Tải bản đầy đủ (.doc) (35 trang)

skkn một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ văn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (337.99 KB, 35 trang )

Trương THCS Thò trấn Phù Mỹ
GV: Nguyễn Thò Mỹ Hiệp

Phần A: MỞ ĐẦU
*************************
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
1. Thực trạng của vấn đề đòi hỏi phải có giải pháp mới để giải quyết
Thế kỉ XXI đã và sẽ chứng kiến tốc độ phát triển như vũ bão của khoa học và
cơng nghệ. Do đó khơng q khó hiểu khi giới trẻ hiện nay có xu hướng tìm đến ngoại
ngữ, tin học và các mơn khoa học tự nhiên như một sự bảo đảm cho tương lai. Điều đó
đã dẫn đến một thực trạng đáng buồn là một bộ phận học sinh coi nhẹ mơn Ngữ văn và
một số mơn xã hội nhân văn nói chung, dẫn đến thiếu đầu tư, yếu kém về năng lực cảm
thụ Từ năm học 2006-2007, tơi được nhà trường phân cơng dạy mơn Ngữ văn khối lớp
9. Trong những năm học này, mặc dù tơi đã rất cố gắng trong cơng tác giảng dạy, tìm
nhiều biện pháp để đưa chất lượng dạy học ngày càng được nâng cao, song hiệu quả
mang lại vẫn chưa đạt như mong muốn. Qua từng tiết dạy vẫn còn nhiều em chưa hào
hứng, đặc biệt qua các bài kiểm tra, bài thi có thể nhận thấy nhiều học sinh học theo kiểu
đối phó, học vẹt, lạm dụng tài liệu tham khảo, khơng chú ý đến khả năng diễn đạt, dùng
câu, từ thiếu sự sáng tạo…Kết quả điểm mơn ngữ văn những lớp tơi được phân cơng đạt
khơng cao.Cuối năm học chỉ đạt 75% trung bình trở lên, còn 25% nữa là yếu kém. Trong
khi đó chỉ tiêu nhà trường bàn giao từ đầu năm là phải đạt 85% trở lên.
2. Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mới
Xuất phát từ thực tế đó, tơi đã quyết tâm tìm ra những ngun nhân dẫn đến
tình trạng học yếu mơn Ngữ văn của học sinh, để có những giải pháp phù hợp nâng cao
chất lượng bộ mơn. Sau đây là 5 nhóm giải pháp tơi đã áp dụng kể từ năm học 2009-
2010:
- Giải pháp khắc phục tình trạng học sinh khơng chịu tiếp xúc tác phẩm và đọc
sai.
- Giải pháp khắc phục tình trạng học vẹt, khơng có khả năng vận dụng kiến
thức
SKKN: Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ


văn Trang 1
Trương THCS Thò trấn Phù Mỹ
GV: Nguyễn Thò Mỹ Hiệp

- Giải pháp khắc phục tình trạng học sinh thụ động trong giờ học
- Giải pháp khắc phục tình trạng học sinh chưa xem trọng văn hóa đọc
- Giải pháp khắc phục tình trạng học sinh thiếu năng lực cảm thụ.
Có thể nói đây là những kinh nghiệm mà bản thân đã chắc lọc, chiêm nghiệm,
là tâm huyết của những ngày tháng đứng trên bục giảng, vì vậy nó có ý nghĩa vơ cùng
lớn và bước đầu đã đem lại hiệu quả thiết thực. Trong từng tiết dạy học sinh học hứng
thú hơn, kết quả bài làm cũng cao hơn. Tơi vơ cùng phấn khởi và muốn đem những kinh
nghiệm của bản thân nhân ra diện rộng cho bạn bè đồng nghiệp cùng tham khảo. Đó
chính là lí do mà tơi lựa chọn và viết đề tài “Một số biện pháp khắc phục tình trạng học
sinh học yếu mơn Ngữ văn”.
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Với đề tài này, tơi đã áp dụng thực nghiệm trên các lớp 9 mà tơi đã được phân
cơng giảng dạy tại trường THCS Thị trấn Phù Mỹ trong hai năm học 2009-2010 và
2010- 2011. Phạm vi nghiên cứu chủ yếu của đề tài là triển khai các giải pháp thiên về
đổi mới phương pháp dạy học trên đối tượng học sinh. Nhưng khơng chỉ đơn thuần là
những giải pháp mang tính lí luận mà là những giải pháp bắt nguồn từ thực tiễn giảng
dạy, được soi chiếu bởi những tư tưởng tiến bộ và sự thơi thúc giải quyết những vấn đề
nội tại của thực tiễn.
II. Phương pháp tiến hành:
1. Cơ sở lí luận và thực tiễn có tính định hướng cho việc nghiên cứu, tìm
giải pháp của đề tài:
*Cơ sở lí luận
M. Go - rơ - ki từng nói“Văn học là nhân học”, văn học có vai trò quan trọng
trong đời sống và trong sự phát triển tư duy của con người.Văn học là nghệ thuật của
cuộc sống, là q tặng tinh thần của con người, có khả năng khơi nguồn sáng tạo mãnh
liệt cho con người và tiếp tục làm phong phú cho tâm hồn bao thế hệ. Ngữ văn là mơn

học chính yếu trong nhà trường phổ thơng nhằm trau dồi kiến thức cũng như rèn luyện
kĩ năng nói, viết cho học sinh. Ngồi ra, mơn Ngữ văn còn góp phần hình thành nhân
SKKN: Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ
văn Trang 2
Trương THCS Thò trấn Phù Mỹ
GV: Nguyễn Thò Mỹ Hiệp

cách đạo đức và ni dưỡng tâm hồn, ý thức dân tộc trong mỗi học sinh. Nó cung cấp
những kiến thức về văn học, tiếng Việt, tập làm văn Rèn luyện năng lực tư duy cho học
sinh theo hướng rèn luyện nhận thức, lí giải và tự đề ra được những quyết định, nhằm
giải quyết có hiệu quả các tình huống có vấn đề trong học tập và đời sống. Giúp các em
học tập tốt các bộ mơn khác, tiếp thu kiến thức ở các lĩnh vực đời sống khác để học sinh
trở thành những người có năng lực thực hành.
* Cơ sở thực tiễn
- Về phía học sinh: Thực tế hiện nay số lượng học sinh học yếu mơn Ngữ văn
khơng phải là nhỏ. Cụ thể: khả năng nói, nghe, đọc, viết nhiều em còn chưa thật thành
thạo, khả năng diễn đạt rất yếu, viết câu khơng đúng ngữ pháp, chưa biết cách dùng từ,
dựng đoạn, đặc biệt là tạo lập văn bản
- Về phía giáo viên: Vấn đề này được các nhà trường và các tổ chun mơn đặc
biệt quan tâm tìm mọi biện pháp để tháo gỡ những khó khăn về phương pháp giảng dạy
theo hướng đổi mới để giảm thiểu tối đa tình trạng học sinh ngồi nhầm lớp.
Xuất phát từ thực tế chung trong q trình giảng dạy của thực trạng học sinh học
yếu mơn ngữ văn nói chung, ở trường Trung học cơ sở nói riêng, với 9 năm trực tiếp
đứng lớp giảng dạy, tơi xin mạnh dạn trao đổi cùng bạn bè đồng nghiệp một số kinh
nghiệm, giải pháp của bản thân đã áp dụng với mong muốn góp phần khắc phục tình
trạng học sinh học yếu mơn văn trong trường phổ thơng để từng bước nâng cao chất
lượng của việc dạy và học bộ mơn ngữ văn trong tình hình hiện nay.
2. Các biện pháp tiến hành, thời gian tạo ra giải pháp :
Khi đi vào nghiên cứu vấn đề này, mỗi người có một hướng tiếp cận riêng.
Trong khn khổ phạm vi đề tài này tơi đã sử dụng chủ yếu một số phương pháp sau:

1. Phương pháp thực hiện bài tetx:
- Tơi tiến hành lập ra các phiếu trắc nghiệm với những thơng tin cần thiết, phát
cho học sinh để các em tự ghi .
- Sau đó dựa vào những thơng tin các em trao đổi trên phiếu, tơi phân loại
ngun nhân dẫn đến tình trạng học sinh học yếu kém mơn Ngữ văn.
SKKN: Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ
văn Trang 3
Trương THCS Thò trấn Phù Mỹ
GV: Nguyễn Thò Mỹ Hiệp

2. Phương pháp tìm kiếm giải pháp:
- Tìm đọc những tài liệu liên quan đến tâm sinh lí học sinh THCS, kĩ năng
sống của học sinh THCS, đổi mới phương pháp dạy học
- Lựa chọn giải pháp áp dụng cho từng đối tượng để khắc phục triệt để những
yếu kém của học sinh.
3. Phương pháp thực nghiệm:
- Đưa những giải pháp được chọn lựa vào áp dụng thực nghiệm trên một số
lớp
- Thống kê, phân tích, tổng hợp để có sự đánh giá chính xác, khách quan hiệu
quả khi áp dụng các giải pháp.
- Điều chỉnh kịp thời những điểm còn vướng khi áp dụng và triển khai ra diện
rộng.
4. Phương pháp tổng hợp
- Sau khi đã có kết quả thực nghiệm, tổng hợp lại vấn đề để viết thành sáng kiến
kinh nghiệm.
* Thời gian nghiên cứu:
- Hè năm học 2008-2009: tìm kiếm thơng tin, xác định ngun nhân, xây dựng
giải pháp.
- Đầu năm học 2009 -2010 áp dụng giải pháp trên một số lớp thực nghiệm.
- Từ năm học 2010-2011 áp dụng trên tồn khối 9

- Tháng 9/2011 đăng ký đề tài; tháng 12/2011 xây dựng đề cương; tháng 2/2012
viết thơ sáng kiến; tháng 4/1012 hồn thiện cơng trình.
Phần B. NỘI DUNG
***************************
I.Mục tiêu:
Mục tiêu mà đề tài đặt ra là nhằm giải quyết những khó khăn còn vướng mắc
trong q trình học Ngữ văn của học sinh, nhất là học sinh yếu, kém. Bằng những giải
SKKN: Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ
văn Trang 4
Trương THCS Thò trấn Phù Mỹ
GV: Nguyễn Thò Mỹ Hiệp

pháp vừa mang tính lí luận vùa mang tính thực tiễn, tơi muốn giúp các em học sinh củng
cố kiến thức cơ bản, bổ trợ những kiến thức bị hỏng, có thói quen độc lập suy nghĩ, ý
thức tự giác trong việc học tập của bản thân, khắc phục những hạn chế còn tồn tại để
vươn lên trong học tập, biết viết văn, làm văn, cảm nhận văn học và hướng đến những
giá trị chân - thiện - mỹ do văn chương mang lại.
II. Mơ tả giải pháp của đề tài:
1. Thuyết minh tính mới:
Như chúng ta đã biết, muốn giải quyết triệt để một vấn đề gì cũng cần tìm ra
ngun nhân của nó. Và việc muốn khắc phục tình trạng học sinh học yếu mơn Ngữ văn
cũng khơng là một ngoại lệ. Chính vì vậy, khi có ý định làm đề tài này việc đầu tiên tơi
phải đi tìm là ngun nhân vì sao có nhiều học sinh học yếu mơn Ngữ văn. Sau đây là
một số ngun nhân cơ bản mà tơi đã tổng hợp được:
- Đối với học sinh yếu kém hầu như các em khơng chịu đọc tác phẩm, khơng
tiếp cận tác phẩm,.khơng soạn bài hoặc chép đối phó trước khi đến lớp, có em đọc chưa
đúng với u cầu: phát âm sai, đọc khơng đúng với ngữ điệu, đọc thêm hoặc bớt từ
- Phần lớn các em học yếu là do các em thiếu năng lực cảm thụ, khơng hề có
sự rung động trước các hình tượng văn học, trước cái hay, cái đẹp của văn chương.
- Do một bộ phận khơng nhỏ học sinh lười suy nghĩ, học vẹt, khơng có khả

năng vận dụng kiến thức, khơng rèn từ, rèn câu, rèn viết mà chỉ học thuộc lòng văn mẫu,
bài mẫu và sao chép một cách rập khn máy móc theo một bài mẫu hoặc dàn ý có sẵn.
Khả năng viết bài, tạo lập văn bản giống như việc làm bài của các mơn khoa học lịch sử,
địa lí.
- Kiến thức xã hội và đời sống thực tế, khả năng cảm nhận cuộc sống thực
tiễn của học sinh còn nghèo nàn, chủ yếu các em tranh thủ những lúc rảnh rổi để chơi
game hoặc xem tivi Điều đó đã tác động khơng nhỏ đến thực trạng tâm lí học tập và
cảm thụ văn học của học sinh, khiến các em khơng có hứng thú học mơn này.
- Một bộ phận học sinh ham chơi, lười biếng, chưa ham thích học tập. Trong
giờ học, các em còn thụ động,chưa mạnh dạn trao đổi, hỏi han do chưa hiểu sâu, chưa
SKKN: Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ
văn Trang 5
Trương THCS Thò trấn Phù Mỹ
GV: Nguyễn Thò Mỹ Hiệp

nắm được kiến thức, thiếu tự tin, thiếu sự tư duy trước những câu hỏi, những vấn đề mà
giáo viên đặt ra mà chủ yếu trơng chờ vào bài giảng của thầy cơ.
- Một thực trạng cũng khá phổ biến hiện nay là văn hóa đọc đang bị lấn sân
trước các phương tiện nghe nhìn, học sinh chưa có phong trào đọc sách, chưa có thói
quen đọc sách, đọc tài liệu tham khảo hoặc đọc khơng đúng hướng. Theo một điều tra
gần đây cho thấy lớp trẻ mất dần thói quen đọc sách, 70% thanh thiếu niên thích nghe
nhạc, xem phim hơn là đọc sách. Số thanh thiếu niên u sách chiếm khoảng 57% nhưng
trong số đó chủ yếu là thích đọc truyện tranh. Đặc biệt đối với bộ mơn ngữ văn thì việc
tìm tòi tài liệu, đọc sách tham khảo là rất cần thiết. Điều đó cũng làm ảnh hưởng tới
việc cảm thụ văn học của các em.
- Do tâm lí chung của một bộ phận học sinh và phụ huynh bị ảnh hưởng bởi xu
thế phát triển của nền kinh tế hiện đại nên chỉ hướng con cái của mình vào việc học một
số mơn khoa học tự nhiên, ngoại ngữ , tin học để có lợi cho cơng việc, cho việc chọn
nghề sau này mà ít hoặc khơng chú trọng đến mơn Ngữ văn. Theo số liệu thống chung
cho thấy có đến 63% học sinh khơng thích học mơn văn.

Trên đây là những ngun nhân chủ yếu lớn nhất tồn tại trong những học sinh
yếu kém.Với mong muốn từng bước nâng cao chất lượng học sinh yếu kém, góp phần
nâng cao chất lượng dạy học mơn ngữ văn cần phải có những giải pháp mới thiết thực và
hiệu quả để giải quyết vấn đề này.
Trước những thực trạng và ngun nhân trên, qua nhiều năm giảng dạy ở khối
lớp 9, tơi thật sự trăn trở, lo lắng về chất lượng của bộ mơn – đặc biệt là chất lượng thi
tuyển sinh vào lớp 10 hệ A cơng lập. Vì vậy, tơi xin đề xuất một số giải pháp nhằm khắc
phục và nâng cao chất lượng học văn của học sinh. Tính mới của đề tài được thể hiện
qua từng thực trạng:
* Đối với thực trạng học sinh khơng chịu tiếp xúc tác phẩm và đọc sai:
- Sau mỗi giờ học, trong phần: “Dặn dò học sinh chuẩn bị cho tiết học tiếp
theo” đối với phương pháp dạy học truyền thống, giáo viên thường bỏ qua khâu này khi
thời gian tiết học đã hết, hoặc làm nhưng chỉ nói sơ qua. Nhưng theo tơi, đây là một khâu
SKKN: Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ
văn Trang 6
Trương THCS Thò trấn Phù Mỹ
GV: Nguyễn Thò Mỹ Hiệp

quan trọng trong tiến trình của một tiết dạy. Giáo viên nên dành một khoảng thời gian
cần thiết để u cầu học sinh chuẩn bị bài mới của tiết học tiếp theo đó bằng cách: tóm
tắt ngắn gọn tác phẩm, nội dung cốt truyện hoặc phát hiện những hình ảnh đẹp trong thơ
văn cho các em nắm bắt để tạo được sự chú ý. Từ đó các em có thể về nhà tự giác đọc
tác phẩm. Mặt khác, giáo viên cần phải hướng cho các em đọc cái gì? Đọc như thế nào?
Cần chú ý điều gì trong tác phẩm đó? Có như vậy các em mới phần nào cảm nhận nội
dung, nghệ thuật tác phẩm một cách dễ dàng hơn.
- Đối với thực trạng đọc sai, giáo viên cần đọc mẫu, uốn nắn cách đọc cho học
sinh. Hướng dẫn các em phát âm chuẩn, chính xác; sử dụng từ ngữ tồn dân, đọc chậm
rãi và đúng ngữ điệu. Đối với thực trạng này, muốn khắc phục được thì vai trò của người
giáo viên là vơ cùng quan trọng. Bởi tác phẩm văn học khơng phải là những con chữ hồn
nhiên trên trang giấy mà muốn cảm nhận được chúng ta phải tiếp cận tác phẩm. Giáo sư

Lê Trí Viễn đã từng nói “Nói nhập thân vào nhân vật, chẳng qua cũng là nói một khía
cạnh của việc bản thân mình phải sống trong bài thơ mà thơi, sống như nhà thơ đã sống
để dựng dậy các cảm xúc đang ngủ n trong chữ nghĩa”.Và để thực hiện được
việc“dựng dậy các cảm xúc đang ngủ n trong chữ nghĩa” thì phải đọc. Trước hết giáo
viên phải đọc đúng và đọc hay, phải có giọng đọc truyền cảm. Bởi phương pháp đọc
trong dạy học ngữ văn là vơ cùng quan trọng, nó như một khúc nhạc dạo đầu để dẫn dắt
học sinh đi vào thế giới của tác phẩm một cách dễ dàng, phù hợp với quy luật cảm thụ
văn học, để đưa các em tiếp cận với tác phẩm và bước đầu giúp các em cảm nhận cái
hay, cái đẹp của tác phẩm. Đọc văn chính là đọc cho sáng tỏ từng ý nghĩa, tình cảm, thái
độ, tâm trạng mà nhà văn định gửi gắm cho người nghe, người đọc. Tùy theo u cầu,
giáo viên có thể cho các em đọc một đoạn, đọc cả bài, đọc để minh chứng cho lời giảng,
đọc ở đầu giờ hoặc cuối giờ Người giáo viên đọc hay sẽ tác động lớn đối với các em,
kích thích được trí tưởng tượng, tái hiện hình ảnh hay duy trì cảm xúc Hơn nữa để
khắc phục thực trạng này giáo viên cần phải có thời gian và lòng kiên nhẫn. Khi các em
đọc sai phải tận tình uốn nắn, tuyệt đối khơng la mắng các em sẽ sợ sệt và giáo viên cũng
mất hứng thú trong giờ giảng văn.
SKKN: Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ
văn Trang 7
Trương THCS Thò trấn Phù Mỹ
GV: Nguyễn Thò Mỹ Hiệp

Ví dụ: Khi u cầu học sinh đọc đoạn văn sau đây giáo viên cần hướng dẫn:
Đoạn văn:
“Chúng nó đánh cháu vì cháu cháu khơng có bố khơng có bố.
- Sao thế - bác ta mỉm cười bảo- ai mà chẳng có bố.
- Em bé nói tiếp một cách khó khăn, giữa những tiếng nấc buồn tủi:
- Cháu cháu khơng có bố.
- Bác cơng nhân bỗng nghiêm lại; bác nhận ra thằng bé con nhà chị Blăng- sốt,
và tuy mới đến vùng này, bác cũng đã mong manh biết chuyện của chị.
- Thơi nào- bác nói - đừng buồn nữa , cháu ơi, và về nhà mẹ cháu với bác đi.

Người ta sẽ cho cháu một ơng bố”
( Trích “ Bố của Xi- mơng “– G. Đơ Mơ-pa-xăng)
Khi đọc đoạn văn này các em phải thể hiện được trước hết giọng đọc phải rõ
ràng, mạch lạc. Ngồi ra còn phải thể hiện được diễn biến tâm trạng đau đớn, buồn
tủi,chán chường,tuyệt vọng của Xi – mơng vì biết mình sinh ra trên cõi đời mà khơng có
bố. Tâm trạng ấy được thể hiện qua những tiếng nấc khơng nói nên lời “Cháu ”, lời nói
bị ngập ngừng đứt qng thể hiện qua những dấu chấm lửng ( ) hoặc sự lặp đi lặp của
điệp khúc “khơng có bố”. Thể hiện được sự ơn tồn, tấm lòng vị tha đầy u thương của
bác Phi- líp qua câu nói động viên Xi- mơng “ Thơi nào- bác nói - đừng buồn nữa ,
cháu ơi, và về nhà mẹ cháu với bác đi. Người ta sẽ cho cháu một ơng bố”. Đối với
những học sinh yếu, giáo viên cần tăng cường rèn cho các em đọc, luyện cho các em đọc
những đoạn phân vai và hướng dẫn, uốn nắn cho các em nhiều hơn.
Ngồi ra, khi áp dụng phương pháp dạy học mới, giáo viên có thể cho các em
nghe giọng đọc mẫu từ các sản phẩm băng đĩa của Bộ giáo dục và Đào tạo về việc đọc
minh họa những tác phẩm truyện, thơ để tạo được sự hứng thú cho các em.
* Đối với thực trạng học vẹt, khơng có khả năng vận dụng kiến thức
- Giáo viên rèn luyện, uốn nắn giúp các em khắc phục những hạn chế của bản
thân từng em. Tăng cường rèn luyện cho các em cách dùng từ, đặt câu, diễn đạt và dần
SKKN: Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ
văn Trang 8
Trương THCS Thò trấn Phù Mỹ
GV: Nguyễn Thò Mỹ Hiệp

dần đưa mức độ u cầu lên cao hơn. Mức độ bài tập từ dễ, khả năng nhận biết rồi sau đó
nâng dần lên khả năng thơng hiểu, vận dụng.
Ví dụ sau khi dạy xong kiến thức lí thuyết về Liên kết câu và liên kết đoạn văn,
giáo viên có thể cho một đoạn văn ngắn và dễ u cầu các em phân tích các biểu hiện
liên kết. Giáo viên hướng dẫn cụ thể, tỉ mỉ từng biểu hiện, chẳng hạn đâu là liên kết nội
dung, đâu là liên kết hình thức Sau đó u cầu học sinh làm bài tập. Hồn thành bài
tập này, đấy là cơ sở để giáo viên đưa ra bài tập cao hơn ( bài tập vận dụng) bằng cách:

“Em hãy viết một đoạn văn ngắn khoảng 5 câu , có nội dung tự chọn, trong đó có thể
hiện sự liên kết câu”. Từ đó giáo viên tiếp tục hướng dẫn các em viết đúng câu, đúng
ngữ pháp, đúng bố cục của một đoạn văn và cứ thế rèn luyện dần dần.
- Phân tích cho các em hiểu rằng cùng một câu thơ, một hình ảnh thơ có thể cảm
nhận bằng nhiều cách khác nhau tùy theo cảm xúc và khả năng cảm nhận của từng em.
Chẳng hạn như hình ảnh “Đầu súng trăng treo” trong bài thơ “Đồng chí” của Chính
Hữu có thể cảm nhận bằng nhiều cách miễn sao đúng được nội dung và tinh thần của
văn bản:
Cách 1: Đây là một hình ảnh vừa mang ý nghĩa tả thực, vừa mang ý nghĩa
biểu tượng. Nghĩa tả thực: những người lính ơm súng chiến đấu nơi rừng sâu, đêm khuya
vầng trăng xuống treo lơ lửng nơi đầu súng. Nghĩa biểu tượng: Súng tượng trưng cho
chiến tranh khốc liệt, trăng tượng trưng cho hòa bình. Khi ơm súng chiến đấu, người lính
mơ về hòa bình.
Cách 2: Đầu súng trăng treo là một hình ảnh vừa thực, vừa mơ, vừa xa lại vừa
gần, vừa mang tính chiến đấu, vừa mang tính trữ tình, vừa chiến sĩ, vừa thi sĩ. Đây là
hình ảnh đẹp, tượng trưng cho tình cảm trong sáng của người chiến sĩ. Mối tình đồng chí
vươn cao, tỏa sáng từ cuộc đời chiến đấu. Hình ảnh thơ thật độc đáo, gây cảm xúc bất
ngờ, thú vị cho người đọc. Hình ảnh ấy đã nói lên đầy đủ ý nghĩa cao đẹp của mục đích
lí tưởng chiến đấu và mối tình đồng chí thiêng liêng của những người lính.
Cách 3: Về khuya trăng tà, trăng lơ lửng trên khơng như đang treo vào đầu
súng. Vầng trăng là biểu tượng của đất nước đẹp, thanh bình. Súng mang ý nghĩa của
SKKN: Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ
văn Trang 9
Trương THCS Thò trấn Phù Mỹ
GV: Nguyễn Thò Mỹ Hiệp

cuộc chiến đấu gian khổ hi sinh. Đầu súng trăng treo là một hình ảnh thơ mộng, nói lên
trong chiến đấu gian khổ hi sinh, anh bộ đội vẫn u đời, tình đồng chí thêm keo sơn gắn
bó, họ cùng mơ ước một ngày mai đất nước thanh bình
- Cần dành thời gian cho việc chữa lỗi dùng từ, lỗi diễn đạt một cách cụ thể và

tỉ mỉ.Giáo viên chỉ cho các em chỗ viết sai, viết chưa hay và cách sửa lại cho hay và cho
đúng. Cơng việc này được tiến hành nhiều nhất là trong các tiết trả bài kiểm tra.
- Việc ra đề kiểm tra, đề thi phải phù hợp với u cầu và chuẩn kiến thức, chú ý
kết hợp những dạng đề thơng thường và đề mở để tránh lối học vẹt, học thuộc lòng. Đặc
biệt việc ra đề kiểm tra theo hướng đề mở là một điểm mới, điểm quan trọng trong giai
đoạn hiện nay đối với bộ mơn ngữ văn.
Ví dụ: Trong sách Ngữ văn 9, ở kiểu bài nghị luận xã hội, các em lại được tiếp
xúc với các đề mở như: Đạo lí :Uống nước nhớ nguồn; Đức tính khiêm nhường; Có chí
thì nên; Đức tính trung thực; Tinh thần tự học; Hút thuốc có hại; Lòng biết ơn thầy, cơ
giáo
Thời gian qua, dạng đề “mở” đã xuất hiện ngày càng nhiều trong các tiết kiểm
tra mơn Ngữ văn ở các cấp học, nhất là bậc THCS và THPT. Đặc biệt, đề thi “mở” đã
“góp mặt” trong những kỳ thi quan trọng như: Thi tuyển vào lớp 10, Thi tốt nghiệp
THPT. Bên cạnh việc phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, một
ưu điểm khác cần được nói đến của dạng đề “mở” là có thể phân hố được học lực của
học sinh. Cùng với các dạng đề nghị luận văn học, những đề văn nghị luận xã hội theo
hướng “mở” sẽ tạo cho học sinh cơ hội được bày tỏ nhận thức, suy nghĩ của mình đối với
những vấn đề khác nhau của xã hội. Từ đó, góp phần hình thành kỹ năng sống, kỹ năng
ứng xử phù hợp đối với những vấn đề đặt ra trong cuộc sống thường nhật. Cũng là cách
để “kéo” văn chương về gần hơn với cuộc sống. Điều cần lưu ý là, đáp án đối với dạng
đề “mở” cũng cần được soạn theo hướng “mở”. Nghĩa là, khơng nên ràng buộc người
viết vào một số ý nào có sẵn, cho trước mà chỉ cần định hướng về cách giải quyết. Chất
lượng của bài viết cũng khơng nên q câu nệ vào dung lượng ngắn, dài. Điều quan trọng
là học sinh phải xác định đúng trọng tâm vấn đề cần trình bày và thể hiện nó một cách rõ
SKKN: Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ
văn Trang 10
Trương THCS Thò trấn Phù Mỹ
GV: Nguyễn Thò Mỹ Hiệp

ràng, minh bạch, logic, có chủ kiến, có sức thuyết phục. Giáo viên khi chấm thi cũng

phải thật sự “vững tay” để khơng bỏ qua những suy nghĩ độc đáo, sáng tạo của học sinh
(có thể khơng có trong đáp án) thể hiện trong bài viết.
* Đối với thực trạng học sinh thụ động trong giờ học:
- Có nhiều ngun nhân dẫn đến vấn đề này nhưng bản chất là do các em thiếu
tư duy suy nghĩ trong giờ học, lười học, thờ ơ trước những câu hỏi, những vấn đề đặt ra
của thầy cơ, khơng chịu khó Để khắc phục tình trạng này giáo viên cần vận dụng
phương pháp kể chuyện, có thể kể những câu chuyện liên quan đến nội dung bài học,
phần đang học để tạo sự lơi cuốn cho các em đối với bài học. Ví dụ khi dạy văn bản
“Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” của G. Mác- két, giáo viên có thể kể những câu
chuyện về chiến tranh và hậu quả của chiến tranh cho các em nghe để tạo sự lơi cuốn hơn
cho các em vào nội dung bài học. Hoặc khi dạy “Các phương châm hội thoại” cứ mỗi
phương châm , giáo viên lại minh họa bằng một câu chuyện.
Ví dụ: Dạy phương châm về lượng lại kể chuyện “Giấu đầu hở đi”. Câu
chuyện như sau : “Một ơng nọ sai người hầu đi mua thịt chó nhưng dặn khơng được nói
cho ai biết. Người hầu xăm xăm đi mua. Gần về đến nhà thì gặp khách. Khách thấy anh
ta cầm cái gói, mới hỏi:
- Chú cầm gói gì trong tay đấy?
Người hầu nhớ lời chủ dặn, khơng dám nói thật nhưng lại giơ cao cái gói và đố:
- Ơng đốn đi Ơng mà đốn đúng thì tơi xin biếu ơng cả gói thịt chó này!”
( Theo Tuyển tập văn học dân gian Việt
Nam)
Qua câu chuyện trên, giáo viên giúp các em vừa cảm thấy vui, hài hước vừa
nhận biết được chuyện có tn thủ phương châm hội thoại hay khơng.Và khi nhớ đến
câu chuyện, các em sẽ nhớ đến nội dung bài học.
Vận dụng phương pháp kể chuyện vào bài giảng khơng phải là việc làm mới
nhưng nó cũng đem lại những hiệu quả nhất định trong tiết dạy.
SKKN: Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ
văn Trang 11
Trương THCS Thò trấn Phù Mỹ
GV: Nguyễn Thò Mỹ Hiệp


- Ngồi ra giáo viên áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, các kĩ thuật
dạy học mới trong các tiết dạy của mình một cách phù hợp để làm tăng hiệu quả giảng
dạy.Trong các tiết dạy của mình, tơi ln cố gắng cụ thể nội dung của tiết học bằng sơ đồ
để học sinh dễ dàng nắm bắt kiến thức, nhất là đối với học sinh yếu. Bởi các em nhìn vào
sơ đồ sẽ dễ nắm ý, dễ nhớ và mau thuộc bài hơn so với cách ghi bình thường. Ví dụ khi
dạy “ Sự phát triển của từ vựng” giáo viên có thể cung cấp sơ đồ sau:

Giáo viên có thể cụ thể nội dung bài học bằng sơ đồ khơng chỉ phần tiếng Việt mà cả
phần dạy văn bản, phần dạy phương pháp tập làm văn
SKKN: Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ
văn Trang 12
Sự phát triển của từ vựng
Phát triển nghĩa
Phát triển số lượng
Phương
thức
ẩn dụ
Phương
thức
ẩn dụ
Tạo từ
ngữ mới
Mượn
từ
Phương
thức
ghép
Phương
thức

láy
Gốc
Hán
Gốc
Châu
Âu
Trương THCS Thò trấn Phù Mỹ
GV: Nguyễn Thò Mỹ Hiệp

Hoặc khi phân tích tình u làng, u nước của nhân vật ơng Hai trong văn bản
”Làng” của Kim Lân cũng có thể cụ thể bằng sơ đồ: (Ghi chú : đây chỉ là một ví dụ có
tính chất tượng trưng)

- Đặc biệt trong năm học 2011-2012, việc dạy học và hệ thống kiến thức bằng
sơ đồ tư duy được ứng dụng rộng rãi đã mang lại hiệu quả thiết thực trong cơng tác giảng
dạy. Dạy học theo phương pháp này nhằm phát huy tối đa tính sáng tạo của người học,
giúp các em dễ nhớ, dễ nhìn, dễ thuộc,dễ ghi. Rèn luyện xác định chủ đề và phát triển ý
chính, ý phụ một cách lơgic thơng qua hệ thống hình ảnh, màu sắc, các cụm từ diễn
đạt Giúp các em sáng tạo hơn, tiết kiệm thời gian, ghi nhớ tốt hơn, nhìn thấy bức tranh
tổng thể và phát triển nhận thức tư duy của các em.

Ví dụ khi dạy xong tiết 117- văn bản : Mùa xn nho nhỏ của Thanh Hải
có thể vẽ sơ đồ
tư duy như sau:
SKKN: Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ
văn Trang 13
Tình u làng , u nước của ơng Hai
Trước khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc
Khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc
Khi nghe được tin cải chính










Trương THCS Thò trấn Phù Mỹ
GV: Nguyễn Thò Mỹ Hiệp

Hoặc sau khi dạy xong một đơn vị kiến thức nào đó trong bài học, từng phần của bài
học cũng có thể vẽ sơ đồ tư duy:
Ví dụ khi dạy tiết 118- văn bản: Viếng lăng Bác của Viễn Phương, xong khổ thơ
thứ nhất có thể vẽ:
Ví dụ như khi dạy xong tiết 120 tập làm văn 9 bài : Nghị luận về một tác phẩm
truyện hoặc đoạn trích, có thể cho học cụ thể hóa nội dung bài học bằng sơ đồ tư duy:
SKKN: Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ
văn Trang 14
Trương THCS Thò trấn Phù Mỹ
GV: Nguyễn Thò Mỹ Hiệp

- Hướng dẫn phương pháp học trên lớp: học sinh phải biết phối hợp nhịp nhàng
các kĩ năng cùng một lúc: mắt nhìn, tai nghe, tay viết, tham gia xây dựng bài; kết hợp
nghe giảng với quan sát sách giáo khoa. Đối với phân mơn tiếng Việt, u cầu phải nắm
được khái niệm và những kiến thức trọng tâm để vận dụng làm bài tập. Đối với phần văn
bản: Thơ phải học thuộc lòng; truyện phải tóm tắt được cốt truyện. Ngồi ra phải nắm
được những nét cơ bản về tác giả, tác phẩm, nội dung chính và đặc sắc nghệ thuật. Đối
với phân mơn tập làm văn phải nắm được phương pháp cơ bản nhất của từng kiểu bài và

cách làm kiểu bài đó.
- Hướng dẫn cách viết bài tập làm văn phải rõ ràng bố cục ba phần, đoạn văn cân
đối mạch lạc, viết đúng ngữ pháp và chuẩn chính tả. Để viết được một bài tập làm văn
tương đối đảm bảo về nội dung và hình thức cần phải:
Ví dụ: Muốn làm được một bài văn nghị luận văn học (nghị luận về một bài thơ)
chẳng hạn, thì trước hết về cơ bản các em phải nắm được những kiến thức về tác giả,
hồn cảnh sáng tác tác phẩm, nội dung của bài thơ, những nét đặc sắc nghệ thuật Để
SKKN: Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ
văn Trang 15
Trương THCS Thò trấn Phù Mỹ
GV: Nguyễn Thò Mỹ Hiệp

nắm được kiến thức phải thơng qua việc tìm hiểu nội dung phần đọc hiểu trong những
giờ giảng văn. Vì vậy tất cả các kĩ năng học và làm văn phải liên quan mật thiết với nhau.
Nắm được những u cầu ấy mới chỉ là bước đầu. Sau đó mới tiến hành xây dựng dàn ý.
Giáo viên cần rèn cho học sinh lập được dàn ý cơ bản và kĩ năng này phải được tiến hành
thường xun, liên tục trong những giờ làm văn.
Ví dụ khi cho đề bài: “Những cảm nhận của em về bài thơ “Ánh trăng” của
Nguyễn Duy” thì điều đầu tiên học sinh phải nắm được là những luận điểm chính cần
thể hiện trong bài văn là gì? Đó là:
+Cảm nghĩ về vầng trăng q khứ
+ Cảm nghĩ về vầng trăng hiện tại
+ Niềm suy tư của tác giả và tấm lòng của vầng trăng
Từ những luận điểm chính ấy, các em phải tạo lập thành những đoạn văn tương ứng với
nội dung luận điểm dựa vào mạch cảm xúc của bài thơ và các hình ảnh thơ, các câu
thơ
- Việc viết mở bài và kết bài cũng rất quan trọng, đơi khi chúng ta nghĩ rằng đấy là
điều đơn giản, các em sẽ làm được. Nhưng đối với những học sinh học yếu, giáo viên
nên rèn cho các em cơng thức viết mở bài trực tiếp theo ba bước đó là: Giới thiệu nét cơ
bản nhất về tác giả, hồn cảnh sáng tác và nội dung tác phẩm. Chú ý rèn các em viết

đúng và tạo thành thói quen để hình thành được những bước khởi đầu tốt đẹp tiếp theo.
- Ví dụ mở bài trực tiếp: Nguyễn Duy là một nhà thơ trưởng thành trong kháng
chiến chống Mĩ. “Ánh trăng” là một trong những bài thơ hay của ơng, viết vào 1978 tại
thành phố Hồ Chí Minh. Bài thơ như một lời tâm sự, một lời nhắn nhủ tâm tình với chính
mình, với mọi người về lẽ sống chung thủy, nghĩa tình.
Còn đối với kết bài, có thể hướng dẫn một phương pháp chung đó là : Khẳng định
lại nội dung và liên hệ, suy ngẫm.
- Ví dụ kết bài nên u cầu viết ngắn gọn : Bài thơ “Ánh trăng” là một lần “giật
mình” của Nguyễn Duy về sự vơ tình trước thiên nhiên, với những kỉ niệm nghĩa tình của
SKKN: Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ
văn Trang 16
Trương THCS Thò trấn Phù Mỹ
GV: Nguyễn Thò Mỹ Hiệp

một thời đã qua. Nó gợi trong lòng chúng ta nhiều suy ngẫm sâu sắc về cách sống, cách
làm người và sự ân nghĩa thủy chung cùng q khứ.
Sau nhiều lần rèn các em viết đúng, giáo viên có kế hoạch nhận xét sửa chữa và
động viên kịp thời thì các em sẽ tiến bộ hơn.
Mặt khác, giáo viên cần nhấn mạnh : để viết một bài văn tốt em cần chú ý các
điểm sau:
Nắm chắc phương pháp để viết bài văn theo trình tự nào. Bên cạnh đó, em cần suy
nghĩ tìm tòi, huy động những kiến thức đã học liên quan đến nội dung đề bài u cầu.
Hơn thế nữa, sự suy nghĩ, sáng tạo của cá nhân là rất quan trọng. Khơng nên lệ thuộc bài
văn mẫu một cách rập khn máy móc. Bởi vì q trình tiếp nhận văn học là em tiếp
nhận những tri thức, cái hay, cái đẹp của tác phẩm. Cho nên khi các em diễn đạt thì
ngồi yếu tố câu cú, ngữ pháp, lời văn phải trong sáng còn u cầu là thể hiện tình cảm
của người viết. Bởi giáo viên ln trân trọng và đánh giá cao vai trò sáng tạo trong tiếp
nhận của học sinh. Vì vậy u cầu các em mạnh dạn nêu những suy nghĩ, ý kiến, những
cảm nhận của cá nhân mình, có thể những ý kiến đó chưa hay, chưa đúng nhưng sẽ được
thầy cơ giáo dạy văn định hướng và từ đó các em lại tiếp tục bày tỏ ý kiến cá nhân trên

cơ sở định hướng thẩm mỹ của thầy cơ. Hướng dẫn các em nên dựa trên những định
hướng về nội dung, về kiểu bài, để có những sáng tạo nho nhỏ của chính mình, và mình
trân trọng những sáng tạo của riêng mình. Lâu dần các em sẽ viết văn tốt, tự tin, và đến
với mơn văn một cách nhẹ nhàng, thoải mái, thú vị hơn.
. - Trong giờ dạy trên lớp giáo viên giao câu hỏi, bài tập dễ, vừa sức để các em có thể
thực hiện được. Khi giao bài tập về nhà cần lưu ý đến đối tượng học yếu này. Qua các
giờ trả bài kiểm tra, giáo viên hướng dẫn học sinh biết tự đánh giá bài của mình. Từ đó,
các em tự biết rút kinh nghiệm những thiếu sót trong bài làm của mình để tự sửa
chữa,khắc phục.
- Giáo viên bộ mơn phải có sự theo dõi thường xun sự tiến bộ của học sinh qua
từng bài kiểm tra. Đối với học sinh yếu kém đặc biệt quan tâm hơn, hướng dẫn tỉ mỉ, cụ
thể, tận tụy động viên các em, tạo cho các em có nề nếp học tập .
SKKN: Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ
văn Trang 17
Trương THCS Thò trấn Phù Mỹ
GV: Nguyễn Thò Mỹ Hiệp

- Cách giới thiệu bài của giáo viên cần tạo được lơi cuốn, hấp dẫn cho các em.
Người giáo viên phải ln ln sáng tạo và linh hoạt trong cách vào bài. Giáo viên phải
ln biến đổi mơ típ vào bài để tránh sự nhàm chán, bằng cách có thể hát một câu hát,
đọc một đoạn thơ có nội dung liên quan đến tác phẩm hoặc nêu một thực trạng khá gần
gũi, thiết thực để tạo hứng thú cho các em để hướng các em vào bài giảng.
- Thực hiện việc kiểm tra ở lớp bằng cách thường xun kiểm tra bài cũ bằng những
câu hỏi vừa sức với từng đối tượng học sinh, ghi điểm hợp lí để động viên kịp thời; kiểm
tra bằng nhiều hình thức khác nhau có thể kiểm tra miệng, có thể kiểm tra bằng giấy, có
thể kiểm tra đầu tiết cũng có thể kiểm tra cuối tiết học Giao bài tập phù hợp với những
đối tượng học sinh này, rèn kĩ năng tóm tắt tác phẩm cho học sinh. Đây là một kĩ năng
tương đối khó đối với những học sinh yếu bởi nó liên quan đến nhiều kĩ năng khác như:
Đọc, thâu tóm nội dung kiến thức cơ bản, sắp xếp ý và khả năng diễn đạt Vì vậy u
cầu các em phải đọc thật nhiều lần và đọc kĩ văn bản, rút ra được những ý chính từ đó

mới có thể tóm tắt được
- Ln tạo cho tiết học một khơng khí vui vẻ, sơi nổi, tạo hứng thú cho học sinh tiếp
thu bài. Đây cũng là một yếu tố quan trọng tạo cho khơng khí lớp học thoải mái để các
em tiếp thu bài dễ dàng và bớt đi sự căng thẳng.
* Đối với thực trạng học sinh chưa có văn hóa đọc nói chung:
- Thứ nhất, chúng ta cần thừa nhận rằng sự cạnh tranh và thay thế của các loại
hình giải trí là chuyện bình thường trong lịch sử. Chúng ta vừa mới chứng kiến sự thối
trào của loại hình sân khấu để nhường chỗ cho sự lên ngơi của vơ tuyến truyền hình. Thế
mạnh của tivi, internet là có hình ảnh động, nhiều màu sắc, âm thanh. Chúng là sự tổng
hợp tuyệt vời từ các loại hình nghệ thuật khác, vừa mang tính kịp thời, vừa thiết
thực Trong khi đọc một cuốn sách văn chỉ thấy hiện lên những con chữ khơ khan, trừu
tượng. Nhiều học sinh có thể khơng đọc sách văn học nhưng có thể ngồi say sưa qn giờ
giấc bên cạnh tivi, internet Chính vì vậy việc dạy văn trong nhà trường muốn tạo được
sự lơi cuốn học sinh cần phải trang bị những thiết bị nghe nhìn hiện đại, bài học được
minh họa bởi âm thanh, hình ảnh sinh động.
SKKN: Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ
văn Trang 18
Trương THCS Thò trấn Phù Mỹ
GV: Nguyễn Thò Mỹ Hiệp

- Người giáo viên dạy văn cần khuyến khích, động viên các em trong việc đọc
sách, phải giúp cho các em hiểu rằng mỗi tác phẩm là một đóa hoa đẹp, mỗi bơng hoa
đẹp có một màu sắc riêng để làm đẹp thêm cho cuộc sống, tâm hồn của con người. Để
làm được điều này thì biện pháp mà người giáo viên có thể làm là đưa ra những đề thi,
đề kiểm tra tổng hợp, đề mở để kích thích học sinh đọc thật nhiều sách báo.
- Vấn đề thời gian cũng có tầm quan trọng trong việc đọc sách. Nhà trường hiện
nay có q nhiều mơn học và chương trình ngoại khóa nên học sinh khơng còn nhiều thời
gian để đầu tư cho việc đọc sách văn học. Để giải quyết tình trạng này, giáo viên khơng
nên u cầu học sinh đọc nhiều mà tùy vào trình độ và thi hiếu của mình học sinh có thể
chọn và đọc những tác phẩm mình thích trên cơ sở đã gợi ý sẵn. Ngồi ra, mỗi em còn

phải trang bị phương pháp khai thác thơng tin trên mạng, ở thư viện hoặc cả ngồi
đời Bởi một người tài giỏi khơng phải cái gì cũng biết, mà là người biết cách khai thác
thành cơng mọi thứ khi mình cần.
- Hơn nữa hiện nay các loại hình giải trí rất đa dạng cho nên túi tiền cũng phải
phân phát cho nhiều thứ mà giá sách lại q cao. Để khắc phục tình trạng trên cũng cần
phải phát triển hệ thống thư viện của trường học nhằm tạo điều kiện cho học sinh khơng
tốn tiền mua sách mà vẫn có sách để đọc.
* Đối với thực trạng học sinh thiếu năng lực cảm thụ:
+ Với các phương tiện và thiết bị dạy học hiện đại như hiện nay, giáo viên cần
sử dụng triệt để những hình ảnh, âm thanh bằng cách áp dụng các phương tiện dạy học
tích cực (đèn chiếu, giáo án điện tử), sử dụng các phương tiện dạy học trực quan để các
em dễ dàng nắm bắt kiến thức. Đây cũng là một điểm mới so với phương pháp dạy học
truyền thống. Nhưng để làm tốt vấn đề này, người giáo viên cần chịu khó và dành nhiều
thời gian sưu tầm, chuẩn bị tư liệu cho tiết dạy. Tuy nhiên, cần tránh việc lạm dụng sẽ
làm mất đi sự cảm nhận cái hay, cái đẹp của văn chương. Chẳng hạn như khi dạy bài thơ
“ Mùa xn nho nhỏ ” của Thanh Hải, với việc vận dụng các phương tiện dạy học như
hình ảnh, âm thanh giáo viên có thể dùng âm nhạc để minh họa tác phẩm thơ ca. Nếu
khơng thể hát được, giáo viên có thể ứng dụng cơng nghệ thơng tin bằng cách cho học
SKKN: Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ
văn Trang 19
Trương THCS Thò trấn Phù Mỹ
GV: Nguyễn Thò Mỹ Hiệp

sinh nghe giai điệu trong trẻo, du dương của bài thơ này khi được phổ nhạc thành bài hát.
Việc ứng dụng cơng cụ nghe nhìn cũng phục vụ đắc lực cho việc tìm hiểu tiểu sử tác giả,
tác phẩm, giúp các em tiếp cận những yếu tố ngồi văn bản để làm phong phú kiến thức
của mình một cách dễ dàng hơn, từ đó sẽ gúp các em cảm thấy thích thú hơn, lơi cuốn
hơn và việc cảm nhận cũng dễ dàng hơn.
+ Trong giờ giảng, giáo viên cần chọn và phân tích, giảng bình những từ ngữ,
hình ảnh then chốt để học sinh cảm nhận cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn chương, để

tạo sự rung cảm cho tâm hồn các em, giúp các em thực sự lơi cuốn vào bài giảng. Chẳng
hạn như khi dạy đoạn trích “ Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng ( Sách Ngữ văn
9- Tập 1), giáo viên có thể làm cho các em rơi nước mắt và thực sự xúc động trước tình
phụ tử thiêng liêng sâu nặng của cha con ơng Sáu và bé Thu khi bé Thu cất tiếng gọi
“ba a a ” thiêng liêng sau tám năm trời xa cách. Đó là tiếng gọi đầu tiên và cũng là
tiếng gọi cuối cùng nghe thật xót xa. Giáo viên có thể dẫn dắt ngược dòng thời gian để
đưa các em về sống với những năm tháng hào hùng lịch sử, của những năm tháng chiến
tranh chống Mĩ và những nỗi đau thương mất mát trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh
mà hàng triệu em bé trên đất nước Việt Nam phải gánh chịu Các em có thể phần nào
cảm nhận được nỗi đau thương, bất hạnh do chiến tranh gây ra đối với họ, biết ngưỡng
mộ, khâm phục hơn những em bé như Thu
+ Tập cho các em có một thói quen quan sát và cảm nhận bằng khả năng quan
sát thực tế. Chẳng hạn như ra đề văn thuyết minh về hoa mai, thì khâu đầu tiên các em
phải biết được hoa mai có đặc điểm cấu tạo, đặc điểm sinh học, cơng dụng, như thế
nào.Việc quan sát và tìm hiểu thực tế cũng nhằm giúp các em cảm thụ được tốt hơn, giúp
các em có hứng thú hơn trong việc học tập. Hoặc để kích thích tư duy và sự quan sát
thực tế của học sinh, giáo viên có thể cung cấp cho các em những đoạn văn hay vào
những thời điểm thích hợp nhất. Đây cũng là một điểm mới theo tơi rất cần thiết để khơi
dậy những cảm xúc văn chương, làm sống lại những rung động trong lòng các em.
Ví dụ như đoạn trích sau: ”Đã bao giờ bạn ngắm nhìn cảnh mặt trời lên.
Khơng khí ban mai dịu ngọt, trong trẻo, ngắm những giọt sương be bé , xinh xinh Mỗi
SKKN: Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ
văn Trang 20
Trương THCS Thò trấn Phù Mỹ
GV: Nguyễn Thò Mỹ Hiệp

ngày trơi qua tơi lại thấy nó mới lại đến say mê. Sương đúng là điều kì dịu của cuộc
sống Sương là hình thức ngưng tụ của hơi nước trong khơng khí đã bão hòa thành
những hạt li ti Còn riêng bản thân mình, tơi ln cho rằng sương được mẹ thiên nhiên
tạo ra. Sau khi từ giã cuộc sống, sương sẽ trở về với mẹ đất. Mẹ thiên nhiên khơng muốn

cây cối, vạn vật đơn độc nên cho sương xuống làm bạn vào mỗi sớm mai.
Sương mai trong suốt như pha lê vậy! Những giọt long lanh, bé xíu dường như
vơ hình, mà cứ mỗi buổi sáng mai vẫn treo đầy ngọ cỏ, đậu trên những nụ hoa Sương
mang một vẻ đẹp thật dung dị, mộc mạc khơng sặc sỡ sắc màu, mà trong vắt, tròn trĩnh,
đơi lúc chỉ một chút gió nhẹ lay động khiến sương tinh nghịch lượn qua lượn lại trên một
phiến lá rộng. Giọt sương là những gì thuần khiết nhất của ban mai đọng lại, nó thanh
sạch gợi lên trong tơi tinh thần minh mẫn, lạc quan, u đời khiến cuộc sống nhẹ nhàng
hơn, mở ra một ngày mới với bao trong lành, tươi sáng. Tơi u những giọt sương sớm
mai khơng chỉ vì vẻ đẹp của nó mà còn vì sương đánh thức tơi, thắp lên trong tơi những
khoảnh khắc, suy nghĩ về cuộc sống. Sương mang đến cho tơi cảm giác thư thái, êm đềm
cảm thấy cuộc đời bỗng dưng đáng sống biết bao!
Có chú ý quan sát mới thấy hết vẻ đẹp của những giọt sương. Những khoảnh
khắc như thế thật q giá. Nhưng dường như khơng bao giờ sương còn mãi. Mn vàn
tia nắng ấm áp của mặt trời sẽ bừng lên, những giọt sương sẽ tan biến vào hư vơ để tơi
khơng kịp lưu luyến. Song chính sương đã gợi cho tơi liên tưởng đến những giá trị bình
thường giản dị của cuộc sống- Những giá trị bị bỏ qn, bởi nó cũng tựa như những giọt
sương bé nhỏ, mong manh, khơng phơ trương mà lặng lẽ điểm tơ cho cuộc đời này ”
( Tạp chí Văn học tuổi trẻ).
Đoạn văn trên sẽ giúp các em có cảm nhận tinh tế hơn về cuộc sống , về những
gì quen thuộc nhưng đơi khi ta lại vơ tình lãng qn, nhằm khơi dậy trong các em tình
u cuộc sống, u văn chương và giúp các em hiểu rằng văn học khơng phải là những
điều xa vời mà nó rất gần gũi với cuộc sống, là tấm gương phản ánh cuộc sống nên nó rất
thiết thực với mỗi chúng ta.
SKKN: Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ
văn Trang 21
Trương THCS Thò trấn Phù Mỹ
GV: Nguyễn Thò Mỹ Hiệp

Thực trạng thiếu năng lực cảm thụ là một thực trạng mà cách khắc phục khơng
hề đơn giản bởi ngữ văn thuộc về bộ mơn năng khiếu, thể hiện năng lực cảm nhận văn

chương, cảm nhận cuộc sống. Giáo viên có thể tập cho các em cảm thụ dần bằng nhiều
cách như đã trình bày ở trên.
2. Khả năng áp dụng:
- Thời gian áp dụng hoặc thử nghiệm có hiệu quả:
- Áp dụng thử nghiệm ở các lớp 9A4, 9A5 năm học 2009- 2010. Năm sau tơi
áp dụng trên 3 lớp 9A4, 9A5, 9A6.
- Trong q trình áp dụng những giải pháp trên đã mang lại hiệu quả tích cực:
học sinh hứng thú hơn trong từng tiết học, kết quả bài làm tốt hơn, tỉ lệ học sinh vào lớp
10 hệ A cơng lập năm sau cao hơn năm trước.
- Có khả năng thay thế giải pháp hiện có:
So với phương pháp dạy học trước đây, sau khi áp dụng những biện pháp này
bản thân tơi nhận thấy đã đem lại một số hiệu quả như mong muốn. Trước đây, trong
giờ giảng văn, thầy hoạt động nhiều, thiên về phương pháp giảng bình và thuyết trình,
còn học sinh chỉ ngồi nghe rất thụ động. Dạy học theo phương pháp mới - lấy học sinh
làm trung tâm, các em được quan sát, được nghe, được tự mình khám phá và cảm nhận
cái hay, cái đẹp của văn chương. Giáo viên chỉ đóng vai trò là người định hướng, hướng
dẫn cho các em lĩnh hội kiến thức.Chẳng hạn như trước đây, trong một giờ giảng văn,
phần đọc văn bản học sinh chỉ được nghe giọng đọc của thầy của bạn. Ngày nay, với sự
phát triển của cơng nghệ thơng tin, trong giờ giảng học sinh có thể nghe giọng đọc mẫu
từ các nghệ sĩ hoặc phát thanh viên; nếu là thơ được phổ nhạc các em sẽ cảm nhận bài
thơ đó bằng âm nhạc Nếu áp dụng thành cơng những biện pháp này trong giảng dạy
chắc chắn sẽ cải thiện được chất lượng học văn của học sinh trong giai đoạn hiện nay.
Trên đây là những kinh nghiệm thực tế của bản thân đúc kết từ thực tế giảng
dạy, với mong muốn được góp một số kinh nghiệm chia sẻ cùng với đồng nghiệp để
từng bước khắc phục tình trạng học sinh học yếu mơn ngữ văn, phấn đấu vươn lên
SKKN: Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ
văn Trang 22
Trương THCS Thò trấn Phù Mỹ
GV: Nguyễn Thò Mỹ Hiệp


trong học tập, để có thể từng bước góp phần giúp các em rộng mở cánh cửa tương lai
của các em đến với những chân trời tri thức mới mẻ hơn.
- Khả năng áp dụng ở đơn vị hoặc trong ngành: Kinh nghiệm này đã được áp
dụng trong thực tế giảng dạy của bản thân trong nhiều năm qua và thực tế cho thấy kết
quả giảng dạy từng bước được nâng lên đáng kể. Chất lượng thi vào 10 hệ A các lớp tơi
phụ trách đạt kết quả cao.Từ đó, tơi đã chia sẻ với đồng nghiệp trong nhóm bộ mơn của
nhà trường. Trong thời gian tới, nhóm bộ mơn Ngữ văn của trường sẽ áp dụng các biện
pháp này cho các khối lớp còn lại để đáp ứng u cầu dạy học văn trong giai đoạn hiện
nay, góp phần đưa mơn ngữ văn trở về với vị trí xứng đáng của nó.
3. Lợi ích kinh tế- xã hội:
- Lợi ích có thể đạt đến trong q trình giáo dục, cơng tác
Ở cấp độ vĩ mơ, mục tiêu dạy học ngữ văn hiện nay là sự cụ thể hóa mục tiêu
giáo dục nói chung, chú trọng dạy chữ, dạy người và hướng nghiệp. Đi vào cụ thể, mơn
học Ngữ văn nhấn mạnh ba mục tiêu chính sau:
1. Trang bị những kiến thức phổ thơng, cơ bản, hiện đại, có tính hệ thống về ngơn
ngữ và văn học - trọng tâm là tiếng Việt và văn học Việt Nam - phù hợp với trình độ phát
triển của lứa tuổi và u cầu đào tạo nhân lực trong thời kỳ cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước.
2. Hình thành và phát triển ở học sinh các năng lực sử dụng tiếng Việt, tiếp nhận
văn bản, cảm thụ thẩm mỹ, phương pháp học tập tư duy, đặc biệt là phương pháp tự học,
năng lực ứng dụng những điều đã học vào cuộc sống.
3. “Bồi dưỡng cho học sinh tình u tiếng Việt, văn học, văn hóa, tình u gia
đình, thiên nhiên, đất nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lập, tự cường, lý tưởng xã hội
chủ nghĩa, tinh thần dân chủ nhân văn, giáo dục cho học sinh trách nhiệm cơng dân, tinh
thần hữu nghị hợp tác quốc tế, ý thức tơn trọng và phát huy các giá trị văn hóa của dân
tộc và nhân loại"[3, tr. 39].
Mục tiêu dạy học Ngữ văn cũng được cụ thể hóa ở từng cấp học, lớp học, phân
mơn Chính vì thế, chương trình được tạo dựng theo hai trục tích hợp: “Đọc văn và
SKKN: Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ
văn Trang 23

Trương THCS Thò trấn Phù Mỹ
GV: Nguyễn Thò Mỹ Hiệp

Làm văn" (Đỗ Ngọc Thống) [8, tr.10]. Phân mơn Văn học có chức năng cung cấp một hệ
thống tri thức phổ thơng, cơ bản, hiện đại về văn học Việt Nam và thế giới, thơng qua
việc phân tích tác phẩm văn chương mà bồi dưỡng cho học sinh những giá trị chân -
thiện - mỹ. Học sinh khơng chỉ được rèn luyện năng lực phân tích, cảm thụ tác phẩm
nghệ thuật, mà còn biết vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống. Phân mơn Làm văn có
chức năng rèn luyện kỹ năng viết văn bản. Ban đầu các đề thi chỉ u cầu làm nghị luận
văn học, càng về sau, nghị luận xã hội càng được chú trọng. Hiện nay, trong các đề thi
Ngữ văn tuyển sinh vào THPT và tuyển sinh Đại học có câu nghị luận xã hội (3 điểm),
bàn về một vấn đề tư tưởng đạo lý hoặc một vấn đề thuộc sự việc, hiện tượng đời sống xã
hội. Nghĩa là việc dạy học Ngữ văn ngày càng xích lại gần đời sống. Còn chức năng của
phân mơn Tiếng Việt là: "Thứ nhất, hình thành và rèn luyện cho học sinh năng lực sử
dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ với bốn kỹ năng cơ bản: đọc, viết, nghe, nói, qua đó mà rèn
luyện tư duy. Thứ hai, giúp các em có những hiểu biết nhất định (tối thiểu ?) về hệ thống
tri thức tiếng Việt và ngơn ngữ để sử dụng tiếng mẹ đẻ một cách thành thạo, có ý thức.
Thứ ba, giúp học sinh biết u q tiếng Việt, có ý thức giữ gìn, bảo vệ và phát triển
tiếng Việt; góp phần hình thành nhân cách và bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm " (Đỗ Ngọc
Thống) [7, tr. 60].
Học văn làm thế giới nội tâm phong phú: đi sâu vào những thế giới tâm trạng,
cùng buồn, cùng vui, cùng u, cùng ghét với nhà văn, nhà thơ, người học sinh sẽ biết
suy nghĩ nhiều hơn để trưởng thành.
Học văn làm suy nghĩ thêm sâu sắc: trong văn học sẽ ln thấp thống bóng hình
của một tư tưởng sống, học văn rèn giũa lại nhân cách lại, dạo đức con người, chuẩn bị
bước vào xã hội. Văn học dạy ta cách sống sao cho có ích, sống ngẩng cao đầu, dạy ta
biết cách chấp nhận và giải quyết khó khăn.
Học văn là tìm về trong lịch sử: Những bài văn, bài thơ ln là nơi phó thác một
tâm sự của người viết, các thế hệ cha anh, nhưng cũng là nơi gửi gắm một tâm tư chung
của tồn dân tộc. Trong văn chương sẽ đọng lại những dáng hình lịch sử. Trên con đường

4000 năm lịch sử dựng nước và giữ nước, ta sẽ tìm được những nét chung và riêng: Nhớ
SKKN: Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ
văn Trang 24
Trương THCS Thò trấn Phù Mỹ
GV: Nguyễn Thò Mỹ Hiệp

về cơng lao các thế hệ trước, hiểu được những trăn trở và suy tư của họ, nhìn vào thời đại
ngày hơm nay, ta sẽ biết mình nên, và cần làm gì.
Ở cấp độ vi mơ, giúp học sinh hiểu được bài, làm bài một cách tự tin trong các
kì thi. Mơn ngữ văn là mơn thi có ảnh hưởng lớn đến kết quả chung của kì thi tuyển sinh
vào lớp 10 cơng lập (đối với cấp THCS). Khi đỗ vào hệ A các em sẽ có điều kiện học
tập, mơi trường học tập tốt hơn. Cánh cửa vào các trường đại học, cao đẳng sẽ rộng mở
hơn, tương lai của các em sẽ sáng sủa hơn.
Về mặt kinh tế, khi các em thi đậu và học hệ A sẽ tiết kiệm được một số chi phí
đáng kể cho gia đình vì mức học phí của hệ cơng lập thấp hơn so với hệ bán cơng. Đây
chính là lợi ích thiết thực nhất mà đề tài áp dụng thành cơng mang lại.
Mặt khác, nếu học tốt bộ mơn ngữ văn sẽ giúp ích cho các em rất nhiều trong cơng
việc sau này như việc quản lí, điều hành, có kĩ năng nói tốt trước đám đơng, vững vàng
trong việc sửa chữa, tạo lập, soạn thảo văn bản
Qua hơn hai năm thực hiện các biện pháp này, chất lượng đào tạo từ trung bình trở
lên của học sinh từng bước được nâng lên. Một số học sinh từ chỗ học yếu đã vươn lên
trung bình, các em đã có sự tiến bộ rõ rệt trong học tập. Những lớp tơi giảng dạy các em
đã có hứng thú học văn, u thích mơn ngữ văn hơn. Nhận thức của các em về mơn ngữ
văn có thay đổi. Các em cần cù chịu khó hơn trong việc học tập bộ mơn. Chất lượng của
mơn học qua việc đánh giá được nâng lên rõ rệt. Nhiều em đã tự giác học tập, tự rèn
luyện, mạnh dạn trao đổi với cơ giáo những điều còn vướng mắc hoặc hiểu chưa sâu.
Nói tóm lại, mục tiêu học tập mơn Ngữ văn trong thời đại mới khơng phải là học
"biết để chơi" mà là "biết để làm". Mơn Ngữ văn khơng chỉ là mơn "bồi dưỡng tâm hồn"
mà quan trọng hơn là mơn "cơng cụ" để học sinh có thể vận dụng những kiến thức và kỹ
năng đã học ứng dụng vào trong cuộc sống và cơng việc. Q trình dạy Ngữ văn phải

hướng tới lợi ích của người học. Và chỉ khi nào người học hứng thú và thấy được lợi ích
thiết thực của mơn học thì mục tiêu dạy học Ngữ văn của các nhà giáo dục vạch ra mới
đạt hiệu quả như mong muốn.
- Tính năng kĩ thuật, chất lượng, hiệu quả sử dụng:
SKKN: Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ
văn Trang 25

×