịch vụ, các công trình đầu tư,…)
nhằm góp phần trực tiếp thực hiện mục tiêu trung gian; Hoạt động là những công
việc cụ thể mà kế hoạch cần thực hiện để có được đầu ra dự kiến.
Giữa bốn cấp mục tiêu này có sự quan hệ mật thiết với nhau. Muốn thực hiện
được mục tiêu trong dài hạn thì trong từng thời kỳ cần thực hiện các mục tiêu trung
gian, những mục tiêu này có đạt được hay không lại dựa trên cơ sở các đầu ra có
đúng như dự kiến hay không, và muốn thực hiện được các đầu ra thì cần thiết phải
có những hoạt động thực hiện. Các mục tiêu ở sau thực chất là cụ thể hóa mục tiêu
đứng đằng trước nó. Các mục tiêu cần được hệ thống hóa theo từng cấp và được sắp
xếp để hình thành cây vấn đề, tạo điều kiện cho việc thiết kế hệ thống chỉ tiêu được
dễ dàng hơn.
Chỉ tiêu kế hoạch
Khái niệm: chỉ tiêu kế hoạch là những nhiệm vụ cụ thể được xây dựng thành
con số cần đạt trong kỳ kế hoạch. Đó là mục tiêu được biểu hiện bằng con số, có
xác định thời gian và không gian cụ thể. Các chỉ tiêu phản ánh phần định lượng của
bản kế hoạch và là đích phấn đấu của mỗi giai đoạn trong quá trình phát triển.
Về cấu trúc, một chỉ tiêu tốt phải bao gồm một số nội dung cơ bản: tên chỉ
tiêu; con số định lượng; không gian phản ánh; đối tượng phản ánh; thời gian đo
lường. Trong đó 2 yêu cầu đầu tiên bắt buộc phải có. Trong quá trình xây dựng các

chỉ tiêu cần đảm bảo một số yêu cầu đó là các chỉ tiêu phải SMART( Specific: cụ
thể; Measurable: đo đếm được; Achievable: có thể đạt được; Realistic: thực tiễn;
Timebound: có thời hạn cụ thể)
1.2.1.3. Xác định các cân đối vĩ mô của nền kinh tế
Nội dung này được đánh giá là rất quan trọng trong kế hoạch 5 năm phát
triển kinh tế xa hội bởi nó thể hiện rõ bản chất và vai trò của kế hoạch trong việc
thực hiện cân đối nền kinh tế, đảm bảo sự phát triển mang tính bền vững. Các cân
đối chủ yếu bao gồm: Cân đối giữa khả năng tích lũy và nhu cầu tiêu dùng của nền
kinh tế(I/C); Cân đối ngân sách nhà nước, bao gồm khả năng thu và chi nhân
sách(T/G) trong thời kỳ kế hoạch theo hướng ổn định nền tài chính quốc gia, tăng
khả năng và tiềm lực tài chính của nhà nước; cân đối về vốn đầu tư phát triển kinh
tế xã hội với việc huy động các nguồn lực cho phát triển kinh tế (I=Id+If) theo
hướng tăng khả năng đầu tư phát triển; cân đối về xuất – nhập khẩu (X/M); cân đối
về năng lực sản xuất và nhu cầu các sản phẩm chủ yếu trong nền kinh tế theo hướng
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Nguyễn Thành Mạnh
13
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển PGS.TS LÊ HUY ĐỨC
đảm bảo công ăn việc làm, giảm thất nghiệp, cải thiện dân sinh và các mặt xã hội,
xóa đói giảm nghèo.
1.2.1.4. Các giải pháp thực hiện
Các công cụ cơ bản để triển khai thực hiện các mục tiêu trong kế hoạch phát
triển kinh tế xã hội bao gồm: các chương trình dự án, các kế hoạch ngắn hạn và các
giải pháp cơ chế chính sách. Nội dung cụ thể là:
Xây dựng chương trình, dự án nhằm hướng tới thực hiện được mục tiêu đặt
ra. Ở tầm quốc gia, mỗi giai đoạn kế hoạch 5 năm sẽ xây dựng một số chương trình
mục tiêu nhằm tập trung các nguồn lực cho việc giải quyết một cách triệt để các vấn
đề bức xúc, nổi cộm đang diễn ra trong quá trình phát triển của địa phương. Các nội
dung cơ bản của chương trình dự án này bao gồm: mục tiêu của chương trình, dự
án; phạm vi tác động; các điều kiện cân đối để thực hiện chương trình, bao gồm cả
các giải pháp và cơ chế chính sách nhằm huy động các nguồn lực cần thiết; cơ chế

điều hành chương trình; thời gian thực hiện.
Bên cạnh công cụ trên việc xây dựng và triển khai kế hoạch ngắn hạn cũng là
công cụ hết sức cần thiết giúp đảm bảo mục tiêu đặt ra, thường dùng để giải quyết
các vấn đề mang tính chất tác nghiệp, thường niên.
Xây dựng hệ thống chính sách đồng bộ, tạo ra sự thuận lợi cho việc thực hiện
kế hoạch cũng làm một vấn đề hết sức quan trọng. Hệ thống giải pháp và cơ chế
chính sách bao gồm các việc: xây dựng các nghị quyết; hình thành hệ thống thể chế,
cơ chế vận hành tổ chức của nền kinh tế, đề xuất các chính sách điều tiết vĩ mô
trong từng thời kỳ nhất định.
1.2.2. Theo dõi và đánh giá kế hoạch phát triển kinh tế xã hội
1.2.2.1. Theo dõi và đánh giá trong quy trình kế hoạch hóa phát triển kinh tế
xã hội
1.2.2.1.1. Khái niệm về theo dõi và đánh giá
Theo dõi: là một quá trình thu thập dữ liệu, tình hình một cách có hệ thống
về những chỉ số cụ thể liên quan đến một hoạt động phát triển đang được thực hiện,
để người quản lý và các đối tượng có liên quan có được thông tin về tiến độ thực
hiện các mục tiêu đề ra và sử dụng nguồn lực được phân bổ.
Có hai hình thức theo dõi phổ biến: một là theo dõi mức độ tuân thủ (theo
dõi thực hiện) nhằm đảm bảo rằng hành động dự kiến phải được thực hiện. Ví dụ
huyện Từ Liêm quyết định xây dựng trường tiểu học xã Đông Ngạc. Hai là theo dõi
tác động: đo lường tác động của một hoạt động đối với việc đạt được các mục tiêu
đề ra. Ví dụ: xây dựng trường tiểu học xã Đông Ngạc sẽ giúp cho bao nhiêu em nhỏ
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Nguyễn Thành Mạnh
14
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển PGS.TS LÊ HUY ĐỨC
không phải đi sang xã khác để học, tạo ra thêm công ăn việc làm cho 15 giáo viên.
Đánh giá: là việc xác định, phản ánh kết quả của những gì đã được thực thi,
thêm vào đó có sự lượng hóa về giá trị của chúng. Đánh giá có thể được thực hiện
bởi người có trách nhiệm quản lý tức là tự đánh giá, hoặc có sự tham gia của người
bên ngoài có liên quan, hoặc cả hai.Đánh giá sử dụng những nghiên cứu trong quá

trình theo dõi nhưng về mục đích thì đi xa hơn đó là rút ra được những kinh nghiệm
để học hỏi cho tương lai.
Phân loại: có ba loại đánh giá được dùng phổ biến, một là đánh giá giữa kỳ
nhằm mục đích đánh giá định kỳ tiến độ kế hoạch, những gì đạt được so với mục
tiêu cả kỳ như thế nào, từ đó xác định những giả thuyết đã nêu trong kế hoạch có
giữ nguyên giá trị không hay cần điều chỉnh, và cuối cùng là cần đưa ra các giải
pháp, kiến nghị để nửa kỳ sau thực hiện kế hoạch được hiệu quả hơn. Hai là đánh
giá cuối kỳ: là đánh giá được tiến hành khi kết thúc kỳ kế hoạch nhằm đánh giá kết
quả đạt được, tổng kết toàn bộ quá trình xem xét thành công, thất bại và rút ra kinh
nghiệm, xem xét khả năng điều chỉnh kế hoạch kỳ tiếp theo nhằm đảm bảo các mục
tiêu trung hạn và dài hạn. Ba là đánh giá tác động: là đánh giá tiến hành tại một thời
điểm sau khi đã kết thúc kỳ kế hoạch một thời gian nhằm đánh giá những tác động
của kế hoạch có được như mong muốn hay không.
1.2.2.1.2. Mối quan hệ giữa theo dõi và đánh giá
Bảng 2: Phân biệt theo dõi và đánh giá
Tiêu chí Theo dõi Đánh giá
Bản chất
của hoạt
động
Tìm kiếm và thấy, nghe và
nghe thấy, phát hiện và ghi
nhớ, làm rõ và báo cáo
Phản ánh những gì xỷ ra, xem xét
tác động, xét đoán giá trị
Lý do thực
hiện hoạt
động
Cung cấp thông tin cho những
người hoạt động nhằm giúp
cho việc ra quyết định hàng

ngày được tốt hơn, biết được
việc sử dụng nguồn lực và cơ
hội như thế nào
Phát hiện ra những điểm mạnh, yếu,
thành công, thất bại; xem xét hiệu
quả của hoạt động; và rút ra bài học
cho tương lai
Chủ thể của
hoạt động
Những người có trách nhiệm
thi công
Có thể được thực hiện bởi những
người bên trong có kỹ năng về việc
nhận xét hiệu quả hoặc những mặt
khác của tác động, hoặc cũng có thể
tiến hành bởi các bên có liên quan
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Nguyễn Thành Mạnh
15
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển PGS.TS LÊ HUY ĐỨC
Thời gian,
thời điểm
tiến hành
hoạt động
Định kỳ, thường xuyên hoặc
liên tục
Thường tiến hành vào giữa kỳ, cuối
kỳ hoặc sau một thời gian nhằm
xam xét tác động của kế hoạch
Phạm vi
thực hiện

Tiến hành tại nơi hoạt động,
kết quả được chuyển nhanh tới
các cấp khác của địa phương
Bao gồm những quy trình liên quan
mật thiết với những người tham gia
và chịu tác động bởi các hoạt động
của địa phương
Cách thức
tiến hành
Nhìn, nghe, học hỏi Sử dụng nhiều phương pháp và cần
được cân nhắc thực tế từ trước.
Ý nghĩa Thu thập thông tin, phản ánh
tình hình giúp cho việc thực
hiện được hiệu quả hơn
Xem xét tác động, đánh giá những
hoạt động có hiệu quả hay không.
Mối quan hệ giữa theo dõi và đánh giá: Mặc dù hai công việc có nhiều sự
khác biệt nhưng chúng cùng hướng tới mục tiêu chung là giúp cho việc thực hiện
các hoạt động đạt hiệu quả hơn. Đánh giá phải được thực hiện dựa trên quá trình
theo dõi, tức là xem xét với những hoạt động được thực hiện với tiến độ như vậy,
kết quả như vậy thì có hiệu quả hay không. Ngược lại đánh giá cũng có sự bổ sung
cho theo dõi ở chỗ khi phát hiện ra việc thực hiện hoạt động tốt hay không tốt ở chỗ
nào thì có thể điều chỉnh tăng cường giám sát theo dõi nhằm sát sao hơn với các
hoạt động.
1.2.2.1.3. Vai trò của theo dõi đánh giá trong kế hoạch hóa phát triển kinh tế
xã hội
Theo dõi cho phép các cấp chính quyền nắm bắt tình hình triển khai thực
hiện các mục tiêu đề ra, nhờ đó có cơ sở vững chắc nhằm đưa ra các quyết định
quản lý cho phù hợp, hướng các hoạt động đi theo đúng hướng. Những phát hiện có
được từ quá trình theo dõi thông tin đầu vào là những phát hiện sớm nhất và không

thể thiếu cho việc điều hành phát triển nền kinh tế hiệu quả.
Đánh giá giúp cho các nhà quản lý không chỉ biết tình hình thực tế thực hiện
kế hoạch mà còn cho biết nguyên nhân của các sai lệnh (nếu có) được phát hiện
trong quá trình theo dõi. Việc hiểu rõ các nguyên nhân là vô cùng quan trọng để các
cấp chính quyền có thể rút ra bài học và nếu kịp thời có thể tiến hành điều chỉnh,
tăng cường kiểm tra giám sát (nếu là đánh giá giữa kỳ).
1.2.2.1.4. Các phương pháp theo dõi đánh giá
Bảng 3 : so sánh các phương pháp theo dõi đánh giá
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Nguyễn Thành Mạnh
16
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển PGS.TS LÊ HUY ĐỨC
Theo dõi đánh giá thực hiện Theo dõi đánh giá theo kết quả
Khái niệm Thu thập một cách liên tục và có
hệ thống những thông tin về quá
trình triển khai thực hiện các mục
tiêu, nhiệm vụ đề ra trong kế
hoạch phát triển kinh tế xã hội và
xem xét mức độ thực hiện các
nhiệm vụ hay mục tiêu cụ thể nào
đó trong kế hoạch phát triển kinh
tế xã hội theo từng giai đoạn thực
hiện hoặc khi kết thúc kỳ kế
hoạch và từ đó rút ra bài học cho
việc lập kế hoạch những năm tiếp
theo.
Một quá trình liên tục thu thập
và phân tích số liệu về các chỉ số
theo dõi để so sánh với các kết
quả dự định, xem xét mức độ
thực hiện của các mục tiêu kế

hoạch. Đối tượng của theo dõi,
đánh giá theo kết quả không chỉ
là các hoạt động, đầu vào như
nguồn lực tài chính, nguồn nhân
lực mà còn xem cét kết quả và
tác động của thực hiện kế hoạch
dựa trên mối liên hệ logic giữa
các chỉ số.
Đối tượng Quá trình thực hiện kế hoạch với
chủ yếu là các hoạt động đầu vào
và đầu ra.
Các hoạt động, đầu vào như
nguồn lực tài chính, nguồn nhân
lực, xem xét kết quả và tác động
của thực hiện kế hoạch dựa trên
mối liên hệ logic giữa các chỉ số.
Chủ thể các cấp lãnh đạo, điều hành kế
hoạch và các bên có liên quan
các cấp lãnh đạo, điều hành kế
hoạch, các bên liên quan và cả
người chịu tác động của kế
hoạch
Tính trách
nhiệm
Không rõ ràng Cụ thể và rõ ràng
Hệ thống
Thông tin
Thường nghèo nàn, không được
quan tâm
Phong phú, được phản hồi liên

tục
Chính bởi theo dõi đánh giá theo kết quả có nhiều ưu điểm hơn nên xu
hướng hiện nay chính phủ đang dần thay thế phương pháp theo dõi đánh giá thực
hiện sang theo dõi đánh giá theo kết quả để có thể có cái nhìn chân thực hơn và
nâng cao khả năng tương tác giữa chính phủ với nhân dân.
1.2.2.2. Quy trình thực hiện theo dõi và đánh giá kế hoạch phát triển kinh tế
xã hội
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Nguyễn Thành Mạnh
17
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển PGS.TS LÊ HUY ĐỨC
Lập kế hoạch theo dõi và đánh giá
Xây dựng các chỉ số và hình thành khung theo dõi đánh giá
Khái niệm: Chỉ số là thước đo đo lường tiến độ đạt được chỉ tiêu, mục tiêu.
Chỉ số thường là tên một công cụ đo lường dùng để xác định tình trạng thực hiện
một chỉ tiêu bao gồm một số loại: Chỉ số đầu vào: thể hiện nguồn lực đầu tư nhằm
đạt được các mục tiêu đề ra; Chỉ số đầu ra: thể hiện sản phẩm được tạo ra từ việc
huy động và sử dụng các nguồn lực; Chỉ số kết quả: thể hiện trực tiếp hiệu quả, thực
trạng, tiến trình đạt được các mục tiêu/ chỉ tiêu đề ra, phản ánh sản phẩm trực tiếp
sau khi có các đầu ra; đây là loại chỉ số quan trọng nhất vì chúng thể hiện trực tiếp
hiệu quả tiến trình thực hiện mục tiêu đề ra; Chỉ số ảnh hưởng tác động: phản ánh
tính hiệu quả, đo lường tác động tăng phúc lợi xã hội nói chung do ảnh hưởng của
nhiều nhân tố trong thời gian dài và trên diện rộng
Lựa chọn chỉ số theo dõi đánh giá: Đối với một mục tiêu có thể lựa chọn rất
nhiều chỉ số phục vụ cho theo dõi đánh giá nhưng cần phải lựa chọn chỉ số nào đem
lại hiệu quả cao và phản ánh sát thực nhất. Một số tiêu chí cơ bản khi lựa chọn các
chỉ số là: Chỉ số cần có khái niệm và phương pháp tính toán rõ ràng; Số liệu tính
toán chỉ số phải tương đối có sẵn hoặc có thể thu thập được; Chỉ số không quá phức
tạp khi phân tích; Mang tính đại diện cho kết quả
Hình thành khung theo dõi đánh giá: Các mục tiêu đã xây dựng coi như là
khung theo dõi và đánh giá, các tiêu chí được sử dụng để xác định thông tin gì cần

thiết trong chương trình theo dõi. Hoạt động theo dõi cần mang tính hệ thống, các
tiêu chí có thể đo lường được và có thể liên hệ với mục tiêu, cho phép chỉ ra mức độ
đạt được của các mục tiêu; các tiêu chí này phải dễ hiểu và được các bên liên quan
tán thành, ví dụ:
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Nguyễn Thành Mạnh
18
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển PGS.TS LÊ HUY ĐỨC
Bảng 4: Kết hợp các mục tiêu, chỉ số và thông tin
Mục tiêu Chỉ số Nguồn thông tin
Đẩy mạnh xây
dựng nông thôn
mới
Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch
Tỷ lệ cứng hóa đường giao thông
Số trường học đạt chuẩn quốc gia

Cơ quan chủ quản
Nâng cao mức
sống dân cư
Thu nhập bình quân đầu người Thống kê dân số và
thu nhập
Xác định các thành phần tham gia theo dõi đánh giá: Xây dựng một
chương trình theo dõi đòi hỏi quy định rõ trách nhiệm về thu thập và phân tích
thông tin một cách định kỳ. Tốt nhất là sắp xếp sao cho những người tham gia vào
trong quá trình lập kế hoạch cũng sẽ tham gia vào việc thu thập thông tin và báo cáo
kết quả cho các cấp lãnh đạo.
Xác định thời gian hoạt động: Thời gian thực hiện theo dõi sẽ rất khác nhau
với mỗi mục tiêu kế hoạch vì bản chất các mục tiêu được theo dõi và các chỉ số
được thực hiện là không giống nhau. Thông thường theo dõi có thể thực hiện theo
định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc vào giữa giai đoạn của dự

án.
Tổ chức theo dõi và đánh giá
Thu thập thông tin: Đây là phần hết sức quan trọng, nó ảnh hưởng đến toàn
bộ quá trình sau nó kết quả có phản ánh chân thực cũng như có thể tin cậy được
không. Chính bởi vậy mặc dù việc thu thập tốn nhiều công sức và tiền của nhưng
vẫn phải được đầu tư đầy đủ và thích đáng, đảm bảo cho việc thu thập một cách liên
tục trong cả thời kỳ để các cấp chính quyền có thể nắm bắt và điều chỉnh hợp lý.
Phân tích thông tin: Sau khi thu thập được thông tin, bước tiếp theo chúng ta
phải có khả năng phân tích chúng, tức là đọc ra ý nghĩa từ các con số. Việc này đòi
hỏi đội ngũ nhân lực có năng lực và có tinh thần tập thể để việc đánh giá có thể diễn
ra toàn diện và thu được kết quả khách quan nhất. Sau khi phân tích có thể có 3
trường hợp xảy ra: Giá trị thực tế tốt hơn giá trị mong đợi, đây là tín hiệu tốt cho
thấy việc thực hiện mục tiêu đạt được như kế hoạch dự kiến. Nhà phân tích lúc này
cần biết nguyên nhân của việc này là gì, là do khách quan hay chủ quan, liệu điều
chỉnh mục tiêu cao hơn thì có khả năng thực hiện hay không; Giá trị thực tế phù
hợp với giá trị mong đợi: đây là trường hợp rất hiếm gặp trong thực tế cho thấy kế
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Nguyễn Thành Mạnh
19
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển PGS.TS LÊ HUY ĐỨC
hoạch diễn ra bình thường; Giá trị thực tế thấp hơn giá trị mong đợi: đây là tín hiệu
không tốt, lúc này điều cần thiết là phải tập trung làm rõ nguyên nhân, do khách
quan hay chủ quan, chúng ta có thể thay đổi được gì để làm tình hình tốt lên
Sử dụng các phát hiện trong theo dõi đánh giá
Những phát hiện thu được trong quá trình theo dõi đánh giá cần được thông
báo kịp thời cho những người có trách nhiệm, làm cơ sở để đưa ra quyết định cho
phù hợp với tình hình đặt ra, nhằm đảm bảo đúng tiến độ thực hiện kế hoạch đã đề
ra. Việc báo cáo phải được trình bày ngắn gọn, súc tích nhưng phải đủ nội dung cho
quá trình ra quyết định. Hơn nữa các thức trình bày phải trực quan và có sự so sánh
với các mục tiêu, chỉ tiêu đề ra nhằm tạo ra sự dễ dàng trong theo dõi.
1.3. Sự cần thiết của việc đề xuất đẩy mạnh thực hiện kế hoạch phát triển kế

hoạch phát triển kinh tế xã hội cấp huyện
Kế hoạch hóa phát triển kinh tế xã hội là một công cụ quan trọng để các cấp
chính quyền có thể can thiệp vào nền kinh tế, nhằm phân bổ nguồn lực một cách
hiệu quả hơn, hướng nền kinh tế phát triển theo hướng bền vững. Trên quy mô cấp
huyện việc xây dựng một hệ thống kế hoạch đòi hỏi rất nhiều thời gian và công sức
bởi hệ thống chỉ tiêu, chỉ số rất đồ sộ và trải rộng trên nhiều lĩnh vực gây ra sự khó
khăn trong việc quản lý. Hơn nữa khi bắt tay vào thực hiện kế hoạch luôn luôn có
những tình huống xảy ra nằm ngoài dự đoán của con người có thể làm kế hoạch bị
chệch hướng vì thị trường là luôn luôn biến động, thời cơ và thách thức luôn có sự
thay đổi, đan xen nhau. Chính bởi vậy cần có sự sát sao theo dõi nhằm nắm bắt
được tình hình thực tế để đưa ra những điều chỉnh cho phù hợp, chỉ có như vậy các
cấp chính quyền mới có thể phát huy hết vai trò của mình trong việc định hướng và
dẫn dắt nền kinh tế. Chính bởi vậy sau khi có sự đánh giá về việc thực hiện kế
hoạch trong thời gian trước thì yêu cầu bức thiết đặt ra là huyện phải có các biện
pháp đẩy mạnh để thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội nhằm hướng tới mục
tiêu chung của thành phố cũng như quốc gia, góp phần nâng cao đời sống nhân dân
cả về phương diện vật chất cũng như tinh thần, khẳng định vai trò vững chắc của
đảng và nhà nước trong việc phát triển kinh tế, xã hội của quốc gia.
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Nguyễn Thành Mạnh
20
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển PGS.TS LÊ HUY ĐỨC
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH
5 NĂM TRONG GIAI ĐOẠN ĐẦU 2011-THÁNG 6 2013
CỦA HUYỆN TỪ LIÊM
2.1. Giới thiệu tổng quan về huyện Từ Liêm
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Huyện Từ Liêm được thành lập theo Quyết định số 78/QĐ-CP ngày
31/5/1961 của Chính phủ trên cơ sở Quận 5, Quận 6 và một số xã của huyện Hoài
Đức, huyện Đan Phượng - tỉnh Hà Đông. Huyện được thành lập gồm 26 xã, có diện
tích đất trên 114 km2, dân số 12 vạn người.

Năm 1974, huyện đã bàn giao xã Yên Lãng về khu phố Đống Đa.
Đầu năm 1996, huyện đã bàn giao tiếp 5 xã: Tứ Liên, Nhật Tân, Quảng An, Xuân
La, Phú Thứ với tổng diện tích đất tự nhiên 1.619,9 ha và 32.080 nhân khẩu về
Quận Tây Hồ.Cuối năm 1996, Huyện bàn giao xã Nhân Chính với diện tích đất tự
nhiên 160,9 ha và 9.229 nhân khẩu về quận Thanh Xuân.Từ ngày 30/8/1997, 4 thị
trấn (Cầu Giấy, Mai Dịch, Nghĩa Đô, Nghĩa Tân) và 3 xã (Dịch Vọng, Yên Hoà,
Trung Hoà) với tổng diện tích đất tự nhiên 1.210 ha và 82.914 nhân khẩu đã tách
khỏi huyện để thành lập Quận Cầu Giấy.
Như vậy sau 42 năm thành lập, với tốc độ đô thị hoá nhanh trên địa bàn,
huyện đã góp phần thành lập 3 quận mới của Thủ đô, chuyển gần 1/3 diện tích đất
tự nhiên và 1/2 dân số ở những vùng kinh tế phát triển về nội thành.
Sau nhiều lần chia tách lãnh thổ để lập nên các quận mới, hiện nay, Từ Liêm
còn lại 15 xã và 1 thị trấn với diện tích đất tự nhiên 75,15 km2, dân số trên 550.000
người. Là một huyện nằm ở phía Tây cửa ngõ thủ đô Hà Nội, Từ Liêm tiếp giáp với
các quận, huyện:
• Phía Bắc giáp huyện Đông Anh và quận Tây Hồ
• Phía Nam giáp huyện Thanh Trì và thị xã Hà Đông.
• Phía Đông giáp 3 quận Cầu Giấy, Tây Hồ và Thanh Xuân.
• Phía Tây giáp huyện Hoài Đức và huyện Đan Phượng.
Với vị trí như vậy, bước vào những năm đầu của thế kỷ 21, huyện Từ Liêm đứng
trước những vấn đề mới đặt ra, thuận lợi và khó khăn đan xen nhau. Theo quy
hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2020, quá nửa huyện Từ Liêm
nằm trong vành đai phát triển đô thị, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Nguyễn Thành Mạnh
21

×