Tải bản đầy đủ (.doc) (27 trang)

SKKN: TẬP CHO HỌC SINH TIẾP CẬN LỊCH SỬ QUA CÁC TƯ LIỆU TRONG GIẢNG DẠY LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.8 MB, 27 trang )

TẬP CHO HỌC SINH TIẾP CẬN LỊCH SỬ QUA CÁC
TƯ LIỆU TRONG GIẢNG DẠY LỊCH SỬ
Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Như chúng ta đã biết, thực tế khách quan hiện nay trên thế giới và
trong nước đặt ra nhiều vấn đề phải đổi mới giáo dục. Khuynh hướng
đổi mới của quan điểm giáo dục nói chung hiện nay là phải hướng mục
đích vào xây dựng một xã hội, trong đó, mọi người dân bình thường đều
có cơ hội như nhau đối với việc trau dồi sự hiểu biết, phát huy năng lực
cá nhân, để có thể tham gia tích cực vào quá trình sản xuất, góp phần
nâng cao chất lượng cuộc sống và linh hoạt giải quyết các vấn đề do
thực tế đặt ra. Theo tinh thần đổi mới của quan điểm giáo dục, trong
hoạt động dạy và học, vai trò của người dạy và người học phải thay đổi.
Thầy phải là người tổ chức những tình huống học tập, có tác dụng tạo ra
ở học sinh nhu cầu nhận thức, khuyến khích và đưa các em vào những
hoạt động có tính chất tự học, tư tìm tòi, nghiên cứu, để từng bước rèn
luyện cho các em các kĩ năng cần thiết cho cuộc sống sau này, như phát
hiện vấn đề, giải quyết vấn đề, quan sát, phê phán…
Sự đổi mới quan điểm giáo dục nhất định đưa đến sự đổi mới về
kiểu dạy học. Từ kiểu dạy học “truyền thống”, xem thầy là nhân vật
trung tâm, “ngồi cho chữ”, đến kiểu dạy “lấy học sinh làm trung tâm”,
“hướng tập trung vào học sinh, trên cơ sở hoạt động của học sinh” là cả
một bước tiến dài, có tính cách một sự biến đổi về chất.
Trong tinh thần đổi mới giáo dục nêu trên, việc dạy và học lịch sử
cũng cần tự thay đổi. Bởi vì, suy cho cùng, sự đổi mới của giáo dục, nhất
định phải thông qua mỗi giờ lên lớp của từng giáo viên bộ môn. Điều
chúng ta cần suy nghĩ là phải tránh lối dạy có sẵn. Như vậy làm thế nào
để phát huy tính tích cực của học sinh (HS) trong dạy học lịch sử? Có rất
nhiều biện pháp, ví dụ như: Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan,
phương pháp hướng dẫn học sinh ghi nhớ sự kiện lịch sử, nắm vững và
sử dụng sách giáo khoa, vở bài tập, tiến hành công tác ngoại khoá


Nhưng việc tập cho học sinh tiếp cận lịch sử qua các tư liệu trong dạy
học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng là một trong những biện pháp
rất quan trọng, rất có ưu thế để phát triển tư duy của học sinh. Quá trình
hoạt động chung, thống nhất giữa thầy và trò nhịp nhàng sẽ làm cho học
sinh nắm vững hơn những tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo và bồi
dưỡng phẩm chất đạo đức, hình thành nhân cách cho các em. Việc chủ
1
động tìm tòi, khám phá những tri thức cũng góp phần giúp các em chủ
động giải quyết các vấn đề thực tế của cuộc sống sau này của mình, một
cách gián tiếp đó cũng là giáo dục kỹ năng sống cho các em: không trông
chờ, ỷ lại
Mặt khác nhằm giảm bớt số lượng học sinh yếu kém trong nhà
trường và phát huy hết năng lực của các em khá giỏi nắm chắc được kiến
thức bài học và hiểu sâu hơn các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử
Thực trạng dạy và học môn lịch sử ở trường THPT Trần Phú:
1. Ưu điểm :
*. Về phía giáo viên :
- Đại đa số giáo viên (GV) đều cố gắng thay đổi phương pháp giảng
dạy của mình theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh thông qua
các phương pháp dạy học như phương pháp trực quan, phương pháp giải
quyết vấn đề, phương pháp vấn đáp thông qua sự trình bày sinh động
giàu hình ảnh của giáo viên trong tường thuật, miêu tả, kể chuyện, hoặc
nêu đặc điểm của nhân vật lịch sử
- Giáo viên đã tích cực hướng dẫn học sinh thảo luận nhóm, hỗ trợ
kiến thức cho nhau và thông qua hoạt động này những em yếu kém được
hoạt động một cách tích cực dưới sự hướng dẫn của giáo viên và các bạn
học sinh khá giỏi và học sinh nắm chắc kiến thức và hiểu sâu hơn về bản
chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử
- Trong quá trình giảng dạy đã kết hợp nhuần nhuyễn các đồ dùng dạy
học, khai thác một cách triệt để các đồ dùng và phương tiên dạy học như

tranh ảnh, bản đồ, sa bàn, mô hình, và từng bước ứng dụng công nghệ
thông tin phù hợp trong dạy học lịch sử
*. Về phía học sinh :
- Học sinh đa số chú ý nghe giảng, tập trung suy nghĩ trả lời các câu
hỏi mà giáo viên đặt ra như các em đã chuẩn bị bài mới ở nhà, trả lời
các câu hỏi cuối mục trong bài cho nên khi học các em luôn chú ý để
nắm chắc bài hơn.
- Đa số học sinh đều tích cực thảo luận nhóm và đã đưa lại hiêụ quả
cao trong quá trình lĩnh hội kiến thức .
- Học sinh yếu kém đã và đang cố gắng nắm bắt các kiến thức trọng
tâm cơ bản thông qua các hoạt động học như thảo luận nhóm, vấn đáp,
đọc sách giáo khoa các em đã mạnh dạn khi trả lời các câu hỏi hay ghi
nhớ các sự kiện, nhân vật
2. Hạn chế :
* Về phía giáo viên :
2
- Vẫn còn một số ít giáo viên chưa thực sự thay đổi hoàn toàn
phương pháp dạy học cho phù hợp với từng tiết dạy, chưa tích cực hoá
hoạt động của học sinh tạo điều kiện cho các em suy nghĩ , chiếm lĩnh và
nắm vững kiến thức như vẫn còn sử dụng phương pháp dạy học “thầy
nói, trò nghe ”, “thầy đọc, trò chép ”. Do đó nhiều học sinh chưa nắm
vững được kiến thức mà chỉ học thuộc một cách máy móc, trả lời câu hỏi
thì nhìn vào sách giáo khoa hoàn toàn
- Đa số giáo viên chưa nêu câu hỏi nhận thức đầu giờ học tức là sau
khi kiểm tra bài cũ giáo viên vào bài luôn mà không giới thiệu bài qua
việc nêu câu hỏi nhận thức, điều này làm giảm bớt sự tập trung, chú ý
bài học của học sinh ngay từ hoạt động đầu tiên.
- Một số câu hỏi giáo viên đặt ra hơi khó, học sinh không trả lời được
nhưng lại không có hệ thống câu hỏi gợi mở nên nhiều khi phải trả lời
thay cho học sinh. Vấn đề này được thể hiện rất rõ trong hoạt động thảo

luận nhóm, giáo viên chỉ biết nêu ra câu hỏi nhưng lại không hướng dẫn
học sinh trả lời câu hỏi đó như thế nào vì không có hệ thống câu hỏi gợi
mở vấn đề.
- Một số tiết học giáo viên chỉ nêu vài ba câu hỏi và huy động một số
học sinh khá, giỏi trả lời, chưa có câu hỏi giành cho đối tượng học sinh
yếu kém .Cho nên đối tượng học sinh yếu kém ít được chú ý và không
được tham gia hoạt động, điều này làm cho các em thêm tự ti về năng
lực của mình và các em cảm thấy chán nản môn học của mình.
* Về phía học sinh :
- Học sinh thường trả lời câu hỏi giáo viên đặt ra thông qua việc nhìn
sách giáo khoa và nhắc lại, chưa có sự độc lập tư duy . Một số học sinh
còn đọc nguyên xi sách giáo khoa để trả lời câu hỏi.
- Học sinh còn lười học và chưa có sự say mê môn học, một số bộ
phận học sinh không chuẩn bị bài mới ở nhà, không làm bài tập đầy đủ,
trên lớp các em thiếu tập trung suy nghĩ. Cho nên việc ghi nhớ các sự
kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử còn yếu.
- Học sinh chỉ có trả lời được những câu hỏi dễ, đơn giản (như trình
bày), còn một số câu hỏi tổng hợp, phân tích, giải thích, so sánh thì học
sinh còn rất lúng túng khi trả lời hoặc trả lời thì mang tính chất chung
chung
* Điều tra cụ thể :
- Bản thân tôi đảm nhận việc giảng dạy môn lịch sử khối 12 và khối
11. Trong quá trình giảng dạy với ý thức vừa nghiên cứu đặc điểm tình
hình học tập bộ môn của học sinh vừa tiến hành rút kinh nghiệm qua mỗi
3
tiết dạy.Việc điều tra được thực hiện thông qua hỏi đáp với những câu
hỏi phát triển tư duy học sinh ở trên lớp, kiểm tra 15 phút, kiểm tra 45
phút
Kết quả điều tra tôi nhận thấy đa số học sinh chỉ trả lời được những
câu hỏi mang tính chất trình bày, còn những câu hỏi giải thích tại sao, so

sánh, đánh giá nhận thức thì các em còn rất lúng túng khi trả lời. Do vậy
kết quả điều tra cũng không cao. Cụ thể:
Lớp SLHS
Giỏi Khá Tb Yếu Kém
SL % SL % SL % SL % SL %
11a1 39 6
15.4
13
15.4
15
38.5
5
12.8
0
0.0
11a2 38 4
10.5
9
10.5
14
36.8
9
23.7
2
5.3
12a1 34 6
17.6
15
17.6
10

29.4
3
8.8
0
0.0
12a2 35 1
2.9
8
2.9
16
45.7
10
28.6
0
0.0

Nhằm góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung,
dạy học môn lịch sử nói riêng, bản thân tôi là giáo viên dạy lâu năm, có
kinh nghiệm trong giảng dạy tôi xin trình bày một số vấn đề về: "Tập
cho học sinh tiếp cận lịch sử qua các tư liệu trong giảng dạy lịch sử ở
trường phổ thông" để phát huy tính tích cực của học sinh.
Với việc nghiên cứu đề tài này, tôi mong muốn sẽ góp phần vào giúp
giáo viên tiến hành một giờ dạy học hiệu quả tốt hơn, học sinh tích cực
chủ động trong việc tiếp thu lĩnh hội kiến thức của bài học. Đây cũng là
lí do tôi chọn đề tài này.
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lý luận:
a. Cơ sở khoa học
Đai-ri nhà giáo dục Liên Xô cũ đã từng nói: Dạy lịch sử cũng
như bất cứ dạy cái gì đòi hỏi người thầy phải khêu gợi cái thông minh

chứ không phải là bắt buộc các trí nhớ làm việc, bắt nó ghi chép rồi trả
lại. Như vậy mục đích của việc dạy học Lịch sử ở trường là người giáo
viên không chỉ giúp cho học sinh hình dung được những kết quả của quá
khứ biết và ghi nhớ các sự kiện, hiện tượng của Lịch sử mà quan trọng
hơn là hiểu được lịch sử tức là phải nắm được bản chất của sự kiện.
Trong phát triển tư duy của học sinh việc sử dụng các thao tác lô gic có ý
nghĩa rất quan trọng. Thông thường giáo viên sử dụng các thao tác chủ
yếu như so sánh để tìm ra sự giống nhau và khác nhau về bản chất các sự
4
kiện ), Phân tích và tổng hợp (giúp học sinh khái quát các sự kiện), quy
nạp, diễn dịch Để thực hiện những thao thao tác như vậy có thể dùng
nhiều cách, nhiều phương tiện khác nhau (đồ dùng trực quan, tài liệu giải
thích ) song việc hỏi và trả lời phù hợp với trình độ yêu cầu của học
sinh,đưa lại kết quả tốt. Hỏi và trả lời chính là đặt tình huống có vấn đề
rồi tìm cách giải quyết vấn đề. Hỏi và trả lời không phải là sự đánh đố
mà là giúp nhau hiểu sâu sắc lịch sử hơn. Việc hỏi và trả lời câu hỏi có ý
nghĩa giáo dưỡng giáo dục và phát triển lớn. Vì vậy việc đặt câu hỏi có
vai trò rất quan trọng trong giờ dạy học lịch sử nói riêng và các môn học
khác nó phát huy được tính tích cực của học sinh.
Chỉ thị 40/2008/CT- của Bộ trưởng Bộ giáo dục - Đào tạo ngày
22/7/2008 phát động phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân
thiện, học sinh tích cực" trong các trường phổ thông giai đoạn 2008-
2013 đã khẳng định sự cần thiết phải đổi mới mạnh mẽ phương pháp
giảng dạy.
b. Cơ sở thực tiễn :
Ở trường THPT Trần Phú đa số học sinh còn lười học và chưa có
sự say mê môn học Lịch sử, cho nên việc ghi nhớ các sự kiện, hiện
tượng, nhân vật lịch sử còn yếu. Đa số các em chưa độc lập suy nghĩ
để trả lời một câu hỏi mà phải đọc nguyên xi trong sách giáo khoa hay
chỉ nêu được mốc thời gian mà không diễn tả được thời gian đó nói lên

sự kiện gì Bởi vậy bản thân các em nên có một phương pháp học như
thế nào để chiếm lĩnh kiến thức từ bài giảng của giáo viên. Mặt khác,
giáo viên giảng dạy bộ môn lịch sử ở trường một phần nào đó chưa đưa
ra được hệ thông câu hỏi và sử dụng câu hỏi đó như thế nào cho phù
hợp, cho nên chất lượng kiểm tra một số em ở một số lớp còn thấp và tỉ
lệ yếu kém còn nhiều. Nhằm giảm bớt số lượng học sinh yếu kém và
nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường, bản thân tôi đã thấy
được điều đó và cố gắng đưa ra các phương pháp học tập tích cực mà cụ
thể là: “Tập cho học sinh tiếp cận lịch sử qua các tư liệu trong giảng dạy
lịch sử ở trường phổ thông", để phát huy tính tích cực của học sinh trong
tiết dạy học.
2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài
a. Tiếp cận sự kiện lịch sử
Trước khi bước vào bài mới, giáo viên nên nêu vấn đề nhận thức
cho học sinh. Sự kiện lịch sử ( biến cố và hiện tượng lịch sử) chỉ diễn ra
một lần trong quá khứ, không lặp lại, phản ánh một tiến trình lịch sử,
được xác định cụ thể về không gian, thời gian, bối cảnh, con người ,
5
chẳng hạn: Khởi nghĩa Tây Sơn, cuộc đánh chiếm ngục Bastile, đánh
chiếm cung điện Mùa Đông Nga năm 1917, Cách mạng tháng Tám năm
1945 ở Việt Nam, chiến dịch Hồ Chí Minh 1975, cuộc đảo chính ngày
18/8/1991ở Liên Xô (cũ) v.v
Sự kiện lịch sử luôn diễn ra trong hoàn cảnh, điều kiện lịch sử nhất
định và chính hoàn cảnh, điều kiện lịch sử này cắt nghĩa những nguyên
nhân sâu xa, nguyên nhân trực tiếp và cả những duyên cớ của sự bùng nổ
sự kiện. Hoàn cảnh lịch sử còn giúp chúng ta hiểu diễn biến và kết quả
của quá trình phát triển các sự kiện. Sự kiện lịch sử có thể đưa lại những
hậu quả lâu dài, hậu quả trước mắt, những hậu quả trong nước, ngoài
nước Hình dung được diễn biến, hiểu đúng được bản chất của sự kiện
không phải điều đơn giản, dễ dàng.

Để hướng dẫn học sinh tìm hiểu sự kiện lịch sử, trước hết đặt học sinh
trước bản thân sự kiện cụ thể, gợi ý để học sinh tiếp cận sự kiện từ các
góc độ sau đây:
- Tên gọi sự kiện lịch sử; thời điểm mở đầu và kết thúc, diễn biến
(nêu các giai đoạn phát triển).
- Bối cảnh lịch sử ( chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quân sự,
trong và ngoài nước )
- Xác định đây là sự kiện thuộc lĩnh vực nào trong đời sống xã hội
(chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá).
Tiếp theo hướng dẫn học sinh tìm hiểu những nguyên nhân làm bùng
nổ và qui định những diễn biến của sự kiện, cụ thể, các em cần xem xét:
- Nguyên nhân trực tiếp, duyên cớ làm xuất hiện sự kiện lịch sử.
thông thường ta lưu ý cho học sinh tìm những biến cố trở thành nguyên
nhân mới xuất hiện trước sự kiện lịch sử khoảng một thời gian ngắn, có
thể tính bằng tuần lễ, bằng ngày, bằng giờ
- Những nguyên nhân sâu xa, thường xuất hiện trước đó hàng
nhiều tháng, nhiều năm. Yêu cầu học sinh phân tích các nguyên nhân để
thấy mối liên hệ giữa các nguyên nhân ấy ( kinh tế, chính trị, xã hội,
quân sự, văn hoá, tài chính ).
Cuối cùng hướng dẫn học sinh tìm hiểu hậu quả sự kiện lịch sử. Cần
gợi ý để học sinh tự nêu nhận xét, nhận định ,đánh giá sự kiện lịch sử.
Đó là sự kiện gây nên hậu quả tích cực hay tiêu cực đối với tiến trình
lịch sử, có tác dụng thúc đẩy hay kìm hãm, kéo lùi Hậu quả có thể là
thấy rõ trước mắt, cũng có thể là những hậu quả lâu dài. Hậu quả trước
mắt có thể thấy ngay trong thời gian tính bằng tuần lễ, nhưng hậu quả lâu
6
dài hàng năm mới thấy được, thậm chí có hậu quả mang ý nghĩa biểu
tượng tồn tại bền vững với thời gian.

Ví dụ 1 :

Khi dạy bài 16. “Phong trào giải phóng dân tộc và Tổng khởi nghĩa
tháng Tám (1939-1945) nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà ra đời” (sách
giáo khoa lịch sử 12 trang 102).Cho HS tìm hiểu sự kiện Tổng khởi
nghĩa tháng Tám năm 1945, sự kiện sự ra đời của nước Việt Nam dân
chủ Cộng hoà, bản Tuyên ngôn Độc lập (2/9/1945).
- Giáo viên nêu câu hỏi : Căn cứ vào đâu mà Trung ương Đảng phát
động lệnh Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945?.
+ HS theo dõi SGK, suy nghĩ , trả lời câu hỏi Nhật đầu hàng Đồng
minh, lệnh Tổng khởi nghĩa được ban bố
+ Giáo viên phân tích để HS hiểu được: Nhật Bản đầu hàng Đồng
minh là một sự kiện quan trọng, vì khi được tin Nhật Bản đầu hàng Đồng
minh, Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc đã phát động lệnh Tổng khởi nghĩa.
GV cần phân tích cho HS hiểu rõ thời cơ của Tổng khởi nghĩa. Nhật bản
đầu hàng Đồng minh khiến cho quân đội Nhật Bản ở Đông Dương án
binh bất động, chính phủ bù nhìn như rắn mất đầu. Đó là một trong ba
yếu tố tạo nên thời cơ: kẻ thù không thể thống trị như trước được nữa.
7
Còn hai yếu tố sau: lực lượng trung gian ngả về phía cách mạng và
quần chúng cách mạng mong muốn hành động thì đã sẵn sàng.
- Giáo viên nêu tiếp câu hỏi: Nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà được
thành lập như thế nào?.
+ HS theo dõi SGK suy nghĩ, trả lời
+ Sau đó GV phân tích để HS nhận thức được bản Tuyên ngôn Độc
lập (2-9-1945), do Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời
đọc trong cuộc mít tinh tại Quảng trường Ba Đình, là một văn kiện lịch
sử quan trọng, đề cập tới nhiều vấn đề.
+ GV phân tích để HS hiểu rõ những nội dung sau: Chủ tịch Hồ Chí
Minh tuyên bố với toàn thể quốc dân và thế giới về sự thành lập nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của
nhân dân Việt nam đánh Pháp, đuổi Nhật, lật đổ chế độ phong kiến đã

làm nên thắng lợi lịch sử Cách mạng tháng Tám Quyết tâm của nhân
dân Việt Nam giữ vững quyền tự do, độc lập của mình.
Trong quá trình dạy học, chúng ta vẫn tuân thủ trình tự cấu tạo của
sách giáo khoa, song cần khai thác nhấn mạnh, giúp học sinh trả lời câu
hỏi nêu trên. Học sinh trả lời được câu hỏi này tức là đã nắm và hiểu
được kiến thức chủ yếu của bài.
Ví dụ 2:
- Khi dạy bài. Chiến tranh thế giới thứ nhất ( 1914-1918) - SGK
lịch sử 11- trang 31 ( chuẩn). GV đặt câu hỏi: Em hãy tìm nguyên
nhân dẫn đến chiến tranh thế giới thứ nhất? Nguyên nhân sâu xa,
nguyên nhân trực tiếp, duyên cớ dẫn đến chiến tranh thế giới thứ
nhất. Cuối cùng hướng dẫn HS tìm hiểu hậu quả của Chiến tranh
thế giới thứ nhất.
8
- GV yêu cầu học sinh đọc SGK và bằng những kiến thức đã học,
hãy rút ra những đặc điểm mang tính qui luật của CNTB và yêu
cầu các em phân tích các nguyên nhân để thấy mối quan hệ giữa
các nguyên nhân ấy (kinh tế, chính trị, xã hội, quân sự). Sau khi
HS thảo luận, phát biểu, GV kết luận, chốt ý:
+ Nguyên nhân sâu xa dẫn đến Chiến tranh thế giới thứ nhất: Sự
phát triển không đều về kinh tế, chính trị của chủ nghĩa đế quốc
+ Nguyên nhân trực tiếp : sự hình thành hai khối quân sự đối lập
ở Châu Âu
+ Duyên cớ của chiến tranh là vụ ám sát Thái tử ở Xécbi
+ Cuối cùng cho các em tìm hiểu hậu quả của Chiến tranh thế
giới thứ nhất, mặt tích cực và tiêu cực
Câu hỏi loại này thường là câu hỏi có tính chất bài tập muốn
trả lời phải huy động kiến thức cơ bản đã học trước đó và kiến
thức của toàn bài. Chính vì vậy học sinh phải chuẩn bị bài và trả
lời trước các câu hỏi cuối mục ở nhà, chú ý, tập trung cao độ theo

dõi bài giảng , chọn lọc sự kiện và trình bày trên lớp.
b.Tiếp cận với nhân vật lịch sử
Trừ bài Công xã Nguyên thuỷ không có tên tuổi một nhân vật nào
và một số bài về chế độ chiếm hữu nô lệ thường ít đề cập đến các nhân
vật lịch sử cụ thể, các bài lịch sử từ thời trung cổ đến sau này thường có
nêu tên tuổi của một số nhân vật lịch sử. Vì nhiều lí do khác nhau và do
không cần thiết, chúng ta chỉ nên chọn ra một số nhân vật lịch sử tiêu
biểu để hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu. Chúng ta có thể theo những mặt,
những bước như sau:
* Ở mức độ tiếp cận đầu tiên, học sinh cần tìm hiểu:
- Ngày, tháng, năm sinh và mất của nhân vật.
- Nơi sinh, nơi mất.
- Đôi nét về gia đình và hoàn cảnh xuất thân.
- Thời đại lịch sử mà nhân vật lịch sử sống và hoạt động.
* Đi sâu hơn, học sinh cần tìm hiểu:
- Nhân vật lịch sử bắt đầu hoạt động ( chính trị, kinh tế, văn hoá,
khoa học ) từ khi nào, dưới chế độ xã hội nào. Thái độ chính trị của
nhân vật lịch sử.
- Những giai đoạn hoạt động chính trị của nhân vật lịch sử. thành
công, thất bại Ảnh hưởng của nhân vật lịch sử đối với thời đại mà nhân
vật đó sống và hoạt động ( qua đánh giá của người đương thời ) và đối
với ngày nay ( nếu còn)
- Nhận xét, đánh giá hiện nay về nhân vật lịch sử.
*Những tài liệu mà học sinh cần tìm đọc để tiếp cận với nhân vật lịch sử
Ví dụ minh hoạ: tập và hướng dẫn học sinh tiếp cận và tìm hiểu về lãnh
tụ Nguyễn Ái Quốc
9
A. Trước hết cho HS tự tìm hiểu Ngày-tháng-năm-sinh, đôi nét về
hoàn cảnh gia đình của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.
Giáo viên yêu cầu học sinh tìm hiểu đôi nét về tiểu sử Nguyễn Ái

Quốc:
Nguyễn Ái Quốc tên thật là Nguyễn Sinh Cung, sinh ngày 19-5-
1890, quê ở làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Sinh ra
trong một gia đình nhà nho yêu nước, chịu ảnh hưởng của cách mạng sâu
sắc từ người cha và các anh, chị, lớn lên trên mảnh đất Nghệ An giàu
truyền thống đấu tranh, được tiếp xúc với nhiều nhà cách mạng đương
thời, được chứng kiến sự thất bại của các phong trào yêu nước cuối thế
kỉ XIX, đầu thế kỉ XX. Tất cả những điều đó đã hun đúc ở Nguyễn Ái
Quốc lòng yêu nước nồng nàn và quyết tâm cứu dân, cứu nước.
B. Thời đại lịch sử mà Nguyễn Ái Quốc sống và hoạt động:
Những năm cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, các phong trào yêu
nước chống Pháp ở Việt Nam đều không đi tới thắng lợi.Thất bại của
phong trào yêu nước theo tư tưởng phong kiến (phong trào Cần Vương
cuối thế kỉ XIX), phong trào nông dân Yên Thế đã đánh dấu chấm hết
cho con đường cứu nước phong kiến ở Việt Nam. Trong những năm đầu
thế kỉ XX, phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản với
các đại diện Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Lương Văn Can… cũng
không giành được thắng lợi. Lúc này, yêu cầu lịch sử đòi hỏi cần phải có
con đường cứu nước đúng đắn để đưa cách mạng Việt Nam thoát khỏi
tình trạng khủng hoảng về đường lối lãnh đạo.
Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919-1929) của thực dân Pháp
làm cho xã hội Việt Nam tồn tại hai mâu thuẫn cơ bản: Mâu thuẫn về
dân tộc và mâu thuẫn về dân chủ. Yêu cầu lịch sử đặt ra cần có đường lối
10
Các bài viết của Nguyễn Ái Quốc trong thời gian
hoạt động tại Pháp
Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội Tua
cứu nước đúng đắn để giải quyết đồng thời hai mâu thuẫn trên. Trong
bối cảnh lịch sử có nhiều đòi hỏi cần giải quyết đó, Nguyễn Ái Quốc với
lòng yêu nước nồng nàn và hoài bão cứu dân, cứu nước đã xuất hiện và

đáp ứng yêu cầu của lịch sử.
C. Những giai đoạn hoạt động chính trị của Nguyễn Ái Quốc: thành
công- thất bại- ảnh hưởng
* Người tìm ra con đường cứu nước:
- Ngày 5-6-1911, từ cảng Nhà Rồng lấy tên là Văn Ba, Người làm phụ
bếp cho chiếc tàu buôn Pháp Latusơ Têrơvin và bắt đầu cuộc hành trình
tìm đường cứu nước. Ngày 6-7-1911 tàu cập cảng Mácxây ( Pháp).
- Từ 1917 →1919 Người hoạt
động phần lớn ở Pháp, tìm hiểu
phong trào công nhân. Khi
cách mạng tháng Mười thành
công, Người bắt đầu chú ý đến
tư tưởng của chủ nghĩa Mác –
Lênin. Năm 1919 Người gửi
bản yêu sách 8 điểm tới Hội nghị
Véc xai đòi các
quyền tự do, dân chủ, quyền bình đẳng, quyền tự quyết cho dân tộc Việt
Nam, nhưng không được chấp nhận. Từ đó Người đã rút ra được nhận
xét quan trọng; không thể dựa
vào đế quốc mà phải tiến hành
tự giải phóng.
- Năm 1920, Nguyễn Ái Quốc
đã đọc bản sơ thảo lần thứ
nhất luận cương về vấn đề dân
tộc và thuộc địa của Lênin,
Người như muốn reo lên trước
dân tộc “Hỡi đồng bào bị đoạ
đầy đau khổ, đây là cái cần
thiết của chúng ta”. Nguyễn
Ái Quốc đã tìm thấy con

đường cứu nước cho dân tộc.
Con đường đi theo chủ nghĩa
Mác – Lênin.
- Tháng 12-1920 Người tham
dự Đại hội lần thứ XVIII của
11
Tàu Latusơ Têsơvin
Hồ Chủ Tịch đọc Tuyên ngôn độc lập
tại Quảng trường Ba Đình
Đảng xã hội Pháp họp ở Tua. Tại đây Người bỏ phiếu tán thành gia nhập
Quốc tế III, và tham gia sáng lập ra Đảng cộng sản Pháp và Người trở
thành người cộng sản đầu tiên của Việt Nam.

Sự kiện năm 1920 đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động
cách mạng của Nguyễn Ái Quốc từ một người yêu nước, qua thực tế hoạt
động trong phong trào công nhân, đón nhận chủ nghĩa Mác – Lênin. Có
thể nói không có sự kiện năm 1920 thì không có sự kiện năm 1930.
* Nguyễn Ái Quốc có công sáng lập ra Đảng cộng sản Việt Nam.
- Từ 1921 → 1927, Người hoạt động tích cực ở Pháp, Liên Xô rồi Trung
Quốc để truyền bá tư tưởng chủ nghĩa Mac – Lênin về nước, đồng thời
chuẩn bị chu đáo về tư tưởng chính trị, tổ chức và cán bộ cho sự ra đời
của Đảng.
- Năm 1929, do nhận thức khác nhau mà ở Việt Nam xuất hiện ba tổ
chức cộng sản: An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Đảng,
Đông Dương Cộng sản Liên Đoàn. Hoạt động riêng rẽ của ba tổ chức
này gây cản trở không tốt cho quá trình phát triển cách mạng Việt Nam.
Năm 1930, được sự uỷ nhiệm của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc
trực tiếp sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam tại Hương Cảng (Trung
Quốc).
* Nguyễn Ái Quốc lãnh đạo cách mạng tháng Tám thành công

- Năm 1941, Nguyễn Ái Quốc về nước và Người
cùng Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân
dân chuẩn bị cách mạng giành chính quyền.
Người triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng lần 8
và đã hoàn chỉnh sự chuyển hướng chỉ đạo chiến
lược cách mạng Việt Nam.
- Từ ngày 19/8→28/8/1945 Nguyễn Ái Quốc
cùng Đảng lãnh đạo nhân dân cả nước chớp thời
cơ, Tổng khởi nghĩa giành chính quyền
- Ngày 2/9/1945 tại quảng trường Ba Đình lịch
sử, Người đọc bản Tuyên Ngôn độc lập, khai
sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
Thắng lợi của cách mạng tháng Tám đã mở ra một kỉ nguyên mới
cho dân tộc Việt Nam, trong đó Nguyễn Ái Quốc giữ vai trò to lớn làm
nên thắng lợi này.
12
* Nguyễn Ái Quốc đã chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt
qua thác ghềnh, bảo vệ thành quả cách mạng tháng Tám (1945-
1946).



* Từ năm 1946-1969 Hồ chủ tịch cùng Đảng đã lãnh đạo nhân dân thực
hiện thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp chín năm, với chiến thắng
lẫy lừng Điện Biên Phủ; Xây dựng và bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội
chủ nghĩa, từng bước đánh bại âm mưu xâm lược của đế quốc Mĩ.
D. Nhận xét- đánh giá về lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc
Cả cuộc đời mình, không lúc nào Người không quyết tâm. Ý chí
quyết tâm, dũng cảm của Người đã trở thành một phẩm chất sáng ngời,
tiêu biểu cho một dân tộc anh hùng. Phẩm chất đó Người kế thừa các anh

hùng dân tộc xưa như: Chiến lược đoàn kết toàn dân và chiến tranh nhân
dân (kế thừa của Trần Hưng Đạo), nghệ thuật kết thúc chiến tranh độc
đáo của Lê Lợi – Nguyễn Trãi và nghệ thuật chớp thời cơ của Quang
Trung.
Cuộc đời của Nguyễn Ái Quốc thể hiện phẩm chất của một chiến sĩ
đấu tranh giải phóng dân tộc với lòng yêu nước nồng nàn, những đóng
góp cho mọi lĩnh vực văn hóa khác nhau… Tư tưởng Hồ Chí Minh,
phẩm chất của Người sáng mãi trong lòng nhân dân Việt Nam.
13
Hồ Chủ Tịch tại chiến Khu
Việt Bắc
Hồ Chủ Tịch đi công tác tại
chiến Khu Việt Bắc
Chiến dịch Đông Khê 1950
Hồ Chủ Tịch cùng với Bộ chỉ huy Việt Bắc
Cờ đỏ tung bay trên nóc hầm Đờ catơri
Sự đánh giá của UNESCO về Hồ Chí Minh là Danh nhân văn hóa
thế giới, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Người là biểu tượng kiệt
xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự
nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam.
c. Tiếp cận tranh ảnh lịch sử:
Trong sách giáo khoa lịch sử của chúng ta có rất nhiều tranh ảnh lịch
sử. Chúng ta có thể nêu lên những gợi ý về cách khai thác tranh ảnh lịch
sử sau đây để giúp học sinh tìm cách tiếp cận lịch sử.
- Trước hết, cần biết:
+ Thời điểm và nguồn gốc xuất hiện.
+ Những nhân vật chính có mặt trong tranh ảnh. Họ là những ai? Họ
đại diện cho ai? Cho tầng lớp xã hội hoặc tổ chức chính trị xã hội nào?.
+ Cách thể hiện các nhân vật lịch sử của tác giả bức tranh hay ảnh.
- Tiếp theo sau, giúp học sinh đi sâu hơn vào nội dung tranh ảnh, bằng

những gợi ý như:
+ Từng nhân vật (chính) được thể hiện trong tư thế như thế nào, trong
khung cảnh nào?
+ Trang phục của các nhân vật (chính)? Trang phục có phản ánh địa
vị, hoàn cảnh xuất thân của nhân vật hay không, nếu có, phản ánh điều
gì?
+ Ngoài những nhân vật lịch sử tiêu biểu, trong tranh ảnh còn có
những con người nào? Tác giả còn đưa thêm những con vật hay đồ vật,
những hình ảnh gì nữa vào bức tranh, bức ảnh và vì sao có những hình
ảnh đó? Chúng làm bức tranh, ảnh đó có thêm ý nghĩa gì?
+ Nếu là bức biếm hoạ, hãy chỉ ra nét châm biếm của bức tranh qua đó
nêu nhận xét về thái độ của tác giả đối với sự kiện, hiện tượng hay thời
kì lịch sử đó? .
+ Cảm tưởng của học sinh khi quan sát thoáng qua và khi tìm hiểu kĩ
bức tranh, ảnh.
Ví dụ minh hoạ:
• Ví dụ 1.
Khi dạy bài 20: Chiến sự lan rộng ra cả nước. Cuộc kháng chiến của
nhân dân ta từ năm 1873 đến năm 1884. Nhà Nguyễn đầu hàng. SGK lớp
11- trang 115. Chúng ta khai thác hình 55- trang 118 : Hình ảnh Nguyễn
Tri Phương (1800- 1873).
14

- Trước hết chúng ta giới thiệu sơ qua về tiểu sử Nguyễn Tri Phương,
sau đó chúng ta cung cấp cho HS tư liệu về Nguyễn Tri Phương rồi
chúng ta đặt câu hỏi: Nguyễn Tri Phương ông đại diện cho tầng lớp
nào?. Những việc làm của ông từ 1858 đến 1873?.
- HS dựa vào kiến thưc đã học trả lời:
+ Nguyễn Tri Phương: Ông đại diện cho tầng lớp quan lại của triều
đình. Ông từng được triều đình cử chỉ huy chống Pháp ở mặt trận Đà

nẵng, kế sách vườn không nhà trống, xây thành, đắp luỹ của ông lúc đó
đã khiến thực dân Pháp sa lầy tại Đà Nẵng.
+ Lần thứ hai, ông được triều đình cử vào Gia Định. Ông đã cho xây
dựng đại đồn Chí Hoà để chặn giặc. Nhưng lần này đại đồn của ông
không chịu nổi sức công phá bởi vũ khí đại bác của Pháp. Vì vậy đại đồn
thất thủ.
+ Lần thứ ba vào năm 1872, ông được triều đình điều đi giữ chức
Tuyên sát đổng sứ đại thần, thay mặt triều đình xem xét việc quân sự ở
Bắc Kì, làm tổng đốc thành Hà Nội, lúc này ông đã 73 tuổi. Khi Pháp
đánh Hà Nội lần thứ nhất, ông đã chỉ huy binh sĩ chiến đấu anh dũng,
Nguyễn Tri Phương (1800-1873)
15
song thành Hà Nội vẫn thất thủ. Nguyễn Tri Phương bị trúng đạn và ông
đã hi sinh năm 1873.
- Cảm tưởng của học sinh khi quan sát thoáng qua bức ảnh , và tìm hiểu
kĩ về nhân vật: Quân triều đình không thiếu lòng dũng cảm song do vũ
khí thô sơ, cách tổ chức đánh giặc nặng về phòng thủ, kém linh hoạt cho
nên nhanh chóng thất bại.
• Ví dụ 2: Khai thác hình 56- Tình cảnh nông dân Pháp trước
cách mạng - Bài 31: Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII -
SGK lớp 10- trang 151.

- Đây là bức tranh biếm hoạ nói lên tình cảnh người nông dân Pháp
trước khi diễn ra cuộc cách mạng tư sản được sử dụng để dạy học
bài 31, phần I, mục 1. Tình hình kinh tế - xã hội (chương trình
chuẩn), nhằm giúp học sinh hiểu rõ đặc điểm nổi bật về kinh tế, thể
chế chính trị và mâu thuẫn xã hội của nước Pháp trước năm 1789,
qua đó rút ra nguyên nhân sâu xa làm bùng nổ cuộc cách mạng tư
sản Pháp.
- Sau khi cung cấp cho học sinh biết đặc điểm nổi bật vế kinh tế,

chính trị và xã hội Pháp trước năm 1789, GV sử dụng bức tranh
biếm hoạ tình cảnh nông dân Pháp trước cách mạng để miêu tả kết
hợp với phân tích nhằm cụ thể hoá những vấn đề đã trình bày. Để
phát huy tính tích cực, tự giác và chủ động của HS, GV cần hướng
dẫn các em quan sát bức tranh (từ khái quát đến chi tiết, tỉ mỉ), kết
hợp với đọc SGK để trả lời câu hỏi do GV gợi mở:
Bức tranh này có mấy người? Họ là đại diện cho những tầng
lớp nào trong xã hội Pháp? Tại sao mỗi người trong tranh lại có vẻ
mặt và sự thể hiện địa vị khác nhau như vậy? Tại sao người nông
dân già nua, ốm yếu phải cõng trên lưng mình hai tên Quý tộc,
Tăng lữ béo khoẻ? Các loại giấy tờ trong túi áo, túi quần của Tăng
lữ, Quý tộc phản ánh điều gì? Hình ảnh người nông dân chống tay
lên cái cuốc đã mòn vẹt nói lên điều gì? Vì sao dưới chân người
nông dân lại có hình ảnh các con chim, thỏ, chuột?.
- Sau khi HS trao đổi, GV miêu tả chốt lại ý và yêu cầu các em
nhận xét:
+ Bức tranh này có ba người, miêu tả một người nông dân đã già
nua, ốm yếu, nhưng phải cõng trên lưng mình hai người có thân
hình béo khoẻ. Đó chính là hình ảnh tượng trưng cho hai đẳng cấp
Quý tộc và Tăng lữ trong xã hội Pháp trước cách mạng.
16
Tình cảnh nông dân Pháp trước cách mạng
+ Người ngồi đằng trước mặc chiếc áo choàng, có đeo cây thánh
giá, tượng trưng cho Tăng lữ (đẳng cấp một). Người ngồi sau đeo
một thanh kiếm dài ở cạnh sườn, có nhiều đồ trang sức và trang
phục rất đẹp tượng trưng cho tầng lớp quý tộc (đẳng cấp hai). Cả
hai đều béo tốt, mập mạp, ăn mặc diêm dúa và cực kì sang trọng.
Trong túi quần và túi áo của Tăng lữ, Quý tộc thò ra các loại văn tự,
khế ước cho vay nợ, cho thuê ruộng, những quy định về nghĩa vụ
phong kiến của nông dân mà có lẽ đến ngàn đời họ cũng không trả

hết được.Người nông dân phải nộp đủ các loại thuế
+ Vì phải cõng trên lưng hai đẳng cấp Quý tộc và Tăng lữ, nên
lưng của người nông dân phải còng xuống, tay chống nhờ trên một
chiếc cuốc đã mòn vẹt. Đây chính là biểu hiện cho công cụ canh tác
thô sơ, lạc hậu của người nông dân, cũng như nền kinh tế nông
nghiệp Pháp trước năm 1789. Sản phẩm nông nghiệp do người
nông dân làm ra hết sức ít ỏi, lại phải nộp gần hết cho Quý tộc,
Tăng lữ; số còn lại bị thỏ, chim ,chuột ra sức phá hoại.
+ Chế độ đẳng cấp hà khắc, khắt khe ở Pháp đã đè nặng lên vai
người nông dân, Sống trong tình cảnh ấy, nông dân Pháp chỉ có con
đường duy nhất là bùng lên hất tung hai đẳng cấp trên ra khỏi lưng
mình, nếu không họ cũng khuỵ xuống mà chết. Điều này giải thích
vì sao nông dân Pháp là lực lượng đông đảo nhất tham gia cách
mạng và cũng là những người kiên quyết cách mạng nhất.
d. Tiếp cận với bản đồ lịch sử:
Chúng ta đều hiểu rất rõ rằng đường biên giới mỗi quốc gia được
hình thành dần từng bước trong cả một thời gian dài hàng nhiều thế kỉ.
Trong suốt thời kì dựng nước và giữ nước, đến giai đoạn phát triển nào
đó, trong những hoàn cảnh và điều kiện lịch sử nhất định mỗi dân tộc
trước hết là một bộ phận thống trị đã tìm mọi cách xác định, gìn giữ và
kể cả mở rộng lãnh thổ với mục đích phát triển kinh tế, phân bố lại dân
cư, giữ gìn an ninh quốc phòng, mở rộng thế lực
Từ những ý kiến nêu trên, chúng tôi muốn đi đến một đề nghị:
Hãy cho học sinh tiếp cận với những bản đồ phản ánh lãnh thổ quốc gia
trong những thời kì lịch sử khác nhau khi nghiên cứu những nội dung
lịch sử có thời gian lịch sử tương ứng. Bởi vì sử dụng bản đồ có đường
biên giới hiện đại để phản ánh các sự kiện lịch sử trong quá khứ là không
hợp lí, giảm tính khoa học, là mất ý nghĩa lịch sử. Cần cho các em ý thức
được rằng biên giới quốc gia không phải được hình thành một cách ngẫu
nhiên, tình cờ, một sớm một chiều, một cách dễ dàng, tự nhiên hoặc theo

ý riêng, chủ quan của riêng ai. Trái lại đó là một quá trình đấu tranh lâu
dài, gian khổ, đầy mưu lược pha lẫn với âm mưu và tham vọng, phản ánh
sức mạnh và quyền lợi của các bộ tộc, các dân tộc, các tập đoàn thống
17
trị Tóm lại, cần cho họ hiểu chính đường biên giới quốc gia, khu vực
cũng có lịch sử của nó.
Theo hướng như vậy, chúng ta có thể giúp học sinh tiếp cận theo các
góc độ như sau, chẳng hạn:
- Bản đồ phản ánh phần lãnh thổ nào của thế giới (của quốc gia ),
tên gọi là gì?
- Bản đồ vẽ với mục đích gì? Nội dung lịch sử, địa lí được thể hiện
trên bản đồ?.
- So sánh những bàn đồ phản ánh cùng khu vực, quốc gia trong những
khoảng thời gian lịch sử khác nhau để thấy những thay đổi vế biên giới,
khu vực, kinh tế, hành chính, địa danh, sự phân bố dân cư, bố trí lực
lượng quốc phòng
- Giải thích và đánh giá những thay đổi nêu trên
Cách tiếp cận bản đồ nêu trên, theo tôi là cần thiết, giúp cho học sinh có
cái nhìn ( động) biện chứng vế mối tương tác giữa lịch sử và điều kiện
địa lí, về sự thay đổi về những nội dung lịch sử có quan hệ với địa lí tự
nhiên hay nhân văn.
Ví dụ minh hoạ:
• Ví dụ 1:
Khi dạy bài 25: Thời Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giành độc lập
dân tộc (từ thế kỉ I đến đầu thế kỉ X)- SGK lớp 10- Trang 139 (nâng
cao). GV hướng dẫn HS tìm hiểu lược đồ nước ta thời thuộc Đường (thế
kỉ VII - IX).
18

- Trước hết, GV giới thiệu khái quát lược đồ: năm 618, nhà Đường đặt

ách đô hộ lên đất nước ta. Năm 679, nhà Đường đặt An Nam đô hộ phủ
để cai trị nước ta. Để củng cố nền thống trị hà khắc của mình, nhà
Đường đã chia nhỏ các khu vực hành chính thành các châu, quận, huyện,
hương và xã. Bấy giờ An Nam đô hộ phủ cai quản 12 châu. Một lần nữa
trong lịch sử dân tộc, bản đồ hành chính nước ta có sự thay đổi:
+ Giao châu, Phong châu, Trường châu (Bắc Bộ ngày nay).
+ Thang châu, Chi châu, Vũ Nga châu, vũ an châu (Quảng Đông,
Quảng Tây, Trung Quốc ngày nay).
+ Ái châu, Phúc Lộc châu, Diễn châu, Hoan châu (Bắc Trung bộ).
+ Lục châu (thuộc đất Trung Quốc và vùng Quảng Ninh).
Hình Lược đồ nước ta thời thuộc Đường (thế kỉ VII - IX) thể hiện tên
những châu Bắc Bộ, Bắc Trung bộ và miền núi phía Tây Bắc nước ta.
Đường biên giới chính là biên giới ngày nay.
- Tiếp theo GV nêu câu hỏi để HS thảo luận: So với các triều đại trước,
nhà Đường đã tổ chức bộ máy cai trị đối với nước ta như thế nào? Em
hãy nêu nhận xét về bộ máy cai trị của nhà Đường đối với nước ta. Âm
19
mưu của các triều đại phong kiến phương Bắc trong việc tổ chức bộ máy
cai trị như trên là gì?.
- Sau khi HS trao đổi, GV chốt ý: So với các triều đại trước, nhà Đường
đã thực hiện chia nhỏ các khu vực hành chính, tăng cường kiểm soát và
cử quan lại cai trị đến tận cấp huyện. Như vậy, đến thời thuộc Đường, cả
nước ta trở thành một đơn vị hành chính có tổ chức cai trị thóng nhất.
Âm mưu của các triều đại phong kiến phương Bắc là nhằm xoá bỏ đất
nước, dân tộc Việt Nam, sáp nhập nước Âu Lạc vào lãnh thổ của chúng
để dễ bề cai trị.
Ví dụ 2: Khi dạy bài 25- trang 126- mục 1. Xây dựng và củng cố bộ
máy nhà nước - chính sách ngoại giao ( chương trình chuẩn) và bài
38, mục 2.Tổ chức vương triều ( CT nâng cao).GV huớng dẫn HS
quan sát, tìm hiểu : hình 49 lược đồ các đơn vị hành chính Việt Nam

thời Minh Mạng.
20

- Trước hết, khi trình bày đến cuộc cải cách hành chính ở địa phương
của vua Minh Mạng, giáo viên giới thiệu lược đồ, giải thích các kí hiệu
và hướng dẫn học sinh quan sát lược đồ:
+ Sau khi lật đổ vương triều Tây Sơn, năm 1802 Nguyễn Ánh lên ngôi
vua, hiệu là Gia Long lập ra nhà Nguyễn, lấy Phú Xuân (Huế) làm kinh
đô của cả nước. Dưới triều Nguyễn, sự nghiệp thống nhất đất nước đã
hoàn thành. Lãnh thổ nước ta trải dài từ Mục Nam Quan đến mũi Cà
Mau, bao gồm cả Đàng Trong và Đàng Ngoài. Dưới thời Gia Long, vẫn
duy trì các đơn vị hành chính như cũ.
21
+ Năm 1831-1832, Minh Mạng vị vua thứ hai của triều Nguyễn- đã
tiến hành một cuộc cải cách hành chính địa phương, xoá bỏ các tổng,
trấn, đổi các dinh thành tỉnh. Bấy giờ, cả nước chia thành 30 tỉnh và một
phủ Thừa Thiên.
+ Năm 1831, Minh Mạng đổi các trấn phía Bắc thành 18 tỉnh: Quảng
Trị, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá, Ninh Bình, Nam Định,
Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nội, Quảng Yên, Sơn Tây, Bắc Ninh, Tuyên
Quang, Hưng Hoá, Thái nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng.
+ Năm 1832, Minh Mạng lại cho đổi các dinh, trấn phía Nam thành 12
tỉnh: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Bình
Thuận, Phiên An (Gia Định), Biên Hoà, Định Tường, An Giang, Vĩnh
Long, Hà Tiên.
+ Đứng đầu các tỉnh là chức Tổng đốc (phụ trách 2 - 3 tỉnh) và Tuần
phủ ( phụ trách 1 tỉnh, dưới quyền Tổng đốc). Giúp việc có hai ti: Bố
chính sứ ti và Án sát sứ ti. Hệ thống hành chính Trung ương và địa
phương được phân biệt rõ ràng, quyền hành tập trung hơn nữa vào tay
vua. Dưới tỉnh là phủ, huyện, châu, tổng, xã.

Lược đồ trong SGK thể hiện tên gọi, địa diểm các đơn vị hành chính
thời Minh Mạng. Biên giới trong lược đồ là đường biên giới ngày nay.
- Sau khi giới thiệu lược đồ, giải thích các kí hiệu và hướng dẫn HS quan
sát lược đồ, kết hợp với SGK rồi đặt các câu hỏi gợi mở:
+ Dưới thời vua Minh Mạng (triều Nguyễn), nước ta chia thành bao
nhiêu tỉnh? Hãy kể tên các tỉnh?.
+ Cuộc cải cách hành chính địa phương của vua Minh Mạng nói lên
điều gì?. Ý nghĩa của cuộc cải cách?.
+ Em hãy quan sát lược đồ nước ta thời thuộc Đường (thế kỉ VII - IX),
với lược đồ hành chính Việt Nam thời Minh Mạng (nửa đầu thế kỉ XIX).
So sánh đường biên giới qua các giai đoạn lịch sử và phân tích, giải thích
sự giống nhau, khác nhau; khuynh hướng bành trướng lãnh thổ của các
giai cấp thống trị trong tiến trình lịch sử
- GV nghe HS trình bày. Cuối cùng GV khẳng định lại:
+ Cuộc cải cách hành chính địa phương của vua Minh Mạng thể hiện
hệ thống hành chính trung ương và địa phương được phân biệt rõ ràng,
quyền hành tập trung hơn nữa vào tay vua. Cuộc cải cách thể hiện một
bước tiến trong việc xây dựng và củng cố bộ máy nhà nước dưới triều
Nguyễn.
+ Từ chỗ so sánh lược đồ, HS thấy sự thay đổi về lãnh thổ: Đến thời
nhà Nguyễn lãnh thổ nước ta mở rộng vào Nam và đường biên giới đó
22
được giữ và bảo vệ nguyên vẹn đến ngày nay. GV cần cho HS ý thức
được rằng biên giới quốc gia không phải được hình thành một cách ngẫu
nhiên, tình cờ, một sớm, một chiều, một cách dễ dàng, tự nhiên hoặc
theo ý riêng, chủ quan của riêng ai. Trái lại đó là một quá trình đấu tranh
lâu dài, gian khó, đầy mưu lược pha lẫn với âm mưu và tham vọng, phản
ánh sức mạnh và quyền lợi của các bộ tộc, các dân tộc, các tập đoàn
thống trị Tóm lại, cần cho HS hiểu chính đường biên giới quốc gia,
khu vực cũng có lịch sử của nó.

III. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
Mặc dù thời gian rất hạn chế và để thực hiện được hệ thống các tư
liệu lịch sử giáo viên phải đầu tư nhiều thời gian , nhưng tôi đã vận dụng
sáng kiến kinh nghiệm này vào các tiết dạy và đã đạt được kết quả khả
quan. Trước hết bản thân đã nhận thấy rằng những kinh nghiệm này rất
phù hợp với chương trình sách giáo khoa mới và với những tiết dạy theo
hướng đổi mới. Sử dụng tranh, ảnh chính là giáo cụ trực quan giúp học
sinh dễ hiểu, nhớ lâu, từ đó các em có hứng thú học tập hơn, tích cực chủ
động sáng tạo để mở rộng vốn hiểu biết, đồng thời cũng rất linh hoạt
trong việc thực hiện nhiệm vụ lĩnh hội kiến thức và phát triển kĩ năng.
Không khí học tập sôi nổi, nhẹ nhàng và học sinh yêu thích môn học
hơn. Tôi cũng hi vọng với việc áp dụng đề tài này học sinh sẽ đạt được
kết quả cao trong các kì thi và đặc biệt học sinh sẽ yêu thích môn học
này hơn.
* Kết quả cụ thể :
Lớp SLHS
Giỏi Khá Tb Yếu Kém
SL % SL % SL % SL % SL %
11a1 39 10
25.6
18
46.
2
10
25.6
1
2.6
0 0
11a2 38 6
15.8

13
34.
2
17
44.7
2
5.3
0 0
12a1 34 9
26.5
17
50.0
12
35.3
0
0.0
0 0
12a2 35 3
8.6
11
31.
4
18
51.4
3
8.6
0 0
Bảng số liệu trên cho thấy tỷ lệ học sinh học yếu giảm đáng kể, tỷ
lệ học sinh trung bình và khá tăng nhiều.
Sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này, bản thân tôi đã rút ra

một số kinh nghiệm sau:
23
+ Trong mỗi tiết dạy giáo viên nêu mục tiêu yêu cầu của tiết, mục của
bài học sau đó cung cấp thông tin và phân bổ thời gian hợp lí lí để học
sinh tiếp nhận thông tin.
+ Giáo viên đặt và sử dụng linh hoạt các câu hỏi phù hợp với nội dung
bài dạy, tuỳ theo khối lớp và đối tượng học sinh mà vận dụng
+ Khi nêu câu hỏi giáo viên cố gắng sử dụng các câu hỏi ngắn gọn, đủ
ý, đơn giản, dễ hiểu ,gợi sự suy nghĩ và tư duy của học sinh. Không
nên sử dụng câu hỏi “Có” hay “Không”, “Đúng” hay “Sai” mà phải sử
dụng câu hỏi phát huy tính độc lập tư duy ở các em (tránh tình trạng
học sinh trả lời một cách công thức hoặc chung chung)
+ Khi tổ chức học sinh tiếp nhận thông tin giáo viên chú ý sử dụng
câu hỏi gợi mở (chuẩn bị kĩ ở giáo án) để giải quyết câu hỏi đặt ra đầu
giờ
+ Giáo viên cần nghiên cứu kĩ sách giáo khoa thường xuyên nghiên
cứu thêm tài liệu tham khảo để xây dựng các câu hỏi trong các tiết dạy
và vận dụng linh hoạt hơn để giải quyết nhiệm vụ nhận thức ở mỗi bài
học.
+ Giáo viên cần kết hợp các phương tiện dạy học như đồ dùng trực
quan, hình ảnh, tranh vẽ trong sách giáo khoa, hệ thống thao tác sư
phạm khi lên lớp để góp phần phát huy tính tích cực chủ động của
học sinh trong mỗi tiết học, nâng cao hiệu quả giờ dạy
+ Trong quá trình giảng dạy , ngôn ngữ nói phải truyền cảm , không
quá nhanh hoặc quá chậm, phải lôi cuốn , hấp dẫn, trình bày phải có
điểm nhấn, tránh đều đều .
+ Khi đặt câu hỏi không nên đặt câu hỏi quá dễ làm cho học sinh thoả
mãn , đi đến chủ quan về vốn hiểu biết của mình, mà phải là cho các
em hiểu rằng, sự trả lời đúng, đầy đủ câu hỏi do giáo viên nêu ra là tốt,
song vẫn phải tiếp tục suy nghĩ để trả lời hay hơn, sâu sắc hơn và

thông minh hơn.
+ Cần tạo cơ hội cho học sinh trong cả lớp trả lời, thảo luận nhóm,
không làm nặng nề giờ học, trình bày nhồi nhét song vẫn tạo không
khí thoải mái, nhẹ nhàng để đạt kết quả tối đa.
+ Giáo viên dạy môn lịch sử phải luôn luôn tìm tòi sáng tạo và đổi
mới trong phương pháp dạy học. Có kế hoạch cụ thể trong việc tìm
kiếm và thiết kế các đồ dùng dạy học đẹp chính xác phù hợp với nội
dung bài dạy.
+ Người giáo viên giảng dạy bộ môn Lịch sử cần tự bồi dưỡng năng
khiếu vẽ bản đồ, lược đồ khoa học và chính xác. Sử dụng triệt để các
24
tranh ảnh, tư liệu, phương tiện thiết bị dạy học. Đổi mới và sử dụng
hợp lý các phương pháp dạy học nhằm phát huy tích cực của học sinh
trong học tập, với phương châm: “mỗi ngày đến trường là một niềm
vui”. Bên cạnh đó nên có những buổi học ngoại khoá, tham quan các
di tích, bảo tàng lịch sử. Tham mưu với ban giám hiệu, Đoàn thanh
niên cho học sinh nhận chăm sóc, bảo vệ các di tích lịch sử địa
phương.
* Kết luận:
Tóm lại “Phương pháp Tập cho học sinh tiếp cận lịch sử qua các
tư liệu trong giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông" được vận dụng
trong các tiết dạy sẽ đạt được kết quả học tập cao nhất của học sinh về
tất cả các mặt giáo dưỡng , giáo dục và phát triển. Đây là hoạt động
tương hỗ giữa thầy và trò nhằm giúp cho học sinh độc lập lĩnh hội kiến
thức một cách thông minh, vận dụng một cách sáng tạo vào thực tế
(học tập và cuộc sống ) . Điều này quan trọng và đòi hỏi nhiều công
sức, lao động sáng tạo, ý thức tinh thần trách nhiệm cao của mỗi một
giáo viên. Và cần đòi hỏi phát triển năng lực tư duy và hành động của
mình trước khi giáo dục cho học sinh, cho nên phải nắm vững lý luận,
rèn luyện nghiệp vụ thường xuyên.

Vì thời gian có hạn, cùng với kinh nghiệm giảng dạy tôi chỉ
mạnh dạn trình bày quan điểm của mình trong việc tập cho học sinh tiếp
cận lịch sử qua các tư liệu trong giảng dạy lịch sử, để phát huy tính tích
cực của học sinh trong dạy học lịch sử THPT góp phần vào việc đổi mới
phương pháp dạy học hiện nay. Với sáng kiến kinh nghiệm này, tôi hy
vọng sẽ góp một phần nhỏ vào việc giúp giáo viên và học sinh THPT
Trần Phú nói riêng, các đồng nghiệp và học sinh các trường bạn nói
chung thực hiện phương pháp Tập cho học sinh tiếp cận lịch sử qua các
tư liệu trong giảng dạy lịch sử để phát huy tính tích cực của học sinh đạt
hiệu quả cao hơn. Về phía bản thân, tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu và phát
huy những kết quả đạt được của việc thực hiện sáng kiến kinh nghiệm
trên, đồng thời không ngừng rút kinh nghiệm, khắc phục khó khăn để
nâng cao hơn nữa chất lượng dạy học
IV. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG.
Hiện nay trong các nhà trường đã được cấp tương đối đầy đủ các
thiết bị dạy học, đây chính là sự quan tâm sâu sát của Đảng và Nhà nước
25

×