Tải bản đầy đủ (.doc) (26 trang)

nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết nam bộ từ cuối thể kỉ xix đến 1932

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (213.21 KB, 26 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

&

 
!"#$
%&#'#()*+
,-./# 01
&23
+4(5
Công trình được hoàn thành tại:
6789:;<=>?=@A=>?B=C<DE=F9DG9HI=J<9=
:78<=789:KL9M=@A=>?N
(H H H:OPQ9=R=A9=OF9
+H H H.S<A9:
=T9U<V9(N H H:OPQ9=E9==<
=T9U<V9+N H HWG9=X9
=T9U<V9*N H:OPQ9G9=A
Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp cơ sở đào tạo họp
tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh
Vào hồi … giờ …., ngày … tháng … năm 2014.
Có thể tìm hiểu luận án tại:
Thư viện Khoa học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh
Thư viện Khoa học xã hội TP. Hồ Chí Minh
Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh
2
MỞ ĐẦU
(H .YK@?=>9Z[\E<
Tiến trình hiện đại hóa văn học ở Việt Nam được bắt đầu ở Nam Bộ, và bắt
đầu bằng một tiểu thuyết: truyện Thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản,
công bố năm 1887. Tiếp xúc với văn bản truyện Thầy Lazarô Phiền, trên góc nhìn


thể loại và thi pháp tự sự, chúng ta phải bất ngờ khi thấy sự khởi đầu của cái văn
bản có số phận lặng lẽ này, lại là một khai phá mới. Một trong những khai phá mà
chúng tôi muốn tập trung nói đến, đó là với tư cách là một tiểu thuyết trần thuật ở
ngôi thứ nhất, truyện Thầy Lazarô Phiền đã mở ra một con đường thênh thang cho
hàng loạt tiểu thuyết được xây dựng theo phương thức trần thuật này, làm nên tính
hiện đại của tiểu thuyết và văn chương, đánh thức cái tôi cá nhân trên phương diện
sáng tạo và trong đời sống. Sẽ không thể nào hiểu đầy đủ và chính xác về tiến
trình hiện đại hóa văn học ở Việt Nam, nếu không chạm đến cái con đường mà
truyện Thầy Lazarô Phiền đã mở ra: nhân vật xưng tôi trực tiếp kể về mình, nhân
vật xưng tôi phơi bày tâm trạng của chính mình với kẻ khác.
Và sẽ thật không trọn vẹn nếu không khẳng định vai trò và đóng góp của
tiểu thuyết Nam Bộ khi đã khai sinh ra dòng tiểu thuyết trinh thám võ hiệp mang
dấu ấn kỹ thuật của phương Tây; dòng tiểu thuyết lịch sử mang âm hưởng hào
hùng, khí phách dân tộc; dòng tiểu thuyết xã hội phản ánh gần như trọn vẹn đời
sống văn hoá vật chất và tinh thần của con người phương Nam trong thời kỳ xã
hội chuyển biến mạnh mẽ theo hướng hiện đại hoá nửa đầu thế kỷ XX.
Trong tiến trình hiện đại hóa, tiểu thuyết vốn được mệnh danh là thể loại tự
sự chủ đạo lên ngôi, trở thành thể loại chủ lực của nền văn học mới. Tiểu thuyết
thời kỳ đầu ở Nam Bộ thuộc loại hình văn học đại chúng, thiên về cốt truyện và
nhân vật hành động: tập trung vào thủ pháp kể chuyện. Tiểu thuyết Nam Bộ cho
thấy sự dung hợp kỹ thuật tự sự của tiểu thuyết Trung Quốc và tiểu thuyết Phương
Tây. Điều đó cho thấy cần thiết có một công trình tập trung nghiên cứu cách kể -
nghệ thuật tự sự, vốn là phương diện bản chất của tiểu thuyết để góp phần nhận
chân được con đường hình thành, vận động (trong kế thừa, ảnh hưởng Đông Tây)
3
của tiểu thuyết Việt Nam. Với những lý do trên, chúng tôi đã quyết định chọn đề
tài nghiên cứu Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX
đến 1932 cho luận án của mình.
]<\7^9:_`=;aD<?bAcOd9e9
Để triển khai công trình nghiên cứu, luận án chúng tôi tập trung vào các đối

tượng sau: (1) Giới thiệu căn cứ lý thuyết (tiểu thuyết, tự sự học) và căn cứ lịch sử
(tiểu thuyết Nam Bộ); (2) Nghệ thuật tự sự của tiểu thuyết Nam Bộ, nhìn trên bình
diện kết cấu trần thuật, nhân vật và kiến tạo diễn ngôn.
Về phạm vi tư liệu, luận án khảo sát fgbộ tiểu thuyết được sáng tác và xuất
bản ở Nam Bộ giai đoạn từ năm cuối thế kỷ XIX đến 1932 (phw lwc 1). Những tiểu
thuyết được sáng tác do những nhà văn có gốc gác ở các vùng đất khác đến sống
và làm việc tại khu vực này như: Bửu Đình, Phạm Minh Kiên cũng là đối tượng
nghiên cứu của công trình.
+H .R?=hiDj9Z[
Vấn đề nghệ thuật của tiểu thuyết Nam Bộ đã được quan tâm từ khá sớm.
Trong phần này, chúng tôi sẽ điểm lại lịch sử nghiên cứu tiểu thuyết Nam Bộ (sự
hình thành, diện mạo và tiến trình vận động) nói chung và tập trung chú ý những ý
kiến bàn luận về nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Nam Bộ qua ba chặng chính:
- Từ đầu thế kỷ XX đến 1945: Chúng tôi điểm lại một số công trình nghiên
cứu của các tác giả: Lê Văn Nghĩa (1915), Nguyễn Tường (1923), Thiếu Sơn
(1933), Kiều Thanh Quế (Mộc Khuê) (1942), Vũ Ngọc Phan (1942)…
- Từ 1945 đến 1975: nghiên cứu về tiểu thuyết Nam Bộ có những khởi sắc,
đặc biệt là ở miền Nam. Trong giai đoạn này, chúng tôi điểm lại các công trình của
các tác giả: Nghiêm Toản (1949), Nguyễn Đình Chú (1962), Phạm Thế Ngũ
(1965), Nguyễn Văn Xuân (1967), Phan Cự Đệ (1974), Nguyễn Khuê (1974), Bùi
Đức Tịnh (1975)… chúng tôi đặc biệt nhấn mạnh vai trò của các công trình Khi
những lưu dân trở lại của Nguyễn Văn Xuân, Những bước đầu của báo chí, tiểu
thuyết và thơ mới (1865-1932) của Bùi Đức Tịnh, Việt Nam văn học sử giản ước
tân biên của Phạm Thế Ngũ.
4
- Từ 1975 đến nay, đặc biệt là từ sau 1986 là giai đoạn có những thành tựu
nhất định trong việc nghiên cứu tiểu thuyết Nam Bộ. Chúng tôi điểm lại tình hình
nghiên cứu với các công trình của các tác giả: Nguyễn Văn Trung (1987), Hoài
Anh và Hồ Sĩ Hiệp (1988), Cao Thị Như Quỳnh và John C. Schafer (1988), Bằng
Giang (1992), John C. Schafer và Thế Uyên (1993), Trần Hữu Tá (2000), Nguyễn

Thị Thanh Xuân (2000), Hoàng Dũng (2000), Vũ Tuấn Anh và Bích Thu (2001),
Cao Xuân Mỹ (2001), Lê Ngọc Thuý (2001), Nguyễn Huệ Chi (2002), Nguyễn
Kim Anh (2004), Đoàn Lê Giang (2006), Võ Văn Nhơn (2008), Phạm Xuân
Thạch (2008), Trần Văn Toàn (2010)… chúng tôi đặc biệt nhấn mạnh vai trò của
các công trình Những áng văn chương Quốc ngữ đầu tiên - Truyện Thầy Lazarô
Phiền của Nguyễn Trọng Quản của Nguyễn Văn Trung, Văn học Quốc ngữ ở Nam
Kỳ 1865 - 1930 của Bằng Giang, Địa chí văn hoá thành phố Hồ Chí Minh (tập 3)
do Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng chủ biên…
*H =7X9:`=e`9:=<S9?kO
Luận án của chúng tôi là một công trình nghiên cứu về vấn đề của một thể
loại, nhìn trên phương diện đồng đại và lịch đại. Tính chất phức tạp của thể loại
tiểu thuyết (có tính đến nét đặc thù của tiểu thuyết Nam Bộ) buộc chúng tôi phải
lựa chọn cách tiếp cận phù hợp với đối tượng nghiên cứu. Luận án chủ yếu vận
dwng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu loại hình và phương pháp hệ thống: nghiên cứu
sự hình thành và phát triển của tiểu thuyết Nam Bộ.
- Lý thuyết thi pháp học lịch sử: nhằm nghiên cứu sự kế thừa và cách tân
một số phương diện của kỹ thuật tự sự thời trung đại sang hiện đại. Chúng tôi chú
ý đến một nhánh của thi pháp học là lý thuyết tự sự học.
- Phương pháp liên ngành: chúng tôi vận dwng những kiến thức về lịch sử
xã hội, văn hóa để cắt nghĩa cách thức lựa chọn và triển khai các thủ pháp nghệ
thuật của nhà văn.
5H l9::l`?bAcOd9e9
5
Thứ nhất, với tư cách là một nghiên cứu về nghệ thuật của thể loại, đóng
góp của luận án sẽ được thể hiện ở việc chỉ ra mô hình tự sự, cw thể là những đặc
trưng (bao gồm những cách tân và hạn chế) nghệ thuật tự sự của tiểu thuyết Nam
Bộ. Cái mới, những cách tân được xác định ở đây trong sự so sánh với kỹ thuật tự
sự thời trung đại và đồng thời, cả tự sự giai đoạn sau.
Thứ hai, về mặt phương pháp luận, bước đầu vận dwng một số khái niệm

thuộc tự sự học phương Tây (chủ yếu đã được giới thiệu và vận dwng ở Việt Nam
trong thời gian qua) vào nghiên cứu tiểu thuyết Nam Bộ.
Thứ ba, Xác định vị trí của Nam Bộ trên con đường hiện đại hóa văn học
Việt Nam.
jO\6m??bAcOd9e9
Luận án Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX
đến 1932 gồm có 221 trang, ngoài phần Mở đầu (23 trang),Kết luận (5 trang), Tài
liệu tham khảo (198 đề mwc), được chia thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung (51 trang): trình bày các vấn đề tiểu thuyết
và tiểu thuyết Nam Bộ; các khái niệm, chủ điểm về lý thuyết tự sự học vận dwng
vào nghiên cứu tiểu thuyết Nam Bộ.
Chương 2: Tiểu thuyết Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX đến 1932 - nhìn từ kết
cấu trần thuật (60 trang): trình bày các kiểu kết cấu trần thuật của tiểu thuyết,
những vấn đề liên quan đến người kể chuyện, sự chi phối của người kể chuyện đến
phương diện cốt truyện và nhân vật.
Chương 3: Tiểu thuyết Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX đến 1932 - nhìn từ nhân
vật và việc kiến tạo diễn ngôn (56 trang): trình bày các kiểu nhân vật và các dạng
diễn ngôn trong tiểu thuyết.
6
=7X9:(
1no
Có hai mwc đích mà chúng tôi đặt ra khi thực hiện chương này. Thứ nhất là
giới thuyết khái niệm tiểu thuyết, xác định quan niệm của người cầm bút ở Nam
Bộ về tiểu thuyết. Thứ hai là phác thảo diện mạo của tiểu thuyết Nam Bộ và đặt
vấn đề lựa chọn những phương diện lý thuyết để nghiên cứu hình thức tự sự của
tiểu thuyết Nam Bộ.
(H(HC\h]Dj9Z[?bA\<pO\=OPq\DE\<pO\=OPq\Aa$C
(H(H(HKhái niệm tiểu thuyết
Trong mwc này, chúng tôi trình bày, giới thuyết khái niệm tiểu thuyết và
đặc điểm thể loại qua các nhận định của các nhà nghiên cứu từ đó làm cơ sở để

nghiên cứu tiểu thuyết Nam Bộ. Ở Việt Nam, việc tiếp thu các thể loại tiểu thuyết
chí quái, truyền kỳ và chương hồi diễn ra khá sớm. Tuy vậy, khái niệm tiểu thuyết
không được du nhập cùng lúc với thể loại. Phải đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX khái niệm tiểu thuyết mới ra đời cùng với phong trào dịch tiểu thuyết phương
Tây và sáng tác tiểu thuyết viết bằng chữ Quốc ngữ La tinh khởi phát đầu tiên ở
Nam Bộ.
Có thể thấy, ngay từ yếu tố đầu tiên là tên gọi thể loại, nhà văn Nam Bộ đã
dùng nhiều tên gọi khác nhau để định danh tác phẩm của mình. Về dung lượng tác
phẩm, có khá nhiều tác phẩm (đặc biệt là chặng đường đầu cho đến giữa thập niên
20 của thế kỷ XX) xuất bản ở Nam Bộ có số trang khiêm tốn (dưới 100 trang) vẫn
được nhà văn mệnh danh là tiểu thuyết. Bản thân người cầm bút Nam Bộ ít quan
tâm đến (hoặc không lấy) tiêu chí về độ dài trang in để khu biệt thể loại. Nơi
những cuốn tiểu thuyết có dung lượng ít đó, chúng ta thấy có một sự “thu nhỏ và
đơn giản hoá” cấu trúc tự sự: tiết giảm sự tả cảnh và miêu tả tâm lý nhưng vẫn
đảm bảo một cốt truyện trọn vẹn bao gồm nhiều biến cố liên quan đến cuộc đời
các nhân vật.
Từ những thực tế của tiểu thuyết Nam Bộ, chúng ta cần có cái nhìn lịch sử
cw thể và uyển chuyển đối với tiểu thuyết. Nên chấp nhận một cách hình dung về
7
thể loại của người cầm bút Nam Bộ và những tiểu thuyết đích thực mà họ sáng tạo
ra dù chúng chưa đạt được dung lượng trang viết lý tưởng của thể loại.
(H(H+H <pO\=OPq\Aa$CM=e<rOe\D[cR?=hi
(H(H+H(HGiai đoạn hình thành và phát triển: 1887 đến 1932
Có thể thấy, từ những năm cuối thế kỉ XIX cho đến 1932 là giai đoạn hình
thành và phát triển của tiểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ. Làn sóng viết tiểu thuyết
thứ nhất từ 1887 đến cuối thập niên 10 (thế kỷ XX) đã ghi dấu bằng những tác
phẩm có tính chất mở đường như: Thầy Lazarô Phiền (1887), Phan Yên ngoại sử
(1910), Hoàng Tố Anh hàm oan (1910), Ai làm được (1912) của các tác giả
Nguyễn Trọng Quản, Trương Duy Toản, Trần Chánh Chiếu, Hồ Biểu Chánh. Làn
sóng thứ nhất không nhiều tác phẩm, dung lượng tác phẩm không lớn, chất lượng

không đồng đều nhưng đã tạo tiền đề quan trọng cho sự phát triển của tiểu thuyết,
và đã kịp lưu dấu tác giả của nó vào lịch sử văn học và lịch sử tiểu thuyết Việt
Nam hiện đại. Với Thầy Lazarô Phiền, chúng ta có thể nói đến một sự phát triển
đột khởi mang những dấu hiệu hiện đại sớm. Làn sóng thứ hai của tiểu thuyết bắt
đầu từ thập niên 20 cho đến 1932 với các giả thời danh Hồ Biểu Chánh, Lê Hoằng
Mưu, Nguyễn Chánh Sắt, Bửu Đình, Phú Đức, Tân Dân Tử, Phạm Minh Kiên,
Nguyễn Ý Bửu, Nguyễn Thế Phương,… với sự quan tâm đến nhiều dạng đề tài,
tạo ra các khuynh hướng tiểu thuyết quan trọng như: lịch sử và dã sử, trinh thám
võ hiệp và vw án, xã hội đạo lý và phong twc.
(H(H+H+HGiai đoạn hội nhập: 1932 đến 1945
Trong khi giai đoạn 1932-1945 là một thời mới về phẩm và lượng của tiểu
thuyết Bắc Bộ thì ở khu vực Nam Bộ cho thấy một sự kéo dài giai đoạn giao thời
1887-1932. Và sự kéo dài ấy cho chúng ta một cảm giác về sự trì trệ, twt hậu so
với mặt bằng chung của tiểu thuyết Việt Nam.
Văn học Nam Bộ cần được nhìn nhận như là một biểu hiện của xu hướng
vận động bên cạnh nhiều biểu hiện khác của văn chương dân tộc, và cùng đi đến
một đích là đưa văn học Việt Nam bước vào hiện đại. Nếu cần thiết phải nói đến
quá trình hiện đại hoá của tiểu thuyết Nam Bộ thì đó là giai đoạn từ 1887 đến
8
1932, và cần phải nói đóng góp thì nó là tiền đề tiên quyết cho hiện đại hoá văn
học Việt Nam giai đoạn 1932-1945.
(H(H*H <pO\=OPq\Aa$CM=e<rOe\D[Zs?Z<pa
(H(H*H(H Loại hình tiểu thuyết
Loại hình của tiểu thuyết Nam Bộ chủ yếu là loại hình tiểu thuyết đại
chúng, tiểu thuyết giải trí phong cách hiện đại (modern-style entertainment
fiction). Loại hình tiểu thuyết đại chúng ở Nam Bộ gần như theo một lược đồ có
s‡n của tiểu thuyết giải trí phương Tây, Nhật Bản và Trung Quốc. Tiểu thuyết đại
chúng khai thác các chủ điểm: chuyện tình, chuyện trinh thám, chuyện phiêu lưu
của anh hùng nghĩa hiệp, chuyện thu hút sự chú ý của công chúng (scandal). Tiểu
thuyết đại chúng Nam Bộ luôn hướng đến một số mô hình: làm cho người ta lo sợ,

hồi hộp, buồn, vui, yêu, ghét… thể hiện những thuộc tính của con người như thất
tình, lwc dwc; viết về cuộc sống đời thường, trình bày đơn giản, hướng đến người
đọc rộng lớn, có tính chất giải trí và hàng hoá.
(H+H*H+H Hình thức công bố
Tiểu thuyết Nam Bộ có hai hình thức công bố chủ yếu là đăng báo và in
thành sách. Thông thường, một tác phẩm được đăng báo trước khi in sách. Trừ
trường hợp tiểu thuyết lịch sử, còn đại đa số tiểu thuyết Nam Bộ thuộc những loại
hình khác đều đi theo hướng này. Tiểu thuyết đăng báo theo từng kỳ là đặc trưng
của feuilleton - sản phẩm của văn học phương Tây. Hình thức feuilleton mang đặc
trưng cơ bản nhất của văn học đại chúng: tính giải trí và tính hàng hoá (thương
mại). Việc công bố theo hình thức feuilleton có lợi thế là đưa tác phẩm đến với
độc giả một cách nhanh chóng, qua những nhật báo nóng hổi, kích thích sự hồi
hộp chờ đón. Khi in lại thành sách, lại hấp dẫn độc giả một lần nữa ở tính trọn vẹn,
có thể đọc một mạch từ đầu đến cuối.
(H(H*H*H Chủ thể sáng tác
Văn học Nam Bộ khởi đi từ thế hệ trí thức thứ nhất cuối thế kỷ XIX với
Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký, Nguyễn Trọng Quản.
Nhóm nhà văn này thực sự là cầu nối giữa văn học trung đại và văn học hiện đại.
9
Lĩnh vực hoạt động chủ yếu của thế hệ thứ nhất chủ yếu là dịch thuật, biên khảo,
làm báo và truyền bá chữ Quốc ngữ. Công việc của họ là một bước chuẩn bị
quan trọng cho sự hình thành và phát triển của nền văn học mới.
Theo thời gian, sự phát triển của trường học Pháp - Việt đã sản sinh ra thế
hệ những người cầm bút thứ hai: Hồ Biểu Chánh, Lê Hoằng Mưu, Phú Đức, Bửu
Đình, Biến Ngũ Nhy, Tân Dân Tử, Phạm Minh Kiên… và định hình rõ nét diện
mạo của văn học mới ở Nam Bộ. Nhìn từ góc độ học vấn, chủ thể sáng tạo của
tiểu thuyết Nam Bộ là những trí thức có nền tảng Tây học. Tuy nhiên, nền tảng đó
không thuần nhất và được phát triển cao về học thuật, bởi bên cạnh những tri thức
mới họ tiếp nhận từ trường Pháp Việt còn là tri thức Nho học và đạo lý cổ truyền
thường được hấp thw từ nhỏ. Nhìn từ góc độ nghề nghiệp, ít có nhà văn nào ở Nam

Bộ sống đơn thuần bằng sáng tác, tình trạng này cũng là nét chung của hầu hết các
nhà văn Việt Nam. Người cầm bút Nam Bộ thường là công chức (có công chức
cao cấp như Hồ Biểu Chánh), nhà báo, nhà giáo.
(H(H*H5H Chủ thể tiếp nhận
Chủ thể tiếp nhận tiểu thuyết Nam Bộ đầu thế kỷ XX chính là người đọc
giải trí. Loại hình người đọc giải trí phát triển mạnh ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX,
được cấu thành bởi tầng lớp tiểu thị dân, những người buôn bán nhỏ, học sinh,
những người nội trợ, cư dân đô thị có chút học vấn và nhìn chung là bình dân.
Người đọc đại chúng, bình dân chứa đựng hai khả năng đối với quá trình văn học:
một mặt kích thích sự sôi động của thị trường chữ nghĩa, mặt khác có những tác
động trì kéo sự tìm tòi đổi mới nghệ thuật văn chương của người cầm bút. Trong
tính năng động của thị trường văn chương ở Nam Bộ, từ khá sớm có lẽ đã hình
thành một thứ “công nghệ văn chương” phwc vw đại chúng, và độc giả đại chúng
đã góp phần quy định lối viết của nhà văn. Sự phát triển của loại hình độc giả giải
trí đã góp phần tạo ra môi trường dân chủ trong văn hoá đọc, dẫn đến tính dân chủ
trong văn học, tạo ra một thuận lợi lớn cho quá trình hiện đại hoá văn học đầu thế
kỷ XX.
(H+Htht=>?aC\M=@A=>?D[\<pO\=OPq\
10
(H+H(H Tự sự học - khái niệm
Tự sự học (narratology, narratologie), còn được gọi là Trần thuật học, là
một nhánh chủ yếu của thi pháp học hiện đại. Tự sự học là lý luận về cấu trúc của
tự sự. Để phát hiện cấu trúc và miêu tả cấu trúc ấy, người nghiên cứu tự sự cần
khảo sát các thành tố của cấu trúc tự sự, sau đó cố gắng xác định chức năng và
mối quan hệ qua lại giữa chúng. Tự sự học bao gồm cả phần lý thuyết cấu trúc văn
bản tự sự, cấu trúc sự kiện, vừa bao gồm cả phần nghiên cứu các hình thức và
truyền thống tự sự trong các nền văn học dân tộc cũng như sự so sánh chúng với
nhau. Tự sự học hiện đại mời gọi chúng ta nghiên cứu theo tinh thần liên ngành.
(H+H+H Tự sự học - quan niệm
Tự sự học đang trong quá trình phát triển, hoàn thiện. Đến nay, tự sự học đã

trải qua ba thời kỳ: tự sự học tiền cấu trúc luận, tự sự học cấu trúc luận và tự sự
học hậu cấu trúc luận.
Cũng có quan niệm chia tự sự học thành hai thời kỳ: thời kỳ tự sự học kinh
điển và thời kỳ tự sự học hậu kinh điển. Theo đó, tự sự học kinh điển ứng với giai
đoạn trước và trong cấu trúc luận, tự sự học hậu kinh điển ứng với hậu cấu trúc
luận. Mỗi giai đoạn của tự sự học có những hướng quan tâm và trọng tâm nghiên
cứu phù hợp với từng giai đoạn ứng với một hệ hình và phương pháp nghiên cứu.
Từ những vấn đề đã trình bày, với đối tượng là tiểu thuyết Nam Bộ, chúng
tôi nhận thấy có thể vận dwng các phạm trù của tự sự học kinh điển vào nghiên
cứu. Tuy nhiên, không nên đóng khung trong các phạm vi các khái niệm tự sự học
kinh điển mà cần mở rộng kiến giải tự sự tiểu thuyết trên khía cạnh văn hoá và tư
tưởng.
(H+H*H Tự sự học - những tiêu điểm nghiên cứu
Với một đối tượng đặc thù như tiểu thuyết Nam Bộ đầu thế kỷ XX, hình
thành và phát triển ở một trình độ phôi thai, thì việc cân nhắc lựa chọn các khái
niệm, mức độ ứng dwng vào từng trường hợp cw thể là hết sức cần thiết. Ngoài ra,
trong quá trình lựa chọn các phương diện lý thuyết tự sự để áp dwng vào nghiên
cứu, chúng tôi chủ yếu dựa vào những khái niệm và khung lý thuyết đã được giới
11
thiệu, ứng dwng trong thực tế ở Việt Nam. Trong điều kiện ấy, dựa vào thực tế tiểu
thuyết Nam Bộ, chúng tôi chọn những phương diện của lý thuyết tự sự học như
sau: 1. Người kể chuyện trong tiểu thuyết và những mối quan hệ của nó với cốt
truyện và với nhân vật; 2. Nghiên cứu “kiểu nhân vật” (mô thức nhân vật) trong
tiểu thuyết Nam Bộ dựa vào chủ điểm lý thuyết về vai hành động (actant) của A.J.
Greimas và của Northrop Frye. Ngoài ra, dù không đặt thành những chủ điểm lý
thuyết, nhưng trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sẽ còn sử dwng một số khái
niệm thuộc tự sự học. Trong trường hợp đó, chúng tôi sẽ có những giới thuyết cw
thể.
=7X9:+
!"#$%&#'#()*+

uv%#nw
Đối với việc nghiên cứu tác phẩm tự sự, việc quan tâm đến vấn đề cấu trúc
trở nên hết sức quan trọng. Trong tiểu thuyết, cấu trúc trần thuật về cơ bản thể
hiện qua các phương diện: kết cấu tác phẩm (mối quan hệ thời gian và cấu trúc
truyện kể), mối quan hệ giữa người kể chuyện và nhân vật.
. +H(H e?M<pOMq\?jO\6x9\=Od\
+H(H(H Kết cấu tuyến tính
Kết cấu thời gian tuyến tính là phương thức kết cấu quan trọng của tiểu
thuyết Nam Bộ trong các tác phẩm viết về đề tài lịch sử của Tân Dân Tử, Phạm
Minh Kiên, Nguyễn Chánh Sắt, Phú Đức. Phương thức thức này không chỉ biểu
hiện qua thời gian của cốt truyện, mà còn qua thời gian của việc kể chuyện. Thời
gian diễn biến của sự kiện thường trùng với thời gian của việc kể chuyện và ít có
sự đảo lộn về thời gian trong việc kể chuyện.
Việc chuyển mạch trần thuật với những cwm từ có tính công thức như “nói
tiếp qua”, “đây nói qua”, “đây nhắc lại”… không chỉ thấy xuất hiện trong các tiểu
thuyết viết về đề tài lịch sử vốn có sự gần gũi với tiểu thuyết truyền thống Trung
12
Hoa, mà ngay những tiểu thuyết theo tinh thần hiện đại cũng dễ bắt gặp. Chính
dấu hiệu ấy trong tiểu thuyết đã hiển lộ một phần phương thức kể chuyện theo thời
gian tuyến tính.
Trong các tiểu thuyết viết về đề tài tâm lý xã hội hay phong twc, kết cấu
theo trình tự thời gian thể hiện qua việc xây dựng diễn tiến cốt truyện gắn với diễn
biến và hành trình cuộc đời của nhân vật chính. Có khi, toàn bộ diễn trình của cốt
truyện gắn liền với một khoảng thời gian ứng với cuộc đời của nhân vật. Lúc này,
diễn trình thời gian truyện kể bị chi phối bởi nhiều yếu tố có liên quan đến nhân
vật. Tiêu biểu cho trường hợp này là tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh.
Trong hình thức kết cấu theo thời gian tuyến tính, hình thức chương hồi,
tiểu thuyết tách tập và feuilleton là những dạng thức đặc biệt. Một trong những
đặc tính quan trọng của tiểu thuyết mang hình thức chương hồi, tách tập và
feuilleton là thường triển khai thời gian cốt truyện và thời gian truyện kể theo

tuyến tính. Trong sự vận động của tiểu thuyết Nam Bộ, càng về sau, hình thức kết
cấu chương hồi có xu hướng biến đổi, cải biên, ẩn chìm, trong khi phần lớn tác
phẩm vẫn được tổ chức trần thuật theo mạch thời gian tuyến tính.
+H(H+H Kết cấu phi tuyến tính
Truyện Thầy Lazarô Phiền, tác phẩm mở đầu cho văn học chữ Quốc ngữ
lại là tác phẩm khai mở cho xu hướng sử dwng kiểu kết cấu theo thời gian phi
tuyến tính trong tiểu thuyết Nam Bộ. Thế nhưng, kết cấu theo thời gian phi tuyến
tính lại được tiếp nối tương đối muộn (giữa thập niên 20 trở đi) và ghi dấu chủ yếu
trong tiểu thuyết mang màu sắc trinh thám võ hiệp, trinh thám vw án của Phú Đức,
Bửu Đình và tiểu thuyết tâm lý xã hội trần thuật ở ngôi thứ nhất của Lê Hoằng
Mưu, Phú Đức, Phạm Minh Kiên.
Nơi những tiểu thuyết sử dwng kết cấu thời gian phi tuyến tính, yếu tố thời
gian bị xáo trộn, quá khứ và hiện tại có khi được tác giả thể hiện song hành, có khi
đan xen làm cho câu chuyện giảm đi sự đơn điệu. Các nhân vật trong truyện vì thế
được nhìn từ các góc độ, cốt truyện và tình tiết truyện trở nên lôi cuốn, khó đoán
biết, nhiều bất ngờ. Việc các nhà văn Nam Bộ chú ý đến lối kết cấu theo thời gian
13
phi tuyến tính cùng với sự chú trọng miêu tả, phân tích tâm lý nhân vật đã khiến
cho tiểu thuyết có những cách tân theo hướng hiện đại.
Kết cấu theo thời gian phi tuyến tính sẽ dẫn tới hiện tượng đảo thuật. Với
biểu hiện cw thể và rõ nét qua hình thức truyện khung, hiện tượng đảo thuật biểu
biện qua việc nhà văn xáo trộn trật tự tự nhiên của các sự kiện. Tuy nhiên, giữa
các cảnh không tuân theo trật tự thời gian, nhà văn thường có ý thức lấp đầy bằng
các đoạn thuật nhằm bảo đảm sự mạch lạc của trật tự nhân quả.
+H+H :78<Mp?=OPV9DE9=F9Dd\
Người kể chuyện đóng vai trò là cầu nối giữa tác giả và độc giả. Trong mối
quan hệ với câu chuyện được kể, người kể chuyện có thể có mặt hoặc vắng mặt
trong thế giới đó. Các dấu hiệu của người kể chuyện đều tồn tại trong chính câu
chuyện, được nhà văn hư cấu nên, nó có thể ở ngôi kể thứ nhất, ngôi kể thứ hai
hoặc ngôi kể thứ ba, có nhiệm vw mang lời kể trần thuật (narration) và chỉ im lặng

khi nhân vật lên tiếng.
+H+H(H Mối quan hệ giữa người trAn thuật và cốt truyện
Tìm hiểu mối quan hệ giữa người kể chuyện và cốt truyện là một nhiệm vw
quan trọng khi nghiên cứu cấu trúc tự sự của tiểu thuyết. Khảo sát tiểu thuyết Nam
Bộ giai đoạn 1887 đến 1932 chúng tôi ghi nhận được hai hình thức trần thuật chủ
yếu: trần thuật ở ngôi thứ nhất và trần thuật ở ngôi thứ ba. Có thể thấy, mối quan
hệ giữa người trần thuật và cốt truyện có liên quan đến ngôi kể. Những tác phẩm
được trần thuật ở ngôi thứ ba thường ứng với việc người kể đứng ngoài câu
chuyện/ cốt truyện và những tác phẩm được trần thuật ở ngôi thứ nhất thường ứng
với việc người kể ở trong câu chuyện/ cốt truyện.
Trong những tiểu thuyết Nam Bộ trần thuật ở ngôi thứ ba, người kể chuyện
dĩ nhiên không can dự trực tiếp vào biến cố của cốt truyện (người trần thuật không
tham dự) nhưng lại thường xuất hiện trong chính câu chuyện anh ta đang kể bằng
những “lưu ý trần thuật”. Có thể thấy, dù vẫn mang những đặc điểm của kiểu
người kể dị sự trong tự sự thời trung đại, nhưng tiểu thuyết Nam Bộ đã có những
đổi mới khi có sự chuyển dịch vị trí của người kể chuyện vào trong văn bản trần
14
thuật. Điều này thật sự có ý nghĩa trong việc xác lập mối quan hệ của nó một cách
rõ ràng, chặt chẽ với các yếu tố cấu trúc văn bản như người kể chuyện, điểm nhìn,
người đọc hàm ẩn/ người nghe chuyện, nhân vật, ngôn ngữ, không gian và thời
gian… làm nên đặc trưng của hình thức tự sự của tiểu thuyết. Phương diện này
theo chúng tôi là có một vai trò quan trọng việc góp phần hình thành không gian
trần thuật của tiểu thuyết gắn với thời hiện tại, đồng thời tạo ra cảm giác rằng câu
chuyện mà người kể cung cấp cho độc giả là có thật, xác thực.
Có một vấn đề cần ghi nhận trong tiểu thuyết Nam Bộ chính là sự xuất hiện
người đọc hàm ẩn trong sự giao tiếp với người kể chuyện. Trong cấu trúc văn bản
tự sự, người kể chuyện và người đọc hàm ẩn xuất hiện trong cùng bậc giao tiếp.
Người đọc dạng này được Gerald Prince gọi là “người nghe chuyện”. Chân dung
của “người nghe chuyện” được thể hiện rõ ở những đoạn người kể chuyện trần
thuật hướng thẳng đến anh ta. Những cwm từ như khán quan, độc giả, bạn đọc,

quý ngài đọc sách đã cho thấy rõ chân dung của người nghe chuyện. Đây cũng có
thể gọi là một biểu hiện (dù ở mức độ đơn giản) của người đọc hàm ẩn/ người
nghe chuyện.
Nếu như với phương thức trần thuật ở ngôi thứ 3, người kể chuyện không
tham dự vào cốt truyện và ít có những tác động đến cốt truyện, thì phương thức
trần thuật ngôi thứ nhất, người kể chuyện có tham gia trực tiếp vào câu chuyện/
cốt truyện với tư cách: hoặc là nhân vật chính, hoặc với tư cách là người chứng
kiến và có thể là có sự kết hợp của hai dạng thức này.
Trong tiểu thuyết trần thuật ở ngôi thứ nhất, mối quan hệ giữa người kể
chuyện và người đọc/ người nghe chuyện được thiết lập tương đối đặc biệt và có
liên quan đến sự vận động của cốt truyện. Có thể nói, việc xuất hiện của người kể
chuyện đồng sự ở ngôi thứ nhất là một điểm khá mới mẻ so với tự sự thời trung
đại. Từ kiểu người kể chuyện đứng ngoài chuyện kể, người kể chuyện bước vào
tác phẩm và hiện hữu như một nhân vật với những quyền năng tổ chức hoạt động
trần thuật là một bước tiến đáng ghi nhận của nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết
Nam Bộ.
15
+H+H+H Mối quan hệ giữa người trAn thuật và nhân vật
Trong phần lớn tiểu thuyết trần thuật ở ngôi thứ ba ở Nam Bộ, người kể
chuyện mang điểm nhìn toàn tri nên có cái nhìn thông suốt đối với nhân vật. Vị
thế của người kể chuyện so với nhân vật trong trường hợp này là anh ta dường như
đang đứng ở đỉnh cao muôn trượng, ở một tầm nhìn của Chúa. Một mặt người kể
có tính nội tại cùng nhân vật (bởi thấu rõ thế giới bên trong của các nhân vật); mặt
khác lại tách bạch với nhân vật (bởi đối với nhân vật anh ta là người khác biệt nhất
so với những người khác. Dù mang cái nhìn toàn tri và thấu hiểu thế giới bên
trong của nhân vật nhưng sự “thấu hiểu” nhân vật của người kể chuyện vẫn chủ
yếu là xuất phát từ cái nhìn từ bên ngoài vào.
Ở một trình độ của sự tổ chức cấu trúc tự sự giai đoạn sơ khởi, người kể
chuyện trong tiểu thuyết Nam Bộ có một sự gắn kết gần gũi, liên thông với tác giả
thật. Trong mối quan hệ đặc biệt ấy, người kể chuyện được sáng tạo không phải là

một sự ngẫu nhiên mà chắc chắn là mang tính quan niệm của người viết.
Trong tiểu thuyết trần thuật ở ngôi thứ nhất, vai trò của người trần thuật hết
sức quan trọng, chi phối phương thức triển khai thế giới nghệ thuật, quan niệm về
con người và thế giới. Sự chi phối của người trần thuật trước hết, dễ thấy nhất là
đối với thế giới nhân vật trong tác phẩm.
Có thể thấy, với phương thức trần thuật ở ngôi thứ nhất, tư cách kể chuyện
được trao cho nhân vật thì dĩ nhiên truyện sẽ được kể theo quan điểm của chính
anh ta. Người kể, với năng lực phân tích phán đoán cá nhân, đã tự do thể hiện
những hiểu biết, quan niệm về nhân sinh của mình. Những phát ngôn của người kể
chuyện trong phương thức trần thuật ở ngôi thứ nhất, rõ ràng sẽ mang đậm dấu ấn
chủ quan, tính chất hướng nội.
Việc xuất hiện người dẫn chuyện trong tiểu thuyết trần thuật ở ngôi thứ
nhất đã tạo ra những hiệu quả nghệ thuật nhất định. Nhân vật người dẫn chuyện
xuất hiện để dẫn dắt câu chuyện đồng thời đưa ra những nhận xét, đối thoại với
nhân vật chính. Do đó, bên cạnh điểm nhìn của nhân vật chính còn có điểm nhìn
của nhân vật người dẫn chuyện. Người kể chuyện thường luân phiên giữa hai điểm
16
nhìn trực tiếp và gián tiếp. Nhân vật người dẫn chuyện không chỉ mô tả những gì
anh ta thấy (kể chuyện) mà còn miêu tả cảm xúc những gì anh ta thấy (kể tâm
trạng).
=7X9:*
!"#$%&#'#()*+
uv%#yz{
Nghiên cứu nhân vật trở thành phương diện quan trọng trong việc phân tích
ngữ nghĩa của diễn ngôn tự sự tiểu thuyết. Xét từ góc độ hình thức, nhân vật mang
một vai trò quan trọng trong việc kiến tạo cấu trúc và diễn ngôn tự sự trong tiểu
thuyết. Nghiên cứu nhân vật trong tiểu thuyết Nam Bộ, như chúng tôi đã đề xuất
trong chương 1, chính là nghiên cứu các kiểu nhân vật mang vai hành động.
Trong chương này, chúng tôi tiến hành phân tích những vấn đề cw thể của
diễn ngôn, nơi bề mặt của văn bản. Theo đó, vị trí và vai trò của người kể chuyện,

người nghe chuyện và nhân vật sẽ được xem xét dưới góc độ của phân tích diễn
ngôn chứ không chỉ ở cấp độ trần thuật (cấp độ ẩn chìm nơi bề sâu cấu trúc tự sự)
như đã thực hiện trong chương 2.
*H(H <pO9=F9Dd\
Nhiệm vw chính của chúng tôi trong việc nghiên cứu nhân vật tiểu thuyết
Nam Bộ chính là việc đi tìm những mô hình hành động và cấu trúc ngữ nghĩa của
hệ thống nhân vật trong truyện kể. Theo đó, trên cơ sở khảo sát các nhân vật có
cùng kiểu loại tạo nên các vai hành động, chúng ta sẽ thấy được nội dung của trần
thuật. Và quan trọng hơn, thông qua mô hình này, chúng ta có thể phát hiện những
khuynh hướng tư tưởng, những cảm hứng chủ đạo của tiểu thuyết Nam Bộ cuối
thế kỷ XIX đến 1932. Nghiên cứu nhân vật trong tiểu thuyết Nam Bộ, chúng tôi
nhận thấy có ba lớp nhân vật chủ yếu mang các vai hành động chi phối truyện kể:
nhân vật anh hùng, nhân vật dục vọng và nhân vật oan khuất. Những lớp nhân vật
17
này xuất hiện trong các tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết trinh thám và tiểu thuyết
tâm lý xã hội.
*H(H(H Nhân vật anh hùng
Nhân vật mang vai hành động anh hùng được miêu miêu tả trong tiểu
thuyết viết về đề tài lịch sử (nhân vật lịch sử với vai trò thủ lĩnh) và trong một số
tiểu thuyết về đề tài thế sự (nhân vật trọng nghĩa). Thông qua việc thể hiện các
nhân vật mang vai hành động anh hùng, chúng ta có thể nhận thấy nội dung trần
thuật đồng thời là cảm hừng chủ đạo của tiểu thuyết: vấn đề yêu nước và dân tộc.
Trong các bộ tiểu thuyết lịch sử, yếu tố đời tư nơi nhân vật gắn với thời gian và
không gian lịch sử. Nhân vật lịch sử có tính lư‹ng phân: vừa là con người cá nhân
vừa là con người của cộng đồng. Ý thức twc hoá dù chưa được đặt ra thành một
quan niệm, nhưng những biểu hiện chất đời tư nơi nhân vật là một điểm đáng chú
ý của các bộ tiểu thuyết lịch sử. Nhân vật anh hùng là nhân vật mang quan niệm
của người viết: phát ngôn, thực hành lý tưởng yêu nước, đạo đức.
Kiểu nhân vật anh hùng còn thể hiện qua nhận vật mang tinh thần trọng
nghĩa trong các tiểu thuyết trinh thám võ hiệp và tâm lý xã hội. Loại nhân vật anh

hùng - trọng nghĩa nằm nơi đường biên giữa nhân vật cao cả và nhân vật đời
thường: nhân vật “giễu nhại” - biến thể của nhân vật anh hùng. Nếu nhân vật anh
hùng trong tiểu thuyết lịch sử giữ sứ mệnh dẫn dắt cộng đồng đi đến những thay
đổi căn bản về hoàn cảnh (chống giặc ngoại xâm, dẹp loạn thần) thì nhân vật trọng
nghĩa trong tiểu thuyết trinh thám võ hiệp chỉ dừng ở mức độ giúp đ‹ những cá
nhân thiểu số trong cộng đồng (giúp đ‹ kinh tế, bênh vực kẻ yếu thế).
*H(H+H Nhân vật dục vọng
Sự xuất hiện của tiểu thuyết trần thuật ở ngôi thứ nhất đã mang đến cho tiểu
thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đến 1932 nhiều điều mới mẻ, trong đó có nhân
vật trung tâm: nhân vật sám hối, sau khi đã lầm lạc, sa ngã trong cuộc sống hoặc
nhân vật mang bất hạnh, đau buồn, mong được chia sẻ với người khác. Chúng tôi
cho rằng, việc xuất hiện kiểu nhân vật sa ngã do đam mê dwc vọng,nói riêng trong
những tiểu thuyết trần thuật ở ngôi thứ nhất, là một trong những biểu hiện mới mẻ
18
của nhân vật tiểu thuyết Nam Bộ: con người cá nhân mang đời sống tâm lý phức
tạp. Con người cá nhân được miêu tả dưới nhiều góc độ (tập trung nhất là con
người xã hội và con người tâm lý), thể hiện những đột phá mang tính cách tân
trong cái nhìn về con người trong tiểu thuyết Nam Bộ.
Trong thế giới nhân vật của tiểu thuyết Nam Bộ, so với kiểu nhân vật anh
hùng - trọng nghĩa, nhân vật dwc vọng phong phú hơn hẳn về mặt số lượng cũng
như các dáng vẻ biểu hiện. Tập trung nhất cho kiểu nhân vật dwc vọng là người
phw nữ với đam mê về ái tình và tiền bạc.
Qua những trình bày về lớp nhân vật dwc vọng, chúng ta có thể đi đến một
nhận xét về sự hiện diện của ý thức cá nhân trong văn học và trong đời sống con
người Việt Nam cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. Nhân vật dwc vọng được xây
dựng ở không gian sinh hoạt đời thường, tiếp xúc với thì hiện tại chưa hoàn thành
của sự kiện đời sống thể hiện con người phức diện và đa khả. Nhìn chung, lớp
nhân vật dwc vọng đã gắn với diễn ngôn có ít nhiều có tính chất phê phán.
*H(H*H Nhân vật oan khuất
Nhân vật oan khuất, nếu chiếu theo quan niệm của N. Frye, thì đây là lớp

nhân vật có năng lực hành động như chúng ta. Tuy nhiên, do hoàn cảnh đẩy đưa,
nhân vật phải chịu thiệt thòi, mang nỗi hàm oan. Có thể thấy, nhân vật oan khuất
là một sự tiếp nối kiểu nhân vật hàm oan trong văn học truyền thống như nhân vật
nữ oan khuất trong truyện truyền kỳ hay tác phẩm viết về đề tài tôn giáo như
Quan Âm Thị Kính. Có thể thấy, một biểu hiện khác của kiểu nhân vật hàm oan là
việc nhân vật bị đánh tráo dẫn đến sự thay đổi về số phận. Qua kiểu nhân vật hàm
oan trong tiểu thuyết Nam Bộ, chúng ta phần nào nhận thấy ý thức diễn ngôn
mang tính cảm thương.
*H+He?K;9:\=k?\;@9:=|AK<Q99:}9\tht
Song song với diễn trình của văn chương Nam Bộ là quá trình phát triển,
hoàn thiện của ngôn ngữ tiếng Việt và đặc biệt là lớp từ ngữ mang màu sắc địa
phương. Trong quá trình ấy, sự chống lại “phép tắc từ chương học” buộc tiếng
Việt La tinh phải tiến gần với đời sống, mà cw thể là tiến gần đến văn hoá đại
19
chúng. Thực tế môi trường ngôn ngữ ấy đã tạo nên phổ ngôn ngữ đan xen nhiều
sắc thái ngữ nghĩa và văn hoá, phả vào các dạng thức diễn ngôn tự sự trong tiểu
thuyết Nam Bộ, tạo nên nét độc đáo nơi cấu trúc bề mặt của diễn ngôn tự sự.
*H+H(H Dạng kể và tả
Nghiên cứu tiểu thuyết Nam Bộ trên phương diện kỹ thuật kiến tạo diễn
ngôn truyện kể, chúng tôi nhận thấy người kể chuyện có một vai trò to lớn trong
việc điều phối, tổ chức lời văn nghệ thuật. Có thể thấy, diễn ngôn của người kể
chuyện là diễn ngôn chủ đạo trong các tác phẩm bên cạnh diễn ngôn của nhân vật.
Do vậy, lời người kể có một vai trò hết sức quan trọng và đặc biệt mang tính đại
chúng, hướng đến đại chúng; lời của nhân vật (diễn ngôn của nhân vật) được sử
dwng như một sự bổ trợ, và luôn được điều phối bởi lời của người kể chuyện. Đó
cũng là nguyên nhân khiến tiểu thuyết Nam Bộ ít có sự đa dạng về giọng điệu.
Tuy nhiên, trong tác phẩm của một số tác giả như Hồ Biểu Chánh, Phú Đức, Bửu
Đình, diễn ngôn của nhân vật bắt đầu có xu hướng tách khỏi diễn ngôn người kể
chuyện nhờ sự cá tính hoá trong lời thoại và độc thoại nội tâm. Nhìn chung, có thể
thấy, kỹ thuật kiến tạo diễn ngôn trong tiểu thuyết luôn chú ý đến tính mạch lạc,

thông twc theo tinh thần đại chúng hoá.
Phương thức kể trong tiểu thuyết Nam Bộ, gắn chặt với diễn ngôn của
người kể chuyện và bị chi phối bởi người kể - dạng người kể phổ biến mang sự
toàn tri. Chính sự “toàn tri” đã cho phép người kể chuyện chủ động tạo ra diễn
ngôn của mình và cả diễn ngôn của nhân vật. Với tiểu thuyết trần thuật ở ngôi thứ
nhất, trong đó xuất hiện mối quan hệ đặc biệt giữa nhân vật tự kể và nhân vật nghe
kể rồi kể lại, hình thành hai dạng diễn ngôn: diễn ngôn của người kể chuyện và
diễn ngôn của nhân vật cũng mang vai trò kể chuyện. Tuy nhiên, ngay trong tiểu
thuyết trần thuật ở ngôi thứ ba, ở một số trường hợp cw thể, cũng bắt đầu có sự
phân biệt giữa diễn ngôn của người kể và diễn ngôn của nhân vật. Ngoài ra, sự
xuất hiện của khẩu ngữ trong văn xuôi nghệ thuật đã làm tăng chất lượng đáng kể
cho diễn ngôn kể trong tiểu thuyết Nam Bộ.
20
Cũng như hoạt động kể, hoạt động tả trong tiểu thuyết Nam Bộ cũng gắn
với người kể chuyện, do người kể chuyện điều phối, mang dấu ấn, quan điểm của
người kể. Hay nói cách khác, sự vật và sự việc chủ yếu được tả qua diễn ngôn của
người kể chuyện. Một điểm mới mẻ trong kỹ thuật miêu tả nhân vật trong tiểu
thuyết Nam Bộ cần được ghi nhận đó là việcnhân vật được miêu tả có sự biến đổi
theo thời gian và hoàn cảnh. Kỹ thuật miêu tả nhân vật đã có sự kết hợp giữa quan
niệm nhân tướng học trong truyền thống và nghệ thuật tả chân trong tiểu thuyết
phương Tây ở cái nhìn khá chi tiết về đối tượng miêu tả. Hay nhân vật được miêu
tả gắn với thời gian và qua cái nhìn của một nhân vật khác trong truyện.
*H+H+H Dạng đối thoại, độc thoại và lời nJa trực tiếp
Đối thoại và lời nửa trực tiếp là hai hình thức diễn ngôn quan trọng cấu
thành thế giới truyện kể. Trong tiểu thuyết Nam Bộ tồn tại hai hình thức giọng chủ
yếu là lời của người kể chuyện và lời của nhân vật với các hình thức đối thoại, độc
thoại và lời nửa trực tiếp.
Sự xâm nhập mạnh mẽ của khẩu ngữ vào trong văn bản nghệ thuật đã dẫn
đến một hệ quả là giọng đối thoại của nhân vật có xu hướng cá thể hoá, một số
trường hợp có khả năng phân xuất khỏi giọng của người kể chuyện. Sự cá thể hoá

ngôn ngữ và giọng điệu đã góp phần làm xuất hiện trong văn bản tự sự những
khoảng mờ giữa giọng của nhân vật và giọng của người kể chuyện.
Trong tiểu thuyết Nam Bộ, có một số hình thức tổ chức diễn ngôn có thể
miêu tả được thế giới nội tâm của nhân vật chính là hình thức độc thoại và trần
thuật nửa trực tiếp. Lời nửa trực tiếp là sự kết hợp tinh tế giữa lời người kể với lời
của nhân vật. Lời nửa trực tiếp thực chất là lời của người kể nhưng ẩn dưới lời
nhân vật, thể hiện bằng giọng điệu của nhân vật nhằm bộc lộ thế giới nội tâm. Dù
chưa thật phổ biến, hình thức độc thoại và lời nửa trực tiếp trong tiểu thuyết Nam
Bộ đã mang lại cho diễn ngôn về nhân vật một chiều sâu đáng kể. Trong sáng tác
của Hồ Biểu Chánh, Lê Hoằng Mưu, Bửu Đình… chúng ta bắt đầu thấy độc thoại
và lời nửa trực tiếp xuất hiện với một tỉ trọng nhiều hơn so với các cây bút cùng
thời ở Nam Bộ.
21
*H+H* Nhịp điệu câu văn xuôi
Nhịp điệu câu văn trong tiểu thuyết Nam Bộ mang tính chất biền ngẫu đã
có ảnh hưởng nhất định đến nhịp kể. Nhịp điệu câu văn xuôi hơi hướng biền ngẫu
là một trong những đặc trưng của nhiều bộ tiểu thuyết Nam Bộ giai đoạn cuối thế
kỷ XIX đến 1932. Với những nhà văn có nền tảng Hán học thì trong tác phẩm của
họ, dấu vết của hình thức biền ngẫu nơi câu văn thể hiện khá rõ. Những nhà văn có
nền tảng Tây học vững chắc hoặc có khả năng tham bác tác phẩm phương Tây,
câu văn nhìn chung ngắn gọn, mạch lạc.
#.
(H Tự sự học với tư cách là một lý thuyết nghiên cứu văn chương được biết
đến ở Việt Nam tương đối muộn. Thời gian qua, các nhà nghiên cứu của chúng ta
thực hiện các việc giới thiệu, dịch thuật và ứng dwng lý thuyết tự sự học vào
nghiên cứu văn học Việt Nam. Những ứng dwng bước đầu đã đem lại nhiều kết
quả đáng ghi nhận. Văn học dân tộc được phát hiện thêm, phát hiện lại những giá
trị văn chương, văn hoá, tạo tiền đề kích thích sáng tạo. Văn học Nam Bộ, theo
thời gian đã bắt đầu được chú ý nghiên cứu và bước đầu đã có những thành tựu.
Việc vận dwng lý thuyết tự sự vào nghiên cứu tiểu thuyết Nam Bộ chắc hẳn sẽ có

nhiều ý nghĩa khi hướng nghiên cứu này là một sự tiếp cận chủ yếu từ bên trong
của văn học.
Trong khi lý thuyết tự sự đã tiến những bước dài, hành trình qua các giai
đoạn kinh điển, hậu kinh điển thì việc lựa chọn chỗ đứng của lý thuyết cho đối
tượng nghiên cứu là hết sức quan trọng, đặc biệt là với tiểu thuyết Nam Bộ giai
đoạn sơ khởi với một trình độ chưa cao. Trong tình hình ấy, chúng tôi chọn những
phương diện lý thuyết thuộc thời kỳ đầu của tự sự học kinh điển vốn được giới
thiệu tương đối đầy đủ ở Việt Nam và bước đầu đã có những kinh nghiệm vận
dwng của các nhà nghiên cứu đi trước. Ngoài ra, chúng tôi luôn ý thức rằng, trong
22
nghiên cứu, muốn đạt kết quả cần thiết có sự linh hoạt và trong luận án đã có sự
kết hợp giữa những khái niệm công cw tự sự học và những lý giải trên cơ sở văn
hoá xã hội Nam Bộ thuộc giai đoạn đang nghiên cứu.
+H Có thể nói, tiểu thuyết đại chúng Nam Bộ đầu cuối thế kỷ XIX đến 1932
đã vận động theo hướng phwc vw đại chúng. Tiểu thuyết Nam Bộ đã trình hiện một
kiểu thức tự sự gắn với những thuộc tính thuộc về đại chúng.
Thứ nhất, kiểu thức tự sự ấy mang một hình thức kết cấu phù hợp với trình
độ thẩm mỹ của độc giả đại chúng đương thời: một sự kết hợp hiện đại và truyền
thống, vừa có kết cấu theo chương hồi, vừa mang hình thức văn nghệ giải trí của
báo chí phương Tây hiện đại là feuilleton; vừa kết cấu tuyến tính, vừa mang kết
cấu phi tuyến tính. Tựa trên nền tảng kết cấu ấy là một kiểu người kể chuyện,
trung tâm của sự điều tiết trần thuật mang những đặc điểm: vừa là người kể
chuyện toàn tri, vừa không hoàn toàn như vậy. Qua lời kể của nhân vật trần thuật
và hình ảnh của nhân vật nghe chuyện xuất hiện hiện tượng dịch chuyển của nội
dung ngoại văn bản vào trung tâm giao tiếp nội văn bản. Ngay ở đây cũng đã cho
thấy sự ảnh hưởng của truyền thống bên cạnh những cách tân theo hướng hiện đại
làm nên đặc trưng của các bậc giao tiếp nội văn bản.
Thứ hai, hình thức tự sự của tiểu thuyết cho thấy sự xuất hiện của các lớp
nhân vật mang vai hành động, hạt nhân cơ bản của tự sự. Qua các lớp nhân vật,
chúng ta thấy nội dung của tiểu thuyết phản ánh những vấn đề: yêu nước và tự

cường dân tộc và quan trọng hơn là sự phản ánh đời sống của con người cá nhân
trong xã hội giao thời đầy biến động. Cấu trúc diễn ngôn tiểu thuyết được dựa trên
nền tảng ngôn ngữ với một phổ rất rộng đa âm và đa sắc thái của sự kết hợp giao
lưu ảnh hưởng Việt - Hoa - Khmer - Pháp. Thứ ngôn ngữ văn hoá này đã phả vào
diễn ngôn của người kể mà đặc biệt là nhân vật đã tạo nên những hiệu quả nghệ
thuật bất ngờ. Theo đó, ngôn ngữ nhân vật bắt đầu có sự cá thể hoá theo xu hướng
tách ra khỏi diễn ngôn của người kể. Trong diễn ngôn bắt đầu xuất hiện kiểu lời
nửa trực tiếp, một công cw hữu hiệu vào thời điểm ấy để thám hiểm thế giới nội
tâm của nhân vật.
23
Sự xuất hiện của thể loại tiểu thuyết trinh thám đã góp phần thay đổi hình
thức tự sự truyền thống. Tự sự đã bắt đầu biết đến sự phá v‹ thời gian tuyến tính,
cho đến những tri thức về tâm lý học của phương Tây. Điều ấy chắc chắn sẽ có
những tác động đối với ý thức đào sâu vào tâm lý của nhân vật của người cầm bút.
Sự xuất hiện của tiểu thuyết trần thuật ngôi thứ nhất đã khiến cho tiểu thuyết từ
chỗ chỉ biết đến mô thức tự sự lấy tình tiết làm trung tâm đã dần biết đến kiểu mô
thức tự sự lấy nhân vật làm trung tâm.
*H Trong tiến trình hiện đại hóa văn học đầu thế kỷ XX, truyện Thầy Lazarô
Phiền (1887), với tư cách là tiểu thuyết trần thuật ngôi thứ nhất, đã mở ra một lối
đi đầy hứa hẹn cho tiểu thuyết mang tinh thần hiện đại. Tiểu thuyết trần thuật ở
ngôi thứ nhất, sau truyện Thầy Lazarô Phiền, đã tiếp nối và làm phong phú hơn
các thủ pháp nghệ thuật nhằm biểu hiện sâu sắc các khía cạnh phức tạp của con
người cá nhân. Trên phương diện kỹ thuật tự sự, tiểu thuyết trần thuật ở ngôi thứ
nhất ở Nam Bộ đã có những đóng góp quan trọng cho quá trình hiện đại hóa văn
xuôi tự sự Việt Nam. Từ rất sớm, khi nền văn học chưa bước hẳn vào thời hiện
đại, tiểu thuyết Việt Nam vẫn còn ở dạng phôi thai, các tiểu thuyết trần thuật ở
ngôi thứ nhất đã trình bày những câu chuyện của thời hiện tại, với một kiểu người
kể chuyện mang điểm nhìn của cái tôi chủ quan, một kiểu nhân vật con người cá
nhân với những đam mê, lầm lạc, tự thú khác xa với kiểu nhân vật đấng bậc trong
văn học trung đại. Và, cũng cần nói đến một thực tế là, từ rất sớm, tinh thần tự chủ

về văn hóa trên phương diện ngôn ngữ thể hiện rất rõ trong ngôn từ của tiểu
thuyết. Tinh thần viết “tiếng An nam ròng” khởi đi từ Trương Vĩnh Ký và thế hệ
của ông qua thế hệ Trần Chánh Chiếu, Hồ Biểu Chánh, Phạm Minh Kiên, Phú
Đức… càng được khẳng định. Tinh thần ấy, nơi các tiểu thuyết sử dwng ngôi thứ
nhất, biểu hiện ở việc ngôn ngữ kể và tả được người viết mở rộng về phía khẩu
ngữ. Càng có ý nghĩa hơn nếu chúng ta thừa nhận rằng, việc tăng cường ngôn ngữ
đời sống trong tác phẩm không những tạo ra sắc thái độc đáo của ngôn ngữ văn
học vùng miền, mặt khác nó cũng góp phần phá v‹ ngôn ngữ với phép tắc từ
24
chương họccổ truyền. Đó là những đóng góp quan trọng cho quá trình hiện đại
hóa văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX.
5H Gắn với nhân tố người kể là hàng loạt vấn đề kỹ thuật thuộc về cấu trúc
và diễn ngôn truyện kể như: chọn, dịch chuyển, phối hợp điểm nhìn; tần suất kỹ
thuật; kỹ thuật tăng, giảm tốc; các thủ pháp trì hoãn, lạ hoá; sự hoà phối diễn ngôn
người kể và diễn ngôn nhân vật; kỹ thuật gây căng thẳng, hồi hộp, tạo tâm lý chờ
đợi… tất cả những phương diện này đều gắn với tiểu thuyết đại chúng Nam Bộ.
Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận án, những vấn đề này chúng tôi chưa có dịp
bàn, hoặc bàn chưa thật sâu. Những vấn đề này cần thiết phải tiếp twc nghiên cứu
thêm.
25

×