Tải bản đầy đủ (.doc) (118 trang)

LUẬN văn BIỆN PHÁP QUẢN lý của HIỆU TRƯỞNG các TRƯỜNG THCS HUYỆN điện BIÊN ĐÔNG TỈNH điện BIÊN NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG dạy học

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (610.34 KB, 118 trang )

DANH MỤC NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BGH
CB,GV, CNV
CBQL
CSVC
ĐH, CĐ
GD&ĐT
GS
GS.TS
GV
HT, PHT
NXB
PGS
PGS.TS
PPDH
SGK
THCS
THPT
XHCN
Ban giám hiệu
Cán bộ giáo viên, công nhân viên
Cán bộ quản lý
Cơ sở vật chất
Đại học, cao đẳng
Giáo dục và Đào tạo
Giáo sư
Giáo sư. Tiến sĩ
Giáo viên
Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng
Nhà xuất bản
Phó giáo sư


Phó giáo sư. Tiến sĩ
Phương pháp dạy học
Sách giáo khoa
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Xã hội chủ nghĩa
i
MỤC LỤC
Lời cảm ơn………………………………………………………………… i
Danh mục các chữ viết tắt……………………………………………………ii
Mục lục…………………………………………………………………… iii
Danh mục bảng . …….………………………………………………………vi
Bảng 2.1. Quy mô mạng lưới trường, lớp và học sinh THCS 43
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.2. Tình hình đội ngũ Hiệu trưởng cấp THCS năm học 2014-2015 43
Bảng 2.3. Tình hình đội ngũ giáo viên năm học 2014-2015 44
Bảng 2.4. Tình hình cơ sở vật chất bậc THCS năm học 2014-2015 45
Bảng 2.5. Kết quả 2 mặt giáo dục 3 năm 47
Bảng 2.14. Thực trạng chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học 60
Bảng 3.1. Kết quả đánh giá về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
101
8. Thực trạng chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học 113
13. Kết quả đánh giá về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 115
ii
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nhân loại đã đi vào thế kỷ XXI, thế kỷ của khoa học và công nghệ, thời
kỳ của xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế với sự cạnh tranh ngày
càng quyết liệt. Ở mọi quốc gia, dù là quốc gia phát triển hay đang phát triển,
giáo dục luôn được xếp ở vị trí hàng đầu của sự phát triển. Nguồn lực con

người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, trong đó GD&ĐT giữ
vai trò quyết định trong việc tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng những yêu cầu của
thời đại mới. Ở nước ta giáo dục được coi là "quốc sách hàng đầu”, là khâu đột
phá trong sự nghiệp CNH, HĐH, luôn được ưu tiên đi trước trong các chương
trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội; nhân tố con người được coi là hạt
nhân, là mục tiêu và động lực của sự phát triển. Vì vậy, việc nâng cao chất
lượng giáo dục của mỗi cấp học, bậc học luôn được quan tâm hơn bao giờ hết.
Các nhà lý luận và quản lý thực tiễn đã khẳng định, chất lượng giáo dục là
sự phù hợp với mục tiêu giáo dục và đáp ứng yêu cầu đa dạng của nền kinh tế-xã
hội trong mọi thời đại cũng như trong quá trình phát triển. Nói đến chất lượng
giáo dục là nói đến chất lượng của người dạy và chất lượng của người học. Chất
lượng giáo dục là vấn đề then chốt trong chính sách phát triển GD&ĐT của
Đảng và Nhà nước, là một trong những mối quan tâm hàng đầu của toàn xã hội;
đồng thời là tiêu chí quan trọng để đánh giá thương hiệu của mỗi cơ sở giáo dục.
Đại hội toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta đã khẳng định: “Cùng với khoa
học và công nghệ, GD&ĐT là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”; “Phát triển GD&ĐT là một trong những
động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH, là điều kiện để phát huy
nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế
nhanh và bền vững”; “GD&ĐT hiện nay phải có một bước chuyển nhanh về
chất lượng và hiệu quả đào tạo, về số lượng và quy mô đào tạo, nhất là chất
1
lượng dạy học trong các nhà trường nhằm nhanh chóng đưa GD&ĐT đáp ứng
yêu cầu đổi mới của đất nước” [11].
Mục tiêu của giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện,
có đạo đức, có tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý
tưởng độc lập và CNXH, hình thành bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất năng lực
của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong những năm qua, cùng với quá trình phát triển của đất nước, sự
nghiệp GD&ĐT của nước ta đã có những bước phát triển mạnh, chất lượng giáo

dục và hiệu quả đào tạo đã từng bước được nâng lên. Việc nâng cao chất lượng
dạy học luôn được xác định là nhiệm vụ cơ bản, hàng đầu và quan trọng nhất
của các cơ sở giáo dục, của mỗi nhà trường, đây chính là điều kiện để các nhà
trường tồn tại và phát triển. Thực chất công tác quản lý nhà trường, quản lý
hoạt động dạy học là nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục và hiệu quả đào tạo
của trường đáp ứng yêu cầu và mục tiêu đào tạo, yêu cầu phát triển của đất
nước trong thời kỳ mới.
Mặc dù đã đạt được những thành tựu nhất định, tuy nhiên hệ thống giáo
dục nước ta vẫn còn những tồn tại hạn chế, bất cập so với yêu cầu phát triển
của đất nước trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước. Nghị quyết Đại hội Đảng
khóa 8 khóa XI đã khẳng định: “Tuy nhiên, chất lượng, hiệu quả giáo dục và
đào tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề
nghiệp. Hệ thống giáo dục và đào tạo thiếu liên thông giữa các trình độ và
giữa các phương thức giáo dục, đào tạo; còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành.
Đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu
cầu của thị trường lao động; chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức,
lối sống và kỹ năng làm việc. Phương pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra và
đánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất”; “Quản lý giáo dục và đào tạo
còn nhiều yếu kém. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục bất cập về
chất lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới
và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề
2
nghiệp”; “Đầu tư cho giáo dục và đào tạo chưa hiệu quả. Chính sách, cơ chế
tài chính cho giáo dục và đào tạo chưa phù hợp. Cơ sở vật chất kỹ thuật còn
thiếu và lạc hậu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn” [14].
Để giải quyết những vấn đề trên đòi hỏi chúng ta phải thay đổi quan
niệm nhận thức về giáo dục, đồng thời phải chú trọng nâng cao ý thức trách
nhiệm việc quản lý nhà trường của Hiệu trưởng đối với hoạt động dạy và học,
để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục.
Trong hệ thống giáo dục nước ta thì giáo dục THCS có vai trò rất quan

trọng, nhằm giúp HS củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu
học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ
thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học THPT, trung cấp, học nghề hoặc đi vào
cuộc sống lao động.
Điện Biên Đông là một huyện miền núi, biên giới, nằm ở phía Đông của
tỉnh Điện Biên, kinh tế-xã hội chậm phát triển, trình độ dân trí thấp và không
đồng đều giữa các khu vực, là một trong 62 huyện nghèo của cả nước. Trong
những năm qua được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, các ngành sự
nghiệp GD&ĐT của huyện đã có những chuyển biến tích cực và đạt được một
số thành tựu cơ bản: quy mô trường, lớp ngày càng được mở rộng, HS đến
trường ngày một nhiều hơn; đội ngũ GV được bổ sung thêm hàng năm; chất
lượng, hiệu quả giáo dục có nhiều chuyển biến tích cực; CSVC, trang thiết bị
phục vụ dạy và học được quan tâm đầu tư và xây dựng. Tuy nhiên, thực tế cho
thấy trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phát triển sự nghiệp GD&ĐT của
huyện vẫn còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế như: công tác quản lý của CBQL
các nhà trường chưa khoa học; đội ngũ GV năng lực còn hạn chế, đặc biệt còn
lúng túng trong việc đổi mới PPDH, đổi mới kiểm tra đánh giá, dạy học theo
chuẩn kiến thức kỹ năng; CSVC, trang thiết bị dạy học còn thiếu dẫn đến chất
lượng giáo dục của huyện còn thấp, thấp hơn chất lượng mặt bằng chung của
3
tỉnh. Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội của địa
phương, nhất là nguy cơ thiếu nguồn nhân lực có tri thức tại chỗ.
Vì vậy, việc nâng cao chất lượng giáo dục đặc biệt là chất lượng dạy học của
huyện là vấn đề được các cấp lãnh đạo của địa phương rất quan tâm, trong đó phải
có những giải pháp chiến lược và tìm ra các biện pháp hữu hiệu để đưa sự nghiệp
giáo dục của huyện tiến kịp các huyện khác trong tỉnh là một vấn đề cấp thiết.
Sau một thời gian được học tập, nghiên cứu, với vị trí công tác của bản
thân, tôi chọn nghiêm cứu vấn đề: “Biện pháp quản lý của Hiệu trưởng các
trường trung học cơ sở huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên nhằm nâng cao
chất lượng dạy học” làm đề tài luận văn của mình.

2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn công tác quản lý của Hiệu trưởng các
trường THCS đối với hoạt động dạy học, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý
nhằm nâng cao chất lượng dạy học các trường THCS của huyện.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về biện pháp quản lý hoạt động dạy học của
Hiệu trưởng các trường THCS.
Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy học và chất lượng dạy học
các trường THCS thuộc huyện Điện Biên Đông.
Đề xuất những biện pháp quản lý của Hiệu trưởng các trường THCS
huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên nhằm nâng cao chất lượng dạy học.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động dạy học của trường THCS.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Quản lý của hiệu trưởng đối với hoạt động dạy học các trường THCS
nhằm nâng cao chất lượng dạy học.
5. Giả thuyết khoa học
4
Chất lượng dạy học ở các trường THCS của huyện Điện Biên Đông
trong những năm qua đã có nhiều chuyển biến tích cực song vẫn còn nhiều bất
cập, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục. Nếu đề xuất và được áp
dụng một cách khoa học, linh hoạt, sáng tạo, đồng bộ, phù hợp với thực tiễn thì
sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học của Huyện đáp ứng tốt yêu cầu phát
triển giáo dục trong giai đoạn hiện nay.
6. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và các biện pháp quản lý của
Hiệu trưởng để nâng cao chất lượng dạy học ở các trường THCS trong phạm
vi huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên thời gian từ 2010-2013 từ đó đề ra
các biện pháp trong giai đoạn 2015-2020.

7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các văn kiện, Nghị quyết của Đảng, các văn bản quy định
của Nhà nước và của ngành GD&ĐT; các tài liệu lý luận về quản lý, quản lý
giáo dục, quản lý nhà trường và các tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát
Quan sát các hoạt động quản lý của Hiệu trưởng về hoạt động dạy học
(hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS) ở các trường THCS.
7.2.2. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Xây dựng phiếu hỏi, nghiên cứu về biện pháp quản lý của Hiệu trưởng
các trường THCS nhằm nâng cao chất lượng dạy học.
Phỏng vấn, tham khảo ý kiến cán bộ quản lý, GV của 15 trường THCS
huyện Điện Biên Đông tỉnh Điện Biên.
7.2.3. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục
Nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn và tổng kết kinh nghiệm từ các công
trình nghiên cứu khác.
5
7.2.4. Phương pháp chuyên gia
Lấy ý kiến chuyên gia về mức độ cần thiết, khả thi của các biện pháp đề xuất.
7.2.5. Phương pháp thống kê
Sử dụng phần mềm thống kê để xử lý các số liệu thu được qua khảo sát.
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
8.1. Về mặt lý luận
Góp phần củng cố và hệ thống hóa những cơ sở lý luận về quản lý hoạt
động dạy học ở trường vào việc quản lý để nâng cao chất lượng dạy học.
8.2. Về mặt thực tiễn
Góp phần làm sáng tỏ thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học
của Hiệu trưởng các trường THCS của huyện Điện Biên Đông.
Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho Hiệu trưởng các trường THCS

của các huyện khác có điều kiện tự nhiên và xã hội tương tự. Có thể làm tài
liệu tham khảo cho các nhà quản lý giáo dục, cho học viên cao học và sinh
viên ngành quản lý giáo dục.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham
khảo, mục lục, phụ lục; luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lí của Hiệu trưởng các trường THCS
đối với hoạt động dạy học.
Chương 2: Thực trạng quản lý của Hiệu trưởng đối với hoạt động dạy
học các trường THCS huyện Điện Biên Đông.
Chương 3: Biện pháp quản lý của Hiệu trưởng các trường THCS huyện
Điện Biên Đông nhằm nâng cao chất lượng dạy học.
6
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CỦA HIỆU TRƯỞNG
CÁC TRƯỜNG THCS ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
1.1. Tổng quan nghiên cứu quản lý hoạt động dạy học ở trường THCS
Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về khoa học quản lý giáo
dục, quản lý nhà trường, quản lý hoạt động dạy và học, góp phần cải tiến, hoàn
thiện hơn công tác quản lý giáo dục. Tác giả Nguyễn Ngọc Quang đã trình bày
về đối tượng, phương pháp nghiên cứu khoa học quản lý giáo dục, khái niệm,
các chức năng quản lý giáo dục, thống nhất mục tiêu quản lý và tính đặc thù
quản lý nhà trường phổ thông; ông quan niệm rằng: “Quản lý trường học chủ
yếu là quản lý quá trình dạy học” [35]. Tác giả Hà Thế Ngữ đã nêu lên mục
tiêu, nguyên tắc quản lý giáo dục; bước đầu tìm hiểu quy luật quản lý giáo dục
[33]. Tác giả Hà Sỹ Hồ và Lê Tuấn cho rằng: “Trong việc thực hiện mục tiêu
đào tạo việc quản lý chuyên môn là nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường” [22].
Biện pháp giáo dục chính trị tư tưởng cho GV và bồi dưỡng chuyên môn
nghiệp vụ để xây dựng tiềm lực chuyên môn cho đội ngũ GV cũng là biện pháp
được tác giả Nguyễn Văn Lê chú trọng trong các biện pháp quản lý của Hiệu

trưởng [27]. Tác giả Trần Kiểm đã trình bày ngắn gọn, dễ hiểu, có phần hiện
đại về cách tiếp cận, mô hình quản lý, đồng thời chỉ ra một số tiêu chí đánh giá
hiệu quả quản lý nhà trường của Hiệu trưởng, các biện pháp nhằm nâng cao
hiệu quả quản lý hoạt động dạy và học….[24]. Vấn đề quản lý hoạt động dạy
học trong nhà trường được nghiên cứu có hệ thống trong nhiều công trình của
các tác giả như: Hồ Ngọc Đại, Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Thị Mỹ Lộc…Các
tác giả đã nghiên cứu một cách toàn diện vai trò của việc tổ chức quá trình dạy
học, việc đổi mới PPDH, các yếu tố liên quan đến quá trình dạy học…Bên
cạnh đó, một số giáo trình của Trường đại học Giáo dục, Học viện Quản lý
giáo dục, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam …cũng đã trình bày những vấn đề
cơ bản của hoạt động quản lý dạy học. Trong các chương trình đào tạo Thạc sỹ
7
quản lý giáo dục cũng có luận văn của một số tác giả đã nghiên cứu trực tiếp về
công tác quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu đều khái quát hoá được bản chất của
quá trình dạy học và phân tích một cách biện chứng các yếu tố tác động đến quá
trình dạy học nói chung và nêu lên được thực trạng cùng các biện pháp cụ thể
phù hợp với thực tiễn hoạt động quản lý giáo dục ở địa phương. Do đó các công
trình thực sự có ý nghĩa về mặt lý luận và nghiên cứu thực tiễn đối với hoạt động
quản lý giáo dục trên từng địa phương, đồng thời cũng đóng góp vào việc xây
dựng nên nền tảng hệ thống các biện pháp quản lý giáo dục trong cả nước. Dù
vậy, trước xu thế hội nhập, toàn cầu hoá và những yêu cầu của sự nghiệp CNH,
HĐH đất nước, cùng với sự bùng nổ của khoa học và công nghệ thông tin, đòi
hỏi GD&ĐT cần phải có những đổi mới căn bản, toàn diện: là đổi mới những
vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội
dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ
sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến các cơ sở GD&ĐT và việc
tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả
các bậc học, ngành học. Trong đó đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác quản lý
của người Hiệu trưởng là hết sức quan trọng, mà trọng tâm là các biện pháp quản

lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học. Có thể thấy, quản lý hoạt động dạy học
trong nhà trường nhằm nâng cao chất lượng đang được nhiều người quan tâm,
có nhiều luận văn đã và đang tiếp tục nghiên cứu vấn đề này. Các luận văn đều
đưa ra thực trạng quản lý hoạt động dạy học của Hiệu trưởng các trường, các địa
phương, từ đó đưa ra các biện pháp tăng cường công tác quản lý hoạt động dạy
học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Tuy nhiên, mỗi địa phương, mỗi nhà
trường có những đặc điểm riêng nên các biện pháp quản lý hoạt động dạy học
cũng có những sự khác nhau. Vì vậy, việc nghiên cứu các biện pháp quản lý của
Hiệu trưởng các trường THCS nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy học tuy
8
không phải là mới, song sẽ là mới thể hiện ở những nét riêng về đặc điểm, về
cách quản lý, về biện pháp và về cách áp dụng các biện pháp.
1.2. Các khái niệm cơ bản
1.2.1. Quản lý
1.2.1.1. Quản lý
Quản lý hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài
người. Nó bắt nguồn và gắn chặt với sự phân công, hợp tác lao động. Quản lý
là một hoạt động xã hội đặc thù, trở thành một nhân tố của sự phát triển xã
hội, mọi hoạt động phổ biến diễn ra ở mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liên quan
đến mọi người. Có thể nói quản lý là một trong những loại hình lao động có
hiệu quả nhất và quan trọng nhất.
Từ khi xuất hiện nền sản xuất xã hội, nhu cầu phối hợp các hoạt động
riêng lẻ càng tăng lên. Bất cứ một tổ chức, một lĩnh vực nào từ sự hoạt động
của nền kinh tế quốc dân, hoạt động của một doanh nghiệp, một đơn vị hành
chính sự nghiệp… đến một tập thể thu nhỏ như tổ sản xuất, tổ chuyên môn bao
giờ cũng có hai phân hệ: Người quản lý và đối tượng được quản lý, sự cần thiết
của quản lý được C.Mác viết: “Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động
chung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một
sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng
chung, phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động

của các cơ quan độc lập của nó. Một người đọc tấu vĩ cầm riêng lẻ tự mình
điều kiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [30].
Như vậy C.Mác đã chỉ ra bản chất của quản lý là một hoạt động lao động
để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu vô cùng quan trọng trong quá
trình phát triển của xã hội loài người. Quản lý trở thành một hoạt động phổ
biến, diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến
mọi người. Đó là một hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa
trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt mục tiêu chung.
9
Quản lý là một khái niệm rộng bao gồm nhiều lĩnh vực, vì vậy khi bàn
về khái niệm quản lý có nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế
hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể của người lao động nói chung (khách
thể quản lý) nhằm thực hiện mục tiêu dự kiến” [19].
Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động liên tục có định
hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ
chức, làm cho tổ chức đó vận hành và đạt được mục tiêu của tổ chức” [15].
Theo tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: “Quản lý là một quá trình
định hướng, quá trình có mục tiêu; quản lý là một hệ thống, là quá trình tác
động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc
trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [32].
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là hoạt
động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến
khách thể quản lý (người bị quản lý) trong đó tổ chức nhằm làm cho tổ chức
vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [29].
Quản lý là một hoạt động mang tính tất yếu của xã hội. Chủ thể quản lý
luôn có tác động qua lại và chịu tác động của môi trường. Quản lý vừa là
khoa học vừa là nghệ thuật. Vì vậy, người quản lý ngoài những yêu cầu về
trình độ, năng lực, phẩm chất còn phải nhạy bén và linh hoạt trong công tác
lãnh đạo, chỉ đạo của mình.

Mặc dù nhiều cách diễn đạt khác nhau về quản lý nhưng đều có một số
điểm chung và thống nhất đó là: Quản lý là một quá trình tác động có mục
đích, có kế hoạch, hợp qui luật khách quan của chủ thể quản lý đến khách thể
quản lý nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức đã đề ra.
1.2.1.2. Chức năng quản lý
Có nhiều ý kiến khác nhau về phân loại chức năng quản lý, tuy nhiên tựu
chung lại có 4 chức năng cơ bản: Kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra.
10
- Chức năng kế hoạch hoá: Là chức năng khởi đầu, là khâu quan trọng
nhất trong hoạt động quản lý. Kế hoạch là bản thiết kế, là tiền đề của mọi quá
trình quản lý, là quá trình xác định mục đích, mục tiêu đối với tương lai của tổ
chức và con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu và mục đích
đó. Có ba nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hoá: xác định, hình thành
mục tiêu (phương hướng đối với tổ chức); xác định và đảm bảo (có tính chắc
chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu này;
xác định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được mục tiêu đó.
- Chức năng tổ chức: Là quá trình sắp xếp, phân bổ công việc, quyền hành
và các nguồn lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể đạt được các mục
tiêu của tổ chức một cách hiệu quả. Ứng với những mục tiêu khác nhau đòi hỏi
cấu trúc tổ chức đơn vị cũng khác nhau. Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, người
quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài
lực ). Một tổ chức được thiết kế phù hợp sẽ phát huy được nội lực và có ý
nghĩa quyết định đến việc chuyển hóa kế hoạch thành hiện thực.
- Chức năng chỉ đạo: Là quá trình nhà quản lý tác động đến các thành
viên của tổ chức làm cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗ lực phấn đấu đạt được mục
đích của tổ chức. Trong quá trình chỉ đạo phải quan tâm sâu, sát các hoạt
động của hệ thống, kịp thời điều chỉnh và vận hành hệ thống đạt đến mục tiêu
nhanh nhất và hiệu quả nhất.
- Chức năng kiểm ta: Là một chức năng quan trọng trong quản lý; quản
lý mà không kiểm tra thì coi như không có quản lý. Nhờ có hoạt động kiểm

tra mà người quản lý đánh giá được kết quả công việc, kịp thời điều chỉnh
những tồn tại hạn chế, từ đó có giải pháp chỉ đạo phù hợp để đạt được mục
tiêu, kế hạch đã đề ra. Để đạt được hiệu quả cao trong công việc nhà quản lý
cần xây dựng các tiêu chí để đánh giá và phải thường xuyên kiểm tra.
11
Bốn chức năng cơ bản của quản lý có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, đan
xen và tác động qua lại lẫn nhau, khi thực hiện chức năng này thường cũng có
mặt các chức năng khác.
1.2.1.3. Nguyên tắc quản lý
Nguyên tắc tập trung dân chủ: Là nguyên tắc quan trọng tạo khả năng
quản lý một cách khoa học có sự kết hợp chặt chẽ sức mạnh của cơ quan
quyền lực với sức mạnh sáng tạo của quảng đại quần chúng trong việc thực
hiện mục tiêu quản lý. Dân chủ được thể hiện ở chỗ: các chỉ tiêu, phương án
hành động đều được tập thể tham gia bàn bạc, kiến nghị các giải pháp thực thi
trước khi đi đến quyết định.
Nguyên tắc đảm bảo hiệu quả kinh tế xã hội: Hiệu quả là cơ sơ kinh tế
cho sự tồn tại và phát triển của tổ chức. Nguyên tắc này đòi hỏi phải làm thế
nào để lực lượng lao động của tổ chức tạo ra thành quả lớn nhất, chất lượng
tốt nhất và hiệu quả cao nhất.
Nguyên tắc kết hợp tính hài hòa các lợi ích xã hội: Quản lý trước hết là
quản lý con người. Con người có những lợi ích, những nguyện vọng và nhu
cầu nhất định, do đó một trong những nhiệm vụ quan trọng của nhà quản lý là
phải chú ý đến lợi ích của mọi người để khuyến khích, kích thích tính tích cực
của họ. Lợi ích là một động lực to lớn nhằm phát huy tính tích cực, chủ động
và sáng tạo của con người. Vì vậy, trong quản lý phải kết hợp hài hòa lợi ích
các nhân với lợi ích tập thể và lợi ích chung của toàn xã hội.
Nguyên tắc nắm khâu trọng yếu: Đòi hỏi nhà quản lý phải có khả năng phân
tích chính xác các tình thế của hệ thống trong quá trình xây dựng và phát triển để
tìm ra các khâu, các việc chủ yếu, những vấn đề them chốt có ý nghĩa quan trọng
trong sự thành bại của tổ chức. Nắm vững nguyên tắc này nhà quản lý có thể khắc

phục được tình trạng dàn trải, chung chung để tập trung vào những vấn đề them
chốt, quyết định trong việc quản lý tổ chức thực hiện mục tiêu.
12
Nguyên tắc kiên định mục tiêu: Là nguyên tắc đòi hỏi nhà quản lý phải
có ý trí kiên định thực hiện cho được mục tiêu đã xác định. Bởi vì một tổ chức
dù mục tiêu đúng đắn nhưng không phải lúc nào cũng được xã hội chấp nhận,
đồng tình ủng hộ. Nếu nhà quản lý thiếu tự tin, không quyết tâm thì mục tiêu
không dễ đạt được.
1.2.1.4. Phương pháp quản lý
Phương pháp quản lý là tổng thể các cách thức tác động có chủ định của
chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu đã định.
Trên thực tế người ta sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp kinh tế: Là phương pháp tác động vào đối tượng thông
qua các lợi ích vật chất, tạo ra động lực thúc đẩy con người hoạt động. Nó
được coi là phương pháp quản lý tốt nhất để thực hiện tiết kiện và nâng cao ý
thức kỷ luật, tự giác của người lao động, đồng thời giảm được phần lớn công
việc điều hành, kiểm tra và đôn đốc.
- Phương pháp tổ chức-hành chính: Là cách thức của chủ thể quản lý đến
đối tượng quản lý trên cơ sở quan hệ tổ chức và quyền lực hành chính. Nội
dung của phương pháp này là những tác động dựa vào các mối quan hệ và
luật lệ của hệ thống quản lý, là những tác động của chủ thể quản lý lên tập thể
đối tượng quản lý bằng những tác động hành chính mang tính bắc buộc, đòi
hỏi mọi thành viên trong tổ chức phải chấp hành nghiêm nghặt, nếu vi phạm
bị xử lý theo qui định của tổ chức.
- Phương pháp tâm lý-giáo dục: Là phương pháp tác động vào tình cảm và
nhận thức của con người bằng lý lẽ, nhằm nâng cao nhận thức, tính tực giác và
nhiệt tình hoạt động của họ trong việc thực hiện các nhiệm vụ. Cơ sở của
phương pháp này là vận dụng các qui luật tâm lý-giáo dục làm chuyển biến nhận
thức, tình cảm, hành vi của họ, làm cho họ phân biệt rõ phải-trái, đúng-sai, lợi-
hại, đẹp-xấu, thiện-ác … từ đó nâng cao tính tực giác và gắn bó với tổ chức.

13
Thực tế cho thấy không có phương pháp nào là vạn năng, phương pháp
nào cũng có mặt mạnh và nhược điểm. Bởi vậy, chủ thể quản lý cần biết phối
hợp các phương pháp một cách linh hoạt phát huy những điểm mạnh, hạn chế
tối đa những nhược điểm. Việc vận dụng các phương pháp có thành công hay
không phụ thuộc vào tài năng của nhà quản lý, nghệ thuật sử dụng các
phương pháp đòi hỏi nhà quản lý phải có sự sáng tạo, còn bản thân các
phương pháp không phải là cái quyết định thành công của nhà quản lý.
1.2.2. Quản lý nhà trường
Nhà trường là cơ quan giáo dục chuyên biệt, có đội ngũ các nhà giáo
được đào tạo, nội dung chương trình dạy học được chọn lọc, phương pháp
giáo dục phù hợp với mọi lứa tuổi và có phương tiện kỹ thuật phục vụ cho
giáo dục. Nhà trường là một tổ chức chuyên biệt trong xã hội, thực hiện chức
năng tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho duy trì và phát triển của xã hội.
Trường học là một tổ chức giáo dục cơ cở mang tính nhà nước, xã hội và là
nơi trực tiếp làm công tác đào tạo thế hệ trẻ.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý nhà trường là tập hợp
những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể GV, HS và cán bộ
khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội
đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có. Hướng vào việc đẩy mạnh mọi
hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ. Thực
hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên
trạng thái mới” [35].
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lý trường học là hoạt động của
các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức lao động của giáo viên, học sinh
và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo
dục để nâng cao chất lượng GD&ĐT trong nhà trường” [41].
Như vậy quản lý nhà trường là những hoạt động của chủ thể quản lý nhà
trường (Hiệu trưởng) đến tập thể GV, công nhân viên, tập thể HS, cha mẹ HS
14

và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất
lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường.
1.2.3. Dạy học và quản lý hoạt động dạy học
1.2.3.1. Dạy học
Nhiều nhà khoa học đã tiếp cận khái niệm dạy học từ cơ sở lý luận của
quá trình giáo dục tổng thể. Mặt khác, xét quan hệ giữa các thành tố cấu trúc
của hoạt động, một số tác giả đã luận giải về nội hàm của khái niệm dạy học
từ những góc độ khoa học khác nhau như: giáo dục học, tâm lý học, điều
khiển học sau đây:
- Tiếp cận dạy học từ góc độ giáo dục học: Dạy học-một trong các bộ
phận của quá trình tổng thể giáo dục nhân cách toàn vẹn-là quá trình tác động
qua lại giữa GV và HS nhằm truyền thụ và lĩnh hội tri thức khoa học, những
kỹ năng, kỹ xảo hoạt động nhận thức và thực tiễn, để trên cơ sở đó hình thành
thế giới quan, phát triển năng lực sáng tạo và xây dựng phát triển các phẩm
chất của nhân cách người học theo mục đích giáo dục. Như vậy, dạy học là
khái niệm chỉ quá trình hoạt động chung của người dạy và người học.
- Tiếp cận dạy học từ góc độ tâm lý học: Dạy học được hiểu là sự biến
đổi hợp lý hoạt động và hành vi của người học trên cơ sở cộng tác hoạt động
và hành vi của người dạy và người học. Như vậy, dạy học là một quá trình sư
phạm, với nội dung khoa học, được thực hiện theo một phương pháp sư phạm
đặc biệt do nhà trường tổ chức, GV thực hiện nhằm giúp HS nắm vững hệ
thống kiến thức khoa học và hình thành hệ thống kiến thức khoa học, hình
thành kỹ năng hoạt động, nâng cao trình độ học vấn, phát triển trí tuệ và hoàn
thiện nhân cách. Dạy học là con đường cơ bản để thực hiện mục đích giáo
dục của xã hội. Học tập là cơ hội quan trọng nhất giúp mỗi cá nhân thành đạt
và phát triển trong xã hội.
15
- Tiếp cận dạy học từ góc độ điều khiển học: Dạy học là quá trình cộng
tác giữa thầy và trò nhằm điều khiển-truyền đạt và tự điều khiển-lĩnh hội tri
thức nhân loại nhằm thực hiện mục đích giáo dục.

Nhiệm vụ của hoạt động dạy - học: Điều khiển, tổ chức HS nắm vững hệ
thống tri thức khoa học phổ thông, cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn,
đồng thời rèn luyện cho các em hệ thống kỹ năng và kỹ sảo tương ứng. Tổ
chức, điều khiển HS hình thành phát triển năng lực và những phẩm chất trí
tuệ, đặc biệt là năng lực tư duy độc lập và sáng tạo. Tổ chức, điều khiển HS
hình thành cơ sở thế giới quan khoa học, những phẩm chất đạo đức và phát
triển nhân cách nói chung.
1.2.3.2. Hoạt động dạy của giáo viên
Hoạt động dạy học là sự tổ chức, điều khiển tối ưu quá trình HS lĩnh hội
tri thức, hình thành và phát triển nhân cách HS. Vai trò chủ đạo của hoạt động
dạy với ý nghĩa là tổ chức và điều khiển quá trình học tập của HS, giúp cho
họ hiểu được kiến thức, hình thành kỹ năng, thái độ. Hoạt động dạy học có
chức năng kép là truyền đạt và điều khiển. Nội dung dạy học được thực hiện
trong một môi trường thuận lợi, chính là nhà trường, ở đó được thực hiện theo
một nội dung chương trình qui định và phù hợp với từng lứa tuổi.
Hoạt động dạy của GV, gồm hai hoạt động chính:
- GV nghiên cứu nội dung SGK, trình độ HS, tài liệu tham khảo, lựa
chọn phương pháp dạy phù hợp với các điều kiện. Trên cơ sở đó GV xây
dựng một phương án thích hợp nhất để dạy từng bài cụ thể cho từng lớp.
- GV phối hợp hoạt động với HS trên lớp, đây là quá trình giảng dạy của
GV. GV nêu vấn đề, giảng dạy kiến thức mới, rèn luyện kỹ năng, củng cố
kiến thức và hướng dẫn HS tự học. Trong quá trình giảng dạy, các hoạt động
của GV được phối hợp nhịp nhàng với hoạt động của HS. GV càng tăng
cường việc hướng dẫn chỉ đạo thì HS càng có nhiều thời gian hoạt động tìm
hiểu kiến thức và rèn luyện kỹ năng thực hành.
16
1.2.3.3. Hoạt động học của học sinh
Hoạt động học là quá trình tự điều khiển tối ưu sự chiếm lĩnh khái niệm
khoa học bằng cách đó hình thành cấu trúc tâm lý mới và phát triển nhân cách
toàn diện. Vai trò tự điều khiển của hoạt động học thể hiện ở sự tự giác, tích

cực, độc lập và sáng tạo dưới sự điều khiển của thầy, nhằm chiếm lĩnh những
khái niệm khoa học bằng hoạt động độc lập, sáng tạo của HS để phát triển
nhân các với các thành tố tri thức, kỹ năng và thái độ.
Hoạt động học có hai chức năng thống nhất là lĩnh hội và tự điều khiển.
Nội dung của hoạt động học bao gồm toàn bộ hệ thống những khái niệm khoa
học của từng bộ môn, với phương pháp phù hợp để biến kiến thức nhân loại
thành học vấn của bản thân.
Hoạt động học của HS, bao gồm:
- Phối hợp hoạt động với GV trên lớp, HS tiếp thu các kiến thức, kỹ năng mới.
- HS tự học ở nhà để hiểu sâu, mở rộng kiến thức và vận dụng kiến thức
mới để giải các bài tập. HS nhớ các kiến thức, kỹ năng cơ bản để có thể biểu
đạt lại thành lời nói, chữ viết cho GV và người khác hiểu được.
Quá trình học là quá trình HS biến kinh nghiệm xã hội lịch sử loài người
thành kiến thức, kinh nghiệm bản thân, từ đó mà hình thành và phát triển
nhân cách.
1.2.3.4. Quản lý hoạt động dạy học
Quản lý hoạt động dạy học là nhiệm vụ trọng tâm của người Hiệu trưởng.
Xuất phát từ vị trí quan trọng của hoạt động dạy học, người Hiệu trưởng phải
dành nhiều thời gian và công sức cho công tác quản lý hoạt động này, nhằm
ngày càng nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường và đáp ứng yêu cầu
ngày càng cao của xã hội.
Quản lý dạy học là quản lý một hoạt động với tư cách là một hệ thống
toàn vẹn, bao gồm các nhân tố cơ bản: Mục đích, nhiệm vụ, nội dung dạy học,
thầy với hoạt động dạy, trò với hoạt động học, các phương pháp và các
17
phương tiện dạy học, các hình thức tổ chức dạy học và phương thức kiểm tra
đánh giá kết quả học tập.
Theo tác giả Đỗ Bích Ngọc: “Quản lý quá trình dạy học là một bộ phận
cấu thành chủ yếu của toàn bộ hệ thống quản lý quá trình GD&ĐT trong
trường học. Quá trình thực hiện các chức năng tổng hợp, phát triển nhân cách,

nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài’’ [31].
Bản chất của quá trình dạy học là sự thống nhất biện chứng của dạy và
học; nó được thực hiện trong và bằng sự hợp tác có tính chất cộng đồng và
hợp tác (cộng tác) giữa dạy và học, tuân theo lôgic khách quan của nội dung
dạy học (khái niệm khoa học-đối tượng của học).
Quản lý hoạt động dạy-học, cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau: Gắn hoạt
động dạy học với việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Tạo môi
trường và điều kiện thuận lợi cho đội ngũ cán bộ, GV thực hiện đổi mới
PPDH. Kết hợp phát huy cao độ tính chủ động sáng tạo của mỗi thành viên
trong tập thể với sự quản lý thống nhất của cán bộ quản lý nhà trường. Đảm
bảo chất lượng một cách bền vững. Xây dựng cơ chế chính sách phù hợp để
phát huy tối đa nội lực đi đôi với sự tranh thủ tiềm lực của các lực lượng
ngoài nhà trường.
Hoạt động dạy và hoạt động học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thể
hiện mối quan hệ tương tác giữa các thành tố: Mục tiêu, nội dung, phương
pháp của hoạt động dạy và hoạt động học.
Như vậy, quản lý hoạt động dạy học thực chất là những tác động của chủ
thể quản lý vào quá trình dạy học (được tiến hành bởi tập thể GV và HS, với sự
hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm góp phần hình thành và phát triển
nhân cách HS theo mục tiêu đào tạo của trường. Quản lý hoạt động dạy học là cơ
sở, là nền tảng cho việc xác định các mục tiêu quản lý khác trong nhà trường.
1.2.4. Chất lượng, chất lượng giáo dục và chất lượng dạy học
1.2.4.1. Chất lượng
18
Chất lượng là mục tiêu của sự tìm tòi liên tục của con người trong suốt
tiến trình lịch sử của nhân loại. Chất lượng chính là lực lượng thúc đẩy những
nỗ lực không ngừng của mỗi người trên cương vị của mình. Chất lượng là
những gì có thể nhận biết nhưng thật khó xác định.
Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về chất lượng:
- Theo từ điểm Bách khoa Việt nam: “Chất lượng là phạm trù triết học

biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì?. Tính tương
đối của sự vật phân biệt nó với sự vật khác. Chất lượng là đặc tính khách quan
của sự vật hiện. Chất lượng được biểu thị ra bên ngoài qua các thuộc tính. Nó
là sự liên kết các thuộc tính của sự vật và không tách khỏi sự vật. Sự thay đổi
về chất kéo theo sự thay đổi của sự vật về căn bản. Chất lượng của sự vật bao
giờ cũng gắn liền với tính qui định về số lượng của nó và không thể tồn tại
ngoài tính qui luật ấy. Mỗi sự vật bao giờ cũng có sự thống nhất của số lượng
và chất lượng [40].
- Chất lượng là sự xuất sắc bẩm sinh, tự nó là cái tốt nhất: Điều này có
thể hiểu được, cảm nhận được nếu ta đem so sánh chúng với những vật
có cùng đặc tính với những sự vật đang được xem xét. Đây là cách tiếp
cận tiên nghiệm về chất lượng, hay cách tiếp cận tuyệt đối về chất lượng.
- Chất lượng là sự phù hợp với các tiêu chuẩn: Cách tiếp cận chất lượng
từ góc độ tiêu chuẩn hay các thông số kỹ thuật có nguồn gốc từ ý niệm kiểm
soát chất lượng trong các ngành sản xuất và dịch vụ. Chất lượng của sản
phẩm hay dịch vụ được đo bằng sự phù hợp của nó với các thông số hay tiêu
chuẩn được quy định trước đó. Trong giáo dục, cách tiếp cận này tạo cơ hội
cho các trường muốn nâng cao chất lượng dạy học có thể đề ra các tiêu chuẩn
nhất định về các lĩnh vực và phấn đấu theo các chuẩn đó.
- Chất lượng là sự phù hợp với mục đích sử dụng.
- Chất lượng là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng (người sử dụng lao
động được đào tạo, phụ huynh HS…).
19
- Chất lượng với tư cánh là hiệu quả của việc đạt mục đích của trường.
- Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một đối tượng, tạo cho đối tượng
đó khả năng đáp ứng nhu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn (TCVN ISO 1994).
Chất lượng phản ánh mặt vô cùng quan trọng của sự vật, hiện tượng, là
cái làm nên giá trị, bản chất của sự vật, hiện tượng, là yếu tố làm cho những
sự vật, hiện tượng này khác với những sự vật, hiện tượng khác.
1.2.4.2. Chất lượng giáo dục

Định nghĩa chất lượng trong giáo dục là công việc khó khăn gấp nhiều lần
so với các lĩnh vực khác, vì giáo dục có liên quan đến sự tồn tại và phát triển
của xã hội loài người. Các tác giả định nghĩa về chất lượng giáo dục như sau:
- Chất lượng giáo dục phổ thông: “Chất lượng giáo dục phổ thông là chất
lượng sảm phẩm cuối cùng của quá trình giáo dục phổ thông, đó là chất lượng
học vấn của cả một lớp người mà bộ phận lớn là vào đời ngay sau khi ra
trường, sự kế tiếp của bộ phận này sau mỗi năm học tạo ra sự chuyển hóa từ
lượng sang chất của trình độ dân trí, bộ phận còn lại nhỏ hơn được tiếp nhận
vào quá trình đào tạo chuyên nghiệp, sự kế tiếp của bộ phận này tạo ra sự
chuyển hóa từ lượng sang chất của đội ngũ nhân lực có hàm lượng trí tuệ cao
với tất cả dấu ấn nhân cách của họ, của quá trình giáo dục phổ thông [10].
- “Chất lượng giáo dục là trình độ và khả năng thực hiện mục tiêu giáo
dục đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của người học và của sự phát triển toàn
diện của xã hội [10].
- Chất lượng giáo dục là những lợi ích, giá trị mà kết quả học tập đem lại
cho cá nhân và xã hội, trước mắt và lâu dài. Khái niệm trên được đúc kết từ
nhiều góc độ khác nhau. Dưới góc độ quản lý chất lượng, thì chất lượng giáo
dục là HS vừa cần phải nắm được các kiến thức kỹ năng, phương pháp chuẩn
mực thái độ sau một quá trình học; đáp ứng được các yêu cầu khi lên lớp,
chuyển cấp, vào học nghề hay đi vào cuộc sống lao động Còn với góc độ
giáo dục học thì chất lượng giáo dục được giới hạn trong phạm vi đánh giá sự
20
phát triển của cá nhân sau quá trình học tập và sự phát triển xã hội khi họ
tham gia vào các lĩnh vực hoạt động kinh tế sản xuất, chính trị-xã hội, văn
hóa-thể thao. Nhìn từ mục tiêu giáo dục thì chất lượng giáo dục được quy về
chất lượng hoạt động của người học. Chất lượng đó phải đáp ứng được các
yêu cầu về mục tiêu của cá nhân và yêu cầu xã hội đặt ra cho giáo dục.
- Chất lượng giáo dục là chất lượng con người được đào tạo từ các hoạt
động giáo dục. Chất lượng ở đây phải được hiểu theo hai mặt của một vấn đề:
Cái phẩm chất của con người gắn liền với người đó, còn giá trị của con người thì

phải gắn liền với đòi hỏi của xã hội. Theo quan niệm hiện đại, chất lượng giáo
dục phải bảo đảm hai thuộc tính cơ bản: tính toàn diện và tính phát triển.
- Chất lượng giáo dục là sự phù hợp với mục tiêu giáo dục, chất lượng
GD&ĐT gắn liền với sự hoàn thiện của tri thức-kĩ năng-thái độ của sản phẩm
GD&ĐT và sự đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế-xã hội của nó trước mắt
cũng trong quá trình phát triển.
- Theo tác giả Nguyễn Đức Chính, hiện nay có sáu quan điểm về chất
lượng giáo dục như sau [9]:
(1) Chất lượng được đánh giá bằng “Đầu vào”.
(2) Chất lượng được đánh giá bằng “Đầu ra”.
(3) Chất lượng được đánh giá bằng “Giá trị gia tăng”.
(4) Chất lượng được đánh giá bằng “Giá trị học thuật”.
(5) Chất lượng được đánh giá bằng “Văn hóa tổ chức riêng”.
(6) Chất lượng được đánh giá bằng “Kiểm toán”.
1.2.4.3. Chất lượng dạy học
Giáo dục phổ thông được tiến hành bằng nhiều hình thức, nhưng hình thức
đặc trưng cơ bản nhất là hình thức dạy học. Kết qủa trực tiếp của quá trình dạy
học là học vấn, bao gồm cả phương pháp nhận thức, hành động và năng lực
chuyên biệt của người học. “Chất lượng dạy học chính là chất lượng của người
21
học hay tri thức phổ thông mà người học lĩnh hội được. Vốn học vấn phổ thông
toàn diện vững chắc ở mỗi người là chất lượng đích thực của dạy học” [10].
Khái niệm chất lượng dạy học liên quan mật thiết với khái niệm hiệu quả
dạy học. Nói đến hiệu quả dạy học tức là nói đến mục tiêu đã đạt được ở mức
độ nào, sự đáp ứng kịp thời yêu cầu của nhà trường, chi phí tiền của, sức lực
và thời gian cần thiết ít nhất nhưng lại mang đến kết quả cao nhất. Chất lượng
dạy học được đánh giá bởi sự phát triển của các yếu tố cấu thành nên quá
trình dạy học, sao cho các yếu tố này càng tiến sát với mục tiêu đã định bao
nhiêu thì kết quả của quá trình ấy càng cao bấy nhiêu. Để thực hiện đánh giá,
người ta xây dựng hệ thống các tiêu chí, thông thường dựa trên 3 tiêu chí cơ

bản đó là: kiến thức, kỹ năng và thái độ.
Chất lượng dạy học ở trường phổ thông chính là sự đáp ứng được mục
tiêu giáo dục phổ thông, nghĩa là giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí
tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con
người Việt Nam XHCN. Chất lượng dạy học được đánh giá chủ yếu về hai
mặt học lực và hạnh kiểm của người học. Các tiêu chí về học lực là kiến thức,
kỹ năng vận dụng và thái độ. Về bản chất, hạnh kiểm phản ánh trình độ phát
triển của ý thức trong mối quan hệ với những người khác, nhà trường, gia
đình, xã hội và bản thân. Có 4 tiêu chí đánh giá hạnh kiểm người học: sự hiểu
biết về các chuẩn mực hiện hành, năng lực nhận dạng hành vi, các tác động
chi phối hành động, sự thể hiện thái độ tình cảm.
Đánh giá chất lượng dạy học là việc khó khăn và phức tạp, cần có quan
điểm đúng và phương pháp đánh giá khoa học. Chất lượng dạy học liên quan
chặt chẽ đến yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, sản phẩm dạy học
được xem là có chất lượng cao khi nó đáp ứng tốt mục tiêu giáo dục mà yêu
cầu phát triển kinh tế-xã hội đặt ra. Khi đánh giá chất lượng dạy học phải căn
cứ vào mục tiêu dạy học của từng cấp học, bậc học đối chiếu với sản phẩm đào
22
tạo được đối với mục tiêu của cấp học, bậc học. Chất lượng dạy học càng cao,
càng làm phong phú thêm kiến thức, kỹ năng, thái độ và hành vi của người học.
Hiện nay, với sự phát triển không ngừng của tri thức khoa học và công
nghệ, đòi hỏi ngành giáo dục phải tạo ra được chất lượng mới. Do đó ngành
giáo dục cần phải tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện ở tất cả các bậc học,
ngành học; tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo
dục và đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội.
1.3. Trường THCS trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.3.1. Vị trí của trường THCS
Giáo dục THCS có vị trí và vai trò quan trọng trong hệ thống giáo dục
quốc dân, là giai đoạn trung gian giữa tiểu học và THPT. Giáo dục THCS
nhằm giúp HS củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có

học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và
hướng nghiệp để tiếp tục học THPT, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc
sống lao động. Vì vậy, giáo dục THCS là giúp HS phát triển toàn diện về đạo
đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân
cách con người Việt Nam XHCN.
Trường THCS có trách nhiệm thực hiện công tác phổ cập giáo dục THCS
trên địa bàn đơn vị cấp xã. Hằng năm thực hiện bảo đảm việc huy động trẻ
hoàn thành chương trình tiểu học vào học lớp 6, duy trì tốt sĩ số HS các khối
lớp. Bảo đảm tỷ lệ thanh niên, thiếu niên trong độ tuổi từ 15 đến 18 tốt nghiệp
THCS hằng năm: đạt ít nhất 80%, đối với xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc
biệt khó khăn đạt ít nhất 70% (đạt chuẩn mức độ 1); đạt ít nhất 90%, đối với xã
có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đạt ít nhất 80% (đạt chuẩn mức
độ 2); đạt ít nhất 95%, đối với xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó
khăn đạt ít nhất 90%, tỷ lệ thanh niên, thiếu niên trong độ tuổi từ 15 đến 18
đang học chương trình giáo dục phổ thông hoặc giáo dục thường xuyên cấp
23

×