Tải bản đầy đủ (.doc) (3 trang)

dạy học Bản đồ tư duy môn vật lý

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (4.9 MB, 3 trang )

Bản đồ tư duy trong môn vật lý
Từ trước tới nay, thông tin được chúng ta ghi chép bằng các ký tự, đường thẳng và những
con số.
Theo các nhà nghiên cứu khoa học, với cách ghi chép truyền thống này, con người chỉ mới sử dụng
một nửa phía bên trái của bộ não. Điều đó có nghĩa là chúng ta chưa hề sử dụng kỹ năng nào bên
phải của não cả. Trong lúc đó phía bên phải này lại giúp con người xử lý tốt các thông tin về nhịp
điệu, màu sắc không gian và sự mơ mộng. Nói cách khác, chúng ta vẫn đang sử dụng 50% khả
năng của bộ não để phục vụ cho việc ghi chép thông tin. Chính vì thế nhà khoa học Tony Buzan đã
đưa ra bản đồ tư duy (Mind map) là để giúp con người thực hiện được mục tiêu tận dụng hết 50%
khả năng còn lại của bộ não.
Giáo viên không chỉ tạo điều kiện cho HS khám phá kiến thức mới mà còn phải giúp các em hệ
thống được những kiến thức đó một cách bài bản và chiến lược (ảnh minh họa). Ảnh: N.Anh
Bản đồ tư duy là gì?
Có thể đưa ra một định nghĩa mang tính khái quát như sau: Bản đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư
duy. Đây là con đường thuận tiện và phương pháp dễ nhất để chuyển tải thông tin vào bộ não của
con người rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não. Nói cụ thể hơn, đây là một phương tiện ghi chép đầy
sáng tạo và rất hiệu quả theo đúng nghĩa của nó - sắp xếp tất cả những ý nghĩ của con người.
Việc phát triển tư duy cho HS và trách nhiệm giảng dạy để truyền thụ tri thức về thế giới xung
quanh luôn là một trong những ưu tiên hàng đầu của những người làm công tác giáo dục. Giáo viên
không chỉ tạo điều kiện cho HS khám phá kiến thức mới khi hướng các em đến một phương cách
học tập tích cực và chủ động mà còn phải giúp các em hệ thống được những kiến thức đó một cách
bài bản và chiến lược. Việc xây dựng được một “hình ảnh rõ nét và đầy màu sắc” thể hiện được
mối liên hệ giữa các kiến thức sẽ mang lại lợi ích rất đáng quan tâm về các mặt ghi nhớ, phát triển
nhận thức, tư duy, óc tưởng tượng và khả năng sáng tạo. Và một trong những công cụ hết sức hữu
hiệu để tạo nên các “hình ảnh liên kết” đậm đặc là bản đồ tư duy.
Bản đồ tư duy có tác dụng gì trong môn vật lý?
Qua thực tế giảng dạy, chúng tôi thấy với cách thể hiện gần như là một cơ chế hoạt động của bộ
não, bản đồ tư duy sẽ giúp giáo viên sáng tạo hơn trong khi tái hiện kiến thức, tiết kiệm hơn trong
quá trình tìm tư liệu và thiết kế bài soạn. Ngoài ra, bản đồ tư duy không chỉ ghi nhớ tốt bài học mà
còn giúp HS nhìn thấy được một bức tranh tổng thể của hệ thống bài giảng. Bản đồ này còn có
chức năng tổ chức và phân loại suy nghĩ của con người theo từng cấp độ khác nhau. Để tóm tắt


toàn bộ tri thức trong chương Quang học (Vật lý lớp 7), giáo viên có thể sử dụng bản đồ tư duy với
từ khóa trung tâm là “Quang học”, xung quanh nó là những từ khóa cấp 1 (nhận biết ánh sáng, nhìn
thấy một vật, ánh sáng tuân theo những định luật nào, ứng dụng định luật đó ra sao?). Sau đó đề
nghị các em HS tiếp tục điền thêm các từ khóa cấp độ nhỏ hơn như cấp 2, cấp 3…
Nguyên lý và ứng dụng
Bản đồ tư duy là một hình thức ghi chép: sử dụng ghi chép, sử dụng màu sắc và hình ảnh để mở
rộng và đào sâu các ý tưởng. Kỹ thuật “đẻ” ra loại bản đồ này được gọi là Mind Mapping và có cơ
sở từ ý tưởng của nhà nghiên cứu khoa học Tony Buzan vào những năm 1960. Ở vị trí trung tâm
bản đồ là một hình ảnh hay một từ khóa thể hiện ý tưởng hay khái niệm chủ đạo. Ý trung tâm này
sẽ được nối với các hình ảnh hay từ khóa cấp I bằng các “nhánh cây” chính và từ các nhánh chính
lại có sự phân nhánh đến các từ khóa cấp 2 để nghiên cứu sâu hơn. Cứ thế, sự phân nhánh tiếp tục
tiếp diễn và các khái niệm hình ảnh luôn được kết nối với nhau. Chính sự liên kết này sẽ tạo nên
một bức tranh tổng thể mô tả về ý trung tâm một cách đầy đủ và rõ ràng.
Vậy những yếu tố nào đã làm cho bản đồ tư duy có tính hiệu quả cao và nền tảng của chúng là gì?
Hệ quả cho thấy từ bản đồ tư duy trước hết là đã thể hiện ra bên ngoài cách thức mà não bộ chúng
ta hoạt động. Đó là liên kết và sự liên kết. Mọi thông tin tồn tại trong não bộ của con người đều cần
có các mối nối, những “sợi dây liên kết” để có thể được tìm thấy và sử dụng. Khi có một thông tin
mới được “nhập kho” để được lưu trữ và tồn tại chúng cần được “buộc chặt” và kết nối với các
thông tin cũ đã tồn tại trước đó. Việc sử dụng các từ khóa, chữ số, màu sắc và hình ảnh đã đem lại
một công dụng lớn vì đã huy động được cả bán cầu đại não trái và phải hoạt động chứ không riêng
lẻ như trước đây. Sự phối hợp đồng bộ này sẽ làm tăng cường các liên kết giữa hai bán cầu não và
cho được kết quả tăng cường trí tuệ và tính sáng tạo của chủ nhân bộ não.
Việc sử dụng các phần mềm sẽ làm cho công việc lập bản đồ tư duy dễ dàng và linh hoạt hơn, đồng
thời đây cũng là một bước tiến trong việc ứng dụng CNTT trong dạy học nhằm nâng cao hiệu quả
dạy và học bộ môn vật lý và các môn học khác trong chương trình THCS.
Lê Văn Sỹ
PHỤ LỤC: Một số hình ảnh thể hiện hoạt động của học sinh trong phần củng cố
thông qua việc vẽ Sơ đồ tư duy.

×