Tải bản đầy đủ (.doc) (13 trang)

đánh giá năng lực công nghệ của các ngân hàng thương mại việt nam trong giai đoạn 2008- 2010

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (492.79 KB, 13 trang )

Đánh giá năng lực công nghệ của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn
2008- 2010
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới hiện nay, Việt Nam từng bước
thể hiện được năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường quốc tế. Thực hiện
các cam kết quốc tế Việt Nam đã mở cửa dịch vụ ngân hàng, giúp cho hệ thống
ngân hàng cạnh tranh bình đẳng trên toàn diện quốc tế theo khuôn khổ pháp lí
phù hợp và thống nhất. Từ đó, tạo điều kiện cho hệ thống ngân hàng Việt Nam
được học tập và cùng phát triển với sự tiến bộ của các nước khác trên trường
quốc tế.
Hiện nay, sự cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ngày càng trở nên gay
gắt, đầy thách thức đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam khi Chính phủ
Việt Nam thực hiện tháo dỡ rào cản đối với các ngân hàng thương mại nước
ngoài và tiến đến xóa bỏ những bảo hộ của Nhà nước đối với ngân hàng trong
nước. Vấn đề nâng cao sức mạnh cho hệ thống tài chính Việt Nam nói chung và
ngân hàng thương mại Việt Nam nói riêng trong xu thế hội nhập quốc tế đang là
vấn đề được những nhà quản trị ngân hàng, cơ quan quản lý, hoạch định chính
sách của Việt Nam quan tâm một cách cấp thiết. Năng lực cạnh tranh của NHTM
được đánh giá qua các yếu tố: năng lực tài chính; năng lực công nghệ; nguồn
nhân lực; năng lực quản trị điều hành; mạng lưới hoạt động; mức độ đa dạng hóa
sản phẩm kinh doanh; …trong đó, năng lực tài chính và năng lực công nghệ được
xem là những yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định năng lực cạnh tranh của
NHTM. Hiện nay, các ngân hàng thương mại rất quan tâm đến việc đầu tư và đổi
mới công nghệ nhằm tăng chất lượng dịch vụ cung ứng cho khách hàng, nhưng
vẫn còn nhiều bất cập.
Vì vậy, việc đánh giá chính xác năng lực công nghệ của các ngân hàng
thương mại Việt Nam trong thời kỳ mở cửa là điều cần thiết. Đó cũng là lý do
em chọn đề tài “Đánh giá năng lực cạnh tranh về công nghệ của các ngân hàng
thương mại Việt Nam trong gai đoạn 2008-2010” làm chuyên đề báo cáo.
GVHD: Đoàn Thị CẩmVân SVTH: Lê Thị Kim Cương


1
Đánh giá năng lực công nghệ của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn
2008- 2010
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
- Thực hiện đề tài “ Đánh giá năng lực cạnh tranh về công nghệ của các
ngân hàng thương mại Việt Nam trong gai đoạn 2008-2010” nhằm nhận xét về
việc đổi mới và đầu tư công nghệ của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
trong những năm 2008 đến 2010. Từ việc đánh giá năng lực cạnh tranh về công
nghệ của các ngân hàng thương mại, ta đưa ra những đề xuất cải thiện năng lực
công nghệ cho các ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá đúng thực trạng năng lực cạnh tranh về công nghệ của các
ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2008-2010 dựa vào số lượng
máy ATM, phần mềm ứng dụng và tiện ích dịch vụ của các ngân hàng thương
mại tại Việt Nam.
- Trình bày một số đề xuất nhằm cải thiện năng lực công nghệ của các
ngân hàng thương mại nội địa trong bối cảnh Việt Nam mở cửa hoàn toàn thị
trường dịch vụ ngân hàng.
3. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: được thu thập từ sách, báo chí,
internet, tạp chí
- Phương pháp phân tích số liệu dựa trên số liệu thứ cấp thu thập được từ
sách, báo chí, internet, tạp chí
4. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thực hiện đề tài tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong
giai đoạn 2008 đến 2010.
GVHD: Đoàn Thị CẩmVân SVTH: Lê Thị Kim Cương
2
Đánh giá năng lực công nghệ của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn

2008- 2010
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ CỦA CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008-2010
1.1 Thực trạng năng lực công nghệ của hệ thống ngân hàng thương mại Việt
Nam giai đoạn 2008-2010
1.1.1 Số lượng máy ATM của hệ thống ngân hàng từ năm 2008 đến 2010
Hiện nay, các NHTM rất quan tâm đến việc đầu tư đổi mới công nghệ để
nâng cao chất lượng dịch vụ cung ứng cho khách hàng, nhưng vẫn còn nhiều bất
cập: Quy mô vốn của NHTM nhỏ; chi phí đầu tư hiện đại hóa công nghệ cao;
khả năng ứng dụng công nghệ tiên tiến của nhân viên ngân hàng còn hạn chế nên
dẫn đến lãng phí, khai thác không hết tính năng của công nghệ mới.
Để tạo thuận lợi cho các bộ, ngành, cơ quan trong việc trả lương qua tài
khoản (theo Chỉ thị số 20/2007/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ), Ngân hàng
Nhà nước vừa công bố danh sách 10 ngân hàng thương mại có số lượng máy
ATM lớn nhất trên toàn quốc từ năm 2008 đến 2010.
Nhìn chung qua các năm, số lượng máy ATM của các ngân hàng thương
mại Việt Nam tăng điều, năm 2008 chỉ có tổng số máy ATM là 3.924. đến 2009
số lượng máy ATM tăng 90,9% tức 7.526 máy, và năm 2010 tăng 10.564 máy
ATM.
Bảng 1: Danh sách 10 ngân hàng thương mại về số lượng máy ATM
GVHD: Đoàn Thị CẩmVân SVTH: Lê Thị Kim Cương
3
Đánh giá năng lực công nghệ của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn
2008- 2010
STT Tên ngân hàng
Số lượng máy ATM
2008 2009 2010
1 Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam 890 1.483 2.723

2 Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam 682 881 1.081
3 Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông
thôn Việt Nam
621 1.702 2.012
4 Ngân hàng Công thương Việt Nam 492 1.042 1.317
5 Ngân hàng TMCP Đông Á 595 765 936
6 Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín 178 611 879
7 Ngân hàng TMCP Techcombank 156 489 822
8 Ngân hàng TMCP Ngoài quốc doanh 118 146 173
9 Ngân hàng TMCP Á Châu 102 237 371
10 Ngân hàng TMCP Quân đội 90 170 250
Tổng 3.924 7.526 10.564
(Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo thường niên của NHTM)
Vào năm 2008 số lượng máy ATM người tiêu dùng sử dụng còn khá ít với
việc gửi tiền và rút tiền qua máy tự động vì thế các ngân hàng chưa tập trung vào
vấn đề đầu tư công nghệ này. Số lượng máy được thống kê vào năm 2008 là
3.924 máy, đứng đầu là các ngân hàng như ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
với 890 máy chiếm thị phần 22,68% trong 10 ngân hàng đứng đầu về số lượng
máy ATM, tiếp đến là ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam với 682 máy, và
cuối cùng là ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam 621 máy.
Đến năm 2009 các ngân hàng thực thi theo Chỉ thị số 20/2007/CT-TTg
của Thủ tướng Chính phủ, đẩy mạnh lắp đặt các hệ thống máy ATM nhằm
khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện việc trả lương cho công nhân viên qua
tài khoản ngân hàng, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận được công nghệ tiên
tiến và mang lại sự thuận tiện, độ tin cậy và an toàn cho người dân. Ngân hàng
Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã đứng đầu với số lượng máy 1.702 chiếm
22,61% và tiếp theo là ngân hàng Ngoại thương Việt Nam 1.483 máy tăng
GVHD: Đoàn Thị CẩmVân SVTH: Lê Thị Kim Cương
4
Đánh giá năng lực công nghệ của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn

2008- 2010
66,63% so với năm 2008. Đứng thứ 3 là ngân hàng Công thương Việt Nam với
1.042 máy, tăng một cách vượt bậc gần 112% so với năm 2008 và chiếm thị
phần13,8% trong 10 ngân hàng đứng đầu về số lượng máy ATM. Nhưng đến đầu
năm 2009, các ngân hàng thực hiện việc thu phí khi sử dụng dịch vụ thẻ ATM,
làm nhiều người dân không đồng tình, nhưng nhìn chung những năm vừa qua hệ
thống ATM của các ngân hàng đã cải thiện đáng kể kiến thức sử dụng dịch vụ
ngân hàng cho người dân, đó là một dịch vụ rất thuận lợi khi khách hàng giao
dịch 24/24 giờ khi không phải tốn thời gian đến quầy ngân hàng.
Đến năm 2010 việc áp dụng công nghệ hiện đại tiên tiến vào hệ thống
ngân hàng có nhiều tiến triển tốt đẹp, đồng thời ngân hàng tập trung đầu tư mạnh
vào việc xây dựng trạm máy ATM ngày càng tăng, tạo sự tiện lợi cho người tiêu
dùng.
Hình 1: Số lượng máy ATM qua các năm 2008 -2010
Với sự thành công của Dự án Hiện đại hóa Ngân hàng và Hệ thống Thanh
toán do World Bank tài trợ, năng lực công nghệ của các NHTM Việt Nam tiếp
tục được nâng cấp, thể hiện qua việc hệ thống thanh toán không ngừng phát triển
theo hướng hiện đại hóa, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Ở một khía cạnh liên
quan, số lượng máy ATM được trang bị không ngừng tăng lên qua các năm đã
GVHD: Đoàn Thị CẩmVân SVTH: Lê Thị Kim Cương
5
Đánh giá năng lực công nghệ của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn
2008- 2010
tạo điều kiện giảm tải các giao dịch tại các ngân hàng, nâng cao chất lượng phục
vụ cho khách hàng cá nhân và phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ.
Đứng đầu các ngân hàng thương mại về số lượng máy ATM vào năm
2008 là ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đến 2009 ngân hàng Nông nghiệp và
phát triển nông thôn vượt lên hàng đầu với số máy là 1.702. Vào năm 2010 ngân
hàng Ngoại thương Việt Nam tăng vọt lên vị trí dẫn đầu là 2.723 chiếm thị phần
trong 10 ngân hàng đứng đầu là 25,8%.

1.1.2 Hiệu quả cung ứng dich vụ của các ngân hàng thương mại
Cùng với sự phát triển không ngừng về mặt khoa học kỹ thuật và công
nghệ, nhu cầu đòi hỏi của khách hàng ngày càng tăng. Nắm bắt được xu thế đó,
để thu hút được khách hàng về phía mình trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế,
các ngân hàng trong nước ngày càng chú trọng nhiều hơn đến việc phát triển
mảng dịch vụ, đặc biệt các dịch vụ tiện ích đi kèm với thẻ. Giờ đây, thẻ không
chỉ đơn thuần là một phương tiện rút tiền mặt mà đã trở thành phương tiện đa
mục đích, giúp người sử dụng có thể tiếp cận được nhiều dịch vụ giao dịch thông
qua thẻ ngân hàng. Các dịch vụ tiện ích cơ bản của thẻ cung cấp cho khách hàng
như: thanh toán hàng hóa; rút tiền mặt; chuyển khoản; thanh toán hóa đơn; mua
sắm hàng hóa trực tuyến… cho đến nhiều dịch vụ mới khác cũng đang được các
ngân hàng chú trọng phát triển như: yêu cầu phát hành sổ séc; yêu cầu chuyển
tiền vào tài khoản tiết kiệm có kỳ hạn; chi lương qua tài khoản; gửi tiền trực tiếp
tại ATM; nhận tiền kiều hối; bảo hiểm… Ngoài việc thiết lập nhiều tiện ích cho
khách hàng, các ngân hàng còn tạo sự riêng biệt bằng các chương trình và sản
phẩm thẻ mang thương hiệu của mình như: Ngân hàng Sài Gòn Thương tín với
thẻ Sacom VISA Debit chú trọng vào lớp trẻ năng động; VCB ngoài việc giữ một
số lượng lớn thẻ các đơn vị nhờ dịch vụ trả lương, còn một loại thẻ đưa logo của
kênh ca nhạc MTV vào chiếc thẻ, được giới trẻ đón nhận như thể hiện một phong
cách; thẻ của Techcombank lại khuyến khích bằng cách liên kết với các đối tác
thương mại khác như trung tâm mua bán, siêu thị, với hãng Pacific Ariline giảm
giá mua hàng, giá vé máy bay; hay thẻ của ACB được phát hành rộng rãi ở các
khu vực người nước ngoài tập trung đông, thiên về thanh toán hơn là rút tiền vv
GVHD: Đoàn Thị CẩmVân SVTH: Lê Thị Kim Cương
6
Đánh giá năng lực công nghệ của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn
2008- 2010
Bên cạnh đó, để nhằm chia sẻ cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động thẻ và
tạo thuận lợi cho người sử dụng, các ngân hàng đã liên kết tạo thành các liên
minh thẻ. Các liên minh thẻ hiện nay bao gồm: i) Liên minh thẻ Vietcombank

(nay là Công ty Smartlink) có 25 thành viên, với 2056 máy ATM (48%), 17.502
máy POS/EDC (57%) và số lượng thẻ đã phát hành 4.721.946 thẻ (57%); ii) Liên
minh thẻ Đông Á có 5 thành viên tham gia đã phát hành 1.766.053 thẻ (21%),
với 783 máy ATM (18%), 1682 máy POS/EDC (57%) và iii) Công ty cổ phần
chuyển mạch tài chính quốc gia Banknetvn với số lượng máy ATM chiếm 62%
(2654 máy), máy POS/EDC chiếm 46% (10.548) và đã phát hành 5.170.229 thẻ
(chiếm 62%). Các liên minh này đã phần nào kết nối hoạt động thẻ của các ngân
hàng lại với nhau, tuy nhiên thị trường thẻ Việt Nam vẫn còn manh mún, có sự
khác biệt lớn trong quan điểm của các ngân hàng, giữa các liên minh về lợi ích
kinh tế và lợi ích cộng đồng. Phạm vi phát hành và sử dụng thẻ còn hạn chế, mới
chủ yếu tập trung ở một số tỉnh, thành phố lớn; đối tượng sử dụng thẻ chủ yếu
tập trung vào tầng lớp đang làm việc trong lĩnh vực tài chính-ngân hàng, cán bộ,
công chức làm việc trong các khu công nghiệp, khu chế xuất và mới đây là đối
tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước (theo Chỉ thị 20 của Thủ tướng Chính
phủ). Tiện ích và các dịch vụ đi kèm vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của người
sử dụng, khách hàng sử dụng thẻ ngân hàng chủ yếu để thanh toán tiền mua hàng
hoá, dịch vụ. Các máy ATM cũng mới chỉ chủ yếu phục vụ để rút tiền mặt còn
các dịch vụ tiện ích đi kèm chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của
khách hàng. Đặc biệt khi chúng ta chưa xây dựng được một Trung tâm chuyển
mạch thẻ thống nhất tại Việt Nam.
1.1.3 Phần mềm ứng dụng trong hệ thống ngân hàng thương mại
Việc triển khai hệ thống Core banking tại các ngân hàng thương mại Việt
Nam được xem là điểm nhấn cho đầu tư công nghệ, nhưng khi triển khai thực
hiện thì vẫn chưa có sự đồng bộ trong toàn hệ thống. Hiện nay đã có 44 ngân
hàng thương mại trong nước triển khai Core banking, nhưng có quá nhiều phần
mềm được sử dụng như: Siba; Bank 2000; SmartBank; Symbol System;
Teminos; Iflex; Huyndai; Sylverlake; TCBS (the complex banking solution –
giải pháp ngân hàng phức hợp), quy mô đầu tư lại khác nhau giữa các ngân hàng
nên sự liên kết với nhau còn hạn chế.
GVHD: Đoàn Thị CẩmVân SVTH: Lê Thị Kim Cương

7
Đánh giá năng lực công nghệ của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn
2008- 2010
1.2 Những đánh giá chung và các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến năng lực
công nghệ của các ngân hàng thương mại Việt Nam
1.2.1 Những đánh giá chung
1.2.1.1 Điểm mạnh
- VN có chế độ chính trị ổn định và được đánh giá là điểm đến an toàn
cho các nhà đầu tư. Trong điều kiện thế giới hiện nay diễn ra các xung đột sắc
tộc, tôn giáo, khủng bố,… thì sự ổn định về hệ thống chính trị là thế mạnh trong
việc đẩy mạnh phát triển kinh tế đất nước.
- Đảng, Chính phủ luôn quan tâm đến việc lành mạnh hoá hệ thống tài
chính và hiện đại hoá hệ thống ngân hàng. Ngân hàng Nhà nước với chức năng là
cơ quan đại diện của Chính phủ Việt Nam đã phối hợp với các bộ ngành trong
việc nghiên cứu ký kết và xúc tiến được nhiều chương trình hỗ trợ tài chính từ
các tổ chức quốc tế. Quan hệ song phương và đa phương giữa Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam với các cơ quan, tổ chức của nhiều nước và vùng lãnh thổ được
phát triển tích cực. Ngân hàng Nhà nước đã tích cực tham gia các hoạt động
nhằm đẩy mạnh sự hợp tác về tài chính – ngân hàng với các tổ chức tài chính đa
phương như ASEAN, APEC và WTO.
- Ngân hàng thương mại Việt Nam có số lượng khách hàng tuyền thống đa
dạng, với số lượng nhiều và được phục vụ bởi hệ thống rộng khắp ở 64 tỉnh
thành. Mạng lưới phục vụ được trải dài từ Bắc đến Nam, từ miền xuôi lên miền
ngược đầy là lợi thế rất lớn đối với hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam khi
cung ứng sản phẩm dịch vụ của mình cho khách hàng.
- Người Việt Nam xưa nay có truyền thống hiếu học, cần cù, thông minh,
chịu khó. Do đó, đây là yếu tố thuận lợi trong việc tiếp thu công nghệ mới của
khu vực và thế giới. Ngoài ra, chi phí lao động ở Việt Nam rất thấp so với nhiều
nước trong khu vực và trên thế giới.
1.2.1.2 Điểm yếu

- Dịch vụ ngân hàng của các ngân hàng thương mại còn đơn điệu, nghèo
nàn, tính tiện ích chưa cao, chưa tạo thuận lợi và bình đẳng cho khách hàng
thuộc các thành phần kinh tế trong việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ khách hàng.
GVHD: Đoàn Thị CẩmVân SVTH: Lê Thị Kim Cương
8
Đánh giá năng lực công nghệ của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn
2008- 2010
- Đội ngũ lao động của các ngân hàng thương mại Việt Nam khá đông
nhưng trình độ chuyên môn nghiệp vụ chưa đáp ứng các yêu cầu trong quá trình
hội nhập. Không có hệ thống khuyến kích hợp lý để thu hút nhân tài và áp dụng
công nghệ hiện đại. Cơ cấu tổ chức trong nội bộ nhiều NHTM còn lạc hậu,
không phù hợp với chuẩn mực quản lý hiện đại đã được áp dụng phổ biến nhiều
năm nay ở các nước.
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực công nghệ của các ngân hàng
thương mại Việt Nam
- Quy mô vốn của NHTM càng dồi dào thì việc đầu tư mua sắm các công nghệ
thiết bị tiên tiến, phần mềm hiện đại nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của
ngân hàng và ngược lại, nếu một ngân hàng có quy mô vốn hạn hẹp thì việc đầu
tư vào công nghệ là điều khó khăn.
- Bên cạnh đó, chi phí đầu tư vào các thiết bị, phần mềm hiện đại hóa công nghệ
khá cao và phụ thuộc nhiều vào mức độ tích hợp hệ thống mà các ngân hàng yêu
cầu cũng như tính năng họ muốn can thiệp sâu tời đâu.
- Công nghệ ngân hàng luôn được đầu tư hiện đại hóa vì thế khả năng ứng dụng
công nghệ tiên tiến của nhân viên ngân hàng còn nhiều mặt hạn chế, dẫn đến
lãng phí, khai thác không hết tính năng của công nghệ mới.
- Khách hàng Việt Nam còn chưa quen với việc sử dụng thẻ ATM thay cho tiền
mặt do tâm lý nghi ngờ về độ an toàn khi thanh toán qua dịch vụ thẻ.
- Cạnh tranh trong việc cung cấp dịch vụ ngân hàng cũng ngày càng quyết liệt.
Ngày nay, ngoài những nghiệp vụ truyền thống như tín dụng và đầu tư thì dịch
vụ ngân hàng cũng tạo nên sắc thái mới cho ngân hàng trong chiến lược cạnh

tranh nhằm tạo thị phần cho mình. Do đó, các ngân hàng thương mại cũng phải
tạo nên phong cách phục vụ riêng thể hiện nét đặc thù của mình mới hy vọng tạo
thế đứng vững chắc trên thị trường.
Chương 2
ĐỀ XUẤT CẢI THIỆN NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ CHO CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
GVHD: Đoàn Thị CẩmVân SVTH: Lê Thị Kim Cương
9
Đánh giá năng lực công nghệ của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn
2008- 2010
2.1 Đối với Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước
- Đề ra những chiến lược phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong ngân
hàng thương mại theo mô hình ngân hàng hiện đại.
- Đẩy nhanh tiến độ ban hành Luật cạnh tranh và kiểm soát độc quyền, đưa luật
này trở thành công cụ để Chính phủ kiểm soát hoạt động cạnh tranh.
- Phối hợp cùng Bộ tài chính tham gia xây dựng và tham gia đa dạng thị trường
vốn, tạo điều kiện san sẻ bớt gánh nặng cung cấp vốn hiện nay mà các ngân hàng
thương mại đang gặp phải.
2.2 Đối với Ngân hàng thương mại
- Tiếp tục đầu tư đổi mới công nghệ ngân hàng nhằm đảm bảo tính hiện
đại, an toàn, nhanh chóng, tiện lợi nhất trong giao dịch cung ứng dịch vụ cho
khách hàng:
 NHTM phải tích cực hơn nữa trong việc đầu tư đổi mới công nghệ phù hợp
chiến lược hiện đại hóa đối với ngành ngân hàng trong thời gian tới, chú trọng
hơn nữa tính hiệu quả trong việc triển khai hệ thống ngân hàng lõi – Core
banking.

Bồi dưỡng nâng cao trình độ và khả năng ứng dụng công nghệ thông tin của
nhân viên, để nâng cao hiệu quả sử dụng công nghệ hiện đại.
PHẦN KẾT LUẬN

Kết luận
GVHD: Đoàn Thị CẩmVân SVTH: Lê Thị Kim Cương
10
Đánh giá năng lực công nghệ của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn
2008- 2010
Phát triển và ứng dụng công nghệ ngân hàng trong hoạt động kinh doanh
là yếu tố cơ bản tạo nên sự khác biệt về khả năng cung ứng dịch vụ của mỗi ngân
hàng. Sự phát triển nhanh của khoa học công nghệ đã tác động mạnh đến mọi
mặt của đời sống kinh tế xã hội, làm thay đổi nhận thức và phương pháp sản xuất
kinh doanh đến lĩnh vực tài chính ngân hàng. Công nghệ hiện đại tạo điều kiện
cho các nhân hàng phát triển và đa dạng hóa dịch vụ theo nhu cầu ngày càng cao
của khách hàng. Đồng thời giúp ngân hàng thực hiện khối lượng lớn các giao
dịch một cách nhanh chóng, an toàn và chính xác. Nhìn chung, hệ thống ngân
hàng thương mại Việt Nam ngày càng tiến bộ, áp dụng nhiều phần mềm tiên tiến
nhằm phục nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Bên cạnh đó, cần phải nâng
cao năng lực và tính chuyên nghiệp của đội ngũ nhân viên trong việc sử dụng các
phần mềm công nghệ hiện đại. Vì một phần do vốn đầu tư vào công nghệ của các
ngân hàng thương mại còn thấp so với hệ thống ngân hàng của các nước phát
triển nên việc sử dụng công nghệ hiện đại khó thực hiện một cách nhanh chóng,
do đó, việc mở cửa hội nhập với các nước bạn là điều kiện cho hệ thống ngân
hàng của nước ta học hỏi, trao đổi kinh nghiệm, giúp hệ thống ngân hàng thương
mại tại Việt Nam ngày càng tiến bộ và hiện đại hóa.
Kiến nghị
- Đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng, đa dạng thị trường. Đầu tư nghiên cứu
và phát triển dịch vụ ngân hàng mới có hàm lượng ứng dụng công nghệ cao (thẻ
thanh toán, thẻ thông minh, thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, internet banking, home
banking, e_banking).
- Cải tiến và hoàn thiện hệ thống các dịch vụ truyền thống thông qua việc
cải tiến chất lượng dịch vụ, thủ tục giao dịch, phong cách phục vụ và chính sách
tìm hiểu thị trường. Tập trung vào các khu vực thị trường mục tiêu: Khu vực đô

thị, khu công nghiệp, các trung tâm kinh tế - thương mại.
- Các khách hàng mục tiêu là doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài, các tập đoàn quốc gia và đa quốc gia, cá nhân và gia đình
có thu nhập trên mức trung bình. Những thị trường mới nổi và thị trường có
nhiều tiềm năng, nhất là khu vực dịch vụ ngân hàng bán lẻ, tài trợ dự án, tài trợ
thương mại, dịch vụ thanh toán và chuyển tiền.
GVHD: Đoàn Thị CẩmVân SVTH: Lê Thị Kim Cương
11
Đánh giá năng lực công nghệ của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn
2008- 2010
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tạp chí khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng. Số 5(40).2010.
GVHD: Đoàn Thị CẩmVân SVTH: Lê Thị Kim Cương
12
Đánh giá năng lực công nghệ của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn
2008- 2010
2. Báo cáo thường niên của các ngân hàng thương mại năm 2008 đến 2010.
3. Đằng sau ngôi vương mới về thẻ ATM:
/>4. Chỉ thị số 20/2007/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
5. 10 ngân hàng có năng lực nhất về trả lương qua tài khoản:
/>luong-qua-tai-khoan.htm
GVHD: Đoàn Thị CẩmVân SVTH: Lê Thị Kim Cương
13

×