Tải bản đầy đủ (.docx) (48 trang)

giải pháp quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại trung tâm kĩ thuật công nghệ địa chính cục đăng kí thống kê tổng cục quản lý đất đai

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (311.55 KB, 48 trang )

Trêng Cao ®¼ng Céng ®ång Hµ Néi Khoa Tµi chÝnh Ng©n hµng
Lời Nói Đầu
Bất kì một doanh nghiệp nào muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình cần có một lượng vốn tiền tệ nhất định. Đây có thể coi là một
tiền đề cần thiết cho hình thành và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh
của một doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong điều kiện của nền kinh tế
mới, với xu thế quốc tế hóa ngày càng cao, sự kinh doanh trên thị trường ngày
càng mạnh mẽ. Do vậy nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh, cho đầu tư
phát triển ngày càng lớn. Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải huy động cao độ
không những nguồn vốn bên trong mà phải tìm cách huy động nguồn vốn bên
ngoài, đồng thời phải bảo đảm sử dụng vốn một cách hiệu quả nhằm đáp ứng
với nhu cầu đầu tư và phát triển, trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc tài chính,
tín dụng.
Cùng với sự đổi mới của nền kinh tế của đất nước, với chủ trương phát
triển nền kinh tế nhiều thành phần, có sự quản lý vĩ mô của nhà nuớc theo
định hướng xã hội chủ nghĩa. Các doanh nghiệp lúc này độc quyền tự chủ
trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tự chủ bảo đảm vốn, đồng thời có trách
nhiệm bảo toàn vốn của mình. Nhờ đó, nhiều doanh nghiệp đã thích nghi kịp
thời với tình hình mới, hiệu quả sản xuất kinh tăng rõ rệt. Nhưng bên cạnh đó
có không ít các doanh nghiệp lúng túng trong hoạt động sản xuất kinh doanh,
làm ăn thua lỗ, kéo dài, doanh thu không đủ bù chi phí bỏ ra, không bảo toàn
được vốn dẫn tới phá sản. Thực tế này là do nhiều nguyên nhân, một trong
các nguyên nhân quan trọng là công tác tổ chức và sử dụng vốn doanh ngiệp
còn nhiều hạn chế, hiệu quả sử dụng vốn còn quá thấp.
Xuất phát từ vấn đề thực tiễn bức thiết đặt ra cho các doanh nghiệp hiện
nay là phải xác định và đáp ứng được nhu cầu vốn thường xuyên, cần thiết tối
thiểu, phải xác định được doanh nghiệp mình hiện nay đang thừa hay thiếu
Nguyễn Công Võ-TC3K5
Trêng Cao ®¼ng Céng ®ång Hµ Néi Khoa Tµi chÝnh Ng©n hµng
vốn, hiệu quả sử dụng vốn ra sao? Các giải pháp nào cần thực hiện để nâng


cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp mình. Đây là vấn đề nóng bỏng
có tính thời sự không những được các nhà quản lí doanh nghiệp quan tâm mà
còn thu hút được sự chú ý của các nhà đầu tư trong lĩnh vực tài chính vào
doanh nghiệp.
Qua thời gian thực tập tại Trung tâm kĩ thuật công nghệ địa chính được
sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn và ban lãnh đạo công ty, cùng với
những kiến thức, lý luận đã được trang bị trong nhà trường em đã từng bước
vận dụng vào tìm hiểu thực tế của Trung tâm đồng thời từ những thực tế đó
bổ xung và rút kinh nghiệm quý báu cho bản thân. Qua đó càng thấy rõ được
tầm quan trọng và bức thiết của vấn đề quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn của các doanh nghiệp nói chung và của Trung tâm kĩ thuật công nghệ địa
chính nói riêng. Em đã mạnh dạn đi sâu tìm hiểu nghiên cứu vấn đề: “Giải
pháp quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Trung tâm kĩ
thuật công nghệ địa chính cục đăng kí thống kê tổng cục quản lý đất đai ”
Chuyên đề được kết cấu thành 3 chương :
ChươngI: Những vấn đề cơ bản về vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong
doanh nghiệp
ChươngII: Thực trạng quản lý và hiệu quả sử dụng vốn tại Trung tâm kĩ
thuật công nghệ địa chính
Chương III : Giải pháp nâng cao quản lý và hiệu quả sử dụng vốn tại
Trung tâm kĩ thuật công nghệ địa chính
Với kiến thức còn nhiều hạn chế của mình, em sẽ không tránh khỏi nhiều
thiếu xót. Em rất mong được sự chỉ bảo nhiều thêm từ phía các thầy cô.
Em xin chân thành cảm ơn!
Nguyễn Công Võ-TC3K5
Trêng Cao ®¼ng Céng ®ång Hµ Néi Khoa Tµi chÝnh Ng©n hµng
Chương 1:
Những vấn đề cơ bản về vốn và hiệu quả sử dụng vốn
trong doanh nghiệp
1.1. Những vấn đề cơ bản về vốn trong sản xuất kinh doanh của DN

1.1.1. Khái niệm vốn
Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong bất cứ lĩnh vực nào
đều gắn liền với vốn, không có vốn thì không thể tiến hành hoạt động sản
xuất kinh doanh được, chính vì vậy người ta thường nói vốn là chìa khoá để
mở rộng và phát triển kinh doanh.
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp tự chủ và tuỳ thuộc vào
hình thức sở hữu doanh nghiệp mà quyền tự chủ trong kinh doanh được mở
rộng trong mức độ cho phép. Trong bình diện tài chính, mỗi doanh nghiệp tự
tìm kiếm nguồn vốn trên thị trường và tự chủ trong việc sử dụng vốn. Nhu
cầu về vốn của doanh nghiệp được thể hiện ở khâu thành lập doanh nghiệp,
trong chu kì kinh doanh và khi phải đầu tư thêm. Giai đoạn nào doanh nghiệp
cũng có nhu cầu về vốn.
Vậy vốn là gì? Dưới các giác độ khác nhau, khái niệm vốn cũng khác
nhau (theo luật Tài chính Việt Nam năm 2000 )
*Về phương diện kỹ thuật
-Trong phạm vi doanh nghiệp, vốn là các loại hàng tham gia vào quá
trình sản xuất kinh doanh cùng với các nhân tố khác nhau (như lao động, tài
nguyên thiên nhiên )
-Trong phạm vi nền kinh tế, vốn là hàng hóa để sản xuất ra hàng hóa
khác lớn hơn chính nó về mặt giá trị.
*Về phương diện tài chính
-Trong phạm vi doanh nghiệp, vốn là tất cả tài sản bỏ ra lúc đầu, thường
biểu hiện bằng tiền dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp nhằm mục đích lợi nhuận.
Nguyễn Công Võ-TC3K5
Trêng Cao ®¼ng Céng ®ång Hµ Néi Khoa Tµi chÝnh Ng©n hµng
-Trong phạm vi kinh tế, vốn là khối lượng tiền tệ đưa vào lưu thông
nhằm mục đích sinh lời.
Vốn là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản của doanh nghiệp được sử
dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời.

Vốn kinh doanh trong các doanh nghiệp là một quỹ tiền tệ đặc biệt. Vốn
kinh doanh của doanh nghiệp phải nhằm mục đích kinh doanh và phải đạt tới
mục tiêu sinh lời. Vốn luôn thay đổi hình thái biểu hiện, vừa tồn tại dưới hình
thái tiền tệ, vừa tồn tại dưới hình thái vật tư hoặc tài sản vô hình, nhưng kết
thúc vòng tuần hoàn phải là hình thái tiền.
Cùng với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, vốn vận động
không ngừng, có thể thay đổi hình thái biểu hiện nhưng điểm cuối cùng là giá
trị tiền nên ta thấy vốn là toàn bộ giá trị của tài sản doanh nghiệp ứng ra ban
đầu và trong các giai đoạn tiếp theo của quá trình sản xuất kinh doanh nhằm
mục đích tăng giá trị tối đa cho chủ sở hữu của doanh nghiệp.
1.1.2. Vai trò của vốn đối với doanh nghiệp
Trước hết vốn là tiền đề cho sự ra đời của doanh nghiệp. Về phía nhà
nước, bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải đăng ký vốn điều lệ nộp cùng
hồ sơ xin đăng ký kinh doanh. Vốn đầu tư ban đầu này sẽ là một trong những
cơ sở quan trọng để cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét liệu doanh
nghiệp có tồn tại trong tương lai được không và trên cơ sở đó, sẽ cấp hay
không cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Về phía doanh nghiệp, vốn
điều lệ sẽ là nền móng cho doanh nghiệp đặt những viên gạch đầu tiên cho sự
hình thành của doanh nghiệp trong hiện tại và phát triển trong tương lai.
Nếu nền móng vững chắc, vốn điều lệ càng lớn thì doanh nghiệp càng
có cơ hội phát triển. Vốn thấp, nền móng yếu, doanh nghiệp phải đấu tranh
với sự tồn tại của mình và dễ rơi vào tình trạng phá sản. Nói tóm lại, vốn là
lượng tiền đại diện cho yếu tố đầu vào của doanh nghiệp. Có yếu tố đầu vào
của doanh nghiệp mới tiếp tục sản xuất kinh doanh. Trong giai đoạn sản xuất,
doanh nghiệp phải trả lương cho công nhân viên, chi phí bảo trì máy móc ,
Nguyễn Công Võ-TC3K5
Trêng Cao ®¼ng Céng ®ång Hµ Néi Khoa Tµi chÝnh Ng©n hµng
thành phẩm khi chưa bán được cũng đều cần đến vốn của doanh nghiệp.
Khách hàng khi mua chưa thanh toán ngay cũng chiếm dụng vốn của doanh
nghiệp.

1.1.2.1. Vốn là điều kiện tiền đề của quá trình sản xuất kinh doanh.
Một quá trình sản xuất kinh doanh sẽ được diễn ra khi có yếu tố: yếu tố
vốn, yếu tố lao động, và yếu tố công nghệ. Trong ba yếu tố đó thì yếu tố vốn
là điều kiện tiền đề có vai trò rất quan trọng. Nó quyết định đầu tiên việc sản
xuất kinh doanh có thành công hay không.
Khi sản xuất, doanh nghiệp cần phải có một lượng vốn để mua nguyên
liệu đầu vào, thuê công nhân, mua thông tin trên thị trường, mua bằng phát
minh sáng chế Bởi vậy, có thể nói vốn là điều kiện đầu tiên cho yếu tố cầu
về lao động và công nghệ được đáp ứng đầy đủ.
1.1.2.2. Vốn quyết định sự ổn định và liên tục của quá trình sản xuất kinh
doanh
Khi yêu cầu về vốn, lao động, công nghệ được đảm bảo, để quá trình sản
xuất được diễn ra liên tục thì vốn phải được đáp ứng đầy đủ, kịp thời và liên
tục. Ta thấy có rất nhiều loại hình doanh nghiệp nên có nhu cầu về vốn cũng
khác nhau. Hơn nữa, các quá trình sản xuất kinh doanh cũng khác nhau nên
việc dùng vốn lưu động cũng khác nhau. Nhu cầu vốn lưu động phát sinh
thường xuyên như mua thêm nguyên vật liệu, mua thêm hàng để bán, để
thanh toán, để trả lương, để giao dịch Hơn nữa trong quá trình sản xuất kinh
doanh của mình thì các doanh nghiệp không phải lúc nào cũng có đầy đủ vốn.
Có khi thiếu, có khi thừa vốn, điều này là do bán hàng hóa chưa được thanh
toán kịp thời, hoặc hàng tồn kho quá nhiều chưa tiêu thụ được, hoặc do máy
móc hỏng hóc chưa sản xuất được Những lúc thiếu hụt như vậy thì việc bổ
sung vốn kịp thời là rất cần thiết vì nó đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh
doanh được liên hoàn.
Nguyễn Công Võ-TC3K5
Trêng Cao ®¼ng Céng ®ång Hµ Néi Khoa Tµi chÝnh Ng©n hµng
1.1.2.3. Vốn đối với sự phát triển của doanh nghiệp
Ngày nay việc nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường đã xuất hiện
nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau. Kinh doanh trên các lĩnh vực khác
nhau. Vì vậy, muốn tồn tại thì doanh nghiệp phải phát triển, cạnh tranh được

với các doanh nghiệp khác. Trong khi các đối thủ cạnh tranh ngày càng gay
gắt và khốc liệt. Hơn nữa đòi hỏi của khách hàng ngày càng cao. Vì vậy cần
phải đầu tư cho công nghệ hiện đại, tăng quy mô sản xuất, hạ giá thành nhưng
vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm ngày càng tốt hơn Những yêu cầu tất yếu
ấy đòi hỏi doanh nghiệp phải cạnh tranh để phát triển thì cần phải có vốn.
Qua những phân tích trên ta thấy được tầm quan trọng của vốn. Vốn tồn
tại trong mọi giai đoạn trong quá trình sản xuất.
1.1.3. Phân loại vốn của doanh nghiệp
Có nhiều cách để sử dụng vốn kinh doanh có hiệu quả. Để phân loại
nguồnvốn khác nhau, người ta thường phân loại vốn theo các tiêu thức sau:
1.1.3.1. Căn cứ vào thời hạn luân chuyển, vốn được chia thành các loại sau:
-Vốn ngắn hạn: là loại vốn có thời hạn luân chuyển dưới một năm.
-Vốn trung hạn: là loại vốn có thời hạn luân chuyển từ một năm đến năm
năm.
-Vốn dài hạn: là loại vốn có thời hạn luân chuyển từ năm năm trở lên.
1.1.3.2. Căn cứ vào nội dung vật chất của vốn được chia thành
-Vốn thực: là toàn bộ hàng hóa phục vụ cho sản xuất kinh doanh như:
máy móc thiết bị, nhà xưởng, đường xá phần vốn này phản ánh hình thái vật
thể của vốn.
-Vốn tài chính: biểu hiện dưới hình thái tiền tệ, chứng khoán, các giấy tờ
có giá khác dùng cho việc mua tài sản, máy móc thiết bị. Phần vốn này tham
gia gián tiếp vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.3.3. Xuất phát từ nguồn hình thành ban đầu
Nguyễn Công Võ-TC3K5
Trêng Cao ®¼ng Céng ®ång Hµ Néi Khoa Tµi chÝnh Ng©n hµng
-Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp: là nguồn vốn do chủ sở hữu đầu tư,
doanh nghiệp được toàn quyền sử dụng mà không phải cam kết thanh
toán.Vốn chủ sở hữu (theo luật Tài chính Việt Nam năm 2000 ) bao gồm:
+Nguồn vốn kinh doanh: thể hiện số tiền đầu tư mua sắm tài sản cố định,
tài sản lưu động sử dụng vào kinh doanh.

+Các quỹ của doanh nghiệp: quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài
chính, quỹ khen thưởng phúc lợi
+Nguồn vốn xây dựng cơ bản: là nguồn chuyên dùng cho việc đầu tư
mua sắm tài sản cố định và đổi mới công nghệ.
+Nguồn vốn từ lợi nhuận chưa phân phối.
Vốn chủ sở hữu có thể hình thành từ nhiều nguồn gốc khác nhau, tùy
theo loại hình doanh nghiệp:
+Đối với DNNN bao gồm vốn ngân sách nhà nước cấp, vốn có nguồn
gốc từ ngân sách nhà nước, vốn doanh nghiệp tự tích lũy.
+Đối với các công ty cổ phần, vốn do các cổ đông đóng góp dưới hình
thức mua cổ phiếu.
+Đối với các công ty liên doanh, vốn chủ sở hữu do các bên tham gia
liên doanh đóng góp.
+Vốn của các công ty TNHH do các thành viên của công ty đóng góp.
+Trong các công ty tư nhân, vốn chủ sở hữu do tư nhân đầu tư, vốn phụ
thuộc vào một chủ duy nhất.
-Vốn đi vay
Để bổ sung vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể
sử dụng các khoản vốn đi vay từ các tổ chức tín dụng ngân hàng, tín dụng
thương mại và vay thông qua phát hành trái phiếu, vay từ các tổ chức xã hội,
từ các cá nhân.
Ta thấy phần lớn vốn tự có của doanh nghiệp không thể đáp ứng hết nhu
cầu về vốn nên doanh nghiệp thường vay vốn dưới nhiều hình thức khác
nhau. Việc vay vốn một mặt giải quyết nhu cầu về vốn đảm bảo sự ổn định và
Nguyễn Công Võ-TC3K5
Trêng Cao ®¼ng Céng ®ång Hµ Néi Khoa Tµi chÝnh Ng©n hµng
sản xuất kinh doanh được liên tục. Mặt khác, đó là phương pháp sử dụng hiệu
quả các nguồn tài chính trong nền kinh tế .
1.1.3.4. Căn cứ vào phương thức luân chuyển giá trị, vốn được chia thành hai
loại sau:

- Theo luật Tài chính Việt Nam vốn cố định là giá trị của tài sản cố định
dùng vào mục đích kinh doanh của doanh nghiệp. Đặc điểm của vốn này là
luân chuyển dần từng phần vào giá trị sản phẩm trong nhiều chu kì sản xuất
và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời hạn sử dụng.
Một tư liệu lao động được gọi là tài sản cố định phải thỏa mãn đồng thời hai
điều kiện là có thời hạn sử dụng tối thiểu từ một năm trở lên và phải đạt giá trị
tối thiểu ở mức quy định.Bộ phận quan trọng nhất của tư liệu sản xuất là tài
sản cố định. Đây là những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp hoặc
dưới hình thức thuê mua và phải có giá trị lớn hơn 5 tỷ, thời gian sử dụng dài
lớn hơn 5 năm, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh. Trong quá
trình đó, giá trị của tài sản cố định sẽ được chuyển dần dần từng phần vào giá
thành sản phẩm và được bù đắp lại mỗi khi sản phẩm được tiêu thụ.
Căn cứ vào hình thái biểu hiện, tài sản cố định được chia thành hai loại
sau:
+Tài sản cố định hữu hình: là những tài sản có hình thái vật chất cụ thể
như nhà xưởng, máy móc thiết bị trực tiếp hoặc gián tiếp phục vụ cho quá
trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
+Tài sản cố định vô hình: là những tài sản không có hình thái vật chất cụ
thể như chi phí thành lập doanh nghiệp, bằng phát minh sáng chế, chi phí phát
triển doanh nghiệp, quyền đặc nhượng, bản quyền tác giả
Qua cách phân chia như vậy giúp ta có cái nhìn một cách tổng thể về cơ
cấu vốn đầu tư của doanh nghiệp để ra quyết định có đầu tư hay không hoặc
đầu tư vào đâu. Hơn nữa, nó còn giúp các nhà quản lý tốt được tài sản của
mình.
Nguyễn Công Võ-TC3K5
Trêng Cao ®¼ng Céng ®ång Hµ Néi Khoa Tµi chÝnh Ng©n hµng
- Theo luật Tài chính Việt Nam năm 2000 vốn lưu động là tài sản lưu
động dùng vào mục đích kinh doanh của doanh nghiệp. Đặc điểm của loại
vốn này là luân chuyển toàn bộ giá trị ngay một lần, tuần hoàn, liên tục và
hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kì sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp. Trong quá trình hoạt động kinh doanh, vốn lưu động vận động và luôn
thay đổi hình thái, bắt đầu từ hình thái tiền tệ nhằm đảm bảo cho quá trình tái
sản xuất được tiến hành liên tục và thuận lợi. Tuỳ theo từng loại hình doanh
nghiệp mà cơ cấu của tài sản lưu động cũng khác nhau. Thông thường, đối
với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì tài sản lưu động chia thành 2 loại:
+Tài sản lưu động sản xuất (nguyên vật liệu, bán thành phẩm, sản phẩm
dở dang )
+Tài sản lưu thông ( sản phẩm hàng hoá chờ tiêu thụ, hàng hóa tồn kho),
vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán, chi phí trả trước
Đặc điểm của tài sản lưu động: tại một thời điểm bất kỳ, tài sản lưu động
tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau. Đây là tiền đề cho quá trình sản xuất
được liên tục. Tài sản lưu động tham gia vào chu kỳ sản xuất kinh doanh
không giữ nguyên hình thái ban đầu của nó, chuyển toàn bộ giá trị một lần
vào giá trị sản phẩm mới, được tính vào giá thành sản phẩm và được bù đắp
mỗi khi tiêu thụ sản phẩm.
Việc phân chia vốn cố định và vốn lưu động giúp các nhà quản lý có thể
quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả. Vốn cố định phản ánh trình độ năng lực
sản xuất thì vốn lưu động là điều kiện để đảm bảo cho quá trình sản xuất được
diễn ra liên tục và ổn định.
1.1.3.5. Căn cứ vào hình thái biểu hiện, vốn được chia thành 2 loại:
+Vốn hữu hình: bao gồm tiền và các loại giấy tờ có giá và những loại tài
sản biểu hiện bằng hiện vật khác như đất đai
+Vốn vô hình: là giá trị những tài sản vô hình như: vị trí địa lý của
doanh nghiệp, bí quyết và công nghệ chế tạo sản phẩm, mức độ uy tín của
nhãn hiệu, sản phẩm trên thị trường Vốn vô hình có vai trò quan trọng trong
Nguyễn Công Võ-TC3K5
Trêng Cao ®¼ng Céng ®ång Hµ Néi Khoa Tµi chÝnh Ng©n hµng
việc tạo ra khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Vì khi góp vốn liên doanh,
pháp luật cho phép các hội viên có thể góp vốn liên doanh, góp vốn bằng tiền
mặt, vật tư, máy móc, thiết bị, nhà xưởng khi góp vốn các tài sản phải được

lượng hóa để quy về giá trị.
1.2. Hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
1.2.1. Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả tài chính là mối quan hệ kinh tế mà chủ thể nhận được và chi
phí kinh tế mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được lợi ích kinh tế đó. Nói
chung hiệu quả tài chính là điều đầu tiên các doanh nghiệp quan tâm tới.
Thông qua đó mà doanh nghiệp có thể lập được hiệu quả trước mắt và lâu dài
trong khoảng thời gian nhất định. Hiệu quả lâu dài là hiệu quả được xem xét
trong khoảng thời gian dài. Hiệu quả trước mắt là hiệu quả được xem xét
trong khoảng thời gian ngắn (mang tính tạm thời).
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản
ánh trình độ khai thác, sử dụng và quản lý nguồn vốn làm cho chúng sinh lời
tối đa nhằm mục tiêu tối đa hóa khả năng sinh lời của chủ sở hữu.
Hiệu quả sử dụng được đánh giá thông qua tốc độ quay vòng vốn. Một
doanh nghiệp có vốn quay vòng càng nhanh thì doanh nghiệp được xem là sử
dụng vốn có hiệu quả. Tuy nhiên, vòng quay vốn phụ thuộc vào các tiêu thức
tiêu thụ hàng hóa, thanh toán, và nhiều yếu tố khách quan khác như chính
sách kinh tế nhà nước.
Hiệu quả sử dụng vốn được đánh giá thông qua lợi ích kinh tế, xã hội.
Hiệu quả sử dụng vốn đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các mặt
hang công cộng thì ngoài mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận thì doanh nghiệp
còn phải quan tâm tới môi trường, những hậu quả mà quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp mình ảnh hưởng đến môi trường sinh thái. Có như
vậy, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng hóa công cộng mới được coi là
đạt hiệu quả về lợi ích kinh tế xã hội.
Nguyễn Công Võ-TC3K5
Trêng Cao ®¼ng Céng ®ång Hµ Néi Khoa Tµi chÝnh Ng©n hµng
Một doanh nghiệp muốn đạt hiệu quả thì phải đạt lợi nhuận cao. Vì lợi
nhuận liên quan đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Có thể nói một
doanh nghiệp có lợi nhuận cao tức là sử dụng vốn hiệu quả. Để đạt được hiệu

quả thi phải làm tốt tất cả các khâu từ chuẩn bị đi vào sản xuất đến khâu tiêu
thụ sản phẩm.
Hiệu quả sử dụng vốn có thể đánh giá thông qua sản lượng và doanh thu.
Sản lượng và doanh thu có mối liên hệ với nhau. Khi sản lượng sản xuất ra
nhiều thì doanh thu càng cao, lợi nhuận đem lại cao, chứng tỏ hiệu quả sử
dụng vốn tốt. Tuy vậy không chỉ dựa vào hiệu quả này mà đánh giá việc sử
dụng vốn hiệu quả hay không, ví như khi doanh nghiệp mở rộng quy mô sản
xuất trong khi chất lượng sản phẩm chưa cao nên hàng hóa tuy bán được
nhiều nhưng với giá thấp thì cũng chưa được coi là hiệu quả.
Qua các phân tích trên, ta thấy kết quả thu được càng cao so với chi phí
vốn bỏ ra thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao. Vì vậy muốn nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn của doanh nghiệp phải đảm bảo các điều kiện khai thác vốn triệt
để, tức là vốn phải vận động sinh lời không để nhàn rỗi. Bên cạnh đó việc sử
dụng vốn phải tiết kiệm và phù hợp với việc dùng vốn vào mục đích sao cho
hiệu quả. Quản lý vốn chặt chẽ chống thất thoát, lạm dụng chức quyền vào
việc sai mục đích.
1.2.2. Tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong
doanh nghiệp
• Thứ nhất: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ đảm bảo an toàn tài chính
cho doanh nghiệp. Việc sử dụng vốn có hiệu quả giúp doanh nghiệp có
uy tín huy động vốn tài trợ dễ dàng. Khả năng thanh toán cao thì doanh
nghiệp mới hạn chế những rủi ro và mới phát triển được.
• Thứ hai: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn giúp doanh nghiệp nâng cao
uy tín của mình trên thị trường, nâng cao mức sống của cán bộ công
nhân viên. Khi doanh nghiệp làm ăn có lãi thì tác động tích cực không
chỉ đóng góp đầy đủ vào ngân sách nhà nước mà cải thiện việc làm cho
Nguyễn Công Võ-TC3K5
Trêng Cao ®¼ng Céng ®ång Hµ Néi Khoa Tµi chÝnh Ng©n hµng
người lao động, tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân tự khẳng định
mình trong môi trường cạnh tranh lành mạnh.

• Thứ ba: nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tạo điều kiện giúp các doanh
nghiệp tăng khả năng cạnh tranh của mình trên thị trường. Từ khi đất
nước chuyển sang nền kinh tế thị trường thì kéo theo đó là sự cạnh
tranh ngày càng khốc liệt. Cạnh tranh là quy luật tất yếu của thị trường,
cạnh tranh để tồn tại. Khi doanh nghiệp làm ăn hiệu quả, doanh nghiệp
mở rộng quy mô, đầu tư vào công nghệ hiện đại để nâng cao chất lượng
sản phẩm hàng hóa, đào tạo đội ngũ cán bộ chất lượng tay nghề cao
 Vì vậy việc nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh
nghiệp không những đem lại hiệu quả thiết thực cho doanh nghiệp và
người lao động mà nó còn tác động tới cả nền kinh tế xã hội.
1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
Hiệu quả sử dụng vốn, tài sản trong doanh nghiệp là một phạm trù kinh
tế phản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng vốn , tài sản của doanh
nghiệp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích
và tối thiểu hóa chi phí. Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn một cách chung
nhất người ta dùng các chỉ tiêu chung, chỉ tiêu đán giá hiệu quả sử dụng vốn
cố địn và vốn lưu động.
1.2.3.1. Chỉ tiêu chung đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
- Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm: Chỉ tiêu này được xác định bằng cách chia thu
nhập sau thuế ( lợi nhuận sau thuế ) cho doanh thu.
Nó phản ánh số lợi nhuận sau thuế trong 100 đồng doanh thu.
- Doanh lợi vốn chủ sở hữu: phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu
Doanh lợi vốn chủ sỡ hữu = Lợi nhuận sau thuế/Vốn chủ sỡ hữu.
Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt.
- Doanh lợi tài sản (ROA): chỉ tiêu này dùng để đánh giá khả năng sinh lời
của một đồng vốn đầu tư cho biết một đồng giá trị tài sản bỏ ra kinh doanh
đem lại bao nhiêu lợi ích sau thuế.
Nguyễn Công Võ-TC3K5
Trêng Cao ®¼ng Céng ®ång Hµ Néi Khoa Tµi chÝnh Ng©n hµng
Doanh lợi tài sản = Lợi nhuận sau thuế/ Tổng tài sản.

Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt.
- Để xem xét hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp người ta thường xem
xét chỉ tiêu doanh lợi vốn ( hệ số sinh lời của tài sản)
Hệ số sinh lời của tài sản = (Lợi nhuận + tiền lãi ) / Tổng tài sản.
Chỉ tiêu này dùng để đánh giá khả năng sinh lời của một đồng vốn đầu
tư (hoặc chỉ tiêu hoàn vốn đầu tư ).
- Qua bốn chỉ tiêu trên cho ta thấy một cái nhìn tổng thể về hiệu quả sử dụng
vốn của doanh nghiệp. Tuy nhiên nó chưa đánh giá được đày đủ nhất vì doanh
nghiệp còn đầu tư vào các tài sản khác như tài sản cố định, tài sản lưu động.
1.2.3.2. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định
- Hiệu suất sử dụng tài sản cố định: Chỉ tiêu này cho biết một đơn vị tài sản cố
định trong kì tạo ra được bao nhiêu đơn vị doanh thu
Hiệu suất sử dụng TSCĐ trong 1 kỳ = Doanh thu(hoặc DT thuần) trong
kỳ/TSCĐ Sử dụng bình quân trong kỳ.
Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu suất sử dụng tài sản cố định càng cao.
-Hiệu suất sử dụng vốn cố định: Chỉ tiêu này cho biết mỗi đơn vị vốn cố
định được đầu tư vào sản xuất kinh doanh đem lại bao nhiêu đơn vị doanh
thu.
Hiệu suất sử dụng vốn cố định trong 1 kỳ = Doanh thu (hoặc DT Thuần)
trong kỳ)/ VCĐ sử dụng bình quân trong kỳ.
Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu suất sử dụng vốn cố định càng cao.
- Vốn cố định sử dụng bình quân trong một kì là bình quân số học của vốn cố
định có ở đầu kì và cuối kì.
Vốn cố định đầu kỳ( hoặc cuối kì ) là hiệu số của nguyên giá tài sản cố
định có ở đầu ( hoặc cuối kì ). Khấu hao luỹ kế đầu kì là khấu hao luỹ kế ở
cuối kì trước chuyển sang
Khấu hao = Khấu hao + Khấu hao - Khấu hao
luỹ kế cuối kì luỹ kế đầu kỳ tăng trong kỳ giảm trong kỳ.
Nguyễn Công Võ-TC3K5
Trêng Cao ®¼ng Céng ®ång Hµ Néi Khoa Tµi chÝnh Ng©n hµng

-Hiệu quả sử dụng vốn cố định ròng
Chỉ tiêu này cho biết mỗi đơn vị vốn cố định được đầu tư vào sản xuất
kinh doanh đem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận ròng (lợi nhuận sau thuế ).
Hiệu quả sử dụng VCĐ trong kỳ = Lợi nhuận ròng(Lợi nhuận trước
thuế)/VCĐ sử dụng bình quân trong 1 kỳ.
-Hàm lượng vốn, tài sản cố định
Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đơn vị doanh thu cần sử dụng bao
nhiêu đơn vị vốn, tài sản cố định.
Hàm lượng vốn TSCĐ = Vốn (hoặc TSCĐ) sử dụng bình quân trong kỳ/
Doanh thu thuần trong kỳ.
Chỉ tiêu này càng nhỏ chứng tỏ hiệu suất sử dụng vốn, tài sản cố định
càng cao.
1.2.3.3. Hiệu quả sử dụng vốn, tài sản lưu động
- Chỉ tiêu vòng quay vốn lưu động cho biết cứ sau mỗi vòng quay thì vốn lưu
động lại tiếp tục tham gia vào một chu kì sản xuất tiếp theo, lại tạo ra được
một lợi nhuận mới.
Số vòng quay VLĐ = Doanh thu thuần / VLĐ bình quân
Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt.
- Kỳ thu tiền bình quân: chỉ tiêu này cho biết số ngày cần thiết để thu được
các khoản phải thu.
Kỳ thu tiền bình quân = Tổng số ngày trong 1 kỳ/ Vòng quay khoản phải thu
trong kỳ.
Vòng quay khoản phải thu trong kỳ = Doanh thu bán hàng trong kỳ/Các
khoản phải thu bình quân.
Chỉ tiêu này càng nhỏ chứng tỏ hiệu quả sử dụng cang cao.
-Hiệu suất sử dụng vốn lưu động: là chỉ tiêu phản ánh một đồng vốn lưu động
sử dụng trong kì sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần ( có thuế ).
Hiệu suất sử dụng vốn lưu động = Doanh thu/ Vốn lưu động sử dụng bình
quân trong kỳ.
Nguyễn Công Võ-TC3K5

Trêng Cao ®¼ng Céng ®ång Hµ Néi Khoa Tµi chÝnh Ng©n hµng
-Doanh lợi vốn lưu động (tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động). Phản ánh một
đòng vốn lưu động sử dụng bình quân trong kì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi
nhuận sau thuế:
Doanh lợi vốn lưu động = Lợi nhuận trước thuế (hoặc sau thuế) / Vốn lưu
động sử dụng bình quân trong kỳ.
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán của doanh nghiệp
+Khả năng thanh toán hiện hành là thước đo khả năng thanh toán ngắn hạn
của doanh nghiệp, chỉ tiêu này cho biết khoản nợ của các chủ nợ ngắn hạn.
Tỷ số khả năng thanh toán hiện hành = TSLĐ / Nợ ngắn hạn.
Chỉ tiêu này lớn hơn 1 thì tốt cho doanh nghiệp.
+ Khả năng thanh toán nhanh: là tỷ số giữa các khoản quay vòng nhanh và nợ
ngắn hạn. Tài sản quay vòng nhanh là những tài sản có thể nhanh chóng
chuyển đổi thành tiền như: chứng khoán ngắn hạn, các khoản phải thu. Tài
sản dự trữ là các tài sản khó chuyển thành tiền hơn trong tổng tài sản lưu động
và dễ bị lỗ nhất.
Khả năng thanh toán nhanh = ( TSLĐ - Dự trữ ) / Nợ ngắn hạn.
Chỉ tiêu này lớn hơn 1 thì tốt cho doanh nghiệp.
+ Khả năng thanh toán lãi vay ( số lần có thể trả lãi vay ) cho biết mức độ lợi
nhuận đảm bảo khẳ năng trả lãi vay hàng năm như thế nào. Việc không trả
được các khoản nợ này có thể làm cho doanh ngiệp bị phá sản.
Số lần có thể trả lãi vay = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) / Lãi
vay.
- Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động: chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời
của tài sản lưu động. Chỉ tỉêu này cho biết mỗi đơn vị tài sản lưu động có
trong kì đem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế.
Hiệu quả sử dụng TSLĐ trong kỳ = Lợi nhuận sau thuế /TSLĐ sử dụng bình
quân trong kỳ.
Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt.
Nguyễn Công Võ-TC3K5

Trêng Cao ®¼ng Céng ®ång Hµ Néi Khoa Tµi chÝnh Ng©n hµng
- Chỉ tiêu mức doanh lợi vốn lưu động: Cho ta biết hiệu quả sử dụng vốn lưu
động trong công ty.
Doanh lợi vốn cố định = Lợi nhuận trước thuế / VLĐ bình quân
Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
1.3.1. Các nhân tố chủ quan
Các yếu tố thuộc về doanh nghiệp có tác động trực tiếp tới tình hình tài
chính của doanh nghiệp mình.
- Quy mô, cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì việc quản lý hoạt động của doanh
nghiệp càng phức tạp. Do lượng vốn sử dụng nhiều nên cơ cấu tổ chức của
doanh nghiệp càng chặt chẽ thì sản xuất càng hiệu quả. Khi quản lý sản xuất
được quản lý quy củ thì sẽ tiết kiệm được chi phí và thu lợi nhuận cao. Mà
công cụ chủ yếu để theo dõi quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
là hệ thống kế toán tài chính. Công tác kế toán thực hiện tốt sẽ đưa ra các số
liệu chính xác giúp cho lãnh đạo nắm được tình tình tài chính của doanh
nghiệp, trên cơ sở đó dưa ra các quyết định đúng đắn.
- Trình độ kỹ thuật sản xuất: đối với doanh nghiệp có trình độ sản xuất cao,
công nghệ hiện đại sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí sản xuất, từ đó hạ giá
thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Nhưng ngược lại trình độ
kỹ thuật thấp, máy móc lạc hậu sẽ làm giảm doanh thu, ảnh hưởng đến tài
chính của doanh nghiệp.
- Trình độ đội ngũ cán bộ lao động sản xuất:
+ Trình độ tổ chức quản lý của lãnh đạo: vai trò của người lãnh đạo trong
tổ chức sản xuất kinh doanh là rất quan trọng. Sự điều hành quản lý phải kết
hợp được tối ưu các yếu tố sản xuất, giảm chi phí không cần thiết, đồng thời
nắm bắt được cơ hội kinh doanh, đem lại sự phát triển cho doanh nghiệp.
+ Trình độ tay nghề của người lao động: nếu công nhân sản xuất có trình
độ tay nghề cao phù hợp với trình độ dây chuyền sản xuất thì việc sử dụng

Nguyễn Công Võ-TC3K5
Trêng Cao ®¼ng Céng ®ång Hµ Néi Khoa Tµi chÝnh Ng©n hµng
máy móc sẽ tốt hơn, khai thác được tối đa công suất thiết bị làm tăng năng
suất lao động, tạo ra chất lượng sản phẩm cao. Điều này chắc chắn sẽ làm tình
hình tài chính của doanh nghiệp ổn định.
- Chiến lược phát triển, đầu tư của doanh nghiệp: bất cứ một doanh nghiệp
nào khi kinh doanh đều đặt ra cho mình kế hoạch để phát triển thông qua các
chiến lược. Để tình hình tài chính của doanh nghiệp được phát triển ổn định
thì các chiến lược kinh doanh phải đúng hướng, phải cân nhắc thiệt hơn vì các
chiến lược này có thể làm biến động lớn lượng vốn của doanh nghiệp.
1.3.1.1. Cơ chế quản lý tài sản lưu động trong doanh nghiệp
Tài sản lưu động là những tài sản ngắn hạn và thường xuyên luân chuyển
trong quá trình kinh doanh. Dựa vào việc nghiên cứu chu kì vận động của tiền
mặt, có thể chia tài sản lưu động thành tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản
cao, phải thu và dự trữ tồn kho Việc quản lý tài sản lưu động có ảnh hưởng
rất quan trọng đối với hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
-Quản lý dự trữ tồn kho
Trong quá trình luân chuyển vốn lưu động phục vụ cho sản xuất kinh
doanh thì việc tồn tại vất tư hàng hóa dự trữ tồn kho là những bước đệm cần
thiết cho quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp. Thông thường
trong quản lý, vấn đề chủ yếu được đề cập là bộ phận dự trữ nguyên vật liệu
phục vụ sản xuất kinh doanh đối với các doanh nghiệp sản xuất; còn đối với
doanh nghiệp thương mại thì dự trữ nguyên vật liệu cũng là dự trữ hàng hóa
để bán.
+Có thể quản lý dự trữ theo phương pháp cổ điển hay mô hình đặt hàng
hiệu quả nhất (EOQ). Theo mô hình này có nhiều loại chi phí liên quan đến
dự trữ hàng hóa nhưng tựu chung lại có 2 loại sau: chi phí lưu kho và chi phí
đặt hàng. Nếu gọi TC là tổng chi phí tồn kho dự trữ hàng hóa, ta có:
TC = C1 * Q/2 +C2* D/Q
C1 : Là chi phí lưu kho.

C2 : Là chi phí mỗi lần đặt hàng.
Nguyễn Công Võ-TC3K5
Trêng Cao ®¼ng Céng ®ång Hµ Néi Khoa Tµi chÝnh Ng©n hµng
Q : Là số lượng mỗi lần cung ứng hàng hóa.
D : Là lượng hàng hoá cần sử dụng trong 1 đơn vị thời gian
Ta có: Số lượng hàng hóa cung ứng tối ưu là.
Q* = (2*DC2/C1)1/2
Trong quá trình quản lý nguyên vật liệu, người ta tính toán sao cho chi
phí quản lý là thấp nhất nhưng vẫn đảm bảo được hiệu quả sản xuất.
+Quản lý theo phương pháp cung cấp đúng lúc hay dự trữ bằng không.
Các doanh nghiệp trong một số ngành có liên quan chặt chẽ với nhau hình
thành nên những mối quan hệ, khi có một đơn đặt hàng nào đó sẽ tiến hành sử
dụng những loại hàng hóa và sản phẩm dở dang của các đơn vị khác mà họ
không phải dự trữ. Phương pháp này giảm mức thấp nhất chi phí cho dự trữ.
- Quản lý tiền mặt và các chứng khoán thanh khoản cao
Tiền mặt là tiền tồn quỹ, tiền trên tài khoản thanh toán của doanh nghiệp
ở ngân hàng. Tiền mặt là tài sản không sinh lãi. Vì vậy, cần phải quản lý sao
cho tối thiểu hóa lượng tiền mặt phải giữ. Tuy nhiên việc giữ tiền mặt trong
kinh doanh cũng là vấn đề cần thiết để đảm bảo giao dịch kinh doanh hàng
ngày, để bù đắp cho ngân hàng về việc ngân hàng cung cấp những dịch vụ
cho doanh nghiệp, để đáp ứng nhu cầu dự phòng trong trường hợp biến động.
Tuy nhiên nếu số tiền mặt lớn sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp. Vì vậy để
quản lý thì cần dự trữ các chứng khoán có khả năng thanh khoản cao để
hưởng lãi suất. Khi cần thiết có thể chuyển thành tiền mặt một cách dễ dàng
và ít tốn kém chi phí. Như vậy cần phải quản lý tiền mặt có hiệu quả trên cơ
sở kết hợp những lợi ích có được và những chi phí mình bỏ ra khi giữ tiền
mặt.
-Quản lý các khoản phải thu
Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng thương mại có thể làm cho doanh
nghiệp đứng vững trên thị trường nhưng có thể đem đến những rủi ro cho hoạt

động kinh doanh của doanh nghiệp cụ thể: tín dụng thương mại làm cho
doanh thu của doanh nghiệp tăng lên, làm giảm chi phí tồn kho của hàng hóa,
Nguyễn Công Võ-TC3K5
Trêng Cao ®¼ng Céng ®ång Hµ Néi Khoa Tµi chÝnh Ng©n hµng
làm tăng chi phí hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó, làm giảm
thuế. Nếu khách hàng không trả tiền làm cho lợi nhuận bị giảm, nếu thời hạn
cấp tín dụng càng dài thì rủi ro càng lớn.
1.3.1.2. Cơ chế quản lý tài sản cố định và quỹ khấu hao tài sản cố định
Để quản lý tốt tài sản cố định, thông thường chúng được phân thành các
loại sau: tài sản cố định phục vụ cho mục đích kinh doanh, gồm có tài sản cố
định vô hình và tài sản cố định hữu hình. Tài sản cố định dùng cho mục đích
phúc lợi, sự nghiệp an ninh quốc phòng.
-Quản lý quỹ khấu hao
Trong quá trình sử dụng tài sản cố định bị hao mòn dần, đó là sự giảm
đàn về giá trị của tài sản. Do tài sản cố định bị hao mòn nên trong mỗi chu kì
sản xuất người ta tính chuyển một lượng tương đương với phần hao mòn vào
giá thành sản phẩm. Khi sản phẩm được tiêu thụ, bộ phận tiền này được trích
lại thành một quỹ nhằm để tái sản xuất tài sản cố định. Công việc này gọi là
khấu hao tài sản cố định. Như vậy đối với nhà quản lý cần xem xét tính toán
mức khấu hao sao cho phù hợp với thực trạng kinh doanh của doanh nghiệp.
Để quản lý hiệu quả khấu hao tài sản cố định cần phải lựa chọn các cách tính
khấu hao phù hợp và phải có phương pháp quản lý số khấu hao lũy kế của tài
sản cố định.
- Quản lý cho thuê, thế chấp, nhượng bán thanh lý tài sản
+ Cho thuê thế chấp tài sản: doanh nghiệp được quyền cho các tổ chức,
cá nhân trong nước thuê hoạt động các tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng
của mình. Đối với tài sản cho thuê hoạt động, doanh nghiệp phải tính khấu
hao theo chế độ quy định. Doanh nghiệp được đem tài sản thuộc quyền quản
lý và sử dụng của mình để cầm cố, thế chấp vay vốn hoặc bảo lãnh tại các tổ
chức tín dụng theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật.

+ Nhượng bán thanh lý tài sản
Nguyễn Công Võ-TC3K5
Trêng Cao ®¼ng Céng ®ång Hµ Néi Khoa Tµi chÝnh Ng©n hµng
Nhượng bán: doanh nghiệp được nhượng bán các tài sản không dùng nữa
do lạc hậu về kĩ thuật, để thu hồi vốn cho mục đích kinh doanh có hiệu quả
hơn.
Thanh lý: doanh nghiệp được quyền thanh lý những tài sản kém phẩm
chất hư hỏng, không có khả năng phục hồi, tài sản lạc hậu kí thuật, không có
nhu cầu sử dụng, hoặc sử dụng không có hiệu quả, không thể nhượng bán
nguyên dạng được.
-Xử lý tổn thất tài sản
Tài sản tổn thất do nguyên nhân chủ quan của tập thể cá nhân thì người
gây tổn thất phải bồi thường theo quy định của pháp luật; mức độ bồi thường
do doanh nghiệp quy định. Tài sản đã mua bảo hiểm nếu tổn thất thì các tổ
chức bảo hiểm bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm
1.3.2. Các nhân tố khách quan
- Thị trường:
Thị trường là nhân tố quan trọng quyết định tới hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp. Trong đó thị trường vốn quyết định tới việc huy động vốn
của doanh nghiệp còn thị trường hàng hóa quyết định tới việc sử dụng vốn.
Thị trường tiêu thụ sản phẩm có tác động lớn đến doanh thu và lợi nhuận của
doanh nghiệp. Nếu các thị trường này phát triển ổn định sẽ là nhân tố tích cực
thúc đẩy doanh nghiệp tái sản xuất mở rộng và tăng thị phần. Do đó có thể nói
yếu tố thị trường có ảnh hưởng lớn đến tình hình tài chính
của doanh nghiệp.
- Yếu tố khách hàng:
Ngày nay, nhu cầu sử dụng sản phẩm của khách hàng ngày càng cao đòi
hỏi nhà cung cấp phải tạo ra được những sản phẩm độc đáo, hấp dẫn người
mua. Vì vậy doanh nghiệp cần phải làm sao tạo ra được những sản phẩm đó
với giá thành hợp lý để có lợi nhuận cao. Doanh nghiệp sẽ phải bỏ ra chi phí

hợp lý để nghiên cứu thị trường tìm hiểu các mặt hàng đang được ưa chuộng,
tìm hiểu mẫu mã, bao bì đóng gói để từ đó có quyết định sản xuất cho hiệu
Nguyễn Công Võ-TC3K5
Trêng Cao ®¼ng Céng ®ång Hµ Néi Khoa Tµi chÝnh Ng©n hµng
quả. Nhu cầu đòi hỏi của khách hàng càng cao thì doanh nghiệp càng phải
tích cực hơn trong công tác tổ chức thực hiện làm cho hiệu quả hoạt động tốt
hơn cũng có nghĩa tình hình tài chính được cải thiện.
- Trạng thái nền kinh tế:
Trạng thái nền kinh tế có ảnh hưởng gián tiếp tới tình hình tài chính của
doanh nghiệp. Khi nền kinh tế phát triển vững mạnh và ổn định sẽ tạo cho
doanh nghiệp có nhiều cơ hội trong kinh doanh như: huy động vốn, đầu tư
vào các dự án lớn, có cơ hội lựa chọn bạn hàng
Khi nền kinh tế phát triển cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật thì
hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng được tăng
theo. Bởi lẽ khi khoa học công nghệ phát triển mạnh thì nó sẽ đặt doanh
nghiệp vào môi trường cạnh tranh gay gắt. Nếu như doanh nghiệp không
thích ứng được môi trường này chắc chắn sẽ không tồn tại được. Vì vậy, các
doanh nghiệp luôn chú trọng việc đầu tư vào công nghệ. Với những máy móc
hiện đại không những tiết kiệm được sức lao động của con người mà còn tạo
ra được khối lượng sản phẩm cao với giá thành thấp thoả mãn nhu cầu của
khách hàng. Do đó nó sẽ làm tăng doanh thu của doanh nghiệp, lợi nhuận của
doanh nghiệp tăng lên càng khuyến khích doanh nghiệp tích cực sản xuất, tình
hình tài chính của doanh nghiệp được cải thiện ngày càng tốt hơn. Ngựơc lại,
nếu trạng thái nền kinh tế đang ở mức suy thoái thì việc doanh nghiệp muốn
cải thiện tình hình tài chính là rất khó khăn.
- Về cơ chế chính sách kinh tế:
Vai trò điều tiết của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường là điều không
thể thiếu. Điều này được quy định trong các Nghị quyết TW Đảng. Các cơ
chế, chính sách này có tác động không nhỏ tới tình hình tài chính của doanh
nghiệp.

Ví dụ như từ cơ chế giao vốn, đánh giá lại tài sản, sự thay đổi các chính
sách thuế (thuế GTGT, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu ),
chính sách cho vay, bảo hộ và khuyến khích nhập khẩu công nghệ đều ảnh
Nguyễn Công Võ-TC3K5
Trêng Cao ®¼ng Céng ®ång Hµ Néi Khoa Tµi chÝnh Ng©n hµng
hưởng tới quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ đó ảnh hưởng
tới tình hình tài chính.
- Nhà cung cấp:
Muốn sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp phải có các yếu tố đầu vào
như: nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị, công nghệ thì doanh nghiệp phải
mua ở các doanh nghiệp khác. Việc thanh toán các khoản này sẽ tác động trực
tiếp đến tài chính của doanh nghiệp. Ví dụ như nhà cung cấp đòi hỏi doanh
nghiệp phải thanh toán tiền ngay khi giao hàng thì sẽ dẫn đến lương tiền mặt
hoặc tiền gửi ngân hàng của doanh nghiệp giảm xuống, doanh nghiệp sẽ khó
khăn trong việc huy động vốn. Hoặc doanh nghiệp phải vận chuyển nguyên
vật liệu về kho sẽ làm tăng chi phí sản xuất làm giảm lợi nhuận của doanh
nghiệp
Nguyễn Công Võ-TC3K5
Trêng Cao ®¼ng Céng ®ång Hµ Néi Khoa Tµi chÝnh Ng©n hµng
CHƯƠNG2:
Thực tế của vấn đề sử dụng vốn kinh doanh tại Trung
tâm kĩ thuật công nghệ địa chính Cục đăng kí thống kê
Tổng cục quản lí đất đai
2.1. Đặc điểm chung của đơn vị
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Quản lý nhà nước đối với đất đai- một nhiệm vụ không thể thiếu trong việc
quản lý , điều hành đất nước của bất kỳ một nhà nước nào tồn tại trong xã hội.
Nhà nước “Dân chủ cộng hoà Việt Nam”, ngay sau khi tuyên bố độc lập,
tại sắc lệnh số 41/SL ngày 3/10/1945 của Chủ tịch lâm thời Chính phủ dân
chủ cộng hoà Việt Nam về bãi bỏ tất cả các công sở và các cơ quan trước

thuộc phủ Toàn quyền Đông Dương đã thiết lập ở Hà Nội , ở Sà Gòn , ở Đà
Lạt và các nơi khác thuộc địa hạt Bắc Bộ , Trung Bộ và Nam Bộ nước Việt
Nam ;Nhiệm vụ quản lý Nhà nước về đất đai đã được định rõ và do Bộ Tài
Chính đảm nhiệm với cơ quan chuyên trách giúp việc là “ Sở Trước bạ , văn
tự, quản thư điền thổ”.
Trải theo thời gian, nhằm đáp ứng kịp thời những yêu cầu khác nhau của
từng giai đoạn cácg mạng , nhiệm vụ quản lý Nhà nước về đất đai cũng từng
bước đc bổ sung, hoàn thiện , cụ thể hoá theo trọng tâm , trọng điểm ứng với
yêu cầu của mỗi thời kỳ, các tổ chức chuyên trách cũng được hình thành
tương ứng : Nha trước bạ công sản và điền thổ thuộc Bộ Tài Chính(1946),
Nha Địa Chính thuộc bộ Canh Nông(1948),Nha Công sản – Trực thu – Địa
chính được huy động phục vụ thu thuế nông nghiệptheo quy định sắc lệnh số
40/LS ngày 15/7/1951. Ngành Địa chính bắt đầu ngừng hoạt động công tác
của mình từ ngày đó.
Nguyễn Công Võ-TC3K5
Trêng Cao ®¼ng Céng ®ång Hµ Néi Khoa Tµi chÝnh Ng©n hµng
Kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, cải cách ruộng đất thành
công; cuộc cách mạng dân tộc dân chủ đã hoàn thành cơ bản ở cá tỉnh phía
bắc, nhưng một trong những vấn đề tồn tại ở nông thôn sau sửa sai cải cách
ruộng đất là tình hình diện tích ruộng đất không ổn định .Chính phủ đã chủ
trương tiến hành công tác địa chính nhằm nắm tương đối chính xác diện tích
ruộng đất và vẽ bản đồ ruộng đất để cung cấp tài liệu cần thiết cho việc kế
hoạch hoá và hợp tác hoá nông nghiệp, tính thuế nông nghiệp , xây dựng đô
thị Do đó ngày 3/7/1958 Chính phủ đã có chỉ thị 334-TTg cho tái lập lại
ngành Địa chính từ Trung ương đến xã:
-Ở Trung ương: thành lập sở địa chính đặt trong Bộ Tài Chính.
-Ở Tỉnh: thành lập một bộ phận đặt trong văn phòng Uỷ ban hành chính
tỉnh để phụ trách công tác địa chính , dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Uỷ ban
hành chính tỉnh; phụ trách là một cán bộ trình độ trưởng hoặc phó trưởng ty.
-Ở huyện : có một cán bộ chuyên trách giúp Uỷ ban hành chính huyện

chỉ đạo công tác địa chính.
-Ở xã: đào tạo một số người để làm công tác tu chỉnh bản đồ cà đo đạc
ruộng đất , dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Uỷ ban hành chính xã. Sau khi đã tu
chỉnh bản đồ và đo đạc xong , việc quản lý ruộng đất do Uỷ ban hành chính
xã phụ trách.
Năm 1960, hợp tác hoá nông nghiệp ở các tỉnh phía Bắc đã hoàn thành
90% diện tích đất canh tác đã được tập thể hoá. Sở hữu tập thể đối với ruộng
đất được ra đời và phát triển nhanh chóng. Vấn đề nổi lên lúc này là phải củng
cố quan hệ sản suất xã hội chủ nghĩa và giúp đỡ sản xuất nông nghiệp tập thể
phát triển. Một trong những giải pháp quan trọng trong thời kỳ này là cần
thiết phải gắn liền quản lý ruộng đất với quản lý sản xuất nông nghiệp, giúp
cho các hợp tác xă, các nông trường nắm chắc được ruộng đất để tổ chức sử
dụng ruộng đất hợp lý, có hiệu quả kinh tế cao, Để phù hợp với tình hình và
yêu cầu mới, ngày 9/12/1960 Hội đồng Chính Phủ đã quyết định: chuyển
ngành địa chính từ Bộ tài chính sang Bộ Nông Nghiệp phụ trách và đổi tên
Nguyễn Công Võ-TC3K5
Trêng Cao ®¼ng Céng ®ång Hµ Néi Khoa Tµi chÝnh Ng©n hµng
thành ngành quản lý ruộng đất. Theo 2 Nghị định số 70/CP và 71/CP ngày
9/12/1960, Ngành quản lý ruộng đất có nhiệm vụ giúp Bộ Nông nghiệp quản
lý việc mở mang, sử dụng và cải tạo ruộng đất trong nông nghiệp vớ những
nội dung cụ thể :
-Lập bản đồ địa bạ về ruộng đất , thường xuyên chỉnh lý bản đồ và địa bạ
cho phù hợp với sự thay đổi về hình thể ruộng đất về quyền sử dụng ruộng
đất, về tình hình canh tác và tình hình cải tạo chất đất.
-Thống kê diện tích, phân loại đất.
-Nghiên cứu xây dựng các luật lệ , thể lệ về quản lý ruộng đất trong nông
nghiệp và hướng dẫn, kiểm tra thi hành các luật lệ , thể lệ đó.
Để đảm bảo cho ngành quản lý ruộng đất thực hiện được nhiệm vụ ,
Nghị định còn quy định rõ:
-Việc quản lý ruộng đất do cơ quan quản lý ruộng đất các cấp phụ trách.

-Ở những nơi tiến hành công tác quản lý ruộng đất, tất cả các cơ quan
Nhà nước và nhân dân mỗi khi cần thay đổi về hình thể ruộng đất , về quyền
sở hữu, về cách sử dụng ruộng đất đều phải làm thủ tục khai báo theo quy
định của Bộ Nông Nghiệp.
Trong thời kỳ từ 1960 đến 1979, ngành Quản lý ruộng đất từ Trung ương
đến địa phương vẫn trực thuộc hệ thống tổ chức của Bộ nông nghiệp , nhưng
tổ chức cụ thể của ngành đã nhiều lần thay đổi : năm 1966 từ Vụ Quản lý
ruộng đất được tách ra: Cục Điều tra, đo đạc bản đồ đất và Vụ Quản lý ruộng
đất. Năm 1968 thực hiện Nghị định số 24/CP ngày 9/12/1968 của Hội đồng
chính phủ quy định tổ chức bộ máy Bộ Nông nghiệp, hai Cục và Vụ nói trên
được sát nhập thành Vụ quản lý ruộng đất và quy hoạch vùng sản xuất nông
nghiệp đã được tách thành 3 cơ quan: Vụ Quản lý ruộng đất, Ban phân vùng
và quy hoạch nông nghiệp và Viện Thổ nhưỡng nông hoá, trong đó Vụ Quản
lý ruộng đất có chức năng giúp Uỷ ban nông nghiệp Trung ương tổ chức và
chỉ đạo việc quản lý đất đai nông nghiệp, đưa việc quản lý, sử dụng, bồi
Nguyễn Công Võ-TC3K5

×