Tải bản đầy đủ (.docx) (27 trang)

vấn đề ruộng đất trong chính sách đối nội của nhà nguyễn ở nửa đầu thế kỷ xix

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (68.21 KB, 27 trang )

VẤN ĐỀ RUỘNG ĐẤT TRONG CHÍNH SÁCH ĐỐI NỘI
CỦA NHÀ NGUYỄN Ở NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX

PGS.TS Vũ Văn Quân

Việt Nam bước vào thế kỷ XIX sau mấy thập kỷ biến động dữ
dội. Vương triều Nguyễn, trước đó là tập đoàn - thế lực
Nguyễn Ánh, hậu duệ của chế độ chúa Nguyễn ở Đàng
Trong, một trong các nhân tố tham góp vào những diễn biến
lịch sử đó, cuối cùng đã giành được quyền cai trị đất nước.
Nhưng nền thống trị của nhà Nguyễn lúc này và cả trong
nửa thế kỷ sau đó đứng trước nhiều thách thức lớn, liên
quan đến sự sống còn của vương triều.
- Sau nhiều thế kỷ phân ly, đến đây nền thống nhất đất nước
được khôi phục. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, một
lãnh thổ trải dài từ Lạng Sơn đến Cà Mau được xác lập. Đối
với lịch sử dân tộc, sự kiện này có ý nghĩa vô cùng to lớn, là
thành quả của những nỗ lực không ngừng của biết bao thế
hệ người Việt Nam. Tuy nhiên, cũng có một thực tế, nhà
Nguyễn cũng là vương triều đầu tiên trong lịch sử Việt Nam
thực hiện quyền quản lý đất nước trên một phạm vi lãnh thổ
rộng lớn và trải dài theo chiều Bắc Nam.
- Trong phạm vi lãnh thổ rộng lớn đó, Nguyễn Ánh cũng như
cả bộ máy quan lại cao cấp của triều đình Nguyễn bấy giờ,
mà phần lớn là người Đàng Trong, với tư cách hậu duệ - tàn
dư của chính quyền - chế độ chúa Nguyễn, còn rất xa lạ với
vùng Đàng Ngoài vốn thuộc quyền kiểm soát của chính
quyền Lê - Trịnh. Mấy trăm năm chúa Trịnh o bế vua Lê là
một trong những nguyên nhân khiến sĩ phu và nhân dân
Bắc Hà nồng nhiệt chào đón Tây Sơn khi Nguyễn Huệ đem
quân ra Bắc phù Lê diệt Trịnh. Đến khi hết Trịnh cũng chẳng


còn Lê và cuộc chiến Nguyễn Ánh - Tây Sơn diễn ra thì sĩ phu
Bắc Hà nhiều người lại hướng về Nguyễn Ánh, xuất phát từ
nhiều lý do, trong đó một phần bởi cái nhìn “chính thống”
Nho giáo của giới Nho sĩ về một Tây Sơn “giặc cỏ”. Nhưng
khi Nguyễn Ánh xác lập được nền thống trị, từ đất Nam Hà
cát cứ vươn ra, thì giới sĩ phu và nhân dân Bắc Hà lại thấy
luyến tiếc nhà Lê - một vương triều gắn với võ công lẫy lừng
và thời đại vàng son Lê Thánh Tông.
- Với thắng lợi của tập đoàn Nguyễn Ánh, tuy nền thống
nhất đất nước đã được xác lập, nhưng ở thời điểm đầu thế
kỷ XIX, đó mới chủ yếu được thể hiện trên phương diện lãnh
thổ, chứ chưa phải toàn bộ thể chế, trong đó rõ rệt nhất,
cũng là khó khăn nhất, là về mặt hành chính. Đàng Trong và
Đàng Ngoài mỗi nơi mỗi khác, đồng bằng và miền núi mỗi
nơi mỗi khác.
- Nhà Nguyễn lên nắm quyền sau hơn một nửa thế kỷ đất
nước đầy biến động. Sau khi Lê Thánh Tông mất (1497),
nhà Lê sơ suy yếu rồi sụp đổ (1527) đánh dấu thời điểm tan
rã của chính thể tập quyền thống nhất kéo dài ngót ba trăm
năm. Thế kỷ XVI - XVII, dù vậy, quá trình kinh tế - xã hội Việt
Nam vẫn tiếp tục đà phát triển, nhưng bước sang những
năm ba mươi của thế kỷ XVIII ở Đàng Ngoài và nửa sau thế
kỷ XVIII ở Đàng Trong, cuộc khủng hoảng của chế độ phong
kiến bắt đầu diễn ra. Một loạt những sự kiện lịch sử lớn diễn
ra dồn dập: Khởi nghĩa nông dân Đàng Ngoài, khởi nghĩa
Tây Sơn diệt Nguyễn chống Xiêm, đánh đổ Lê Trịnh đại phá
Mãn Thanh, cuộc chiến tranh Nguyễn - Tây Sơn, v.v…
Quản lý một đất nước rộng lớn trong điều kiện giao thông
kém phát triển, thông tin liên lạc lạc hậu, lòng dân, lòng sĩ
phu Bắc Hà không yên, một nền hành chính còn nhiều khác

biệt, đất nước xộc xệch rã rời sau hàng thế kỷ đầy biến
động… là những khó khăn và thách thách thức đặt ra cho
nhà Nguyễn ở nửa đầu thế kỷ XIX.
Đứng trước những khó khăn, thách đố đó, các vua Nguyễn,
triều đình nhà Nguyễn sẽ thực thi những chính sách cai trị
như thế nào. Phản ứng tức thời của nhà Nguyễn trước thực
trạng đất nước đầu thế kỷ XIX là quyết tâm nhanh chóng ổn
định tình hình. Đây là yêu cầu của đất nước, của nhân dân
sau nhiều thập kỷ loạn ly. Nhưng đây trước hết - về mục tiêu
- là nhằm đảm bảo nền thống trị của dòng Nguyễn - vương
triều Nguyễn, bởi lẽ, nền thống trị của dòng họ - vương triều
Nguyễn chỉ thực sự được đảm bảo nếu đất nước được ổn
định. Giải pháp ổn định đất nước được nhà Nguyễn thực
hiện chủ yếu bằng việc tăng sức áp chế từ trên xuống. Theo
đó, về chính trị: tăng cường áp chế hành chính - quân sự; về
kinh tế: thi hành chính sách trọng nông; về văn hóa: phục
hồi và độc tôn Nho giáo; về xã hội: thiết lập thế bình quân
chủ nghĩa. Thiết lập thế bình quân chủ nghĩa là một giải
pháp hiệu quả nhất để tạo thế ổn định trong điều kiện một
xã hội nông thôn - làng xã - nông nghiệp phân hóa chưa cao
như Việt Nam. Chọn giải pháp này, nhà Nguyễn trước hết
thực thi nó ở một lĩnh vực có tính then chốt là ruộng đất.
1. BỨC TRANH CHẾ ĐỘ RUỘNG ĐẤT
Đầu thế kỷ XIX, cơ cấu ruộng đất Việt Nam vẫn bao gồm hai
bộ phận: ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước và ruộng đất
thuộc sở hữu tư nhân. Sau hàng ngàn năm phát triển, chế
độ tư hữu đã mở rộng đồng thời với sự thu hẹp của chế độ
sở hữu nhà nước.
Ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước: Nửa đầu thế kỷ XIX, theo
sách Sĩ hoạn tu tri lục của Nguyễn Công Tiệp soạn khoảng

những năm 1820-1843, trên toàn quốc các loại ruộng đất
công còn 580.363 mẫu, chiếm 17,08% tổng diện tích[1], bao
gồm một bộ phận do nhà nước trực tiếp quản lý, còn lại chủ
yếu là ruộng đất công của các làng xã.
Bộ phận ruộng đất thuộc quản lý trực tiếp của nhà nước ở
đầu thế kỷ XIX gồm tịch điền, quan điền quan trại và đồn
điền. Tịch điền là loại ruộng đất có tính chất lễ nghi thể hiện
sự quan tâm của Nhà nước đối với kinh tế nông nghiệp, số
lượng không nhiều (cả nước ước khoảng vài trăm mẫu).
Quan điền quan trại là loại ruộng đất vốn có từ các thời kỳ
trước (các loại ruộng ngụ lộc, thưởng lộc, chế lộc, quan
điền, quan điền trang, quan đồn điền, quan trại). Nhà Tây
Sơn đã dùng một phần trong số đó ban cấp cho các quan lại.
Sau này nhà Nguyễn thu hồi lại và gọi chung là quan điền
quan trại, đặt dưới sự quản lý trực tiếp của nhà nước. Địa
bàn phân bố quan điền quan trại chủ yếu là khu vực Bắc và
Trung Trung Bộ, với diện tích khoảng vài ngàn mẫu. Một
phần quan điền quan trại dùng để ban cấp cho một số đối
tượng làm tự điền, phần còn lại dùng phát canh thu tô cho
dân sở tại. Từ năm 1822, Minh Mệnh cho chuyển dần quan
điền quan trại thành ruộng đất công làng xã và đến giữa thế
kỷ XIX thì cơ bản quan điền quan trại không còn tồn tại nữa.
Đồn điền là loại ruộng đất kết hợp kinh tế với quốc phòng.
Từ cuối thế kỷ XVIII, Nguyễn Ánh đã cho lập đồn điền ở Nam
Bộ dưới hai hình thức: đồn điền do binh lính khai khẩn gọi
là trại đồn điền và đồn điền do dân khai khẩn gọi là hậu đồn
điền. Nhà Nguyễn từng bước quân sự hoá hậu đồn điền và
đến năm 1822 thì quyết định chuyển toàn bộ hậu đồn điền
thành trại đồn điền. Địa điểm chọn xây dựng đồn điền
thường là những nơi xung yếu về quân sự và có tiềm năng

đất đai. Vì thế, Nam Bộ là địa phương tập trung đồn điền
dưới thời Nguyễn. Nhà nước chủ yếu sử dụng lực lượng
binh lính, bên cạnh đó còn có một số tù phạm đi khai khẩn,
canh tác ruộng đất trong các đồn điền. Sản phẩm thu hoạch
từ ruộng đất đồn điền phần lớn nộp kho nước, chủ yếu để
đáp ứng nhu cầu tại chỗ của binh lính. Diện tích đồn điền ở
thời điểm cao nhất ước khoảng vài chục ngàn mẫu. Nhìn
chung, các loại ruộng đất thuộc quản lý trực tiếp của Nhà
nước chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong cơ cấu ruộng đất.
Bộ phận chủ yếu của sở hữu Nhà nước là ruộng đất công
làng xã. Trong 17,08% ruộng đất công các loại còn tồn tại
đến đầu thế kỷ XIX, phần lớn là loại ruộng đất này. Tuy
nhiên, sự phân bố rất không đều giữa các địa phương. Phan
Huy Chú nhận xét: “Nước ta duy có trấn Sơn Nam Hạ là rất
nhiều ruộng và đất bãi công, phép quân cấp chỉ nên làm ở
xứ ấy là phải, còn các xứ khác thì các hạng ruộng công có
không mấy”[2]. Vào năm 1852, theo lời Thượng thư bộ Hộ
Hà Duy Phiên: “Thừa Thiên, Quảng Trị thì ruộng công nhiều
hơn ruộng tư, Quảng Bình thì công tư bằng nhau, còn các
hạt khác thì ruộng tư nhiều mà ruộng công ít, tỉnh Bình
Định càng ít hơn”[3]. Kết quả nghiên cứu tư liệu địa bạ
những năm gần đây cũng cho thấy điều đó. Sự phân bố
không đều thể hiện trong phạm vi từng miền, từng tỉnh, có
khi từng huyện, từng tổng. Tại Bắc Bộ, trong khi tỷ lệ công
điền thổ ở Thái Bình còn tới 31,43% thì ở Hà Đông chỉ còn
22,12% (thời điểm 1805). Giữa các huyện của hai địa
phương này cũng có sự khác biệt. Ở Thái Bình, tỷ lệ công
điền thổ huyện Thanh Quan còn 7,2%, huyện Quỳnh Côi còn
17,32%, huyện Đông Quan còn 20,75%, thì tỷ lệ đó ở huyện
Vũ Tiên là 56,85%. Ở tỉnh Hà Đông, tỷ lệ công điền thổ

huyện Đan Phượng còn 37,99%, thì ở huyện Hoài An chỉ còn
4,81%, huyện Sơn Minh chỉ còn 4,55%. Vùng Nam Bộ, nơi tư
hữu hoá phát triển rất mạnh nhưng vẫn có những địa
phương sở hữu công vẫn chiếm ưu thế. Các số liệu điều tra
vào đầu thập niên ba mươi thế kỷ XX tiếp tục khẳng định
điều này. Tỷ lệ ruộng đất công khu vực Bắc Bộ còn khoảng
25%, Trung Bộ còn khoảng 25%, Nam Bộ còn khoảng 3%.
Một số địa phương cụ thể, như Thừa Thiên còn 72%, Quảng
Trị còn 98,5%, phủ Xuân Trường (Nam Định) còn 74,5%,
phủ Khoái Châu (Hưng Yên) còn 59% Sự thu hẹp của
ruộng đất công cho thấy vai trò của loại hình sở hữu này đã
giảm sút ở nửa đầu thế kỷ XIX, nhưng tính chất phân bố
không đều làm cho vai trò của nó ở các địa phương không
giống nhau, có nơi ruộng đất công vẫn là nguồn sống chính
của cư dân.
Phân bố tỷ lệ ruộng đất công tư ở một số địa phương[4]
TT
Địa phương
Các loại đất đai (%)
Niên đại
Công điền
Tư điền
Các loại khác
1
Hà Đông
22,12
65,34
12,54
1805
2

Thái Bình
31,43
53,24
15,33
1805
3
Bình Định
8,71
89,62
1,67
1815
4
Phú Yên
1,34
98,66
-
1815
5
Nam Bộ
7,85
92,15
-
1836
Ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân: Tỷ lệ ruộng đất tư đầu thế
kỷ XIX, theo Nguyễn Công Tiệp, là 82,92%, khẳng định vị trí
bao trùm và chi phối của loại hình sở hữu này trong toàn bộ
chế độ ruộng đất. Tuy nhiên, đặc điểm phân bố không đều
làm cho vai trò của nó ở các địa phương có sự khác biệt
nhất định. Trong khi ở hầu hết các nơi ruộng đất tư là
nguồn sống chính của cư dân, cả địa chủ với thu nhập từ

phát canh thu tô, cả nông dân tự canh và lĩnh canh ruộng
đất của địa chủ, thì vẫn có những nơi ruộng đất công mới là
nguồn sống chính.
Trong sở hữu tư nhân, sự phân hoá đã diễn ra nhưng nhìn
chung chưa cao và cũng rất chênh lệch giữa các địa
phương. Có nơi sở hữu địa chủ đã chiếm ưu thế, có nơi sở
hữu bao trùm là của nông dân tự canh, có nơi sở hữu đặc
trưng là của các lớp trung gian. Tại tỉnh Thái Bình, các lớp
sở hữu trên 10 mẫu chiếm 64,55% ruộng đất tư, sở hữu địa
chủ đã thực sự phát triển ở đây. Tại tỉnh Hà Đông, các lớp
sở hữu trên 10 mẫu chỉ chiếm 28,90%, loại sở hữu đặc
trưng là dưới 10 mẫu, riêng các lớp từ 3 đến 10 mẫu chiếm
tới 48,72%. Tại tỉnh Bình Định, các lớp sở hữu trên 10 mẫu
chỉ chiếm là 9,30%, trong khi có tới 59,52% ruộng đất thuộc
các lớp sở hữu dưới 3 mẫu. Tính chất không đều còn thể
hiện trong từng tỉnh. Ở tỉnh Thái Bình, các lớp sở hữu trên
10 mẫu thuộc huyện Chân Định là 74,30%, huyện Vũ Tiên là
78,11%, thì ở huyện Đông Quan là 59,99%, huyện Thanh
Quan là 56,53%. Ở tỉnh Hà Đông, trong khi huyện Đan
Phượng sở hữu trên 10 mẫu chỉ chiếm 11,11%, huyện Từ
Liêm chỉ chiếm 14,27% thì ở huyện Sơn Minh là 48,50%,
huyện Hoài An là 56,40%. Vùng Nam Bộ có một số chủ
ruộng đã thực sự là những đại địa chủ. Địa chủ Lê Văn Hiệu
ở thôn Bình Xuân, tổng Hoà Lạc, huyện Tân Hoà, tỉnh Gia
Định (nay thuộc Gò Công, tỉnh Tiền Giang) có tới trên 1.841
mẫu ruộng, địa chủ Ngô Văn Lộc ở thôn Bình An cùng tổng
có tới trên 1.045 mẫu ruộng Nhưng đó vẫn chưa phải là
loại sở hữu điển hình. Ngay tại vùng đất mà tư hữu hoá đã
phát triển tương đối triệt để như Nam Bộ, sở hữu đặc trưng
của địa chủ vẫn là vừa và nhỏ.

Sự phân hoá ruộng đất ở một số địa phương
TT
Quy mô
Thái Bình
Hà Đông
Bình Định
Số chủ
Ruộng đất
Số chủ
Ruộng đất
Số chủ
Ruộng đất
1
Dưới 1 mẫu
2,2
0,15
27,1
4,51
61,49
19,15
2
1- 3 mẫu
16,61
3,51
35,4
17,88
30,07
40,37
3
3 - 5 mẫu

17,94
7,41
17,04
8,08
5,19
16,78
4
5 - 10 mẫu
32,58
24,38
36,34
32,09
2,51
14,40
5
10 - 20 mẫu
20,52
29,78
26,49
42,77
0,64
7,20
6
20 - 50 mẫu
9,34
29,40
4,52
13,63
0,10
2,10

7
Trên 50 mẫu
0,78
5,37
-
-
-
-
2. THÁI ĐỘ CỦA NHÀ NGUYỄN ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ RUỘNG
ĐẤT
Bức tranh ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX đã đi vào
chặng cuối của vận động tiến hoá. Tư hữu hoá đã bao trùm,
đã có sự phân hoá trong sở hữu tư nhân, một số nơi đã đạt
đến mức độ khá cao. Trước thực trạng đó, chính sách của
nhà Nguyễn đối với ruộng đất lại thể hiện rõ tính bảo thủ,
làm cho quá trình tự nhiên của chế độ ruộng đất bị chững
lại.
Thái độ tương đối nhất quán của nhà Nguyễn ở nửa đầu thế
kỷ XIX là duy trì, bảo vệ và tham vọng mở rộng sở hữu nhà
nước về ruộng đất. Thái độ này quy định chính sách của nhà
nước đối với vấn đề ruộng đất nói chung và với từng loại sở
hữu nói riêng.
Dưới thời Nguyễn, việc ban cấp ruộng đất chỉ còn lại duy
nhất hình thức tự điền (ruộng thờ) được thực hiện rải rác
dưới thời Gia Long và đầu Minh Mệnh, số lượng rất hạn chế,
một phần do quỹ ruộng đất của nhà nước đã thu hẹp, mặt
khác là để đề phòng tư hữu hoá từ việc ban cấp ruộng đất
vốn đã từng diễn ra. Đối với bộ phận ruộng đất công làng xã
còn lại, nhà nước cấm ngặt việc mua bán, cầm cố. Năm
1803, Gia Long xuống dụ: “… nếu xã thôn nào trái lệnh cấm,

quen thói cũ, mua bán riêng với nhau, việc phát giác ra, thì
người mua nhầm bị mất tiền gốc, người làm văn khế, người
cùng đứng tên trong văn khế và những người làm chứng
đều bị trị tội nặng, ruộng đất đem bán trong văn khế vẫn
truy trả dân, lại theo lệ lấy một mẫu ruộng thưởng cho
người tố cáo hưởng hoa lợi”[5]. Để kiểm soát chặt chẽ bộ
phận ruộng đất công làng xã làm cơ sở góp phần giải quyết
các vấn đề kinh tế - xã hội và ổn định tình hình đất nước,
năm 1804, Gia Long chính thức ban hành phép quân điền.
Đây là lần thứ ba trong lịch sử Việt Nam, nhà nước ban
hành chính sách quân điền. Cũng giống như phép quân điền
các đời Hồng Đức và Vĩnh Thịnh, phép quân điền đời Gia
Long quy định cụ thể các đối tượng được nhận ruộng và
khẩu phần tương ứng với từng đối tượng đó: quan lại văn
võ từ tản giai tòng cửu phẩm đến chánh nhất phẩm được
nhận từ 8 đến 18 phần; binh lính các hạng được nhận từ 7
đến 9 phần; dân đinh được nhận 6,5 phần; dân đinh già ốm,
lão nhiêu cố cùng, tiểu nhiêu, nhiêu tật, tàn phế được nhận 4
phần; trẻ mồ côi, đàn bà goá được nhận 3 phần. Về nội
dung, không có khác biệt lớn giữa phép quân điền Gia Long
với phép quân điền các thời kỳ trước. Quan lại và binh lính
vẫn là những đối tượng được ưu đãi. Thay đổi lớn nhất
trong phép quân điền Gia Long là rút ngắn thời hạn chia lại
ruộng từ sáu năm xuống còn ba năm. Mục đích của thay đổi
này là nhằm tăng cường kiểm soát của nhà nước, hạn chế
tư hữu hoá, nhưng chắc chắn sẽ đưa đến nhiều tiêu cực đối
với đất đai. Phép quân điền Gia Long được thực hiện trong
36 năm. Đến năm 1840, Minh Mệnh tiến hành một số điều
chỉnh, theo đó quan lại, binh lính và dân đinh cùng được
nhận một phần, các đối tượng khác được nhận bằng một

nửa hoặc một phần ba. Việc giảm khẩu phần của quan lại và
binh lính xuống bằng dân đinh, theo giải thích của Minh
Mệnh là vì các đối tượng này đã có lương bổng của nhà
nước.
Việc Gia Long ban hành phép quân điền chỉ hai năm sau khi
nắm được chính quyền cho thấy ông vua này khá nhạy bén
trong nhận thức về vai trò của ruộng đất công đối với việc
ổn định tình hình xã hội. Chỉ có điều, sự thu hẹp lại phân bố
không đều của ruộng đất công làm cho tác dụng thực tế của
chính sách này hạn chế, mỗi nơi mỗi khác. Những nơi ruộng
đất công còn nhiều, vẫn là nguồn sống chủ yếu của cư dân,
chính sách quân điền góp phần thể chế hoá việc phân phối,
hạn chế sự thao túng của tầng lớp hào cường.
Thể hiện tập trung nhất thái độ của nhà nước đối với vấn đề
ruộng đất là những biện pháp mở rộng sở hữu công. Trong
khai hoang, có tới gần một nửa các quyết định của nhà
nước quy định ruộng đất khai khẩn được trở thành sở hữu
công cộng. Đặc biệt quyết liệt là chủ trương công hữu hoá
một bộ phận ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân.
Tỷ lệ bao trùm của sở hữu tư nhân về ruộng đất là thực tế
mà nhà Nguyễn đã nhận thức được ngay sau khi xác lập nền
thống trị. Trong chính sách của mình, nhà Nguyễn cũng có
thái độ tôn trọng quyền tư hữu ở một mức độ nhất định. Tuy
nhiên, với chủ trương tăng cường sở hữu công cộng làm bệ
đỡ kinh tế - xã hội cho thiết chế quân chủ tập quyền, nhà
Nguyễn từ khá sớm đã có tham vọng can thiệp vào ruộng
đất tư. Năm 1803, một số quan cai trị ở Bắc Thành đề nghị
Gia Long thi hành phép quân điền, bắt các chủ ruộng tư
sung công 70% ruộng đất làm công điền quân cấp. Chủ
trương này quá mạnh mẽ, lại vào lúc nhà Nguyễn mới được

thiết lập, tình hình chưa thật ổn định nên đã không được
chấp nhận. Trong thời gian trị vì của mình, Gia Long cũng
đã nhiều lần trăn trở về vấn đề này. Nhưng vốn là người
thực tiễn, Gia Long nhận thức rất rõ tính chất phức tạp, bất
ổn của chủ trương can thiệp vào sở hữu tư nhân. Đến Minh
Mệnh, với thiết chế quân chủ tập quyền phát triển đến đỉnh
cao, hơn bất cứ lúc nào cần phải tăng cường chế độ sở hữu
công cộng làm bệ đỡ kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, trước đề
nghị của Vũ Xuân Cẩn, Tổng đốc Bình - Phú (Bình Định và
Phú Yên) vào cuối năm 1838, sung công một phần ruộng đất
tư ở Bình Định làm công điền quân cấp, Minh Mệnh đã rất
đắn đo: “Ruộng đất tư là của thế nghiệp, năm tháng đã lâu,
sổ sách đã thành, nay vô cớ cắt mất của riêng huyết mạch
của người ta, xét ra không phải là việc yên nhân tình, một
phen làm sợ rằng chưa thấy lợi mà nhiễu dân thì không nói
hết”[6]. Sau nhiều cân nhắc, triều đình Nguyễn vẫn quyết
định tiến hành cuộc cải cách ruộng đất ở tỉnh Bình Định, nơi
mà theo các quan cai trị địa phương, ruộng đất hầu hết là
thuộc sở hữu tư nhân và tập trung chủ yếu trong tay tầng
lớp địa chủ, như lời tâu của Vũ Xuân Cẩn “… Một hạt Bình
Định ruộng công chỉ có trên năm ngàn mẫu mà ruộng tư
nhiều đến bảy vạn một nghìn mẫu, các ruộng tư… bị bọn
phú hào chiếm cả, người nghèo không nhờ cậy gì”, “… ruộng
đất phần nhiều là ruộng tư, nhà phú hào chiếm cả, có đến
một, hai trăm mẫu mà người nghèo không một thước tấc,
suốt đời làm đầy tớ người giàu”[7]. Tháng 7 năm 1839,
Minh Mệnh sai Thượng thư bộ Hình Vũ Xuân Cẩn và Hữu
Tham tri bộ Lễ Doãn Uẩn đi Bình Định làm cải cách. Nội
dung phép quân điền Bình Định như sau: giữ nguyên hiện
trạng những thôn ấp ruộng đất công nhiều hơn ruộng đất

tư hoặc công tư ngang nhau, những thôn ấp nào tư nhiều
hơn công thì ruộng đất công vẫn giữ nguyên, cắt một nửa
ruộng đất tư sung công quân cấp. Theo quy định trên, 645
trên tổng số 678 thôn ấp ở Bình Định chịu tác động của cuộc
cải cách này.
Cuộc cải cách ruộng đất ở Bình Định năm 1839 là một thí
điểm của nhà Nguyễn trong chủ trương can thiệp vào sở
hữu tư nhân, “cân bằng công tư”, “san bớt giàu nghèo”, như
ước ao của các hoàng đế Nguyễn. Tại đây, ruộng đất tư đã
chiếm tỷ lệ bao trùm, nhưng không hề có tình trạng tập
trung ruộng đất mà rất manh mún, không như lời tâu của
Vũ Xuân Cẩn. Vì thế, một lý do khác nữa mà nhà Nguyễn
chọn Bình Định, rất có thể vì đây là quê hương của phong
trào Tây Sơn, trước kia quân Tây Sơn đã tịch thu ruộng đất
của địa chủ chia cho dân nghèo, nhà Nguyễn muốn thông
qua cuộc cải cải này triệt để xoá bỏ dấu ấn của nhà Tây
Sơn[8].
Cuộc cải cách Bình Định đã làm rung động cả xã hội Đại
Nam bấy giờ, gây nên sự phản ứng của các chủ tư hữu ở
Bình Định, nhất là với bộ phận có quy mô ruộng đất lớn hơn,
và cũng tiềm ẩn sự phản ứng đối phó của giai cấp địa chủ cả
nước nói chung. Đến nỗi, hơn mười năm sau, vào năm 1853,
Lang trung trí sĩ Trần Văn Tuân dâng sớ nêu 10 việc cần
làm ngay, trong đó có việc lập tức trả lại ruộng đất tư ở
Bình Định[9].
Bức tranh ruộng đất Việt Nam ở nửa đầu thế kỷ XIX với tỷ lệ
bao trùm của sở hữu tư nhân, sự phân hoá nhất định trong
chế độ tư hữu là kết quả tất yếu của sự vận động lịch sử.
Trong quá trình đó, do những đặc điểm riêng, có sự khác
biệt nhất định giữa các địa phương. Trước thực trạng

ruộng đất đó, chính sách ruộng đất của nhà Nguyễn thể hiện
rõ tư tưởng bảo thủ, một mặt duy trì, bảo vệ bộ phận ruộng
đất công còn lại, mặt khác tìm cách mở rộng, đặc biệt là chủ
trương can thiệp vào chế độ tư hữu để tăng quỹ ruộng đất
công qua thí điểm ở Bình Định. Thái độ đó, chính sách đó
làm cho quá trình tư hữu hoá ở nửa đầu thế kỷ XIX bị chặn
lại, phân hoá và tập trung ruộng đất trở nên khó khăn hơn.
Sự vận động tiến hoá của chế độ ruộng đất Việt Nam ở nửa
đầu thế kỷ XIX diễn ra trong một môi trường không lành
mạnh.

×