Tải bản đầy đủ (.docx) (124 trang)

nghiên cứu phát triển du lịch trong chương trình đêm hoàng cung được tổ chức ở festival huế 2014

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.59 MB, 124 trang )

ĐẠI HỌC HUẾ
KHOA DU LỊCH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH
TRONG CHƯƠNG TRÌNH ĐÊM HOÀNG CUNG
ĐƯỢC TỔ CHỨC Ở FESTIVAL HUẾ 2014
Giáo viên hướng dẫn : TS. LÊ THỊ KIM LIÊN
Sinh viên thực hiện : ĐOÀN THỊ MAI TRINH
Huế, tháng 05 năm 2014

Để hoàn thành tốt bài khóa luận tốt nghiệp này, em
xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo, cô giáo
của Khoa Du lịch – Đại học Huế đã hết lòng giảng dạy,
trang bị kiến thức cho em trong suốt quá trình học tập
tại trường.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô
giáo TS. Lê Thị Kim Liên - trưởng bộ môn Du lịch học -
Giáo viên hướng dẫn đã quan tâm, tận tình chỉ bảo,
động viên em trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn
thành đề tài khóa luận.
Bên cạnh đó, nhờ vào sự giúp đỡ nhiệt tình của ban
lãnh đạo và các cá nhân của Công ty TNHH MTV Lữ
hành Hương Giangđã tạo điều kiện cho em thực tập,
điều tra, thu thập số liệu và các cán bộ của Trung tâm
Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, Trung tâm Festival Huế tài
liệu phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài khóa luận.
Xin chân thành cảm ơn sự hỗ trợ nhiệt tình, giúp đỡ,
động viên của toàn thể bạn bè, người thân trong suốt
quá trình làm khóa luận này.
Mặc dù đã nỗ lực cố gắng song khóa luận không thể


tránh khỏi những thiếu sót, kính mong quý thầy cô góp
ý để khóa luận hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Huế, ngày 12 tháng 05 năm
2014
Sinh viên thực hiện
Đoàn Thị Mai Trinh
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng đề tài này là do chính tôi thực hiện, các số
liệu thu thập và kết quả phân tích trong đề tài này là trung thực, đề
tài này không trùng với bất kỳ đề tài nghiên cứu khoa học nào.
Huế, ngày 12 tháng 05 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Đoàn Thị Mai Trinh
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
WTO : World Tourism Organization
Tổ chức Du lịch Thế giới
UNESCO : United Nations Educational Scientific and Cultural Organization
Tổ chức Giáo dục, Khoa học, Văn hóa của Liên hợp quốc
KDL : Khách du lịch
UBND : Ủy ban nhân dân
TTBTDTCĐH : Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế
Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: TS. Lê Thị Kim Liên
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Du lịch ra đời như là một bước phát triển mới cho nhân loại. Hiệu quả về
chiều sâu của du lịch ngày càng thể hiện rõ nét ở nhiều mặt, ở đâu du lịch phát triển,

ở đó diện mạo nông thôn, đô thị được chỉnh trang, hoàn thiện sạch đẹp hơn, đời
sống của người dân được cải thiện rõ rệt. Du lịch được coi là một ngành “công
nghiệp không khói”.Vai trò của ngành du lịch được đánh giá là rất quan trọng đối
với nền kinh tế của một quốc gia, sự phát triển mạnh mẽ của nó tại một số quốc gia
đã góp phần tích cực vào sự tăng trưởng kinh tế của họ. Theo các chuyên gia kinh tế
đánh giá thì du lịch là một loại hình xuất khẩu đặc biệt, sản phẩm và dịch vụ được
cung cấp cho người nước ngoài nhưng lại được tiêu thụ ngay tại nước sở tại và đem
lại nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia rất lớn. Chính vì thế, các nước trên thế giới rất
chú trọng đầu tư phát triển du lịch, nhằm thúc đấy kinh tế tiến lên.
Trong thời kỳ hội nhập thì ở Việt Nam ngành du lịch đóng vai trò quan trọng
trong cơ cấu nền kinh tế và đóng góp một phần không nhỏ vào thu nhập quốc dân
và bởi vậy nên du lịch đang được chú trọng và có những chính sách cũng như bước
phát triển để bắt kịp xu thế và nhu cầu thị trường du lịch biến Việt Nam trở thành
điểm đến hấp dẫn trong khu vực cũng như trên thế giới. Nói đến du lịch Việt Nam,
không thể không nói đến Cố đô Huế - kinh đô một thời của vương triều nhà
Nguyễn, thành phố của những di sản văn hóa gắn liền với lịch sử dân tộc, trung tâm
du lịch của miền trung với hai di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận từ
lâu đã là điểm dừng chân không thể thiếu của du khách quốc tế trong quá trình
khám phá, tìm hiểu vẻ đẹp của đất nước, con người Việt Nam. Đến với mảnh đất di
sản này, du khách không chỉ được đắm mình trong không gian văn hóa, kiến trúc cổ
xưa mà còn được tham gia, trải nghiệm nhiều hoạt động thường ngày gắn liền với
cuộc sống bình dị của con người xứ Huế.
Xã hội luôn luôn phát triển và nhu cầu của con người luôn luôn thay đổi, du
khách đến Huế đã quá quen thuộc với những chương trình du lịch văn hóa, du lịch
di sản, thưởng thức những món ăn cung đình hay nghe ca Huế trên sông Hương…
Để du lịch Huế phát triển hơn, thu hút được du khách trong và ngoài nước nhiều
SVTH: Đoàn Thị Mai Trinh K44-KTDL 8
Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: TS. Lê Thị Kim Liên
hơn, Festival Huế đã được ra đời dưới sự cho phép của Chính phủ và sự phối hợp
giữa UBND Tỉnh Thừa Thiên Huế và Đại sứ quán Pháp được tổ chức lần đầu tiên

vào năm 2000. Được tổ chức hai năm một lần, Festival Huế thực sự là ngày hội văn
hóa, nghệ thuật và du lịch có quy mô quốc gia và quốc tế, một đợt tổng diễn tập
hoạt động giao lưu có tính chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, thúc đẩy sự hồi
sinh của tỉnh Thừa Thiên Huế, phát huy được lợi thế so sánh của tỉnh Thừa Thiên
Huế trên lĩnh vực văn hóa - du lịch. Trong Festival Huế, Đêm Hoàng cung là một
chương trình nghệ thuật gắn với lễ hội, tái hiện những vẻ đẹp lung linh của Đại Nội
về đêm, gắn với sinh hoạt văn hóa trong cung điện Huế xưa. Lần đầu tiên được tổ
chức trong dịp Festival Huế 2006, Đêm Hoàng Cung được xem như một sản phẩm
du lịch văn hóa đặc sắc của Huế, là chương trình thu hút đông đảo khách du lịch
nhất, là điểm nhấn quan trọng trong mỗi kỳ Festival, Đêm Hoàng Cung như là một
cơ hội để giữ chân du khách qua đêm khi đến Huế. Để tìm hiểu và nhận biết được
tâm lý, nhận thức của du khách về những cái hay, cái đẹp, cái hồn của Đêm Hoàng
Cung, việc khai thác các chương trình, tiết mục trong Đêm Hoàng Cung như thế
nào cho phù hợp để ngày phát triển hơn là một vấn đề cần quan tâm. Nhận thấy
được tầm quan trọng đó, tôi đã chọn đề tài “NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU
LỊCH TRONG CHƯƠNG TRÌNH ĐÊM HOÀNG CUNG ĐƯỢC TỔ CHỨC
Ở FESTIVAL HUẾ 2014”.
2. Mục đích nghiên cứu
2.1. Mục đích chung
Phát triển du lịch trong chương trình Đêm Hoàng Cung được tổ chức ở Festival
Huế 2014.
2.2. Mục đích cụ thể
- Hệ thống hóa các vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về du lịch lễ hội.
- Nghiên cứu các vấn đề về lịch sử, đặc điểm, và tài nguyên văn hóa trong
chương trình Đêm Hoàng Cung được tổ chức ở Festival Huế 2014.
- Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa trong chương trình Đêm Hoàng Cung
được tổ chức tại Festival Huế 2014.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch trong Lễ hội Đêm Hoàng
Cung được tổ chức tại Festival Huế 2014.
SVTH: Đoàn Thị Mai Trinh K44-KTDL 9

Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: TS. Lê Thị Kim Liên
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Nội dung nghiên cứu:
Đề tài chủ yếu nghiên cứu phát triển du lịch trong chương trình Đêm Hoàng
Cung được tổ chức ở Festival Huế 2014.
3.2. Đối tượng nghiên cứu:
- Đặc điểm, lịch sử và tài nguyên văn hóa trong chương trình Đêm Hoàng Cung
được tổ chức ở Festival Huế 2014.
- Khách du lịch đến với chương trình Đêm Hoàng Cung được tổ chức trong dịp
Festival 2014.
3.3. Phạm vi nghiên cứu:
3.3.1. Thời gian:
- Thu thập số liệu thứ cấp: năm 2008, năm 2010, năm 2012
- Thu thập số liệu sơ cấp: tháng 4 năm 2014
3.3.2. Không gian:
Nơi diễn ra chương trình Đêm Hoàng Cung trong dịp Festival Huế 2014: Đại
Nội Huế
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thu thập số liệu
* Phương pháp điều tra số liệu thứ cấp: thu thập từ phòng Kế hoạch tài chính
của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và phòng Văn thư của Trung tâm Festival
Huế. Đó là các báo cáo doanh thu du lịch của Huế qua các năm 2008 – 2013 và
doanh thu du lịch của Festival Huế qua các kỳ 2008 2010 2012 được cung cấp,
thông tin còn được thu thập từ những nguồn như sách báo, qua website của tỉnh
Thừa Thiên Huế.
* Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp: Điều tra, phỏng vấn du khách thông qua
bảng hỏi
* Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản thông qua việc phát
bảng hỏi ngẫu nhiên cho du khách khi đến tham gia chương trình Đêm Hoàng Cung
được tổ chức ở Festival Huế 2014 diễn ra tại Đại Nội, Huế vào ngày 15 và 19 tháng

4 năm 2014.
- Sử dụng thang đo Likert, với 5 mức độ:
SVTH: Đoàn Thị Mai Trinh K44-KTDL 10
Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: TS. Lê Thị Kim Liên
1- Rất không đồng ý, 2- Không đồng ý, 3- Bình thường, 4- Đồng ý, 5- Rất đồng ý
- Các thông tin thu thập bao gồm:
+ Thông tin cá nhân: Quốc tịch, giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp.
+ Thông tin chuyến đi du lịch: Số lần đã tham gia Festival Huế, số lần tham gia
chương trình Đêm Hoàng Cung, cách tiếp cận thông tin và mục đích tham gia
Festival Huế.
+ Đánh giá của du khách khi tham gia chương trình Đêm Hoàng Cung:
 Chương trình Nhã nhạc Cung đình Huế
 Chương trình Lễ Hạ giá của công chúa
 Các trò chơi được tổ chức trong chương trình Đêm Hoàng Cung
 Chương trình Dạ nhạc tiệc
Bước 1: Xác định quy mô mẫu theo công thức tính quy mô mẫu của Linus
Yamane:
Trong đó: n: quy mô mẫu
N: kích thước của tổng thể, N = 3224 (tổng lượt khách đến tham gia
Đêm Hoàng Cung tại Festival Huế năm 2012 là 3224 khách).
Chọn khoảng tin cậy là 90 , nên mức độ sai lệch e = 0,1
Ta có: n =3224/(1+3224*0.1
2
)= 99.19. Vậy quy mô mẫu ít nhất là 99 mẫu.
Dự phòng để đảm bảo tính khách quan của mẫu, phòng trường hợp khách
không đủ thời gian để hoàn thành bảng hỏi nên tổng số mẫu dự kiến là 125 mẫu.
Kết quả thực tế, số phiếu phát ra là 125 phiếu, thu về 103 phiếu.
Bước 2:Tiến hành chọn mẫu phân tầng theo tiêu thức quốc tịch, do đối tượng
tham gia chương trình Đêm Hoàng Cung với du khách trong nước cùng với nhiều
quốc gia khác nhau và số lượng không tiêu biểu cho quốc gia nào nên phân tầng

theo nhóm khách Việt Nam, Châu Á, Châu Âu, Mỹ + Canada, Úc + New Zealand
và khác.
Bước 3:Sau khi phân tầng, trong từng tổ ta dùng cách chọn mẫu ngẫu nhiên đơn
giản để chọn các mẫu sẽ điều tra.
Bước 4: Tiến hành điều tra mẫu theo danh sách đã chọn.
- Thời gian điều tra: tháng 4, năm 2014.
- Phạm vi điều tra: tại Đại Nội Huế
SVTH: Đoàn Thị Mai Trinh K44-KTDL 11
Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: TS. Lê Thị Kim Liên
- Đánh giá độ tin cậy thang đo thông qua đại lượng Cronbach’s Alpha
Theo nhiều nhà nghiên cứu thì khi:
0,8 ≤ Cronbach’s Alpha ≤ 1 : Thang đo lường tốt.
0,7 ≤ Cronbach’s Alpha ≤ 0,8 : Thang đo có thể sử dụng được.
0,6 ≤ Cronbach’s Alpha ≤ 0,7 : Có thể sử dụng được trong trường hợp kháiniệm
đang nghiên cứu là mới hoặc mới đối với người trả lời trong bối cảnh nghiên cứu.
- Sử dụng kỹ thuật One – Way ANOVA (phân tích phương sai một yếu tố) đối với
các nhóm kiểm định có phương sai đồng đều (sig>0,05) để so sánh sự đánh giá của
các nhóm du khách có quốc tịch, giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp khác nhau.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
4.2.1. Phương pháp phân tích so sánh:
So sánh tuyệt đối và so sánh tương đối của các chi tiêu so sánh giữa các năm.
4.2.2. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu:
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích thống kê bằng phần mềm SPSS phiên
bản 16.0, cụ thể:
- Thống kê tần suất (Frequency), phần trăm (Percent), trung bình (Mean)
- Mô tả (Desciptive)
- Đánh giá độ tin cậy của thang đo Likert bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha.
- Phân tích phương sai một yếu tố (One-way ANOVA) để xem xét sự khác biệt
về ý kiến đánh giá của các khách hàng theo các nhân tố.
5. Cấu trúc nội dung của báo cáo khóa luận tốt nghiệp

Đặt vấn đề
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
5. Cấu trúc nội dung của báo cáo khóa luận tốt nghiệp
Chương 1: Tổng quan về du lịch, du lịch lễ hội và Festival Huế
Trình bày cơ sở lý thuyết và cơ sở thực tiễn về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng và đánh giá về vấn đề nghiên cứu phát triển du lịch
trong chương trình Đêm Hoàng Cung được tổ chức ở Festival Huế 2014
- Trình bày những nét tổng quát về Festival Huế và chương trình Đêm Hoàng
Cung
- Đánh giá của du khách khi tham gia chương trình Đêm Hoàng Cung
SVTH: Đoàn Thị Mai Trinh K44-KTDL 12
Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: TS. Lê Thị Kim Liên
Chương 3: Giải pháp phát triển du lịch trong chương trình Đêm Hoàng
Cung được tổ chức ở Festival Huế 2014.
Từ kết quả nghiên cứu và xuất phát từ kinh nghiệm thực tiễn, trình bày các
giải pháp nhằm cải thiện chất lượng dịch vụ trong chương trình Đêm Hoàng Cung
được tổ chức ở Festival Huế 2014.
Kết luận và kiến nghị
Kết luận và đề xuất các kiến nghị đối với các cấp, các ngành liên quan nhằm
thực hiện các giải pháp đã nêu ra.
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
SVTH: Đoàn Thị Mai Trinh K44-KTDL 13
Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: TS. Lê Thị Kim Liên
Chương I
TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA, DU LỊCH LỄ HỘI VÀ FESTIVAL HUẾ
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VÀ DU LỊCH LỄ HỘI

1.1. Khái niệm về du lịch
Theo nhà kinh tế học người Áo Josep Stander, nhìn từ góc độ du khách thì:
khách du lịch là loại khách đi theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên để thỏa
mãn sinh hoạt cao cấp mà không theo đuổi mục đích kinh tế. Nhìn từ góc độ thay
đổi về không gian của du khách: du lịch là một trong những hình thức di chuyển
tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ một nước này sang một nước
khác mà không thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc. Nhìn từ góc độ kinh tế: du lịch
là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí
nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên
cứu khoa học và các nhu cầu khác. Từ đó nhận thấy rằng, đối với những góc độ
khác nhau sẽ đưa ra những khái niệm du lịch khác nhau. Sau đây là một số khái
niệm du lịch của một số tổ chức quốc tế và trong nước:
- Theo tổ chức Du lịch Thế giới (WTO): “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt
động của những người du hành, tạm trú, với mục đích tham quan, khám phá và tìm
hiểu, trải nghiệm hoặc mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn, cũng như mục đích khác
nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống
định cư, nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền. Du lịch cũng
là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường khác hẳn nơi định cư.”
- Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005): “Du lịch là các hoạt động có liên quan
đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp
ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian
nhất định.”
Từ các định nghĩa trên cho ta thấy du lịch là một hoạt động liên quan đến
một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức đi ra khỏi nơi cư trú thường xuyên của họ
bằng các cuộc hành trình ngắn ngày hoặc dài ngày ở một nơi khác với mục đích chủ
yếu không phải là kiếm lời.Quá trình đi du lịch của họ được gắn với các hoạt động
kinh tế, các mối quan hệ, hiện tượng ở nơi họ đến.
1.2. Khái quát về văn hóa
SVTH: Đoàn Thị Mai Trinh K44-KTDL 14
Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: TS. Lê Thị Kim Liên

1.2.1. Khái niệm văn hóa
Nguồn gốc của văn hóa có liên quan đến hoạt động, lao động của con người
trong quá trình cải tạo tự nhiên, về sau từ văn hóa này được chuyển nghĩa để chỉ
trình độ văn hóa chỉ đến sự giáo dục của con người. Cho tới nay, người ta đã thống
kê có hơn 400 định nghĩa về văn hóa. Nghĩa thực sự xác định khái niệm Văn hóa
không đơn giản bởi mỗi học giả đều xuất phát từ những cứ liệu riêng, góc độ riêng,
mục đích riêng phù hợp với vấn đề mình cần nghiên cứu. Dưới đây là một số định
nghĩa về văn hóa:
- Theo như Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trước Cách mạng tháng 8 đã đưa ra một
định nghĩa sâu sắc về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như vì mục đích cuộc sống, con
người sáng tạo ra, phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học,
tôn giáo, nghệ thuật văn học, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn mặc ở
và những phương tiện, phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo đó là văn
hóa. Văn hóa là sử dụng tổng hợp mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện
của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống, những
đòi hỏi của sự sinh tồn”.
- PGS.TS Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các
giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt
động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội
của mình”.
- Theo như UNESCO về định nghĩa văn hóa được đưa ra (2002): “Văn hóa
hiện nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt về vật chất và tinh thần, trí tuệ và
cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội. Văn
hóa bao gồm: nghệ thuật, văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con
người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng. Văn hóa đem lại cho
con người khả năng suy xét về bản thân và chính nhờ văn hóa mà con người có thể
biết được tự thể hiện, tự ý thức bản thân, tự biết được mình là phương án chưa hoàn
thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt mỏi
những ý nghĩ mới mẻ và sáng tạo nên những công trình, vượt trội trên bản thân”.
SVTH: Đoàn Thị Mai Trinh K44-KTDL 15

Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: TS. Lê Thị Kim Liên
Từ đó, ta rút ra rằng văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra
và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song, chính văn hóa
lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội.
Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa.
Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội
của con người. Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu
hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng
như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra.
1.2.2. Phân loại các thành tố văn hóa
Cũng giống như khái niệm văn hóa, hiện vẫn đang tồn tại rất nhiều cách phân
loại các thành tố của văn hóa. Trong cuốn “Cơ sở văn hóa Việt Nam” do cố GS. Trần
Quốc Vượng chủ biên, văn hóa được chia thành các thành phần bao gồm: ngôn ngữ,
nghề thủ công; sân khấu tuồng, chèo, kịch; lễ hội; nghệ thuật âm thanh; phong tục tập
quán; kiến trúc; tín ngưỡng tôn giáo, nghệ thuật tạo hình; lối sống; nhiếp ảnh, điện
ảnh; văn chương; mass-media; thông tin, tín hiệu.Như vậy, lễ hội nằm trong văn hóa,
gốc gác của lễ hội chính là văn hóa.Mục đích lớn nhất của du lịch lễ hội chính là đi
du lịch để tìm hiểu, khám phá văn hóa ở một quốc gia, vùng miền khác.
1.3. Du lịch lễ hội
1.3.1. Lễ hội
Lễ hội là một sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng.“Lễ” là hệ
thống những hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người với thần
linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản
thân họ chưa có khả năng thực hiện. “Hội” là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ
thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ sự tồn tại và phát triển của
cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững
mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự bội thu của mùa màng,
mà từ bao đời nay quy tụ niềm mơ ước chung vào bốn chữ “Nhân khang, vật thịnh”
Lễ hội được nhìn nhận như một “bảo tàng sống” về đời sống cư dân văn hóa
bản địa.Lễ hội là hoạt động tập thể và thường có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo.

Con người xưa rất tin vào trời đất, thần linh. Các lễ hội cổ truyền phản ánh những
hiện tượng đó.
SVTH: Đoàn Thị Mai Trinh K44-KTDL 16
Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: TS. Lê Thị Kim Liên
1.3.2. Du lịch lễ hội
Cùng với sự phát triển ngày càng tăng của du lịch, các loại hình du lịch trong
nước và trên thế giới ngày càng đa dạng và phong phú đáp ứng đầy đủ nhu cầu ngày
càng tăng cao của du khách. Bên cạnh những loại hình du lịch phổ biến như du lịch
biển, du lịch sinh thái, du lịch công vụ, du lịch khám chữa bệnh, du lịch mạo hiểm,
… thì du lịch lễ hội là một loại hình du lịch không kém phần quan trọng trong sự
lựa chọn của du khách đặc biệt là du khách quốc tế trong thời đại nhu cầu trao đổi
văn hóa giữa các dân tộc, giữa các quốc gia là quan trọng và thiết yếu đối với xu
hướng mở cửa thị trường của các quốc gia trên thế giới.
Du lịch lễ hội là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người
ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí,
tìm hiểu… trong khoảng thời gian diễn ra một hoặc một số lễ hội ở một địa phương
nhất định.
Đối với cá nhân con người, tham gia lễ hội hoặc đi du lịch lễ hội là một cách
tham gia vào quá trình sáng tạo và sáng tạo văn hóa, là được hòa mình trong dòng nước
đầu nguồn của văn hóa dân tộc với một tinh thần cộng đồng và cộng cảm sâu sắc.
Trong du lịch văn hóa, người ta thường chia làm các loại: du lịch di tích lịch
sử, du lịch phố cổ, du lịch lễ hội, du lịch di tích văn hóa… Vậy nên du lịch lễ hội là
một loại của du lịch văn hóa.Loại hình du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những sản
phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc, kể cả những phong tục tín
ngưỡng… để tạo sức hút đối với du khách bản địa và từ khắp nơi trên thế giới.Phần
lớn hoạt động du lịch văn hóa gắn liền với địa phương lưu giữ nhiều lễ hội văn
hóa.Khách du lịch ở mọi miền tổ quốc và các nước phát triển thường lựa chọn
những lễ hội của địa phương để tổ chức những chuyến du lịch dài ngày trong suốt
mùa lễ hội.Những nguồn lợi này không những tạo ra giá trị lớn cho ngành du lịch
mà còn đóng góp đáng kể cho sự phát triển của cộng đồng xã hội.

1.4. Khách du lịch
Nếu xét trên góc độ thị trường thì khách du lịch chính là cầu thị trường, còn
các nhà kinh doanh du lịch là cung thị trường. Để nghiên cứu một cách đầy đủ và có
cơ sở tin cậy cần tìm hiểu và phân tích một số định nghĩa về khách du lịch được đưa
SVTH: Đoàn Thị Mai Trinh K44-KTDL 17
Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: TS. Lê Thị Kim Liên
ra từ các Hội nghị quốc tế về du lịch hay của các tổ chức quốc tế có quan tâm đến
các vấn đề về du lịch. Sau đây là một số định nghĩa về khách du lịch:
Định nghĩa của hội nghị quốc tế về Du lịch tại Hà Lan năm 1989: “Khách du
lịch quốc tế là những người đi thăm một đất nước khác, với mục đích tham quan,
nghỉ ngơi, giải trí, thăm hỏi trong khoảng thời gian nhỏ hơn 3 tháng, những người
khách này không được làm gì để được trả thù lao và sau thời gian lưu trú ở đó du
khách trở về nơi ở thường xuyên của mình”.
Trong Pháp lệnh du lịch của Việt Nam ban hành năm 1999 có nói: “Khách
du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc
hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”. Trong Luật Du lịch Việt Nam ban
hành năm 2005 thì định nghĩa về khách du lịch bao gồm khách du lịch quốc tế và
khách du lịch nội địa được trích dẫn ở điều 34 trang 33 như sau: “Khách du lịch
quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam
và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du
lịch” và “Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú
tại Việt Nam đi du lịch trong lãnh thổ Việt Nam”.
2. TỔNG QUAN VỀ FESTIVAL HUẾ
2.1. Festival du lịch
Festival du lịch được hiểu là một hoạt động văn hóa du lịch được tổ chức
thường kỳ, là ngày hội du lịch của địa phương, vùng, quốc gia, khu vực,… nhằm
gắn kết các hoạt động văn hóa, thể thao, hội nghị, hội thảo… với hoạt động du lịch
nhằm giới thiệu sâu rộng tới người dân, khách du lịch trong và ngoài nước về tiềm
năng du lịch, đất nước, con người, địa phương, vùng, quốc gia hay khu vực đó; tạo
cơ hội kinh doanh hợp tác giữa các doanh nghiệp, các tổ chức du lịch và giữa các

quốc gia, góp phần thúc đẩy hoạt động du lịch phát triển. Festival Huế là một hoạt
động văn hóa tổ chức hai năm một lần ở thành phố Huế nhằm giới thiệu về Huế, về
đất nước, con người Việt Nam qua các hoạt động biểu diễn văn hóa, nghệ thuật, hội
chợ, hội thảo, giao lưu… tạo cơ hội phát triển kinh tế - xã hội trong đó có lĩnh vực
du lịch.
SVTH: Đoàn Thị Mai Trinh K44-KTDL 18
Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: TS. Lê Thị Kim Liên
2.2. Lịch sử hình thành Festival Huế
Xuất phát từ những kết quả bước đầu của Festival Việt - Pháp 1992 giữa
thành phố Huế và Codev Việt Pháp, tỉnh Thừa Thiên Huế đã sớm hình thành ý
tưởng tổ chức một Festival với qui mô lớn hơn, chất lượng cao hơn. Ý tưởng ấy
đã được sự đồng tình của nhiều bộ, ngành Trung ương và Ðại sứ quán Cộng hòa
Pháp tại Việt Nam.Tháng 10 năm 1998, Chính phủ đã có quyết định cho phép
tỉnh Thừa Thiên Huế phối hợp với Ðại sứ quán Pháp tại Việt Nam tổ chức
Festival Huế 2000.Ngay sau đó, các nhóm chuyên gia kỹ thuật Việt - Pháp đã
phối hợp khẩn trương chuẩn bị theo hướng tổ chức Festival Huế 2000 là một sự
kiện văn hóa lớn của Việt Nam, vừa có quy mô quốc gia và có tính quốc tế, thu
hút sự tham gia của các vùng văn hóa tiêu biểu ở Việt Nam và tiếp cận với nghệ
thuật đương đại của Pháp, gắn mở rộng giao lưu văn hóa với phát triển kinh tế du
lịch, từng bước tiếp thu công nghệ Festival quốc tế, xây dựng Huế xứng đáng là
thành phố Festival của Việt Nam.
2.3. Festival Huế qua các thời kỳ
Festival Huế 2000 diễn ra 12 ngày đêm, với sự tham gia của trên 30 đơn vị
nghệ thuật của Việt Nam và Pháp với trên 1000 nghệ sĩ, diễn viên chuyên nghiệp và
không chuyên nghiệp, thu hút hơn 410.000 lượt người tham dự Festival, trong đó có
41.000 lượt khách du lịch, với 6000 lượt khách quốc tế Đây thực sự là ngày hội
văn hóa, nghệ thuật và du lịch có quy mô quốc gia và quốc tế, một đợt tổng diễn tập
hoạt động giao lưu có tính chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, thúc đẩy sự hồi
sinh của tỉnh Thừa Thiên Huế sau cơn lũ lịch sử năm 1999, phát huy được lợi thế so
sánh của tỉnh Thừa Thiên Huế trên lĩnh vực văn hóa - du lịch.

Festival Huế 2002 tiếp tục phát triển chủ đề “Khám phá nghệ thuật sống của
cố đô Huế” đi liền với mở rộng giao lưu quốc tế, diễn ra 12 ngày đêm và 1 tháng
trước ngày khai mạc được khởi động bằng Trại Sáng tác Điêu khắc Quốc tế “Ấn
tượng Huế - Việt Nam” với sự tham gia của 33 đoàn nghệ thuật tiêu biểu đến từ các
nước Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Indonesia, Thái Lan, Lào,
Campuchia và các đoàn trong nước gồm 1554 nghệ sĩ, diễn viên, cán bộ kỹ thuật,
thu hút trên 1 triệu lượt người tham dự, 75.000 lượt khách du lịch, trong đó có
SVTH: Đoàn Thị Mai Trinh K44-KTDL 19
Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: TS. Lê Thị Kim Liên
18.000 lượt quốc tế (tăng gấp 3 lần so với Festival Huế 2000). Festival Huế 2002 đã
tạo được tiếng vang lớn, mang tầm vóc quốc gia và quốc tế, tạo tiền đề để xây dựng
Huế trở thành thành phố Festival của Việt Nam.
Festival Huế 2004 với chủ đề “Di sản văn hóa với hội nhập và phát triển”
diễn ra trong 9 ngày đêm gắn với 1 tháng khởi động của Trại Sáng tác Điêu khắc
Quốc tế “Ấn tượng Huế - Việt Nam”, Trại Điêu khắc Dân gian, Festival Thơ Huế
và nhiều hoạt động dạo đầu, đã quy tụ 15 đoàn nghệ thuật nước ngoài đến từ các
nước Pháp, Trung Quốc, Argentina, Úc, Ấn Độ, Đức, Mỹ; 25 đoàn nghệ thuật trong
nước với 1.300 diễn viên chuyên nghiệp, gần 2.000 diễn viên không chuyên và đội
ngũ cán bộ kỹ thuật từ nhiều lực lượng tham gia phục vụ Festival, thu hút 1,2 triệu
lượt người tham dự, 101.950 lượt khách du lịch, trong đó có 11.950 lượt khách
quốc tế. Đây là một lễ hội văn hóa du lịch có quy mô quốc gia và quốc tế, giới thiệu
được những giá trị nghệ thuật đặc sắc của Việt Nam, của Huế và nhiều quốc gia trên
thế giới, đồng thời là dịp tôn vinh Nhã nhạc Cung đình Huế - kiệt tác văn hóa phi
vật thể và truyền khẩu của nhân loại vừa được UNESCO công nhận, tiếp tục tạo ra
động lực thúc đẩy kinh tế du lịch và văn hóa phát triển, khẳng định lợi thế của một
thành phố Festival của Việt Nam.
Festival Huế 2006 với chủ đề “700 năm Thuận Hóa - Phú Xuân - Thừa Thiên
Huế, Di sản Văn hóa với Hội nhập và Phát triển” - quy tụ 1.440 nghệ sĩ, diễn viên
của 22 đoàn nghệ thuật trong nước (1171 diễn viên) và 22 đoàn nghệ thuật quốc tế
(269 diễn viên) đến từ các nước: Pháp, Trung Quốc, Nga, Hàn Quốc, Nhật Bản,

Thái Lan, Anh, Argentina, Indonesia, Úc. Festival Huế 2006 tiếp tục phát huy được
những kết quả và các kinh nghiệm của các kỳ Festival trước, đã đạt được các yêu
cầu đặt ra, thu hút 1,5 triệu lượt người tham dự vào các hoạt động tại Festival Huế.
Một tháng khởi động trước khai mạc và 9 ngày đêm liên tục từ 3/6 đến 11/6/2006,
Festival Huế 2006 đã mang đến cho công chúng 138 suất diễn, trên 40 hoạt động
văn hóa và lễ hội cộng đồng. Chương trình đã được công luận đánh giá là một lễ hội
mang đậm chất dân tộc, hiện đại, hoành tráng, hấp dẫn và an toàn, thể hiện được
đẳng cấp của một Festival chuyên nghiệp và có tính quốc tế của Việt Nam. Đặc
biệt, Festival Huế 2006 đã tiếp tục đánh thức, khơi dậy những giá trị văn hóa Việt
SVTH: Đoàn Thị Mai Trinh K44-KTDL 20
Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: TS. Lê Thị Kim Liên
Nam, văn hóa Huế, tiếp thị một cách có hiệu quả với bạn bè năm châu hình ảnh của
cố đô Huế, thành phố Festival của Việt Nam.
Festival Huế 2008 với chủ đề “Di sản văn hóa với hội nhập và phát triển”
khai mạc vào đêm 03/6/2008 tại Quảng trường Ngọ Môn và bế mạc trên sông
Hương vào đêm 11/6/2008. Festival Huế 2008 lần đầu tiên hội tụ đông đảo các đoàn
nghệ thuật truyền thống và đương đại, các nghệ sỹ điêu khắc đến từ 27 quốc gia và
các châu lục trên thế giới như: Pháp, Trung Quốc, Anh, Italia, Hoa Kỳ, Hàn Quốc,
Bỉ, Úc, Thái Lan, Canada, Nhật, Campuchia, Indonesia, Úc, Thuỵ Sĩ 31 nước với
31 chương trình nghệ thuật mang đến nhiều màu sắc văn hóa như: Cộng hòa Pháp
sẽ mang đến chương trình nghệ thuật múa đương đại; Hàn Quốc sẽ mang đến
Festival một chương trình nghệ thuật truyền thống với những tiết mục ca múa và
nhạc cụ độc đáo. Trung Quốc với xiếc, dân ca; Nhật Bản với múa võ thuật; Canada
với xiếc hiện đại; Mỹ với Jazz và Rock….
Với chủ đề “Di sản văn hóa với hội nhập và phát triển”, Festival Huế 2010 là
hoạt động trong chương trình quốc gia hướng đến kỷ niệm 1000 năm Thăng Long
Hà Nội, 50 năm kết nghĩa Hà Nội-Huế-Sài Gòn, khai mạc vào ngày 5/6/2010 và bế
mạc 13/6/2010. Điểm mới là Festival Huế 2010 sẽ có mặt đoàn nghệ thuật của các
quốc gia ở cả 5 châu lục, là nơi gặp gỡ đầy ấn tượng của các thành phố vốn là cố
đô, các thành phố có di sản thế giới. Có 31 quốc gia đăng ký tham gia với tổng số

hơn 40 nhóm nghệ sĩ và đoàn nghệ thuật, đến nay đã khẳng định cụ thể 31 chương
trình từ 21 quốc gia với nhiều thể loại phong phú và hấp dẫn gồm: Ca Múa Nhạc,
Xiếc, Sân Khấu, Nghệ thuật đường phố, Nghệ thuật sắp đặt, Rối, Điện ảnh, Triển
lãm Các đoàn nghệ thuật quốc tế sẽ có những chương trình biểu diễn tại các sân
khấu ngoài phạm vi thành phố. Các đoàn nghệ thuật đường phố nổi tiếng sẽ tạo
không khí sôi động trong suốt thời gian diễn ra Festival.
Festival Huế lần thứ 7 – 2012 với chủ đề “Di sản văn hóa với hội nhập và
phát triển – Nơi gặp gỡ các thành phố lịch sử”, điểm nhấn của năm Du lịch quốc gia
duyên hải Bắc Trung Bộ 2012 diễn ra từ ngày 7 đến 15/4/2012 đã thành công rực
rỡ. Trong suốt 9 ngày đêm, cả thành phố Huế và toàn tỉnh Thừa Thiên Huế náo nức
trong bầu không khí lễ hội với rất nhiều loại hình nghệ thuật tạo nên diện mạo mới,
SVTH: Đoàn Thị Mai Trinh K44-KTDL 21
Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: TS. Lê Thị Kim Liên
sức sống mới của vùng dất Cố đô. Festival Huế 2012 đã hội tụ tinh hoa của hơn 65
đơn vị và nhóm nghệ thuật đa sắc màu từ các vùng, miền Việt Nam và quốc tế, với
trên 2.000 nghệ sĩ chuyên nghiệp biểu diễn, các nhạc sĩ, họa sĩ, nhiếp ảnh đến từ
mọi miền đất nước Việt Nam và của 27 nước bạn bè quốc tế (trong đó có 500 nghệ
sĩ quốc tế); hơn 3.000 diễn viên không chuyên tham gia trình diễn các chương trình
nghệ thuật, triễn lãm, nghệ thuật sắp đặt, lễ hội cộng đồng; thu hút hơn 2 triệu lượt
người tham gia các hoạt động của Festival; hơn 189.189 lượt khách lưu trú tại các
khách sạn, nhà nghỉ tăng 54% so với Festival Huế 2010, trong đó có 90.783 lượt
khách quốc tế, gấp hơn 3 lần so với năm ngoái và đa dạng hơn về quốc tịch (số
quốc tịch là 111 so với 2010 là 93).
3. NGUỒN GỐC CỦA CHƯƠNG TRÌNH ĐÊM HOÀNG CUNG TRONG
FESTIVAL HUẾ
3.1. Đôi nét về chương trình Đêm Hoàng Cung
3.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển chương trình Đêm Hoàng Cung
3.1.1.1. Lịch sử hình thành Hoàng Cung
Năm 1802, vua Gia Long lập ra triều Nguyễn, định đô ở Phú Xuân, Huế trở
thành kinh đô của cả nước thống nhất từ Đồng Văn đến Cà Mau. Di sản kiến trúc

hiện nay chủ yếu được xây dựng từ thời Gia Long trở đi. Các tư liệu của triều
Nguyễn cho biết rõ, vào mùa hè năm 1804, vua Gia Long giao cho 3 nhóm đại thần
đứng ra điều khiển xây dựng ba loại công trình kiến trúc quan trọng sau đây: Ba
miếu thờ Thái Miếu, Triệu Miếu và Hoàng Khảo Miếu (về sau đổi tên là Hưng
Miếu); Ba cung điện Cần Chánh, Trường Thọ (về sau đổi tên là Diên Thọ) và Khôn
Đức (sau đổi tên là Khôn Thái); Hai vòng tường thành của Hoàng Thành và Cung
Thành (sau đổi tên là Tử Cấm Thành).
Từ năm 1805 trở đi, song song với việc xây dựng Kinh Thành, vua Gia Long
đã cho thi công một loạt công trình kiến trúc sau đây: điện Thái Hòa (1805), hệ
thống hành lang trong Hoàng Cung (1809), viện Thái Y, điện Quang Minh và điện
Trinh Minh (1810), điện Trung Hòa (sau đổi tên là Càn Thành - 1811), điện Hoàng
Nhân (sau đổi tên là điện Phụng tiên – 1814)…
Trong ngót 20 năm trị vì (1820 – 1840) vua Minh Mạng đã nâng cấp, xây dựng
thêm và hoàn chỉnh các công trình kiến trúc ở Hoàng Thành và Tử Cấm Thành: xây
SVTH: Đoàn Thị Mai Trinh K44-KTDL 22
Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: TS. Lê Thị Kim Liên
Thế Miếu, Hiển Lâm Các (1821 – 1822), dời điện Thái Hòa, xây Đại Cung Môn,
Ngọ Môn (1833), đúc Cửu Đỉnh (1835 – 1837) và làm thêm hàng chúc công trình
khác như cung Trường Sanh, Đông Cát, nhà hát Duyệt Thị, sở Thượng Thiện, lầu
Minh Viễn, vườn Ngự Uyển, vườn Cơ Hạ, Lục Viện (dùng cho hàng trăm bà nội
cung ăn ở)…
Dưới thời 9 ông vua kế nghiệp từ Thiệu Trị (1841 – 1847) đến Duy Tân (1907 –
1916), triều đình Huế lâm vào tình trạng ngày càng khó khăn về đối ngoại, nền kinh
tế trong nước sa sút dần. Tuy họ có xây dựng thêm một số công trình kiến trúc nhỏ
trong Hoàng Cung, nhưng nhiệm vụ chủ yếu của họ là cố gắng tu sửa, bảo tồn
những gì mà hai vị vua đầu nhà Nguyễn đã để lại.
Đến thời hai ông vua cuối cùng là Khải Định (1916 – 1925) và Bảo Đại (1926 –
1945), trong bối cảnh nền văn hóa Tây Phương ồ ạt tràn vào Việt Nam, các công
trình kiến trúc được họ tu sửa (như của Hiển Nhơn, cửa Chương Đức, cửa Trường
An, nhà hát Duyệt Thị…) hoặc làm mới (như lầu Kiến Trung, lầu Ngự Tiền Văn

Phòng, lầu Tứ Phương Vô Sự, lầu Tịnh Minh…) đều đã ít nhiều chịu ảnh hưởng của
nghệ thuật kiến trúc bên kia bán cầu. Hầu hết vật liệu kiến trúc là bê tông cốt thép.
3.1.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển chương trình Đêm Hoàng Cung
Công trình văn hóa Đại Nội được các triều vua trước để lại đến nay là điều
kiện thuận lợi để phát triển loại hình du lịch văn hóa tại điểm đến Thừa Thiên Huế
và Đại Nội càng thu hút khách du lịch hơn khi được UNESCO công nhận là Di sản
văn hóa Thế giới vào năm 2003. Bên cạnh tài nguyên nghệ thuật kiến trúc sẵn có,
tài nguyên văn hóa bao gồm ẩm thực hay lễ hội cũng có một sức hút không kém
phần quan trọng đối với du khách.Nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa cổ,
các hoạt động trong Hoàng Cung dưới triều đại nhà Nguyễn được tái hiện và phục
dựng lần đầu tiên vào năm 2006 trong dịp Festival Huế 2006 với tên gọi “Đêm
Hoàng Cung”. Đây là một chương trình nghệ thuật gắn với lễ hội nhằm tái hiện
những vẻ đẹp lung linh của Đại Nội về đêm với quan binh, voi ngựa, thái giám, thị
nữ và những chân dung xưa gắn với các công trình kiến trúc.Tái hiện một cách tổng
thể các hoạt động, các sinh hoạt văn hóa của vua, cung tần mỹ nữ, hoàng tử công
chúa… tại các cung điện trong Hoàng Thành và Tử Cấm Thành xưa dưới triều đại
SVTH: Đoàn Thị Mai Trinh K44-KTDL 23
Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: TS. Lê Thị Kim Liên
nhà Nguyễn. Sau đó, Đêm Hoàng Cung tại Đại Nội Huế được Trung tâm Bảo tồn
Di tích cố đô tổ chức định kỳ hằng tháng nhưng không thu hút được đông đảo
khách du lịch nên sau này chỉ tổ chức Lễ hội vào đúng dịp Festival Huế.
3.1.2. Mục đích của Đêm Hoàng Cung
Tiếp nối những giá trị văn hóa đời trước để lại, Đêm Hoàng Cung xây dựng
nên một môi trường diễn xướng nhằm mô phỏng lại các hoạt động sinh hoạt văn
hóa trong cung đình.Đây là chương trình gắn nghệ thuật với lễ hội được tổ chức với
mục đích tái hiện vẻ đẹp lung linh huyền ảo của Đại Nội về đêm và mục đích quảng
bá nghệ thuậtnhững yếu tố văn hóa truyền thống đặc sắc của dân tộc và hỗ trợ
doanh nghiệp kinh doanh lữ hành khai thác các sản phẩm văn hóa truyền thống để
đáp ứng nhu cầu thị hiếu khách du lịch trong nước và quốc tế. Đồng thời, Đêm
Hoàng Cung được tổ chức với mục đích bảo tồn, gìn giữ và phát huy những giá trị

văn hóa Cung đình của vùng đất Cố đô, nơi vị vua cuối cùng của đất nước thoái vị,
chấm dứt triều đại phong kiến tại Việt Nam.
3.1.3. Ý nghĩa của chương trình Đêm Hoàng Cung
Được ra đời lần đầu tiên vào năm 2006, Đêm Hoàng Cung được duy trì như
một sản phẩm du lịch văn hóa đặc sắc của Huế, đây chính là điểm nhấn quan trọng
nhất thu hút một lượng lớn khách du lịch trong mỗi kỳ Festival Huế được tổ chức
hai năm một lần. Một chương trình nghệ thuật đặc sắc tôn vinh các giá trị văn hóa
độc đáo của Huế đã làm sống dậy vẻ đẹp lung linh huyền ảo cùng nhiều sinh hoạt
văn hóa cung đình như: nhã nhạc, múa cung đình, tuồng Huế, ca Huế, trò chơi cung
đình, nghệ thuật ẩm thực cung đình Huế, dạ nhạc tiệc cung đình… Nhằm tạo ra một
sản phẩm du lịch văn hóa đặc trưng của triều đại phong kiến ở Việt Nam, khẳng
định bản sắc dân tộc Việt Nam và có vô vàn những giá trị tài nguyên nghệ thuật
cũng như giá trị tài nguyên văn hóa vẫn còn cần được khám phá và chiêm nghiệm.
Qua đó, dễ dàng bảo tồn và duy trì các giá trị văn hóa cổ xưa, không bị mai một bởi
hiện tượng trào lưu văn hóa trên thế giới đang ồ ạt vào Việt Nam mà giới trẻ hiện
nay tiếp thu một cách thụ động, không chọn lọc.
3.2. Vài nét sinh hoạt văn hóa cung đình dưới triều đại nhà Nguyễn
3.2.1. Nhã nhạc Cung đình Huế
SVTH: Đoàn Thị Mai Trinh K44-KTDL 24
Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: TS. Lê Thị Kim Liên
Nhã nhạc với nghĩa chung là loại nhạc thanh nhã, cao thượng của Cung đình
và giới quý tộc phong kiến, nhằm phân biệt với Tục nhạc của người dân thường,
được xuất hiện vào thời đại nhà Chu (1122 – 771 TCN) ở Trung hoa, du nhập vào
Việt Nam ở thời đại nhà Hồ (1402) và chính thức trở thành Nhã nhạc cung đình vào
năm 1437 dưới triều đại nhà Lê của vua Lê Thái Tông (1434 – 1442). Chức năng
của Nhã nhạc là loại nhạc lễ và nghi thức. Nó được sử dụng trong các loại Tế Nam
Giao, Tế Thái Miếu, được tấu để cứu nhật thực, nguyệt thực, được làm nghi thức
cho buổi đại triều, buổi tiếp sứ giả và một số dịp khánh hạ quan trọng của nhà vua
và gia đình. Như vậy, Nhã nhạc chiếm một tỉ trọng lớn trong đời sống cung đình
nhưng không phải là toàn bộ âm nhạc của cung đình vì ngoài Nhã nhạc còn có các

loại nhạc khác với tên gọi riêng, phần lớn mang tính giải trí như Yến nhạc, Nữ
nhạc. Trải qua nhiều biến thiên lịch sử đến triều đại Nguyễn (1802 – 1945) Nhã
nhạc mới lại được sáng tạo và thực hiện một cách đồng bộ, toàn diện và đúng chức
năng nhất.
Căn cứ vào các tư liệu được ghi lại, Nhã nhạc chỉ bao gồm một liên khúc
gồm 10 bài, được gọi bằng bốn tên gọi khác nhau:
- Thập thủ liên hoàn vì khi trình diễn, người ta chơi liền một mạch 10 bài.
- Mười bài Ngự vì đây là những bài trình diễn cho vua.
- Mười bài Tầu vì cho rằng các bài nhạc này có nguồn gốc Trung Hoa.
- Mười bản tấu được nói sai thành Mười bản tầu vì trong tiếng Việt, từ “tấu”
và “tầu” có cùng âm tiết “âu” và chỉ khác thanh nên dễ nhầm. Và dù được gọi bằng
tên gì thì khi trình diễn dàn nhạc cũng chơi liễn một mạch cả 10 bài theo thứ tự sau
đây:Phẩm Tuyết, Nguyên Tiêu, Hồ Quảng, Liên hoàn, Bình bản, Tây Mai, Kim
Tiền, Xuân Phong,Long Hổ, Tấu mã.
Cơ cấu dàn nhạc cung đình năm 1919 mà GS. TS. Trần Văn Khê mô tả, bao
gồm: Một đàn nguyệt, Một đàn tam, Một đàn tỳ bà, Một đàn nhị, Một xênh tiền,
Một tam âm la, Một phách, Một trống mảng, Hai sáo tre.
SVTH: Đoàn Thị Mai Trinh K44-KTDL 25

×