Tải bản đầy đủ (.doc) (100 trang)

ứng dụng các mô hình định lượng đánh giá rủi ro tín dụng tại nhtmcp phương tây

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.08 MB, 100 trang )

Chuyên đề thực tập
PHẦN 1: LỜI MỞ ĐẦU
Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại là một trong những hoạt
động truyền thống và quan trọng, hoạt động này ngoài việc mang lại lợi nhuận
từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động, các chi phí hoạt
động…. thì cũng là một trong những nhân tố góp phần để thu hút khách hàng
sử dụng dịch vụ của ngân hàng. Tuy nhiên, hoạt động này cũng chứa đựng rất
nhiều rủi ro, có thể gây tổn thất lớn cho ngân hàng nếu xảy ra việc khách hàng
không trả nợ cho ngân hàng. Chỉ cần một khách hàng mất khả năng trả nợ thì
bao nhiêu công sức, lợi nhuận của ngân hàng sẽ bị xóa bỏ một cách nhanh
chóng, nếu đây là khoản vay lớn thì nó còn có thể ảnh hưởng xấu đến tình hình
tài chính và danh tiếng của ngân hàng.
Các ngân hàng thương mại Việt Nam đang trong quá trình phát triển mạnh
về cả số lượng và quy mô hoạt động, sức cạnh tranh trên thị trường tài chính
Việt Nam giữa các ngân hàng ngày càng mạnh mẽ tạo ra áp lực rất lớn cho các
ngân hàng thương mại trong quá trình kinh doanh. Có những ngân hàng
thương mại đã tận dụng được cơ hội là người đi trước để khẳng định thương
hiệu, chiếm thị phần lớn và đang từng bước hoàn thiện tổ chức, khả năng kinh
doanh, phương thức quản lý rủi ro…., ví dụ: Ngân hàng Ngoại thương Việt
nam, Ngân hàng TMCP Á Châu (thành lập năm 1993), Ngân hàng TMCP Sài
gòn Thương tín (thành lập năm 1991), Ngân hàng TMCP Đông Á (thành lập
năm 1992)… Trong khi đó, không ít các ngân hàng chỉ mới trong giai đoạn bắt
đầu phát triển với quy mô hoạt động được mở rộng nhanh chóng để giành thị
phần và khẳng định tên tuổi, ví dụ: Ngân hàng TMCP Nam Á, Ngân hàng
TMCP Sài gòn, Ngân hàng TMCP Kỹ Thương, Ngân hàng TMCP Quốc Tế
SV: Phan Thành Công
Lớp: Toán tài chính 50
1
Chuyên đề thực tập
Việt Nam, Ngân hàng TMCP Phương Đông…. Đối với tất cả các ngân hàng
dù là đang trong hoàn thiện tổ chức hay đang trong giai đoạn tìm cách mở rộng


mạnh thị phần thì quản lý rủi ro là một công tác cực kỳ quan trọng và quản lý rủi
ro tín dụng là một thành phần cần được lưu ý nhất vì hoạt động tín dụng hàm
chứa rất nhiều rủi ro, có thể gây ra tổn thất lớn cho Ngân hàng về tài chính và uy
tín. Cũng do quản lý không tốt rủi ro trong hoạt động tín dụng mà một số ngân
hàng dù có bề dày hoạt động đã lâu nhưng vẫn gặp khó khăn trong hoạt động
kinh doanh và phải xử lý rất nhiều những khoản nợ xấu, ví dụ: Ngân hàng
TMCP Phương Nam, Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng TMCP
Gia Định, Ngân hàng TMCP Tân Việt …. Chính vì vậy, việc xây dựng một hệ
thống quản lý tín dụng hiệu quả cho ngân hàng thương mại là một công tác rất
thiết thực nhằm giúp cho các ngân hàng có thể có khả năng phòng chống rủi
ro trong hoạt động tín dụng mà nguyên nhân của nó ngày càng trở nên đa dạng
và khó lường.
Mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam sẽ còn gia
tăng mạnh khi Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới với
những chính sách thoáng hơn để đón các quyết định đầu tư tại Việt Nam của các
tổ chức tài chính nước ngoài vốn có tiềm lực tài chính, thương hiệu mạnh và kinh
nghiệm quản lý và kinh doanh hơn hẳn các ngân hàng trong nước. Chính yếu
tố cạnh tranh sẽ vô tình đẩy các ngân hàng thương mại vào việc hạ bớt chuẩn về
yêu cầu an toàn đối với khách hàng của mình nhằm duy trì thị phần, do vậy làm
tăng mức độ rủi ro cho ngân hàng. Chính vì vậy, hệ thống quản lý rủi ro của các
ngân hàng thương cũng có những điều chỉnh tích cực nhằm ngăn chặn và khai
khác tiềm năng lợi nhuận khai thác từ cơ hội hội nhập quốc tế.
Từ những yêu cầu thực tiễn trên, em đã quyết định lựa chọn đề tài: “Ứng dụng
các mô hình định lượng đánh giá rủi ro tín dụng tại NHTMCP Phương Tây”, qua đó
hy vọng những kiến thức của mình thu được trên giảng đường cũng như tại nơi thực
tập sẽ có ích khi đưa ra thêm một vài mô hình quản lý tín dụng an toàn, hiệu quả và
phù hợp với các ngân hàng ở Việt Nam.
Mục đích nghiên cứu:
Đề tài tìm hiểu về những mô hình định lượng, đánh giá rủi ro tín dụng nhằm
mang lại cho người làm công tác tín dung tại các ngân hàng những lợi ích thiết thực

trong việc hạn chế rủi ro tín dụng, nâng cao hiệu quả hoạt động cũng như uy tín của
SV: Phan Thành Công
Lớp: Toán tài chính 50
2
Chuyên đề thực tập
ngân hàng.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Xây dựng mô hình định lượng đánh giá rủi ro tín dụng.
Phân tích tính ứng dụng của các mô hình đó trong điều kiện hoạt động tín
dụng ngân hàng ở Việt Nam.
Đưa ra một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao và hoàn thiện công tác
đánh giá rủi ro tín dụng ở ngân hàng thương mại.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu chủ yếu về rủi ro tín dụng trong các ngân hàng thương mại.
Ứng dụng các phương pháp, mô hình định lượng đánh giá rủi ro tín dụng trong khối
khách hàng doanh nghiệp của các ngân hàng thương mại.
Nguồn số liệu:
Báo cáo tài chính của 60 doanh nghiệp thuộc 5 ngành nghề khác nhau của nền
kinh tế đang vay vốn tại ngân hàng TMCP Phương Tây.
Chuyên đề được thực hiện với sự trợ giúp của phần mềm kinh tế lượng Eviews
và phần mềm thống kê SPSS.
SV: Phan Thành Công
Lớp: Toán tài chính 50
3
Chuyên đề thực tập
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG
HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Hoạt động tín dụng trong ngân hàng thương mại.
1.1.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng.

1.1.1.1. Khái niệm.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ kinh tế giữa một bên là ngân hàng và một bên
là khách hàng của ngân hàng, trong đó ngân hàng chuyển giao tiền hay tài sản cho
khách hàng sử dụng kèm theo thời gian gian hoàn trả lại cho ngân hàng toàn bộ số
gốc và một phần lãi do hai bên thoả thuận.
1.1.1.2. Nguyên tắc của tín dụng ngân hàng.
- Khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi với thời gian xác định: các khoản tín
dụng chủ yếu có nguồn gốc từ các khoản tiền gửi của khách hàng và các khoản mà
ngân hàng vay mượn. Ngân hàng phải có nghĩa vụ hoàn trả các khoản vay đúng
hạn, do vậy ngân hàng luôn yêu cầu người nhận tín dụng phải thực hiện đúng cam
kết này. Đây là điều kiện thiết yếu để ngân hàng tồn tại và phát triển.
- Khách hàng phải cam kết sử dụng vốn đúng mục đích như thỏa thuận trong
hợp đồng đã kí, không vi phạm pháp luật và quy định của ngân hàng cấp trên.
- Ngân hàng tài trợ dựa trên phương án hoặc dự án có hiệu quả. Thực hiện
nguyên tắc này là điều kiện để ngân hàng thực hiện điều kiện đầu tiên. Phương án
hoạt động có hiệu quả của người vay là minh chứng cho khả năng thu hồi vốn của
ngân hàng. Các khoản tài trợ của ngân hàng phải gắn liền với việc hình thành tài sản
của người vay. Trong trường hợp thấy không an toàn, ngân hàng đòi hỏi khách hàng
phải có tài sản bảo đảm phù hợp khi vay vốn.
1.1.2. Quy trình tín dụng trong ngân hàng thương mại.
1.1.2.1. Quy trình tín dụng là gì.
Quy trình tín dụng là bảng tổng hợp mô tả của ngân hàng từ khi tiếp nhận hồ
sơ vay vốn của một khách hàng cho tới khi quyết định cho vay, giải ngân, thu nợ và
thanh lý hợp đồng tín dụng
SV: Phan Thành Công
Lớp: Toán tài chính 50
4
Chuyên đề thực tập
1.1.2.2. Ý nghĩa của quy trình tín dụng.
Việc xác lập một qui trình tín dụng và không ngừng hoàn thiện nó đặc biệt

quan trọng đối với ngân hàng thương mại.
Về mặt hiệu quả, một qui trình tín dụng hợp lý sẽ giúp ngân hàng nâng cao
chất lượng tín dụng và giảm thiểu rủi ro tín dụng.
Về mặt quản lý, quy trình tín dụng có tác dụng:
- Làm cơ sở cho việc phân định quyền, trách nhiệm cho các bộ phận trong
hoạt động tín dụng.
- Làm cơ sở để thiết lập các hồ sơ, thủ tục vay vốn.
1.1.2.3. Một quy trình tín dụng căn bản.
- Bước 1: Lập hồ sơ vay vốn.
Bước này do cán bộ tín dụng thực hiện ngay sau khi tiếp xúc khách hàng.
Nhìn chung, một bộ hồ sơ vay vốn cần phải thu thập các thông tin như sau:
+ Năng lực pháp lý, năng lực hành vi dân sự của khách hàng.
+ Khả năng sử dụng vốn vay.
+ Khả năng hoàn trả nợ ( vốn vay + lãi)
- Bước 2: Phân tích tín dụng.
Phân tích tín dụng là xác định khả năng hiện tại và tương lai của khách hàng
trong việc sử dụng vốn vay và hoàn trả nợ vay.
Mục tiêu:
+ Tìm kiếm những tình huống có thể xảy ra dẫn đến rủi ro cho ngân hàng, dự
đoán khả năng khắc phục những rủi ro, dự kiến những biện pháp giảm thiểu rủi ro
và hạn chế tổn thất cho ngân hàng.
+ Phân tích tính chân thật của những thông tin đã thu thu thập được từ phía
khách hàng trong bước 1, từ đó nhận xét thái độ, thiện chí của khách hàng làm cơ sở
cho việc ra quyết định cho vay.
- Bước 3: Ra quyết đinh tín dụng.
Trong khâu này, ngân hàng sẽ ra quyết định đồng ý hoặc từ chối cho vay đối
SV: Phan Thành Công
Lớp: Toán tài chính 50
5
Chuyên đề thực tập

với một hồ sơ vay vốn của khách hàng.
Khi ra quyết định, thường mắc 2 sai lầm cơ bản:
+ Đồng ý cho vay đối với khách hàng không tốt.
+ Từ chối cho vay đối với khách hàng tốt.
Cả 2 sai lầm đều ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh tín dụng, thậm chí sai
lầm thứ 2 còn ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng
- Bước 4: Giải ngân.
Ở bước này, ngân hàng sẽ tiến hàng phát tiền cho khách hàng theo hạn mức tín
dụng đã kí kết trong hợp đồng tín dụng.
Nguyên tắc giải ngân: Phải gắn liền sự vận động tiền tệ với sự vận động hàng
hóa hoặc dịch vụ có liên quan, nhằm kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay của khách
hàng và đảm bảo khả năng thu hồi nợ. Nhưng đồng thời cũng phải tạo sự thuận lợi,
tránh gây phiền hà cho hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng.
- Bước 5: Giám sát tín dụng.
Nhân viên tín dụng thường xuyên kiểm tra việc sử dụng vốn vay thực tế của
khách hàng, hiện trạng tài sản đảm bảo, tình hình tài chính của khách hàng… để
đảm bảo khả năng thu hồi nợ.
- Bước 6: Thanh lý hợp đồng tín dụng.
1.2. Rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng thương mại.
1.2.1. Khái niệm rủi ro tín dụng.
Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tín dụng là hoạt động kinh doanh
mang lại lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng, nhưng cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro
rất lớn. Các thống kê và nghiên cứu cho thấy, rủi ro tín dụng chiếm 70% trong tổng
rủi ro hoạt động ngân hàng. Mặc dù hiện nay đã có sự chuyển dịch trong cơ cấu lợi
nhuận của ngân hàng, theo đó thu nhập từ hoạt động tín dụng có giảm xuống và thu
dịch vụ có xu hướng tăng lên nhưng thu nhập từ tín dụng vẫn chiếm 1/2 đến 2/3 thu
nhập của ngân hàng. Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh rủi ro, theo đuổi lợi
nhuận với rủi ro chấp nhận được là bản chất của ngân hàng. P.Volker, cựu chủ tịch
Cục dự trữ liên bang Mỹ ( FED) cho rằng: “ Nếu ngân hàng không có những khoản
vay tồi thì đó không phải là hoạt động kinh doanh”. Rủi ro tín dụng là một nguyên

SV: Phan Thành Công
Lớp: Toán tài chính 50
6
Chuyên đề thực tập
nhân chủ yếu gây tổn thất và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng kinh doanh
ngân hàng.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro tín dụng.
- Trong tài liệu “ Finance Institutions Management – A Modern Perpective”,
A. Saunder và H. Lange định nghĩa rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân
hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự
tính mang lại từ khoản cho vay không thể được thực hiện đầy đủ về cả số lượng và
thời hạn.
- Theo Timothy W. Koch: Một khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lời, rủi ro
xảy ra khi khách hàng sai hẹn – có nghĩa là khách hàng không thanh toán vốn gốc
và lãi theo thỏa thuận. Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và
thị giá của khoản vay mà khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn.
( Bank Management, University of South Carolina, The Dryden Press, 1995, page
107 ).
- Còn theo ý kiến khác lại cho rằng: rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ
mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã
ấn định trong hợp đồng tín dụng. Đây là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng.
Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không thể chi trả
được toàn bộ. Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và ảnh hưởng
tới khả năng thanh khoản của ngân hàng ( The World Bank ).
- Theo quyết định số 493/ 2005/ QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Ngân Hàng
Nhà Nước Việt Nam thì “ Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín
dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín
dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện các nghĩa
vụ của mình theo cam kêt”
1.2.2. Phân loại rủi ro tín dụng.

Có nhiều cách để phân loại rủi ro tín dụng khác nhau tùy theo mục đích, yêu
cầu nghiên cứu. Tùy theo tiêu chí phân loại mà người ta chia rủi ro tín dụng thành
các loại khác nhau.
SV: Phan Thành Công
Lớp: Toán tài chính 50
7
Chuyên đề thực tập
Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân
chia thành các loại sau đây:
Rủi ro giao dịch là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát
sinh là do hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách
hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm: rủi ro lựa chọn (rủi ro có liên quan đến quá trình
đánh giá và phân tích tín dụng, phương án vay vốn để quyết định tài trợ của ngân
hàng); rủi ro đảm bảo (rủi ro có liên quan đến các tiêu chuẩn đảm bảo như mức cho
vay, loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo); rủi ro nghiệp vụ ( rủi ro liên quan đến
công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ
thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề).
Rủi ro danh mục là rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn
chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành rủi ro nội
tại (xuất phát từ đặc điểm hoạt động và sử dụng vốn của khách hàng vay vốn, lĩnh
vực kinh tế) và rủi ro tập trung (rủi ro do ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều
vào một số khách hàng, một ngành kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất
định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao).
Nếu phân loại theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra rủi
ro thì rủi ro tín dụng được phân thành rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan.
Rủi ro khách quan là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, dịch
họa, người vay bị chết, mất tích và các biến động ngoài dự kiến khác làm thất thoát
vốn vay trong khi người vay đã thực hiện nghiêm túc chế độ chính sách. Rủi ro chủ
quan do nguyên nhân thuộc về chủ quan của người vay và người cho vay vì vô tình
hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì những lý do chủ quan khác.

SV: Phan Thành Công
Lớp: Toán tài chính 50
8
Rủi ro giao
dịch
Rủi ro danh
mục
Rủi ro lựa
chọn
Rủi ro tập
trung
Rủi ro nội
tại
Rủi ro
nghiệp vụ
Rủi ro bảo
đảm
Rủi ro tín
dụng
Chuyên đề thực tập
Ngoài ra còn nhiều hình thức phân loại khác như phân loại căn cứ thêo cơ cấu
các loại hình rủi ro, phân loại theo nguồn gốc hình thành, theo đối tượng sử dụng
vốn vay.
1.2.3. Đặc điểm rủi ro tín dụng.
Để chủ động phòng ngừa rủi ro tín dụng có hiệu quả, nhận biết các đặc điểm
của rủi ro tín dụng là vô cùng cần thiết. Rủi ro tín dụng có những đặc điểm cơ bản
sau:
Rủi ro mang tính gián tiếp: Trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao
quyền sử dụng vốn cho khách hàng. Rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng gặp
những tổn thất và thất bại trong quá trình sử dụng vốn. Nói cách khác những rủi ro

trong hoạt động kinh doanh của khách hàng là nguyên nhân chủ yếu gây nên rủi ro
tín dụng của ngân hàng.
Rủi ro có tính chất đa dạng và phức tạp: Đặc điểm này biểu hiện ở sự đa dạng,
phức tạp của nguyên nhân, hình thức hậu quả của rủi ro tín dụng do đặc trung của
hình thức tài chính kinh doanh tiền tệ. Đo đó phòng ngừa và xử lý rủi ro tín dụng
phải chú ý đến mọi dấu hiệu rủi ro, xuất phát từ nguyên nhân, bản chất và hậu quả
do rủi ro tín dụng đem lại để có những biện pháp phòng ngừa phù hợp.
Rủi ro tín dụng có tính tất yếu, tức là luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín
dụng của ngân hàng thương mại: tình trạng thông tin bất cân xứng đã làm cho ngân
hàng không thể nắm bắt được các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ, điều
này làm cho bất cứ khoản vay nào cũng tiềm ẩn rủi ro đối với ngân hàng. Kinh
doanh ngân hàng thực chất là kinh doanh rủi ro ở mức phù hợp và đạt lợi nhuận
tương ứng.
1.2.4. Nguyên nhân của rủi ro tín dụng.
Rủi ro tín dụng có thể bắt nguồn từ các lý do khác nhau nhưng tựu chung lại
có 3 nguyên nhân chính là nguyên nhân bất khả kháng, nguyên nhân từ phía khách
hàng và nguyên nhân từ phía ngân hàng.
1.2.4.1. Nguyên nhân từ phía ngân hàng.
- Chất lượng cán bộ kém, không đủ trình độ đánh giá doanh nghiệp vay vốn là
một trong những rủi ro từ phía ngân hàng. Nhân viên tín dụng hàng ngày phải tiếp
xúc với rất nhiều doanh nghiệp thuộc các ngành nghề khác nhau, vậy nên họ phải
SV: Phan Thành Công
Lớp: Toán tài chính 50
9
Chuyên đề thực tập
rất am hiểu về doanh nghiệp, về ngành nghề kinh doanh và về môi trường kinh
doanh của họ. Do vạy cần phải được đào tạo kĩ lưỡng và bài bản để làm tốt chức
năng của mình.
- Thiếu trách nhiệm trong việc giám sát doanh nghiệp sau khi cấp vốn vay:
Ngân hàng thường tiến hành thẩm định rất kĩ trước khi cho doanh nghiệp vay vốn

nhưng thường lơ là với việc giám sát doanh nghiệp sau khi cho vay vốn. Điều này
do một phần yếu tố tâm lý ngại gây phiền hà cho doanh nghiệp của cán bộ ngân
hàng, một phần do hệ thống thông tin quản lý phục vụ kinh doanh của các doanh
nghiệp lạc hậu, không cung cấp được kịp thời, đầy đủ các thông tin mà NHTM yêu
cầu.
- Sự kết hợp thiếu đồng bộ giữa các ngân hàng: Các ngân hàng cần phải hợp
tác chặt chẽ với nhau nhằm hạn chế rủi ro. Sự hợp tác nảy sinh do yêu cầu quản lý
rủi ro đối với cùng một khách hàng khi khách hàng này vay tiền tại nhiều ngân
hàng. Trong quản trị tài chính, khả năng trả nợ của một khách hàng là một con số cụ
thể, có giới hạn tối đa của nó. Nếu do sự thiếu trao đổi thông tin dẫn đến việc nhiều
ngân hàng cùng cho vay một khách hàng đến mức vượt quá giới hạn tối đa thì rủi ro
chia đều cho tất cả chứ không chừa một ngân hàng nào.
1.2.4.2. Rủi ro từ phía khách hàng.
- Trong những giao dich trên thị trường tài chính, bên cho vay thường không
biết những thông tin mà người ta cần biết về bên còn lại để quyết định cho vay. Sự
không cân bằng về thông tin mà mỗi bên có được gọi là thông tin không cân xứng.
Thông tin không cân xứng thường tạo ra những hệ lụy trong thị trường tài chính, đó
là lựa chọn đối nghịch trước khi giao dịch diễn ra và rủi ro đạo đức sau khi giao
dịch diễn ra.
+ Lựa chọn đối nghịch.
Do thông tin không cân xứng nên ngân hàng có thể cho vay vốn đối với một
doanh nghiệp không có khả năng hoàn trả, và ngược lại, không cho vay vốn đối với
doanh nghiệp có khả năng hoàn trả.
+ Rủi ro đạo đức.
Rủi ro đạo đức là một vấn đề do thông tin bất cân xứng tạo ra sau cuộc giao
dịch. Bên cho vay tức là ngân hàng phải chịu một mức rủi ro khi bên vay vốn tức
SV: Phan Thành Công
Lớp: Toán tài chính 50
10
Chuyên đề thực tập

doanh nghiệp có ý muốn thực hiện những hoạt động không tốt xét theo quan điểm
của ngân hàng. Rủi ro đạo đức làm giảm bớt xác suất hoàn trả được vốn do đó gây
không ít khó khăn cho ngân hàng. Thực tế cho thấy, rất nhiều doanh nghiệp để được
vay vốn ngân hàng đã cung cấp số liệu không trung thực, lập hồ sơ vay vốn giả, tạo
ra các dự án rất khả thi và mang lại hiệu quả sử dụng vốn cao. Và khi được ngân
hàng cho vay vốn thì học lại sử dụng sai mục đích, theo đuổi những dự án kì vọng
quá lớn. Điều này khiến ngân hàng gặp khó khăn trong việc nắm bắt tình hình hoạt
động sản xuất và quản lý vốn vay.
-Khả năng quản lý kinh doanh kém.
Đa số các doanh nghiệp vay vốn mở rộng công ty đều tập trung đầu tư vào các
tài sản cố định mà không mở rộng hệ thống quản lý, tài chính, kế toán. Vậy là quy
mô kinh doanh bành chướng so với cung cách quản lý của công ty, quản lý yếu kém
dẫn đến mở rộng quy mô nhưng không hiệu quả, gây tổn hại cho doanh nghiệp và
ngân hàng cho vay.
1.2.4.3. Nguyên nhân bất khả kháng.
Những nguyên nhân bất khả kháng tác động đến người vay, làm họ mất khả
năng thanh toán và có thể là gây rủi ro tín dụng cho ngân hàng.
- Môi trường tự nhiên thay đổi:
Nền kinh tế Việt Nam vẫn còn lệ thuộc quá nhiều vào sản xuất công nông
nghiệp và công nghiệp chế biến, dầu thô, may gia công…. Những ngành nghề này
vốn rất nhạy cảm với sự thay đổi của thời tiết. Thiên tai và lũ lụt xảy ra với miền
Trung những đợt vừa qua cũng là một minh chứng cụ thể. Thiên tai gây ra mất mùa,
có thể làm cho những người dân vay nợ ngân hàng không thể hoàn trả đúng hạn
khoản nợ được.
- Sự thay đổi chính sách của chính phủ:
Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường, vậy nên phải tuân thủ theo quy
luật của nền kinh tế. Và mỗi khi có sự biến động của nền kinh tế thì những chính
sách của chính phủ cũng cần phải thay đổi cho phù hợp với kiều kiện thực tế. Tuy
nhiên, sự thay đổi trong chính sách cũng gây không ít khó khăn cho các doanh
nghiệp trong nước. Ví dụ như biện pháp thắt chặt tiền tệ năm 2008 khiến cho các

doanh nghiệp xuất khẩu lao đao vì không có đủ tiền để mua nông thủy sản xuất
SV: Phan Thành Công
Lớp: Toán tài chính 50
11
Chuyên đề thực tập
khẩu. Và trong trường hợp xấu nhất có thể xảy ra, ngân hàng và doanh nghiệp sẽ
phải cùng san sẻ rủi ro.
- Sự thay đổi không lường trước của môi trường kinh tế xã hội:
Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế mở, có sự trao đổi mua bán, giao lưu và
học hỏi với các nước trên thế giới. Chính vì vậy mà sự biến động của thị trường thế
giới đôi khi cũng làm thay đổi môi trường xã hội của Việt Nam. Và sự thay đổi này
cũng rất có thể gây ra khó khăn cho các doanh nghiệp xuất, nhập khẩu Việt Nam.
1.2.5. Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng.
Trên quan điểm toàn bộ ngân hàng thì rủi ro tín dụng là điều không thể tránh
khỏi tức là khách quan. Tuy nhiên để hạn chế rủi ro đến mức thấp nhất có thể, ngân
hàng phải quản lý rủi ro. Từ những nguyên nhân nảy sinh rủi ro tín dụng, ngân hàng
đã cụ thể hóa thành những dấu hiệu hoặc những chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng
như sau:
(1)Nợ quá hạn.
(2)Nợ khó đòi.
(3)Nợ có vấn đề.
(4)Các chỉ tiêu đánh giá khác.
1.2.5.1. Nợ quá hạn.
Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không hoàn trả được cho ngân hàng
khi đến hạn thỏa thuận ghi trên hợp đồng tín dụng. Khi một món nợ không được
hoàn trả vào kì hạn nợ thì toàn bộ gốc còn lại của hợp đồng sẽ được chuyển vào
thành nợ quá hạn.
1.2.5.2. Nợ khó đòi.
Nợ khó đòi là khoản nợ quá hạn và kèm theo một số tiêu chí khác như quá một
kì gia hạn nợ, không có tài sản đảm bảo hoặc tài sản không bán được, con nợ thua

lỗ thường xuyên, phá sản…
1.2.5.3. Nợ có vấn đề.
Ban hành theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của thống
đốc Ngân Hàng Nhà Nước về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý
SV: Phan Thành Công
Lớp: Toán tài chính 50
12
Chuyên đề thực tập
rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng. Theo đó nợ có vấn
đề là những khoản nợ mà khách hàng không có khả năng hoàn trả cả gốc lẫn lãi khi
đến hạn. Và nợ có vấn đề được phân thành 5 loại như sau:
Nhóm 1 ( Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ trong hạn mà tổ chức tín dụng đánh giá là có đủ khả năng thu
hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn.
- Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và được ngân hàng đánh giá là có khả
năng hoàn trả cả gốc và lãi quá hạn và gốc, lãi còn lại được thu hồi đúng hạn.
- Các khoản nợ của khách hàng trả đầy đủ nợ gốc, lãi theo thời hạn đã được cơ
cấu lại trong thời gian tối thiểu 6 tháng đối với các khoản nợ trung và dài hạn, 3
tháng đới với các khoản nợ ngắn hạn ( kể từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc, lãi theo
thời hạn được cơ cấu lại) và các kỳ hạn tiếp theo thu được đánh giá là có khả năng
trả đầy đủ nợ gốc, lãi đúng hạn theo thời hạn được cơ cấu lại. Ngân hàng phải có tài
liệu, hồ sơ chứng minh các nguyên nhân làm khoản nợ bị quá hạn đã được xử lý,
khắc phục và có đủ cơ sở về thông tin, tài liệu liên quan đánh giá là khách hàng có
khả năng trả đầy đủ nợ gốc, lãi đúng thời hạn còn lại. Việc đánh giá này phải được
thực hiện bằng văn bản và lưu hồ sơ.
- Trường hợp một khách hàng có nợ cơ cấu lại hoặc nợ quá hạn từ 10 ngày trở
lên bao gồm cả nợ ngắn hạn và nợ trung, dài hạn thì chỉ xem xét đưa vào nợ nhóm 1
khi khách hàng đã trả đầy đủ ( nợ ngắn hạn và nợ trung, dài hạn) cả gốc, lãi của số
nợ đã được cơ cấu lại hoặc nợ quá hạn trong thời gian quy định trên, đồng thời các
kỳ hạn tiếp theo được đánh giá là có khả năng trả đầy đủ nợ gốc, lãi đúng hạn.

Nợ nhóm 2 ( Nợ cần chú ý) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày.
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ cấu lại.
Nợ nhóm 3 ( Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn
đã cơ cấu lại;
SV: Phan Thành Công
Lớp: Toán tài chính 50
13
Chuyên đề thực tập
- Trường hợp một khách hàng có nhiều hơn một (01) khoản nợ với tổ chức tín
dụng mà có bất kỳ khoản nợ bị chuyển sang nhóm nợ rủi ro cao hơn thì tổ chức tín
dụng bắt buộc phải phân loại các khoản nợ còn lại của khách hàng đó vào nhóm nợ
rủi ro cao hơn tương ưng với mức độ rủi ro.
- Trường hợp các khoản nợ ( kể cả các khoản nợ trong hạn và các khoản nợ cơ
cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ cấu lại) mà tổ chức tín dụng
có đủ cơ sở để đánh giá là khả năng trả nợ của khách hàng bị suy giảm thì tổ chức
tín dụng chủ động tự quyết định phân loại các khoản nợ đó vào các nhóm nợ có rủi
ro cao hơn tương ứng với mức độ rủi ro.
Nợ nhóm 4 ( nợ nghi ngờ) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày theo thời
hạn đã cơ cấu lại;
Nợ nhóm 5 ( nợ có khả năng mất vốn ) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;
- Các khoản nợ khoanh chờ chính phủ xử lý;
- Các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ, quá hạn trên 180 ngày theo thời
hạn đã cơ cấu lại.
1.2.5.4. Các chỉ tiêu đánh giá khác.

Bên cạnh cá chỉ tiêu trên, nhà quản lý, ngân hàng cần sử dụng các chỉ tiêu
khác gắn liền với chiến lược đa dạng hóa tài sản, lập hồ sơ khách hàng, trích lập
quỹ dự phỏng rủi ro, đặt giá đối với các khoản cho vay…
- Điểm dành cho khách hàng:
Thông qua việc phân tích tình hình tài chính, năng lực sản xuất kinh doanh,
hiệu quả dự án, uy tín…ngân hàng lập hồ sơ về khách hàng, xếp loại và cho điểm.
Khách hàng loại A điểm cao, rủi ro tín dụng thấp, khách hàng C điểm thấp, rủi ro
tín dụng cao.
- Các khoản cho vay có vấn đề:
Mặc dù chưa đến hạn và nợ chưa chuyển thành nợ quá hạn song trong quá
trình giám sát, nhân viên tín dụng thấy doanh nghiệp có dấu hiệu nhiều khoản tài trợ
SV: Phan Thành Công
Lớp: Toán tài chính 50
14
Chuyên đề thực tập
kém lành mạnh, có nguy cơ trở thành nợ quá hạn, nên ngân hàng phải đánh giá và liệt
kê vào khoản mục cho vay có vấn đề dưa trên những quy định củ thể của ngân hàng.
- Tính kém đa dạng của tín dung:
Đa dạng hóa là một biện pháp san sẻ rủi ro. Nếu ngân hàng tập trung cho
nhiều doanh nghiệp cùng ngành vay thì nguy cơ rủi ro sẽ cao hơn so với cho các
doanh nghiệp khác ngành vay.
- Mất ổn định kinh tế vĩ mô:
Các điều kiện thiên tai, chính sach của chính phủ thay đổi, sự thay đổi của môi
trường kinh doanh đều có thể gây mất ổn định vĩ mô, gây ra nhiều khó khăn cho các
doanh nghiệp đi vay. Chính vì vậy nên mất ổn định vĩ mô cũng được ngân hàng
xem xét như một điều kiện gây rủi ro tín dụng.
1.2.6. Hậu quả của rủi ro tín dụng.
1.2.6.1. Rủi ro làm giảm uy tín của ngân hàng.
Một khi ngân hàng có mức độ rủi ro của các tài sản có là cao thì ngân hàng đó
thường đứng trước nguy cơ mất uy tín của mình trên thị trường. Không một ai

muốn gửi tiền vào một ngân hàng mà ngân hàng đó có tỷ lệ nợ quá hạn vượt quá
mức cho phép, có chất lượng tín dụng không tốt và gây ra nhiều vụ thất thoát lớn.
Thông tin về việc một ngân hàng có mức độ rủi ro cao thường được báo chí nêu lên
và lan truyền trong dân chúng, điều này sẽ khiến cho việc huy động vốn của ngân
hàng gặp rất nhiều khó khắn.
1.2.6.2. Rủi ro làm ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của ngân hàng.
Hoạt động chủ yếu của ngân hàng là nhận tiền gửi và cho vay, nếu các khoản
tín dụng gặp rủi ro thì việc thu hồi nợ vay sẽ gặp nhiều khó khăn, trong khi đó các
khoản tiền gửi vẫn phải thanh toán đúng hạn. Trong lúc không huy động được vốn
do mất uy tín, người rút tiền ngày càng tăng lên và kết quả là ngân hàng gặp khó
khăn trong khâu thanh toán.
1.2.6.3. Rủi ro làm giảm lợi nhuận của ngân hàng.
Rủi ro tín dụng làm cho doanh thu thấp ( do không thu được lãi vay), dẫn đến
lợi nhuận thấp, thậm chí là thua lỗ. Hơn nữa, kể cả trường hợp không lỗ thì rủi ro
tín dụng cao dẫn đến việc phải tăng trích lập dự phòng rủi ro, khiến cho lợi nhuận
SV: Phan Thành Công
Lớp: Toán tài chính 50
15
Chuyên đề thực tập
còn lại càng thấp, thậm chí là trích dự phòng hết cả phần lợi nhuận trước thuế, khiến
cho phần lợi nhuận sau thuế giảm hay thậm chí là thua lỗ.
1.2.6.4. Rủi ro có thể làm phá sản ngân hàng.
Nếu rủi ro xảy ra ở mức độ ngân hàng không có khả năng ứng phó thì sẽ gây
ra phản ứng dây chuyền trong dân chúng, người gửi tiền sẽ đổ xô đến ngân hàng rút
tiền gửi và ngân hàng không còn khả năng thanh toán sẽ dẫn đến phá sản.
1.3. Quản lý rủi ro tín dụng trong ngân hàng.
1.3.1. Sự cần thiết phải quản lý rủi ro tín dụng.
Để hạn chế những rủi ro phải làm tốt từ khâu phòng ngừa cho đến khâu giải
quyết hậu quả do rủi ro gây ra như:
- Dự báo, phát hiện rủi ro tiềm ẩn: phát hiện những biến cố không có lợi, ngăn

chặn các tình huống không có lợi đã và đang xảy ra và có thể lan ra phạm vi rộng.
Giải quyết hậu quả rủi ro để hạn chế các thiệt hại đối với tài sản và thu nhập của
ngân hàng. Do đó, cần có quản trị để đảm bảo tính thống nhất.
- Phòng chống rủi ro được thực hiện bởi các nhân viên, cán bộ lãnh đạo ngân
hàng. Trong ngân hàng, nhân viên có suy nghĩ và hành động khác, có thể trái ngược
hoặc cản trở nhau. Vì vậy, cần phải có quản trị để mọi người hành động một cách
thống nhất.
Quản trị đề ra mục tiêu cụ thể giúp ngân hàng đi đúng hướng. Phải có kế
hoạch hành động cụ thể và hiệu quả phù hợp với mục tiêu đặt ra.
1.3.2. Các mô hình quản lý rủi ro tín dụng điển hình trên thế giới.
1.3.2.1. Mô hình định tính về rủi ro tín dụng – mô hình 6C
Qui tắc 6C trong tín dụng bao gồm:
- Character: tính chất, đặc điểm, phân loại.
+ Quan hệ vay trả đã qua.
+ Kinh nghiệm của các Ngân hàng khác đối với khách hàng này.
+ Mục đích khoản vay.
+ Khả năng phân tích, dự báo về hoạt động kinh doanh của chủ doanh nghiệp.
SV: Phan Thành Công
Lớp: Toán tài chính 50
16
Chuyên đề thực tập
+ Phân loại tín dụng, mức độ tín chấp của khoản vay.
+ Có người bảo lãnh cho khoản vay hay không.
- Capacity: năng lực.
+ Năng lực hành vi dân sự của chủ doanh nghiệp và của người bảo lãnh.
+ Những hồ sơ pháp lý chứng minh năng lực pháp lý của doanh nghiệp vay
vốn.
+ Mô tả quá trình hoạt động của doanh nghiệp đến thời điểm hiện tại, cơ cấu
sở hữu, chủ sở hữu, tính chất hoạt động, sản phẩm, khách hàng chính, người cung
cấp chính của doanh nghiệp.

- Cashflow: tài chính.
+ Thu nhập đã qua, tình hình phân chia cổ tức, doanh thu bán hàng.
+ Cashflow hiện tại và dự kiến.
+ Tính thanh khoản của tài sản lưu động.
+Vòng quay nợ phải thu, phải trả và tồn kho.
+ Cơ cấu nguồn vốn, tình trạng vay nợ.
+ Kiểm soát chi phí.
+ Các tỷ lệ về khả năng trả lãi.
+ Khả năng và chất lượng quản lý.
+ Những thay đổi gần đây trong phương pháp hạch toán kế toán.
- Collateral: tài sản đảm bảo.
+ Có các tài sản gì?.
+ Khả năng bị lỗi thời, mất giá của tài sản
+ Giá trị tài sản.
+ Mức độ chuyên biệt của tài sản.
+ Tình trạng đã bị cầm cố, thế chấp của tài sản, các hạn chế khác.
+ Tình trạng bảo hiểm.
SV: Phan Thành Công
Lớp: Toán tài chính 50
17
Chuyên đề thực tập
+ Đã được dùng để bảo lãnh cho người khác.
+ Vị thế của Ngân hàng đối với việc đòi cầm cố/thế chấp đối với tài sản.
+ Nhu cầu vay vốn trong tương lai.
- Conditions: điều kiện.
+ Địa vị cạnh tranh hiện tại của khách hàng trong ngành công nghiệp và thị
phần dự kiến.
+ Kết quả hoạt động của khách hàng so với các đối thủ cạnh tranh khác trong
ngành.
+ Tình hình cạnh tranh của sản phẩm.

+ Mức độ nhạy cảm của khách hàng đổi với chu kỳ kinh doanh và những thay
đổi về công nghệ.
+ Điều kiện/tình trạng thị trường lao động trong ngành hay trong khu vực thị
trường mà khách hàng đang hoạt động.
+ Ảnh hưởng của lạm phát đối với bảng cân đối kế toán và với CF của khách
hàng.
+ Tương lai của ngành.
+ Các yếu tố chính trị, pháp lý, xã hội, công nghệ, môi trường ảnh hưởng đến
hoạt động kinh doanh, ngành nghề của khách hàng.
- Control: kiểm soát.
+ Các luật, qui định, qui chế hiện hành liên quan đến khoản tín dụng đang
được xem xét.
+ Đủ hồ sơ giấy tờ phục vụ cho công việc kiểm soát.
+ Hồ sơ giấy tờ cho vay, giải ngân phải có đầy đủ và phải được ký bởi các
bên.
+ Mức độ phù hợp của khoản vay đối với qui chế, qui định của Ngân hàng.
+ Ý kiến của các chuyên giá kinh tế, kỹ thuật về môi trường của ngành, về sản
phẩm, về các yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến khoản vay.
Ưu điểm: tương đối đơn giản và dễ sử dụng.
SV: Phan Thành Công
Lớp: Toán tài chính 50
18
Chuyên đề thực tập
Nhược điểm: Mang nhiều tính chủ quan. Phụ thuộc vào mức độ chính xác của
nguồn thông tin thu nhập, khả năng dự báo cũng như trình độ phân tích, đánh giả
của cán bộ tín dụng.
1.3.2.2. Mô hình toán học xếp hạng tín dụng doanh nghiệp.
a. Mô hình điểm số- Mô hình E.i.Altman.
i. Chỉ số Z của Edward I. Altman.
Việc tìm ra một công cụ để phát hiện dấu hiệu báo trước sự phá sản luôn là

một trong những mối quan tâm hang đầu của các nhà nghiên cứu về tài chánh doanh
nghiệp. Có nhiều công cụ đã được phát triển để làm việc này. Trong đó, chỉ số Z là
công cụ được cả hai giới học thuật và thực hành, công nhận và sử dụng rộng rãi
nhất trên thế giới. Chỉ số này được phát minh bởi Giáo Sư Edward I. Altman,
trường kinh doanh Leonard N. Stern, thuộc trường Đại Học New York, dựa vào
việc nghiên cứu khá công phu trên số luợng nhiều công ty khác nhau tại Mỹ. Mặc
dù chỉ số Z này được phát minh tại Mỹ, nhưng hầu hết các nuớc, vẫn có thể sử dụng
với độ tin cậy khá cao.
Chỉ số Z bao gồm 5 chỉ số X1, X2, X3, X4, X5:
• X
1
=
Vốn luân chuyển
Tổng tài sản
Vốn luân chuyển = tài sản ngắn hạn - nợ ngắn hạn
• X
2
=
Lợi nhuận giữ lại
Tổng tài sản
• X
3
=
EBIT
Tổng tài sản
SV: Phan Thành Công
Lớp: Toán tài chính 50
19
Chuyên đề thực tập
• X

4
=
Giá thị trường của vốn cổ phần
Giá sổ sách của nợ
Nợ = nợ ngắn hạn + nợ dài hạn
• X
5
=
Doanh thu
Tổng tài sản
Từ một chỉ số Z ban đầu, Giáo Sư Edward I. Altman đã phát triển ra Z’ và Z’’
để có thể áp dụng theo từng loại hình và ngành của doanh nghiệp, như sau:
Đối với doanh nghiệp đã cổ phần hoá, ngành sản suất:
Z = 1.2x1 + 1.4x2 + 3.3x3 + 0.64x4 + 0.999x5
• Nếu Z > 2.99 Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ
phá sản
• Nếu 1.8 < Z < 2.99 Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có
nguy cơ phá sản
• Nếu Z <1.8: Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá
sản cao.
Đối với doanh nghiệp chưa cổ phần hoá, ngành sản suất:
Z’ = 0.717X1 + 0.847X2 + 3.107X3 + 0.42X4 + 0.998X5
• Nếu Z’ > 2.9: Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy
cơ phá sản
• Nếu 1.23 < Z’ < 2.9: Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có
nguy cơ phá sản
• Nếu Z’ <1.23: Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ
phá sản cao.
SV: Phan Thành Công
Lớp: Toán tài chính 50

20
Chuyên đề thực tập
Đối với các doanh nghiệp khác:
Chỉ số Z’’ dưới đây có thể được dùng cho hầu hết các ngành, các loại hình
doanh nghiệp. Vì sự khác nhau khá lớn của X5 giữa các ngành, nên X5 đã được đưa
ra. Công thức tính chỉ số Z’’ được điều chỉnh như sau
Z’’ = 6.56x1 + 3.26x2 + 6.72x3 + 1.05x4
• Nếu Z’’ > 2.6 Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có
nguy cơ phá sản
• Nếu 1.2 < Z’’ < 2.6 Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có
nguy cơ phá sản
• Nếu Z <1.1 Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ
phá sản cao.
Ngoài tác dụng cảnh báo dấu hiệu phá sản, Altman đã nghiên cứu trên 700
công ty để cho ra chỉ số Z" điều chỉnh:
Z"điều chỉnh = 3.25 + Z" = 3.25 + 6.56X1 + 3.26X2 + 6.72X3 + 1.05X4
Z" điều chỉnh có tương đồng khá cao với các hạng mức tín nhiệm trái phiếu
của S&P. Hàm ý rằng các mô hình toán học có thể sánh ngang với phương pháp
chuyên gia.
SV: Phan Thành Công
Lớp: Toán tài chính 50
21
Chuyên đề thực tập
Nguồn: Lâm Minh Chánh (2007), "Dùng chỉ số Z để ước tính Hệ số Tín
Nhiệm"
ii. Chỉ số Zêta.
Zeta là một chỉ số được Altman cải tiến từ chỉ số Z, Zeta làm việc tốt với dữ
liệu tài chính của các công ty sản xuất và cả bán lẻ với độ chính xác hơn 90% trước
khi phá sản 1 năm và chính xác trên 70% từ năm thứ 5 trở đi trước khi phá sản.
Vì tính độc quyền của mô hình nên Altman không công bố một cách đầy đủ

các trọng số của mô hình mà chỉ cung cấp 7 biến số mô hình sử dụng:
X
1
=
X2 = Mức ổn định thu nhập
X
3
=
X
4
=
SV: Phan Thành Công
Lớp: Toán tài chính 50
22
Chuyên đề thực tập
X
5
=
X
6
=
X7 = Quy mô (Tổng tài sản).
b. Mô hình tính xác suất nợ khó đòi- mô hình LOGISTIC.
Mô hình Logistic là mô hình hồi quy có biến phụ thuộc là biến giả do khi
nghiên cứu kinh tế lượng người ta nhận thấy rằng trong đời sống hiện nay có rất
nhiều hiện tượng, quá trình mà khi thiết lập mô hình kinh tế lượng, biến phụ thuộc
khó có thể lượng hóa được nên cần phải dùng đến biến giả để mô tả.
 Mô hình Logistic - Phương pháp Goldberger
Trong mô hình này, các p
i

được xác định bằng:
p
i
= = = (1.1)
X = (1,X
2
); X
i
= (1,X
2i
); β = (β
1

2
)
Trong mô hình trên, p
i
không phải là hàm tuyến tính của các biến độc lập.
Phương trình (1.1) được gọi là hàm phân bố Logistic. Trong hàm này, khi X, β
nhận các giá trị từ -∞ đến +∞ thì p nhận giá trị từ 0 đến 1. p
i
phi tuyến với cả X và
các tham số β. Điều này có nghĩa là ta không thể áp dụng trực tiếp phương pháp
bình phương nhỏ nhất (Ordinary Least Square - OLS) để ước lượng. Người ta dùng
phương pháp ước lượng hợp lý tối đa để ước lượng β.
Vì Y chỉ nhận một trong hai giá trị 0 và 1, Y có phân bố nhị thức, nên hàm
hợp lý với mẫu kích thước n dạng sau đây:
L =
SV: Phan Thành Công
Lớp: Toán tài chính 50

23
Chuyên đề thực tập
L = =
Đặt t* = , t* là vectơ hai chiều (số hệ số hồi quy). Ta cần tìm ước
lượng hợp lý tối đa của β, ta có:
Ln(L) = β’ t* -
= S(β) = - + t* = 0 (1.2)
S( ) = - + t*
Phương trình trên phi tuyến đối với β, người ta sử dụng phương pháp Newton
Raphson để giải hệ phương trình này.
I( ) = E(- ) = E( )
=
=
SV: Phan Thành Công
Lớp: Toán tài chính 50
24
Chuyên đề thực tập
I(β) được gọi là ma trận thông tin. Nếu như là nghiệm của S( ), khai triển
Taylor tại β, ta có:
S( ) = + ( - β)
- β = - S(β) = S(β)
Ta có quá trình lặp như sau:
Bắt đầu với giá trị ban đầu nào đó của β, chẳng hạn , ta tính được S( ) và
I( ), sau đó tìm β mới bằng công thức sau đây:
= + S( )
Quá trình lặp trên sẽ được thực hiện cho đến khi hội tụ. Do I(β) là dạng toàn
phương xác định dương, nên quá trình trên sẽ cho ước lượng hợp lý cực đại. Tương
ứng với , ta có + là ma trận hiệp phương sai của . Chúng ta sử dụng
ma trận này để kiểm định giả thiết và thực hiện các suy đoán thống kê khác.
Sau khi ước lượng được , ta có thể tính được ước lượng xác suất =

SV: Phan Thành Công
Lớp: Toán tài chính 50
25

×