Tải bản đầy đủ (.doc) (84 trang)

một số giải pháp đầu tư phát triển sắn nguyên liệu vùng tây nguyên

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (492.87 KB, 84 trang )

Website: Email : Tel (: 0918.775.368

LỜI MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới, sắn là cây lương thực đứng hàng
thứ ba sau lúa và ngô, là cây dễ chăm sóc, chịu hạn tốt, năng suất ổn định và ít
bị sâu bệnh. Trong thời gian gần đây, sắn đã trở thành 1 trong 7 loại hàng hoá
có thể xuất khẩu của Việt Nam đem lại nguồn thu nhập khá cho bà con nông
dân một số địa phương ở vùng Tây Nguyên, nhất là những nơi đã trồng giống
sắn mới và đưa các nhà máy chế biến tinh bột vào hoạt động thì hiệu quả kinh
tế từ sắn là khá cao so với lại một số cây trồng khác có cùng điều kiện đất đai,
khí hậu. Vì vậy sắn là một trong những cây quan trọng góp phần phủ xanh đất
trống đồi trọc và tham gia đắc lực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
đặc biệt là ở trung du và miền núi.
Sản phẩm từ sắn được sử dụng nhiều trong lĩnh vực kinh tế và đời sống.
Ngoài lương thực trực tiếp cho con người, thức ăn cho gia súc, sắn còn là
nguồn nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp khác như : sản xuất rượu
cồn, đường glucô, bột ngọt…
Tây Nguyên là vùng có tập quán canh tác sắn lâu đời. Song thực tế sản xuất
có nhiều thăng trầm làm cho nghề trồng sắn không phát triển lên được. Để
khuyến khích nông dân thâm canh tăng năng suất, mở rộng diện tích, góp
phần xoá đói giảm nghèo thì cần thiết phải có những biện pháp và chính sách
phù hợp. Với tầm quan trọng như vậy nên tôi đã chọn đề tài " Một số giải
pháp đầu tư phát triển sắn nguyên liệu vùng Tây Nguyên" để có thể tìm hiểu
sâu hơn về trồng sắn nguyên liệu vùng Tây Nguyên và đưa ra một số kiến
nghị của mình. Đề tài gồm có 3 phần:
 Chương 1: Lý luận chung
 Chương 2 : Thực trạng đầu tư phát triển sắn nguyên liệu vùng Tây
Nguyên
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368


 Chương 3 : Định hướng và giải pháp đẩy mạnh đầu tư phát triển sắn
nguyên liệu vùng Tây Nguyên
Tôi xin cảm ơn cán bộ hướng dẫn T.S Hoàng Tuấn Hiệp và giảng viên Th.s
Nguyễn Thị Ái Liên đã giúp tôi hoàn thành đề tài này.
MỤC LỤC
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG
I. Một số khái niệm về đầu tư
1. Khái niệm về đầu tư phát triển
1.1. Khái niệm đầu tư
1.2. Khái niệm đầu tư phát triển
2. Đặc điểm của đầu tư phát triển
3. Vai trò của đầu tư phát triển
3.1. Trên giác độ toàn bộ nền kinh tế của đất nước
3.1.1. Đầu tư vừa tác đông đến tổng cung, vừa tác động đến tổng cầu
3.1.2. Đầu tư có tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế
3.1.3. Đầu tư với việc tăng cường khả năng khoa học và công nghệ của đất
nước
3.1.4. Đầu tư và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
3.1.5. Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế
3.2. Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ
3.3. Đối với các cơ sở vô vị lợi
4. Nguồn vốn của đầu tư phát triển
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

4.1. Nguồn vốn Nhà nước
4.2. Nguồn vốn từ khu vực tư nhân
4.3. Thị trường vốn
4.4. Nguồn vốn nước ngoài

II. Một số vấn đề lý luận về đầu tư phát triển sắn nguyên liệu
1. Khái quát chung về sắn và các sản phẩm từ sắn
2. Yêu cầu về sinh thái và dinh dưỡng của cây sắn
2.1. Yêu cầu về sinh thái của cây sắn
2.2. Yêu cầu về dinh dưỡng của cây sắn
3. Đặc điểm đầu tư phát triển sắn nguyên liệu
III. Vai trò của đầu tư phát triển sắn nguyên liệu
IV. Nguồn vốn của đầu tư phát triển sắn nguyên liệu
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN SẮN NGUYÊN LIỆU
VÙNG TÂY NGUYÊN
I. Đặc điểm tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội vùng Tây Nguyên
1. Điều kiện tự nhiên khí hậu vùng Tây Nguyên
2. Tình hình kinh tế xã hội vùng Tây Nguyên
II. Thực trạng trồng sắn ở các tỉnh Tây nguyên
1. Về diện tích trồng sắn
2. Về năng suất
3. Sản lượng sắn của các tỉnh Tây Nguyên
4. Hiệu quả kinh tế của cây sắn so với một số loại cây trồng khác ở Tây
Nguyên trong cùng điều kiện
III. Thực trạng đầu tư phát triển sắn nguyên liệu vùng Tây Nguyên
1. Đầu tư của Nhà nước cho việc phát triển sắn nguyên liệu
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

1.1. Đầu tư cho việc lai tạo và phát triển giống
1.2. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực
1.3. Đầu tư nghiên cứu kỹ thuật canh tác
2. Đầu tư của hộ nông dân
2.1. Đầu tư phân bón

2.2. Đầu tư công lao động và chăm sóc
III. Đánh giá kết quả đạt hoạt động đầu tư phát triển sắn nguyên liệu vùng
Tây Nguyên
1. Những thành tựu đạt được
2. Khó khăn và tồn tại
CHƯƠNG III
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
SẮN NGUYÊN LIỆU VÙNG TÂY NGUYÊN
I. Cơ hội và thách thức
1. Cơ hội phát triển sắn nguyên liệu vùng Tây Nguyên
2. Những thách thức trong đầu tư phát triển sắn nguyên liệu
II. Định hướng và mục tiêu phát triển
1. Cơ sở cho việc định hướng
2. Định hướng phát triển
3. Mục tiêu phát triển
III. Một số giải pháp đẩy mạnh đầu tư phát triển sắn nguyên liệu vùng Tây
Nguyên
1. Nghiên cứu lai tạo những giống sắn phù hợp với điều kiện tự nhiên vùng
Tây Nguyên
2. Áp dụng những biện pháp kỹ thuật canh tác sắn thích hợp
3. Giải pháp phục hồi độ phì cho đất
4. Xây dựng cơ sở hạ tầng cho vùng sắn nguyên liệu
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

5. Phối hợp với các nhà máy xây dựng vùng nguyên liệu ổn định để có cơ sở
đầu tư phát triển lâu dài.
6. Giải pháp về chính sách
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG

I. Một số khái niệm về đầu tư
1. Khái niệm về đầu tư phát triển
1.1. Khái niệm về đầu tư
Đầu tư theo nghĩa rộng nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại
để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả
nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được kết quả
đó. Nguồn lực đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và
trí tuệ.
Những kết quả đó có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền vốn),
tài sản vật chất (nhà máy , đường sá, các của cải vật chất khác ) và nguồn
nhân lực có đủ điều kiện để làm việc với năng suất cao hơn trong nền sản xuất
xã hội.
Trong các kết quả đã đạt được trên đây những kết quả là các tài sản vật
chất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực tăng thêm có vai trò quan trọng trong
mọi lúc mọi nơi, không chỉ đối với người bỏ vốn mà còn đối với cả nền kinh
tế. Những kết quả này không chỉ người đầu tư mà cả nền kinh tế được thụ
hưởng.
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Theo nghĩa hẹp, đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn
lực hiện tại, nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội những kết quả trong tương
lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được kết quả đó.
Như vậy nếu xét trong phạm vi quốc gia thì chỉ có những hoạt động sử
dụng các nguồn lực ở hiện tại để trực tiếp làm tăng các tài sản vật chất, nguồn
nhân lực và tài sản trí tệ, hoặc duy trì sự hoạt động sủa các tài sản và nguồn
nhân lực sẵn có thuộc phạm trù đầu tư theo nghỉa hẹp hay đầu tư phát triển.
1.2. Khái niệm đầu tư phát triển
Đầu tư phát triển là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn
lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tụê để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và

cấu trúc hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi
dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện chi phí thường xuyên gắn liền với
sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ
sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế- xã hội, tạo việc làm và
nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội.
2. Đặc điểm của hoạt động đầu tư phát triển
Hoạt động đầu tư phát triển có các đặc điểm khác biệt với các loại hình
đầu tư khác, đó là:
- Hoạt động đầu tư phát triển đòi hỏi một số vốn lớn và để nằm khê đọng
trong suốt quá trình thực hiện đầu tư. Đây là cái giá phải trả khá lớn của đầu
tư phát triển.
- Thời gian để tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi các thành quả
của nó phát huy tác dụng thường đòi hỏi nhiều năm tháng với nhiều biến động
xảy ra.
- Thời gian cần hoạt độngđể có thể thu hồi đủ vốn đã bỏ ra đối với các
cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất kinh doanh thường đòi hỏi nhiều năm
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

tháng và do đó không tránh khỏi sự tác động hai mặt tích cực và tiêu cực của
các yếu tố không ổn định về tự nhiên, xã hội, chính trị kinh tế.
- Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển có giá trị sử dụng lâu
dài, điều này nói lên giá trị lớn của các thành quả đầu tư phát triển.
- Các thành quả của hoạt động đầu tư là các công trình xây dựng sẽ hoạt
động ở ngay nơi mà nó được tạo dựng lên. Do đó, các điều kiện về địa lý, địa
hình tại đó có ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện đầu tư cũng như kết quả
sau này của các kết quả đầu tư.
- Mọi thành quả và hậu quả của quá trình thực hiện đầu tư chịu ảnh
hưởng nhiều của các yếu tố không ổn định theo thời gian và điều kiện địa lý
của không gian.

- Để đảm bảo cho mọi công cuộc đầu tư đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao
đòi hỏi phải làm tốt công tác chuẩn bị. Sự chuẩn bị này được thể hiện trong
việc soạn thảo các dự án đầu tư (lập các dự án đầu tư), có nghĩa là phải thực
hiện đầu tư theo dự án được soạn thảo với chất lượng tốt.
3. Vai trò của đầu tư phát triển
3.1 Trên giác độ toàn bộ nền kinh tế của đất nước
3.1.1. Đầu tư vừa tác động đến tổng cung vừa tác động đến tổng cầu
- Về mặt cầu: Đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của
toàn bộ nền kinh tế. Trong số liệu của Ngân hàng Thế giới, Đầu tư thường
chiếm khoảng 24-28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế giới.
Đối với tổng cầu, tác động của đầu tư là ngắn hạn. Với tổng cung chưa kịp
thay đổi, sự tăng lên của đầu tư làm cho tổng cầu tăng kéo sản lượng cân bằng
tăng theo và giá cả của các đầu vào của đầu tư tăng.
- Về mặt cung: Khi thành quả của hoạt động đầu tư phát huy tác dụng,
các năng lực mới đi vào hoạt động thì tổng cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

tăng lên, kéo theo sản lượng tiềm năng tăng và do đó giá cả sản phẩm giảm.
Sản lượng tăng, giá cả giảm cho phép tăng tiêu dùng. Tăng tiêu dùng đến
lượt mình lại tiếp tục kích thích sản xuất hơn nữa. Sản xuất phát triển là
nguồn gốc cơ bản để tăng tích luỹ, phát triển kinh tế xã hội, tăng thu nhập cho
người lao động, nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội.
3.1.2. Đầu tư có tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế
Sự tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu tư đối với tổng
cầu và đối với tổng cung của nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của đầu tư,
dù là tăng hay giảm đều cùng một lúc vừa là yếu tố duy trì sự ổn định vừa là
yếu tố phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế của mọi quốc gia.
Chẳng hạn, khi tăng đầu tư, cầu của các yếu tố đầu tư tăng làm cho giá
của các hàng hoá có liên quan tăng (giá chi phí vốn, giá công nghệ, lao động,

vật tư) đến một mức độ nào đó dẫn đến tình trạng lạm phát. Đến lượt mình,
lạm phát làm cho sản xuất dình trệ, đời sống người lao động gặp nhiều khó
khăn do tiền lương ngày càng thấp hơn, thâm hụt ngân sách, kinh tế phát triển
chậm lại. Mặt khác, tăng đầu tư làm cho cầu của các yếu tố có liên quan tăng,
sản xuất của các ngành này phát triển, thu hút thêm lao động, giảm tình trạng
thất nghiệp, nâng cao đời sống người lao động, giảm tệ nạn xã hội. Tất cả các
tác động này tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế.
Khi giảm đầu tư (như Việt Nam thời kỳ 1982-1989) cũng dẫn đến tác
động hai mặt, nhưng theo chiều hướng ngược lại so với các tác động trên đây.
Vì vậy, trong điều hành vĩ mô nền kinh tế, các nhà hoạt động chính sách cần
thấy hết tác động hai mặt này để đưa ra các chính sách nhằm hạn chế các tác
động xấu, phát huy tác động tích cực, duy trì được sự ổn định của toàn bộ nền
kinh tế.
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

3.1.3. Đầu tư với việc tăng cường khả năng khoa học và công nghệ của đất
nước
Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá. Đầu tư là điều kiện tiên
quyết của sự phát triển và tăng cường khả năng công nghệ của nước ta hiện
nay.
Theo đánh giá của các chuyên gia công nghệ, trình độ công nghệ của
Việt Nam lạc hậu nhiều thế hệ so với thế giới và khu vực. Theo UNIDO, nếu
chia quá trình phát triển công nghệ thế giới làm 7 giai đoạn thì Việt Nam năm
1990 ở vào giai đoạn 1 và 2. Việt Nam đang là một trong 90 nước kém nhất
về công nghệ. Với trình dộ công nghệ lạc hậu này, quá trình công nghiệp hoá
và hiện đại hoá của Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn nếu không đề ra được
một chiến lược đầu tư phát triển công nghệ nhanh và vững chắc.
Chúng ta đều biết rằng có hai con đường cơ bản để có công nghệ là tự
nghiệ cứu phát minh ra ccông nghệ và nhập công nghệ từ nước ngoài. Dù là

sự nghiên cứu hay nhập từ nước ngoài đều cần phải có tiền, cần phải có vốn
đầu tư. Mọi phương án đổi mới công nghệ không gắn với nguồn vốn đầu tư sẽ
là phương án không khả thi.
3.1.4. Đầu tư và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy con đường tất yếu có
thể tăng trưởng nhanh tốc độ mong muốn (từ 9 đến 10%) là tăng cường đầu tư
nhằm tạo ra sự phát triển ở khu vực công nghiệp và dịch vụ. Đối với các
ngành nông, lâm, ngư nghiệp do những hạn chế về đất đai và các khả năng
sinh học, để đạt được tốc độ tăng trưởng từ 5-6% là rất khó khăn. Như vậy,
chính đầu tư quyết định quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các quốc gia
nhằm đat được tốc độ tăng trưởng nhanh của toàn bộ nền kinh tế.
Về cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối về
phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

tình trạng đói ngèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa
thế, kinh tế, chính trị của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn, làm
bàn đạp thúc đẩy những vùng khác phát triển.
3.1.5. Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế
Kết quả nghiên cứu của các nhà đầu tư cho thấy: Muốn giữ tốc độ phát
triển ở mức độ trung bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt được từ 15-20% so với
GDP tuỳ thuộc vào ICOR của mỗi nước.
Vèn ®Çu t Vèn ®Çu t
ICOR =
GDP do vèn t¹o ra GDP
=
Từ đó suy ra:
Vèn ®Çu t
Møc t¨ng GDP =

ICOR
Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu
tư.
Ở các nước phát triển, ICOR thường lớn, từ 5-7 do thừa vốn thiếu lao
động, vốn được sử dụng nhiều để thay thế cho lao động, do sử dụng công
nghệ hiện đại có giá cao. Còn ở các nước chậm phát triển ICOR thấp từ 2-3
do thiếu vốn, thừa lao động nên có thể cần và phải sử dụng lao động dể thay
thế cho vốn do sử dụng công nghệ kém hiện đại , giá rẻ.
Chỉ tiêu ICOR của mỗi nước phụ thuộc vào nhiều nhân tố, thay đổi theo
trình độ phát triển kinh tế và cơ chế chính sách trong nước.
Đối với các nước đang phát triển, phát triển về bản chất được coi làvấn
đề đảm bảo các nguồn vốn đầu tư đủ để tăng thêm sản phẩm quốc dân dự
kiến. Thực vậy, ở nhiều nước, đầu tư đóng vai trò như một “cái hích ban
đầu”, tạo đà cho sự cất cánh của nền kinh tế.
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Đối với nước ta để đạt được mục tiêu đến năm 2010 tăng gấp đôi tổng
sản phẩm quốc nội năm 2000 theo dự tính của các nhà kinh tế, nếu ICOR là 3
thì vốn đầu tư phải lớn gấp 6 lần hiện nay.
Kinh nghiệm các nước cho thấy, chỉ tiêu ICOR phụ thuộc mạnh vào cơ
cấu kinh tế và hiệu quả đầu tư trong các ngành, các vùng lãnh thổ cũng như
phụ thuộc vào hiệu quả của chính sách kinh tế nói chung. Thông thường
ICOR trong nông nghiệp thấp hơn trong công nghiệp, ICOR trong giai đoạn
chuyển đổi cơ chế chủ yếu do tận dụng năng lực. Do đó, ở các nước phát
triển, tỷ lệ đầu tư thấp thường dẫn đến tốc độ tăng trưởng thấp.
3.2. Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ: Đầu tư quyết định sự ra
đời, tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở
Chẳng hạn, để tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự ra đời của bất kỳ
cơ sở nào đều cần phải xây dựng nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng, mua sắm và lắp

đặt thiết bị máy móc trên nền bệ, tiến hành các công tác xây dựng cơ bản và
thực hiện các chi phí khác gắn liền với sự hoạt dộng trong một chu kỳ của các
cơ sở vật chất kỹ thuật vừa được tạo ra. Các hoạt động này chính là hoạt động
đầu tư.
Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ đang tồn tại sau một thời
gian hoạt động, các cơ sở vật chất –kỹ thuật của các co sở này hao mòn , hư
hỏng. Để duy trì được sự hoạt động bình thường cần định kỳ tiến hành sửa
chữa lớn hoặc thay mới các cơ sở vật chất-kỹ thuật đã hư hỏng, hao mòn này
hoặc đổi mới để thích ứng với điều kiện hoạt động mới của sự phát triển khoa
học – kỹ thuật và nhu cầu tiêu dùng của nền sản xuất xã hội, phải mua sắm
các trang thiết bị mới thay thế cho các trang thiết bị cũ đã lỗi thời, cũng có
nghĩa là phải đầu tư.
3.3. Đối với các cơ sở vô vị lợi
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Để tồn tại, duy trì sự hoạt động, ngoài tiến hành sửa chữa lớn định kỳ
các cơ sở vật chất –kỹ thuật, các cơ sở vô vị lợi (hoạt động không vì mục tiêu
lợi nhuận) còn phải thực hiện các chi phí thường xuyên. Tất cả những hoạt
động và chi phí này đều là những hoạt động đầu tư.
4. Nguồn vốn của đầu tư phát triển
4.1. Nguồn vốn Nhà nước
Nguồn vốn đầu tư Nhà nước bao gồm nguồn vốn của ngân sách Nhà
nước, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và nguồn vốn đầu
tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước.
- Đối với nguồn vốn ngân sách Nhà nước: Đây chính là nguồn chi của
ngân sách Nhà nước cho đầu tư. Đó là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong
chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia. Nguồn vốn này thường
được sử dụng cho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quốc phòng, an
ninh, hỗ trợ cho các dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham

gia của Nhà nước, chi cho công tác lập và thực hiện các dự án quy hoạch tổng
thể phát triển kinh tế – xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và
nông thôn.
Trong những năm gần đây, quy mô tổng thu của ngân sách Nhà nước
không ngừng gia tăng nhờ mở rộng nhiều nguồn thu khác nhau (huy động qua
thuế, phí, bán tài nguyên, bán hay cho thuê tài sản thuộc Nhà nước quản lý ).
Đi cùng với sự mở rộng quy mô ngân sách, mức chi cho đầu tư phát triển
ngân sách Nhà nước cũng gia tăng đáng kể, tăng từ mức 2,3% GDP năm 1991
lên 6,1% năm 1996.
- Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước: Cùng với quá trình đổi
mới và mở cửa, tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước ngày càng đóng vai
trò đáng kể trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội. Nếu như trước năm
1990, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước chưa được sử dụng như
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

một công cụ quản lý và điều tiết nền kinh tế thì trong giai đoạn 1991-2000,
nguồn vốn này đã có mức tăng trưởng đáng kể và bắt đầu có vị trí quan trọng
trong chính sách đầu tư của chính phủ.
Giai đoạn 1991-1995, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà
nước mới chiếm 5,6% tổng vốn đầu tư toàn xã hội thì giai đoạn 1996-1999 đã
chiếm 14,5% và riêng năm 2000, nguồn vốn này đạt đến 17% tổng vốn đầu tư
toàn xã hội. Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước có tác dụng
tích cực trong việc giảm đáng kể sự bao cấp vốn trực tiếp của Nhà nước. Với
cơ chế tín dụng, các đơn vị sử dụng nguồn vốn này phải bảo đảm nguyên tắc
hoàn trả vốn vay. Chủ đầu tư là người vay vốn phải tính kỹ hiệu quả đầu tư,
sử dụng vốn tiết kiệm hơn. Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là
một hình thức quá độ chuyển từ phương thức cấp phát ngân sách sang phương
thức tín dụng đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp.
Bên cạnh đó, vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước còn phục vụ công tác

quản lý và đièu tiết kinh tế vĩ mô. Thông qua nguồn tín dụng đầu tư, Nhà
nước thực hiện việc khuyến khích phát triển kinh tế -xã hội của ngành, vùng,
lĩnh vực theo định hướng chiến lược của mình. Đứng ở khía cạnh là công cụ
điều tiết kinh tế vĩ mô, nguồn vốn này không chỉ thực hiện mục tiêu tăng
trưởng kinh tế mà còn thực hiện cả mục tiêu phát tiển xã hội. Việc phân bổ và
sử dụng vốn tín dụngđầu tư còn khuyến khích phát triển những vùng kinh tế
khó khăn, giải quyết các vấn đề xã hội như xoá đói giảm nghèo. Và trên hết,
nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước có tác dụng tích cực trong
việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đaị hoá.
- Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp Nhà nước: Được xác định là thành
phần giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, các doanh nghiệp Nhà nước vẫn
nắm giữ một khối lượng vốn nhà nước khá lớn. Theo báo cáo tổng kết công
tác tổng kiểm kê tài sản và xác định lại giá trị tài sản doanh nghiệp Nhà nước
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

tại thời điểm 0h ngày 1 tháng 1 năm 2000, tổng nguồn vốn chủ sở hữu tại các
doanh nghiệp Nhà nước là 173.857 tỷ đồng. Mặc dù vẫn còn một số hạn chế
nhưng đánh giá một cách công bằng thì khu vực kinh tế Nhà nước với sự
tham gia của các doanh nghiệp Nhà nước vẫn đóng vai trò chủ đạo trong nền
kinh tế nhiều thành phần.
Trong giai đoạn 1991-1995, tốc độ tăng trưởng bình quân của doanh
nghiệp Nhà nước là 11,7% gấp 1,5 lần tốc độ tăng trưởng bình quân của nền
kinh tế. Từ năm 1998 trở lại đây, tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp Nhà
nước chậm lại nhưng vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong GDP của toàn bộ nền kinh
tế, nộp ngân sách chiếm 40% tổng thu của ngân sách Nhà nước, tạo việc làm
cho trên 1,9 triệu người. Một số sản phẩm của doanh nghiệp Nhà nước có
đóng góp chủ yếu vào cân đối hàng hoá của nền kinh tế như: xi măng, dầu
khí, bưu chính viễn thông
Với chủ trương tiếp tục đổi mới doanh nghiệp Nhà nước, hiệu quả hoạt

động của khu vực kinh tế này ngày càng được khẳng định, tích luỹ của các
doanh nghiệp Nhà nước ngày càng gia tăng và đóng góp đáng kể vào tổng
quy mô vốn đầu tư của toàn xã hội.
4.2. Nguồn vốn từ khu vực tư nhân
Nguồn vốn từ khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần
tích luỹ của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã. Theo đánh giá sơ
bộ, khu vực kinh tế ngoài Nhà nước vẫn sở hữu một lượng vốn tiềm năng rất
lớn mà chưa được huy động triệt để.
Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, một bộ phận không nhỏ
trong dân cư có tiềm năng về vốn do có nguồn thu nhập gia tăng hoặc do tích
luỹ truyền thống. Nhìn tổng quan, nguồn vốn tiềm năng trong dân cư không
phải là nhỏ, tồn tại dưới dạng vàng, ngoại tệ, tiền mặt Nguồn vốn này xấp xỉ
bằng 80% tổng nguồn vốn huy động của toàn bộ hệ thống ngân hàng. Thực tế
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

phát hành trái phiếu chính phủ và trái phiếu của một số ngân hàng thương mại
quốc doanh cho thấy, chỉ trong thời gian ngắn đã huy động được hàng nghìn
tỷ đồng và hàng chục triệu USD từ khu vực dân cư.
Với khoảng 15 triệu hộ gia đình đóng góp khoảng 1/3 GDP, trong giai
đoạn 1996-2000 tiết kiệm của khu vực dân cư chiếm khoảng 15% GDP.
Nhiều hộ gia đình thực sự đã trở thành các đơn vị kinh tế năng động trong các
lĩnh vực kinh doanh thương mại, dịch vụ, sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ
công nghiệp. ở mức độ nhất định, các hộ gia đình cũng sẽ là một trong số các
nguồn tập trung và phân phối vốn quan trọng trong nền kinh tế.
Vốn của dân cư phụ thuộc vào thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình.
Quy mô của nguồn tiết kiệm này phụ thuộc vào:
+ Trình độ phát triển của đất nước (ở những nước có trình độ phát triển
thấp thường có quy mô và tỷ lệ tiết kiệm thấp)
+ Tập quán tiêu dùng của dân cư

+ Chính sách động viên của Nhà nước thông qua chính sách thuế thu
nhập và các khoản đóng góp đối với xã hội.
Với khoảng vài vạn doanh nghiệp ngoài Nhà nước (doanh nghiệp tư
nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, các hợp tác xã) đang và
sẽ đi vào hoạt động, phần tích luỹ của các doanh nghiệp này cũng sẽ đóng góp
đáng kể vào tổng quy mô vốn của toàn xã hội.
Thực hiện chính sách đổi mới, cơ chế cởi mở nhằm huy động mọi nguồn
lực cho đầu tư được thực hiện, trong những năm gần đây các loại hình doanh
nghiệp dân doanh có những bước phát triển mạnh mẽ. Hoạt động đầu tư từ
khu vực này gia tăng mạnh mẽ. Hàng chục ngàn doanh nghiệp được thành lập
với số vốn hàng chục nghìn tỷ đồng (chỉ riêng 8 tháng đầu năm 2001, có
khoảng 11 ngàn doanh nghiệp mới được thành lập với số vốn 13.000 tỷ
đồng).
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

4.3. Thị trường vốn
Thị trường vốn có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế
của các nước có nền kinh tế thị trường. Nó là kênh bổ sung các nguồn vốn
trung hạn và dài hạn cho các chủ đầu tư- bao gồm cả Nhà nướcvà các loại
hình doanh nghiệp. Thị trường vốn mà cốt lõi là thị trường chứng khoán như
một trung tâm thu gom mọi nguồn vốn tiết kiệm của từng hộ dân cư, thu hút
mọi nguồn vốn nhàn rỗi của các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, chính
phủ trung ương và chính quyền địa phương tạo thành một nguồn vốn khổng lồ
cho nền kinh tế. Đây được coi là một lợi thế mà không một phương thức huy
động vốn nào có thể làm được.
Bằng việc phát hành và mua chứng khoán, các khoản vốn manh mún, rải
rác trong dân cư và các tổ chức kinh tế sẽ được huy động nhằm đáp ứng
những nhu cầu về đầu tư và phát triển sản xuất kinh doanh. So sánh với hình
thức huy động vốn qua ngân hàng, thị trường vốn huy động tiền rộng rãi hơn,

phương thức tín dụng linh hoạt, đa dạng, có thể đáp ứng nhanh chóng những
nhu cầu khác nhau của người cần vốn, đảm bảo về hiệu quả và thời gian lựa
chọn.
Thông qua thị trường vốn, chính phủ trung ương và chính quyền địa
phương cũng có thể huy động vốn cho ngân sách hoặc đầu tư vào các công
trình của mình bằng việc phát hành các loại chứng khoán nợ như trái phiếu,
công trái Xét về mặt kinh tế, hình thức huy động vốn này của Nhà nước là
rất tích cực. Nó góp phần vào việc kiềm chế lạm phát do chính phủ không
phải phát hành thêm tiền giấy vào lưu thông nhằm phục vụ cho nhu cầu chi
tiêu của mình.
Mặt khác, đứng trên góc độ hiệu quả, thị trường vốn thực sự trở thành
một cái van điều tiết hữu hiệu các nguồn vốn từ nơi sử dụng kém hiệu quả
sang nơi sử dụng có hiệu quả hơn. Trên thị trường vốn, bất cứ khoản vốn nào
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

được sử dụng đều phải trả giá, do vậy người sử dụng vốn phải quan tâm đến
việc sinh lợi của mỗi đồng vốn. Thị trường vốn nói chung và thị trường chứng
khoán nói riêng không chỉ được coi là một kênh huy động vốncủa nền kinh tế
mà nó còn góp phần tích cực trong việc khắc phục tình trạng khan hiếm vốn
và sự lãng phí trong quá trình sử dụng vốn của toàn xã hội.
4.4. Nguồn vốn nước ngoài
Có thể xem xét nguồn vốn đầu tư nước ngoài trên phạm vi rộng hơn đó
là dòng lưu chuyển vốn quốc tế. Về thực chất, các dòng lưu chuyển vốn quốc
tế là biểu thị quá trình chuyển giao nguồn lực tài chính giữa các quốc gia trên
thế giới. Trong các dòng lưu chuyển vốn quốc tế, dòng từ các nước phát triển
đổ vào các nước đang phát triển thường được các nước thuộc thế giới thứ ba
đặc biệt quan tâm. Dòng vốn này diễn ra dưới nhiều hình thức. Mỗi hình thức
có đặc diểm, mục tiêu và điều kiện thực hiện riêng, không hoàn toàn giống
nhau. Theo tính chất lưu chuyển vốn, có thể phân loại các nguồn vốn nước

ngoài chính như sau:
+ Nguồn vốn ODA
+ Nguồn tín dụng từ các ngân hàng thương mại
+ Đầu tư trực tiếp nước ngoài
+ Nguồn huy động qua thị trường vốn quốc tế
II. Một số vấn đề lý luận về đầu tư phát triển sắn nguyên liệu
1. Sắn và các sản phẩm từ sắn
Sắn là một trong những cây lương thực quan trọng ở nhiều nước trên thế
giới, nhất là các nước nhiệt đới Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh. Cùng
với sự phát triển của công nghệ chế biến, cây sắn ngày càng trở nên có giá trị
kinh tế cao. Hiện nay có hơn 100 nước trồng sắn với tổng diện tích 16 triệu
ha, những nước trồng nhiều nhất là Bzazil, Nigeria, Indonexia và Thái Lan.
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Sắn luôn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu lương thực, trên toàn thế giới mức
tiêu thụ trung bình là 18kg/người/năm.
Ở nước ta sắn được trồng hầu hết ở các tỉnh, song tập trungnhiều nhất ở
các tỉnh miền núi và trung du Bắc Bộ, các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và
miền Đông Nam Bộ.
Sản xuất sắn ở nước ta liên tục tăng trong hai thập niên 60-70, giảm sản
lượng trong thập niên 80 và tương đối ổn định trong những năm 1991-1994,
hiện nay sản lượng sắn cả nước đạt khoảng 4.263 tấn và vẫn đang tiếp tục
tăng. Tuy sản xuất sắn có đặc thù là nơi tiêu thụ thường xa địa bàn nơi sản
xuất, cho nên giá cả giữa nơi sản xuất và nơi bán có sự chênh lệch lớn, nhu
cầu tiêu dùng các sản phẩm từ sắn rất đa dạng phục vụ cho nhu cầu của nhiều
ngành kinh tế…Song nhìn chung nhu cầu tiêu dùng trong nước không có sự
biến đổi đột biến ảnh hưởng đến nền kinh tế. Với xu thế phát triển kinh tế xã
hội, nhu cầu sắn làm lương thực đã giảm nhiều, làm nguyên liệu cho thức ăn
gia súc chiếm tỷ lệ nhỏ so với lượng thức ăn tinh dùng trong chăn nuôi, thay

vào đó là nhu cầu cho công nghiệp, chế biến thực phẩm, công nghiệp dược…
có xu thế tăng nhanh. Thông qua quá trình phát triển, lượng tiêu dùng trong
nước chỉ chiếm khoảng trên dưới 200 ngàn tấn tinh bột sắn, khoảng 45-50%
sản lượng sản xuất quy tinh bột.
Theo FAO ở nhiều nước có trồng sắn tỷ lệ sử dụng làm lương thực
chiếm 58%, cho thức ăn gia súc là 28%, làm nguyên liệu cho công nghiệp
chiếm 3%, hao hụt khoảng 11%. Tuy nhiên có nhiều nước có tỷ lệ sử dụng
cho từng loại khác nhau như ở Indonexia 70% sản lượng sắn dùng cho người;
trong khi đó ở Thái Lan 90% cho xuất khẩu, tỷ lệ dành làm lương thực cho
người hầu như không đáng kể.
Theo nhận xét của một số chuyên gia, ở Việt Nam lượng sắn tiêu dùng
làm lương thực cho người khoảng 10%, 30% dành cho công nghiệp, 20%
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

dành cho sản xuất thức ăn chăn nuôi. Song cũng có nhiều ý kiến cho rằng
trong mấy năm gần đây thì lượng sắn dùng cho công nghiệp kể cả công
nghiệp chế biến thực phẩm, dược chiếm 35-40%, cho chăn nuôi 10%, lương
thực cho người 10-15%.
* Tiêu dùng sắn dành làm lương thực cho người: hiện nay sử dụng sắn
để thay thế một phần lương thực trong cơ cấu bữa ăn hàng ngày của nhân dân
chủ yếu ở những hộ nông dân ở miền núi vùng sâu vùng xa, đặc biệt ở 2 vùng
Trung du miền núi phía Bắc và Tây Nguyên (khoảng trên 100 huyện có trồng
sắn nhiều chiếm chủ lực trong các cây màu). Trên cơ sở lập bảng cân đối
lương thực ở các địa bàn trên (bao gồm cả lúa, màu) lượng sắn tiêu dùng từ
550-600 tấn sắn củ chiếm 13-14% sản lượng sắn sản xuất.
* Dùng làm thức ăn gia súc (không kể các phụ phẩm dùng cho chăn
nuôi): đã nhiều năm nay trong chăn nuôi thâm canh theo phương thức công
nghiệp, hầu như ít sử dụng sắn để sản xuất thức ăn hỗn hợp. Đặc biệt trong
chăn nuôiở các vùng tỉnh địa bàn không sản xuất sắn, người nông dân chăn

nuôi theo phương thức tận dụng, không dùng nguyên liệu này. Hàng năm cả
nước cần lượng thức ăn tinh tăng thêm từ 30-40 ngàn tấn, chủ yếu dựa vào
nguồn nguyên liệu ngô, cám từ lúa là chính, cho nên số lượng sắn dùng cho
chăn nuôi tương đối ổn định (những nơi trồng nhiều sắn và những cơ sở chế
biến thức ăn gia súc có điều kiện thu mua sắn với giá rẻ). Trên cơ sở sản xuất
thịt (thịt lợn, thịt gia cầm) cho thấy: thức ăn cho chăn nuôi trong những năm
vừa qua được làm từ lúa, ngô là chính, lượng thức ăn cho chăn nuôi chế biến
từ cây có củ (sắn là chính) chiếm khoảng 650-700 nghìn tấn (chiếm 23-25%
sản lượng sắn sản xuất của cả nước) và bằng 14% lượng thức ăn tinh dành
cho chăn nuôi. Nừu kể cả lượng nhập khẩu sắn lát do một số công ty sản xuất
thức ăn gia súc có vốn đầu tư nước ngoài thì khối lượng sắn dùng cho chan
nuôi lên tới 900 nghìn tấn/năm.
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

* Dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp (ở đây được xem xét tổng hợp
cho cả công nghiệp chế biến thực phẩm, dược ). Hiện nay rất nhiều lĩnh vực
sản xuất sử dụng nguồn nguyên liệu từ sắn, trong đó phải kể đến những mặt
hàng được sản xuất từ sắn là cồn tinh bột, bánh kẹo, đường (trong đó có sản
xuất nha , đường gluco), mì chính, mì ăn liền, phụ gia chế biến thuốc, hồ dán,
hồ vải…
Để sản xuất cồn rượu: không kể nhân dân miền núi dùng sắn để sản
xuất rượu, cả nước có 2 nhà máy sản xuất cồn tinh bột là công ty Rượu Hà
Nội và công ty rượu Bình Tây. Ở hai công ty này vào những thời điểm trước
năm 1990 sản lượng còn đạt khá như công ty Rượu Hà Nội có sản lượng cồn
đạt 3,3 triệu lít cồn/ năm, sau nhiều năm suy giảm vừa qua sản lượng công
mới đạt 1,06 triệu (2001) cho nên sắn dùng để làm cồn là không đáng kể
(trong tương lai sản lượng cồn cũng không vượt quá 10 triệu lít/năm).
-Sản xuất mì chính: Nguyên liệu sản xuất bột ngọt được sử dụng chủ
yếu ở hai cơ sở VEDAN, AJNOMOTO. Riêng 2 xí nghiệp của VEDAN, hàng

năm cần từ 200-250 nghìn tấn củ.
-Sản xuất mì ăn liền: Hiện nay có rất nhiều cơ sở sản xuất mì ăn liền sử
dụng nguyên liệu từ bột sắn có công suất từ 10.000-60.000 gói/ca. Nếu chỉ
tính những xí nghiệp lớn ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh đã có công suất
180-200 tấn/ngày tương đương 5.500-6.000 tấn/năm, cần lượng sắn 15-16
ngàn tấn sắn củ…Nếu tính cả nguồn sản xuất từ các địa phương, nhập từ Thái
thì nhu cầu sắn để sản xuất mì ăn liền cần từ 50 –70 nghìn tấn sắn củ, sản xuất
9-10 triệu gói/ ngày.
- Sản xuất nha đường gluco, bánh kẹo: nhu cầu sản xuất các sản phẩm
này mấy năm vừa qua tăng lên đáng kể do đó khối lượng nguyên liệu từ sắn
cũng tăng không kể lượng tinh bột để sản xuất bánh kẹo mấy năm vừa qua,
lượng tinh bột sắn chế biến thủ công được chế biến thành đường nha, đường
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

gluco lên tới 50-60 nghìn tấn tinh bột như ở Hà Tây có công ty cổ phần Minh
Dương hàng năm đã tiêu thụ 10.000 tấn tinh bột để sản xuất 5.500 tấn mạch
nha, 3.000 tấn đường gluco.
- Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ sản lượng bánh kẹo của các xí
nghiệp lớn đạt 80-85 nghìn tấn/năm, trong đó vùng đồng bằng sông Hồng đạt
từ 20-22 nghìn tấn/năm (bình quân đầu người đạt trên 1 kg bánh kẹo/người
năm) nguyên liệu chính để sản xuất bánh kẹo bao gồm bột mì, nha đường
gluco, đường tinh chế, bơ sữa và các loại phụ gia hương liệu…Ngoài nha,
đường gluco đã đề cập ở trên, nguyên liệu sắn để thay thế một phần bột mì
không nhiều, ước khoảng >10% nhu cầu tinh bột trong bánh kẹo từ 8-10 ngàn
tấn tinh bột sắn.
2. Yêu cầu về sinh thái và dinh dưỡng của cây sắn
2.1. Yêu cầu về sinh thái của cây sắn
Cây sắn có tên khoa học là Manihot Escculenta Crantz. Nhiều tài liệu nghiên
cứu cho biết sắn có nguồn gốc ở vùng lưu vực sông Amazôn; từ sau thế kỷ

thứ 16, sắn được mang vào Châu Phi, Ấn Độ và có thể sang thế kỷ thứ 19 sắn
mới được trồng ở khu vực Đông Nam Á. Như vậy, cây sắn là cây có nguồn
gốc nhiệt đới, điều kiện thích nghi rộng, sắn có thể trồng trên hầu hết các loại
đất, các loại địa hình. Đất có độ pHkcl thích hợp từ 5-5,5; nhiệt độ thích hợp
từ 28-32
0
C. Đối với các loại đất có địa hình thấp, trũng ngập nước hay đất quá
chua đều không trồng được sắn.
Cây sắn sinh trưởng trên các vùng có mùa đông lạnh thì thường thời gian
sinh trưởng kéo dài hơn so với các vùng không có mùa đông.
Sắn là cây sinh trưởng khoẻ, có khả năng thích ứng cao với những điều
kiện sinh thái khác nhau, có khả năng chống chịu mạnh với những điều kiện
bất thuận. Cây sắn có thể trồng được từ 30 vĩ Bắc đến 30 vĩ Nam và sinh
trưởng được bình thường đến độ cao 2.000 m so với mực nước biển. Do khả
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

năng thích ứng rộng nên sắn có thể trồng được ở cả 64 tỉnh thành trong cả
nước.
Sắn cũng là cây không kén đất, có thể sinh trưởng được trên nhiều loại
đất khác nhau: từ đất xám bạc màu, đất đồi núi chua tầng mỏng đến đát phù sa
mới, đất than bùn, đất ít mặn hoặc phèn ít…Giới hạn pH đối với cây sắn khá
rộng, từ đất chua (pHkcl <4) đến kiềm yếu (phkcl= 7,5), nhưng thích hợp nhất
là pHkcl = 5,5. Trong diễn thế tự nhiên của các cây trồng trên nương rẫy, sắn
(giống địa phương) là cây trồng cuối cùng của chu kỳ canh tác, sau sắn người
ta phải bỏ hoá đất để phục hồi lại độ phì tự nhiên của đất. Điều này chứng tỏ
yêu cầu về đất của sắn không quá khắt khe. Tuy nhiên với các giống sắn cao
sản mới nhập nội hiện nay, yêu cầu về đất đai cho vùng trồng sắn làm nguyên
liệu cho chế biến công nghiệp không thể xem nhẹ như phương thức trồng
quảng canh với các giống sắn địa phương như trước đây.

Bảng1: YÊU CẦU SINH THÁI ĐỐI VỚI CÂY SẮN
Chỉ tiêu Mức độ hạn chế
1 2 3 4 5
1. Nhiệt độ không khí
trung bình năm
20-26 <20-18
>26-27
<18-16
>27
<16-14 <14
- Trung bình tối thấp
năm
>16 16-14 <14-12 <12-10 <10
2. Lượng mưa trung
bình năm (m m)
1.400-
1.800
<1.400-
1.200
>1.800-
2.400
<1.200
>2.400-
2.800
>2.800-
3.000
>3.000
3. Số tháng khô
hạn/năm
3-4 >4-5

<3-2
>5-6
<2-1
>6
<1
4. Đặc trưng về đất
- Loại đất Ft; Fk;
Fu; Fj
Fv; Fn;
Fs; Ru;
Rv; Phb;
Plb; Ph;
Pl; Pb; P
Fp; Fa;
Fđ; X;
Fq; Py
Xa; B; Phf;
Plf; Pf; Hk;
Hu; Hv; Hs;
Ha; Hq; Hj
Các
đất
khác
- Độ dốc (0) 0-3 >3-8 >8-15 >15-25 >25
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

- Độ dày tầng đất mịn
(m m)
> 100 100-700 <70-50 <50-30 <30

Ghi chú: Mức độ hạn chế như sau: (1)- không hạn chế; (2)- Hạn chế nhẹ;
(3)- hạn chế vừa; (4)- Hạn chế nặng; (5)- Hạn chế rất nặng
2.2. Yêu cầu về dinh dưỡng của cây sắn
Sắn là cây trồng có yêu cầu khá cao về các chất dinh dưỡng, nhất là đạm
và kali, cây sắn cần đạm để phát triển thân lá, giai đoạn cần đạm nhiều nhất là
từ khi mọc đến 6 tháng tuổi.
Lân cũng là yếu tố cần thiết cho sắn nhưng nhu cầu của cây sắn về lân
không cao như N và K. Chất dinh dưỡng quan trọng nhất đối với sắn là kali,
cây sắn có nhu cầu hút kali ngay từ khi mọc nhưng lượng kali đòi hỏi nhiều
khi cây bắt đầu hình thành củ.
Tuy sắn chịu được đất chua nhưng cây sắn cũng cần một lượng canxi
nhất định để sinh trưởng bình thường
Bảng 2: KHỐI LƯỢNG CHẤT DINH DƯỠNG SẮN LẤY ĐI
TỪ ĐẤT SAU 1 VỤ
Chất
dinh
dưỡng
(kg/ha)
Tài liêu của Bonnefoy
Năng suất 200 tạ/ha
Tài liệu của Cours
Năng suất 50 tạ/ha
Củ
20 tấn
Thân
lá 40 tấn
Tổng
cộng
Củ
50 tấn

Thân
lá 40 tấn
Tổng
cộng
N 14 238 252 85 200 285
P
2
0
5
20 74 94 62 70 132
K
2
0 56 98 154 280 180 460
Ca0 20 110 130 75 150 225
(Nguồn: Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp)
3. Đặc điểm của đầu tư phát triển sắn nguyên liệu
Sắn là cây trồng có những đặc diểm riêng so với các loại cây trồng khác,
vì vậy hoạt động đầu tư phát triển sắn nguyên liệu cũng có những đặc thù nhất
định.
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Thư nhất: Đầu tư phát triển sắn nguyên liệu có thời gian đầu tư ngắn, số
vốn bỏ ra cũng không nhiều nhưng lợi nhuận thu được lại cao, ở một số nơi
sắn còn cạnh tranh với các loại cây trồng khác. Ví dụ sắn cạnh tranh với cây
dừa ở Philippin, với cây cao su ở Nam Ấn, với cây dầu cọ tại Malayxia. Do
sắn là cây lấy củ cho năng suất cao mà lại có thể chống chịu tốt với sâu bệnh
và điều kiện thời tiết khắc nghiệt, có thể sinh trưởng trên đất đồi núi dốc, đất
nghèo chất dinh dưỡng mà ở đó các loại cây trồng khác khó có thể sống được.
Vì vậy ở những vùng núi đồi dốc đầu tư phát triển cây sắn được hầu hết các

hộ nông dân chọn lựa cho vùng đất của mình để có thể vừa đảm bảo được về
lương thực vừa có thể tận dụng đất canh tác.
Thứ hai: Rủi ro là một thuộc tính của đầu tư, mọi công cuộc đầu tư đều
có những rủi ro nhất định về mặt này hay mặt khác. Đầu tư phát triển sắn
nguyên liệu cũng chứa đựng nhiều rủi ro vì hoạt động này là hoạt động đầu tư
trong lĩnh vực nông nghiệp nên chịu sự tác động của nhiều yếu tố về thời tiết,
khí hậu, địa hình và các điều kiện tự nhiên khác. Mặc dù đã có những tiến bộ
trong lai tạo giống, tạo ra dược nhiều giống mới có năng suất chất lượng cao
và khả năng chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh nhưng vẫn không thể
tránh được những rủi ro bất khả kháng gây ảnh hưởng lớn tới mùa vụ, ví dụ
như nạn châu chấu, khô hạn, lụt lội … Vì vậy chúng ta chỉ có thể tìm những
biện pháp hạn chế tối đa ảnh hưởng của rủi ro đối với đầu tư phát triển nói
chung và đầu tư phát triển sắn nguyên liệu nói riêng.
III. Vai trò của đầu tư phát triển sắn nguyên liệu
Đầu tư phát triển sắn nguyên liệu là từng bước phá vỡ tính thuần nông
nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên của đất nước và cải thiện
môi truờng, phá vỡ tính độc canh trong sản xuất nông nghiệp, giảm bớt diện
tích cây trồng không có hiệu quả để tạo điều kiện phát triển cây có năng suất
hiệu quả hơn. Điều này không chỉ thay đổi cơ cấu cây con trong ngành nông
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

nghiệp mà còn tạo được việc làm cho lao động nông nhàn, tăng thu nhập cho
người dân. Cây sắn là loại cây có khả năng chống chịu cao đối với thời tiết
khắc nghiệt của tự nhiên, nó có thể phát triển trên nhiều loại đất khác nhau từ
đất mặn, đất phèn đến đất đồi, xấu mà ở đó các cây trồng khác không thể sinh
trưởng phát triển được. Vì thế đầu tư phát triển sắn nguyên liệu còn góp phần
phủ xanh đất trống đồi núi trọc, chống xói mòn đất bảo vệ môi trường sinh
thái và tận dụng được cả những vùng đất nghèo nàn về chất dinh dưỡng.
Đầu tư phát triển sắn nguyên liệu góp phần xoá đói giảm nghèo, từng

bước thực hiện công nghiệp hoá- hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn- là bộ
phận cơ bản của công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước- Nghị quyết hội nghị
lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX nêu rõ: “Công nghiệp hoá
hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn là nhiệm vụ hàng đầu của công nghiệp
hoá hiện đại hoá đất nước”. Sắn là cây lương thực đứng sau lúa và ngô về sản
lượng và diện tích trồng, phát triển sắn nguyên liệu cũng là một phần đóng
góp vào công cuộc xóa đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc miền núi-
những nơi mà sắn vẫn là nguồn lương thực chính trong cuộc sống hàng ngày
vì không trồng được các cây hoa màu khác.
Mặt khác đầu tư phát triển sắn nguyên liệu còn có tác động tới các ngành
công nghiệp. Trước tiên nó tác động đến việc sản xuất các sản phẩm từ sắn
phục vụ cho các nhu cầu và mục đích khác nhau. Đầu tư phát triển sắn
nguyên liệu với sản lượng cao năng suất tốt, đảm bảo tiêu chuẩn và chất
lượng sẽ là động lực thúc đẩy các ngành công nghiệp chế biến sắn phát triển.
Với sự ứng dụng khoa học công nghệ tiến tiến vào sản xuất sẽ tạo ra các sản
phẩm từ sắn có chất lượng ngày một tốt hơn, có khả năng cạnh tranh với các
sản phẩm khác và xuất khẩu ra thị trường thế giới. Bên cạnh đó đầu tư phát
triển sắn có tác động ngược chiều trở lại, đó chính là tác động đến việc phát
triển của công nghiệp cơ khí để tạo ra các loại công cụ sản xuất thô sơ phục
25

×