Tải bản đầy đủ (.doc) (35 trang)

skkn sáng kiến kinh nghiệm hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (228.06 KB, 35 trang )

Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
I. Cơ sở lý luận
“Giáo dục tiểu học là nền tảng giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ xây
dựng tình cản đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và thể chất trẻ em nhằm hình thành
cơ sở ban đầu cho sự phát triển nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ
nghĩa” (theo điều 2 – Luật phổ cập giáo dục).
Bậc tiểu học là nền móng xây dựng lên lâu đài văn hoá cho mọi
người. Cũng có thể coi bậc tiểu học là đường băng đầu tiên giúp thế hệ trẻ
Việt Nam bay vào vũ trụ bao la của tri thức, của cuộc sống. Đường băng đó
được tạo ra từ những điều sơ đẳng nhất như: kỹ năng nghe nói, đọc, viết, kỹ
năng tính toán, kỹ năng giao tiếp và những hiểu biết về cuộc sống về xã hội.
Các kỹ năng trên được hình thành khi học sinh học môn Tiếng Việt, Toán,
Đạo đức, Tự nhiên xã hội.
Tiếng việt là một môn học có vai trò quan trọng. Thông qua các bài
học, bài tập phát triển kĩ năng sử dụng ngôn ngữ, Tiếng việt còn rèn luyện
cho học sinh các thao tác tư duy cơ bản như so sánh, phân tích, tư duy,
tưởng tượng. Ngoài ra tiếng việt còn là một trong các phương tiện để học tốt
các môn học khác.
Luyện từ và câu là phân môn có vị trí quan trọng trong Tiếng việt. Nó
cung cấp hệ thống các từ ngữ, cấu tạo câu … qua các bài luyện tập. Dạng
bài tập của luyện từ và câu của lớp 3 mà xuyên suốt cả quá trình học đó là
dạng bài về dấu câu. Dấu câu có vị thế không nhỏ trong lượng kiến thức cần
chiếm lĩnh của học sinh. Học tốt mảng “dấu câu” sẽ có tác động tốt khi học
phân môn Tập đọc (Có kĩ năng sử dụng dấu câu sẽ biết cách ngắt, nghỉ câu
văn, câu thơ đúng chỗ, ngược lại, biết đọc đúng, ngắt, nghỉ đúng chỗ sẽ dần

1
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu
dần hoàn thành kĩ năng sử dụng dấu câu). Ngoài ra, học tốt mảng “dấu câu”


còn là điều kiện quan trọng để học sinh viết câu văn, đoạn văn với ý tứ rõ
ràng, diễn đạt mạch lạc khi học môn Tập làm văn.
2. cơ sở thực tiễn.
Ở môn Tiếng việt, một trong những tiêu chí lựa trọn nội dung, mục đích
dạy học, đó là rèn kĩ năng giao tiếp. Muốn giao tiếp giỏi, học sinh phải có
kiến thức cơ bản về Tiếng việt. Từ việc hiểu cách dùng dấu câu phù hợp
trong khi viết sẽ dẫn đến sự rõ ràng, mạch lạc khi nói.
Song thực tế giảng dạy, nhiều giáo viên chưa thực sự chú tâm vào
việc rèn kĩ năng sử dụng dấu câu. Thể hiện qua việc khi dạy các bài tập về
dấu câu rất lúng túng lựa chọn hình thức tổ chức, việc tìm con đường giúp
học sinh tiếp cận với lời giải đúng một cách ngắn, nhanh, dễ hiểu nhất là rất
khó khăn. Phần lớn thường sa vào giảng giải hoặc ấn định hoặc “mớm” sẵn
cho học sinh mà không giúp các em vận dụng kiến thức ở các bài tập dạng
khác, ở các phân môn khác để giải quyết vấn đề.
Mặt khác, về phía học sinh lớp 3, do còn nhỏ nên khả năng tư duy,
khả năng phân tích chưa cao nên khi gặp các dạng bài tập về dấu câu các em
thường không có hứng thú nhiều. Các em thường chờ đợi sự gợi ý của giáo
viên, hoặc tuỳ tiện dùng bất kì dấu câu nào vào bất kì chỗ nào mà không cần
cân nhắc tại sao lại điền đấu đó. chính vì thế, đôi khi chúng ta thường hay
gặp những bài làm với cách đặt dấu câu đó, đọc lên thấy lủng củng, nghĩa
của câu cũng thay đổi hoàn toàn so với văn bản gốc. Với một số em khá,
giỏi gặp bài khó, phức tạp một chút là làm bài có thể đúng nhưng bài làm đó
thường dựa vào cảm tính, phỏng đoán chứ không có kĩ năng phân tích nên

2
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu
khi giáo viên hỏi về lí do đặt dấu đó thì các em giải thích một cách yếu ớt,
không có cơ sở.
Xuất phát từ mục đích cần đạt được của môn Tiếng việt, xuất phát từ
những khó khăn gặp phải của giáo viên, đặc biệt xuất phát từ thực tế học

sinh, tôi rất trăn trở và đã cố gắng suy nghĩ tìm giải pháp để khi dạy và học
phàn dấu câu, với giáo viên mở được con đường bằng phẳng nhất để các em
đi, với học sinh tạo được hứng thú học và có kĩ năng làm được các bài tập
về dấu câu.
Sau khi áp dụng vào lớp 3B, Trường Tiểu học Hoàng Hoa Thám có
hiệu quả, tôi xin mạnh dạn đưa ra kinh nghiệm nhỏ của mình trong việc
“Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu cho học sinh lớp 3” .
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng. Học sinh khối 3
2. Phạm vi nghiên cứu.
Hình thành kỹ năng sử dụng dấu câu. Để tiến hành công việc trên tôi đã
dựa vào thực tế giảng dạy và tiến hành dạy thực nghiệm tại lớp 3B trường
Tiểu học Hoàng Hoa Thám.
III. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
- Để nâng cao chất lượng dạy của giáo viên và chất lượng học của học
sinh.
- Để học sinh không sai khi làm bài tập dạng điền dấu.
- Giúp học sinh dùng dấu câu đúng khi nói và viết.
- Ngoài ra học tốt phần này sẽ có tác dụng học tốt phân môn Tập đọc-
kể chuyện, học sinh biết cách ngắt nghỉ câu văn, câu thơ đúng chỗ.

3
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu
Ngược lại. biết đọc đúng ngắt nghỉ đúng chỗ sẽ dần hoàn thành kỹ
năng sử dụng dấu câu.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
- Phương pháp nghiên cứu lí luận.
- Phương pháp đàm thoại.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp điều tra.

- Phương pháp thực nghiệm
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT.
Để hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu cho học sinh lớp 3, tôi phân
thành các kiểu, các dạng, các loại bài khác nhau, đồng thời cung cấp kiến
thức về công dụng và cách dùng từng loại dấu câu. Học sinh cần làm tốt các
dạng bài tập, kiểu bài tập được phân chia như sau:
Dấu câu được chia làm 3 kiểu bài:
1. Kiểu bài điền dấu trong câu
2. Kiểu bài điền dấu cuối câu
- Kiểu bài này chia thành 2 dạng:
+ Dạng 1: Ngắt một đoạn văn thành các câu rồi viết lại cho đúng
chính tả.
+ Dạng 2: Điền dấu câu thích hợp trên một đoạn với các câu được
phân cách sẵn bằng ô trống (hoặc không có ô trống)
Ở dạng này tôi chia làm 2 loại bài:
- Loại bài yêu cầu điền một loại dấu cuối câu.

4
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu
- Loại bài yêu cầu điền nhiều loại dấu câu.
3. Kiểu bài hỗn hợp:
Điền dấu cuối câu và điền dấu trong câu
Sau khi quan sát những lỗi sai của học sinh, tìm hiểu nguyên nhân, từ
đó tìm những biện pháp để khắc phục những tồn tại đó của các em. Tôi đưa
ra các biện pháp giải quyết như sau:
II. CÁC BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT.
1. Kiểu bài điền một loại dấu trong câu.
Như đã nói ở trên, dấu trong câu gồm dấu phẩy, dấu hai chấm, dấu
chấm phẩy…Trong các loại dấu này, ở trương trình lớp 3 tập trung nhiều và

chủ yếu là dấu phẩy. Dấu phẩy có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong quá
trình viết văn của học sinh. Khi hướng dẫn học sinh sử dụng dấu phẩy, điều
đầu tiên tôi cần làm đó là giúp học sinh nhận ra chức năng của dấu phẩy
được thể hiện trong câu. Dấu phẩy ngăn cách các danh từ, cụm danh từ,
động từ, cụm động từ … đi liền nhau trong câu, ngăn cách các trạng ngữ với
bộ phận chính của câu v v. Tuy nhiên theo chương trình thay sách lớp 3 thì
các khái niệm về danh từ, động từ … trạng ngữ, chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ
không được giới thiệu tường minh mà được thể hiện thông qua việc nhận
diện mẫu câu với những bộ phận chính được diễn đạt dưới dạng các câu hỏi:
Ai? Cái gì? làm gì? như thế nào? Với bộ phận phụ (trạng ngữ) diễn đạt qua
các câu hỏi: Ở đâu? Khi nào? Để làm gì? Vì sao? …? Do vậy, khi tiến hành
các biện pháp dạy học các bài tập sử dụng dấu câu, giáo viên cần lưu ý học
sinh các điểm sau:
* Dấu phẩy dùng để đánh dấu ranh giới giữa các bộ phận của câu, cụ
thể là:

5
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu
- Đánh dấu ranh giới giữa các thành phàn phụ của câu với bộ phận
chính của câu.
Ví dụ: Hằng năm, cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều, lòng
tôi lại nao nức những kỉ niệm mơn man qua buổi tựu trường.
- Đánh dấu ranh giới giữa các từ, cụm từ có cùng chức vụ trong câu:
Ví dụ: Giáo lao, cung nỏ, rìu búa, khiên mọc cuồn cuộn tràn theo
bóng voi ẩn hiện của Hai Bà.
+ Bé kẹp lại tóc, thả ống quần xuống, lấy cái nón của má đội lên đầu.
- Đánh dấu ranh giới giữa một từ ngữ với bộ phận chú thích của nó.
Ví dụ: Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh,
lòng mẹ âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp.
- Đánh dấu ranh giới giữa các vế của câu ghép chức năng này ít

được sử dụngở các bài tập về dấu ở lớp 3)
Ví dụ: Bình minh, mặt trời như chiếc thau đồng đỏ ối chiếu xuống
mặt biển, nước biển nhuộm màu hồng nhạt.
Sau khi nắm vững các điều cần lưu ý, giáo viên áp dụng vào việc thực
hiện các bài tập dấu trong câu như sau:
1.1. Giáo viên đặt những câu hỏi phù hợp giúp học sinh phát hiện
ra chỗ cần đặt dấu câu.
Ví dụ: Thêm dấu phẩy vào chỗ thích hợp trong các câu sau
a) Ông em bố em và chú em đều là thợ mỏ.
b) Các bạn mới được kết nạp vào Đội đều là con ngoan trò giỏi.
c) Nhiệm vụ của Đội viên là thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy tuân theo
Điều lệ đội và giữ gìn danh dự Đội.

6
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu
Đối với bài tập này để giúp học sinh nhận diện được những từ – cụm
từ cần phân cách bằng dấu phẩy, giáo viên có thể đặt các câu hỏi sau.
GV: Những ai đều là thợ mỏ?
HS: Ông em – bố em và chú em
GV: Vậy chúng ta có thể đặt dấu phẩy ở đâu?
HS: Ông em, bố em và chú em.
Ngay ở câu a, tôi lưu ý và giúp học sinh hiểu: Dùng dấu phẩy để tách
các từ chỉ sự vật (chỉ người) đứng liền nhau trong câu.
Trường hợp cụm từ có từ “và” đứng trước thì không cần phân cách
bằng dấu phẩy.
Tương tự với cách hỏi như vậy với câu b, c.
GV: Các bạn mới được kết nạp vào Đội là người như thế nào?
HS: Con ngoan – trò giỏi.
Sau khi trả lời xong, học sinh tự đặt dấu phẩy ở vị trí “ con ngoan, trò
giỏi”.

GV: Nhiệm vụ của Đội viên là gì?
HS: Thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy – tuân theo Điều lệ Đội và giữ gìn
danh dự Đội.
Học sinh sẽ đặt dấu phẩy ở vị trí “ … thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy,
tuân theo Điều lệ Đội và giữ gìn danh dự Đội”.
Ví dụ 2: Có thể đặt dấu phẩy vào những chỗ nào trong câu sau:
a) Ếch con ngoan ngoãn chăm chỉ và thông minh.
b) Nắng cuối thu vàng ong dù giữa trua cũng chỉ dìu dịu.
c) Trời xanh ngắt trên cao xanh như dòng sông trong trôi lặng lẽ giữa
những ngọn cây hè phố.

7
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu
Với bài tập này, câu hỏi cần được đưa ra để gợi ý hướng dẫn để học
sinh định hướng và tìm được vị trí đặt dấu chính xác như sau:
/?/ - Ếch con như thế nào?
- Ngoan ngoãn – chăm chỉ và thông minh
Tương ứng: …ngoan ngoãn, chăm chỉ và thông minh.
/?/ - Nắng cuối thu như thế nào?
- Vàng ong – dù giữa trưa cũng chỉ dìu dịu.
Tương ứng: … vàng ong, dù giữa trưa cũng chỉ dìu dịu.
/?/ - Trời như thế nào?
- Xanh ngắt trên cao – xanh như dòng sông trong – trôi lặng lẽ giữa
những ngọn cây hè phố.
Tương ứng: … xanh ngắt trên cao, xanh như dòng sông trong, trôi
lặng lẽ giữa những ngọn cây hè phố.
Như vậy, với cách đặt câu hỏi như trên, giáo viên đã định hướng giúp
học sinh hiểu:
+ Dấu phẩy sẽ được đặt ở nội dung câu trả lời.
+) Dấu phẩy sẽ dùng (sẽ đặt) để tách từng sự vật, từng việc, từng hành

động từng tính chất, từng đặc điểm …có trong nội dung câu trả lời.
Sau 2 ví dụ trên, tôi giao tiếp các bài tập tự luyện cho học sinh, yêu
cầu các em tự đặt câu hỏi, tự trả lời, tự ghi dấu vào vị trí phù hợp.
Bài tập 1: Em đặt dấu phẩy vào chỗ nào trong mỗi câu sau:
a) Ở nhà em thường giúp bà xâu kim.
b) Trong lớp Liên luôn luôn chăm chú nghe giảng.
c) Hai bên bờ sông những bãi ngô bắt đầu xanh tốt.
d) Trên cánh rừng mới trồng chim chóc lại bay về ríu rít.

8
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu
Bài tập 2: Điền dấu phẩy vào chỗ thích hợp trong mỗi câu văn sau:
a) Lá ngô rộng dài trổ ra mạnh mẽ nõn nà.
b) Cây hồi thẳng cao tròn xoe.
c) Hồ Than Thở nước trong xanh êm ả có hàng thông bao quanh reo
nhạc sớm chiều.
d) Giữa Hồ Gươm là Tháp Rùa tường rêu cổ kính xây trên gò đất cỏ
mọc xanh um.
Bài tập 3: Đặt dấu phẩy vào chỗ thích hợp trong mỗi câu sau:
a) Nhờ chuẩn bị tốt về mọi mặt SEA Games 22 đã thành công rực rỡ.
b) Muốn cơ thể khoẻ mạnh em phải năng tập thể dục.
c) Để trở thành con ngoan trò giỏi em cần học tập và rèn luyện.
1.2. Dùng câu hỏi kết hợp sơ đồ hỗ trợ học sinh làm việc theo nhóm
nhằm phát hiện chỗ cần đặt dấu câu theo yêu cầu:
Ví dụ: Em đặt dấu phẩy vào những chỗ nào trong mỗi câu dưới đây:
a) Vì thương dân Chử Đồng Tử và công chúa đi khắp nơi dạy dân
cách trồng lúa nuôi tằm dệt vải.
b) Vì nhớ lời mẹ dặn không được làm phiều người khác chị em Xô
phi đã về ngay.
c) Tại thiếu kinh nghiệm nôn nóng và coi thường đối thủ Quắm Đen

đã bị thua.
d) Nhờ ham học ham hiểu biết và muốn đem hiểu biết của mình ra
giúp đời Lê Quý Đôn đã trở thành nhà bác học lớn nhất của nước ta thời
xưa.

9
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu
Đây là một bài tập khá phức tạp đối với học sinh lớp 3. Với dạng bài
tập này, giáo viên có thể dùng câu hỏi kết hợp sơ đồ hỗ trợ học sinh làm
việc theo nhóm nhằm phát hiện chỗ cần đặt dấu câu theo yêu cầu như sau:
Câu a: - Giáo viên đưa ra sơ đồ: Vì sao? Ai? ….làm gì ?
- Học sinh phân cách các phần của câu theo mô hình như sau:
Vì thương dân – Chử Đồng Tử và công chúa - đi khắp nơi dạy dân
Vì sao ? Ai ? Làm gì ?
cách trồng lúa nuôi tằm dệt vải.
- Giáo viên đưa ra câu hỏi phụ như sau:
Dạy dân những cách gì?
- Học sinh tách thành 3 việc theo sơ đồ:
Dạy cách trồng lúa – nuôi tằm – dệt vải.
Khi học sinh phân cách các phần trong câu theo sơ đồ xong, giáo viên
hướng dẫn học sinh đặt dấu phẩy bằng cách đặt câu hỏi như sau:
GV: Như vậy, ta có thể đặt dấu phẩy vào những chỗ nào trong
câu a ?
HS: Vì thương dân, Chử Đồng Tử và công chúa đi khắp nơi dạy dân
cách trồng lúa, nuôi tằm, dệt vải.
Câu b: - Giáo viên đưa ra mô hình tổng quát cho câu b:
Vì sao ? Ai ? ….làm gì ?
- Giáo viên yêu cầu học sinh so sánh với mô hình câu a để thấy hai
mô hình tương tự nhau. Vì vậy, giáo viên yêu cầu học sinh tự phân tích mô
hình ấy để tìm ra chỗ cần đặt dấu phẩy.

- Học sinh phân tích mô hình như sau:

10
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu
Vì nhớ lời mẹ dặn không được làm phiền người khác – chị em Xô
phi-
Vì sao ? Ai ?
đã về ngay.

làm gì ?
Sau khi phân tích theo mô hình như trên, học sinh có thể dễ dàng đặt
dấu phẩy vào vị trí đúng như sau:
Vì nhớ lời mẹ dặn không được làm phiền người khác, chị em Xô phi
đã về ngay.
Câu c: Trong câu c có phần trạng ngữ chỉ nguyên nhân khá phức tạp,
với ba cụm từ chỉ đặc điểm đi liền nhau (tại thiếu kinh nghiệm, nôn nóng
và coi thường đối thủ).
Vì vậy cần có mô hình hỗ trợ khác để giúp các em tìm ra chỗ cần
phân cách bằng dấu phảy như sau:
Giáo viên đưa ra sơ đồ:
Vì sao ? Ai ? …. thế nào ?
Học sinh phân cách các phần của câu theo mô hình như sau:
Tại thiếu kinh nghiệm nôn nóng và coi thường đối thủ – Quắm Đen –
Vì sao ? Ai ?
đã bị thua
thế nào ?
Giáo viên đưa tiếp câu hỏi phụ như sau:

11
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu

Vì mấy điều?
Học sinh phân tích theo mô hình phụ:
Tại thiếu kinh nghiệm – nôn nóng – và coi thường đối thủ.
Sau khi học sinh phân cách các phần của câu theo sơ đồ xong, giáo
viên hướng dẫn học sinh đặt dấu phẩy bằng cách đặt câu hỏi:
Như vậy, ta có thể đặt dấu phẩy vào những chỗ nào trong câu c ?
Học sinh sẽ đặt đúng dấu phẩy vào vị trí thích hợp như sau:
Tại thiếu kinh nghiệm, nôn nóng và coi thường đối thủ, Quắm Đen đã
bị thua.
- Sau khi học sinh đặt đúng dấu phẩy trong câu c, giáo viên cần nhấn
mạnh lại để lưu ý học sinh: Trường hợp cụm từ đi trước nó là từ “và” thì
không cần phân cách bằng dấu phẩy.
Ví dụ: - Lan, Mai, Hồng đều là học sinh giỏi.
- Lan, Mai và Hồng đều là học sinh giỏi.
cầu d: Giáo viên cho học sinh nhận xét để thấy câu d có cấu trúc
tương tự câu c với phần trạng ngữ cũng gồm 3 cụm từ chỉ đặc điểm đi liền
nhau và cụm cuối cùng đi trước là từ “ và”. Do vậy, giáo viên yêu cầu học
sinh vận dụng cách làm ở câu c để tìm ra chỗ cần đặt dấu phẩy.
Học sinh sẽ phân tích theo sơ đồ như sau:
Nhờ ham học ham hiểu biết và muốn đem hiểu biết của mình ra giúp đời –

Vì sao ?
Lê Quý Đôn - đã trở thành nhà bác học lớn nhất của nước ta thời xưa.
Ai ? Thế nào ?
Học sinh tiếp tục phân tích theo sơ đồ phụ “ Vì mấy điều?” như sau:

12
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu
Nhờ ham học – ham hiểu biết – và muốn đem hiểu biết của mình ra
giúp đời.

Sau khi phân tích theo hai sơ đồ như trên, học sinh nhớ đến điều giáo
viên đã lưu ý trong câu c: trường hợp cụm từ đi trước nó là từ “và” thì
không cần phân cách bằng dấu phẩy. Vì vậy, học sinh sẽ đặt dấu phẩy vào vị
trí đúng trong câu d như sau:
Nhờ ham học, ham hiểu biết và muốn đem hiểu biết của mình ra giúp
đời, Lê Quý Đôn đã trở thành nhà bác học lớn nhất của nước ta thời xưa.
Sau khi hướng dẫn học sinh làm được các ví dụ như trên, tôi ra thêm
các bài tập về nhà để học sinh tự lập sơ đồ, phân tích theo sơ đồ và tìm ra vị
trí đặt dấu phẩy đúng. Các bài tập như sau:
Bài tập 1:
Em có thể đặt dấu phẩy vào những chỗ nào trong mỗi câu sau:
a) Hằng năm cứ vào đầu tháng 9 các trường lại khai giảng năm học
mới.
b) Sau ba tháng hè tạm xa trường chứng em lại náo nức tới trường gặp
thầy gặp bạn.
c) Đúng 8 giờ trong tiếng Quốc ca hùng tráng lá cờ đỏ sao vàng được
kéo lên ngọn cột cờ.
Bài tập 2:
Đặt dấu phẩy vào chỗ thích hợp trong mỗi câu sau:
a) Bằng những động tác thành thạo chỉ trong phút chốt ba cậu bé đã
leo lên đỉnh cột.
b) Với vẻ mặt lo lắng các bạn trong lớp hồi hộp theo dõi Nen-li.
c) Bằng một sự cố gắng phi thường Nen-li đã hoàn thành bài thể dục.

13
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu
Bài tập 3:
Đặt dấu phẩy vào những chỗ thích hợp trong từng câu văn dưới đây:
a) Từ bấy trở đi sớm sớm cứ khi Gà Trống cất tiếng gáy là Mặt Trời
tươi cười hiện ra phân phát ánh sáng cho mọi vật mọi người.

b) Xưa kia Cò và Vạc cùng kiếm ăn chen chúc đông vui trên bãi lầy
cánh đồng mùa nước những hồ lớn những cửa sông.
1.3. Tổ chức cho học sinh đặt câu hỏi theo nhóm nhỏ để tự phát
hiện ra các chỗ cần đặt dấu trong câu.
Ở biện pháp này, giáo viên đưa ra một số câu hỏi gợi ý trên bảng phụ,
đề nghị học sinh chọn câu hỏi thích hợp cho từng câu trong bài tập.
- Học sinh hỏi và trả lời theo nhóm.
- Dựa vào câu trả lời xác định chỗ cần đặt dấu câu mà bài tập yêu cầu.
Ví dụ:
Điền dấu phẩy vào chỗ thích hợp trong mỗi câu sau:
a) Tối qua tại nhà văn hoá xã Đoàn Ca nhạc Bông Sen đã biểu diễn
phục vụ bà con xã Hoà Hưng.
b) Vì muốn xem bóng đá Hùng phải cố làm xong các bài tập cô giao
về nhà.
c) Từ khắp nơi bà con nô nức kéo về núi Cương để dự lễ hội đền
Hùng.
* Ở bài tập này, giáo viên đưa ra một số câu hỏi gợi ý như sau:
- Chọn mô hình phù hợp cho từng câu:
+ Bao giờ? Ở đâu? Ai? … làm gì?
+ Vì sao? Ai? … làm gì?
+ Từ đâu? Ai? … làm gì?

14
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu
- Câu a, có 1 hay 2 hay 3 dấu phẩy?
- Câu b, có 1 hay 2 hay 3 dấu phẩy?
- Câu b, có 1 hay 2 hay 3 dấu phẩy?
- Có thể đặt dấu phẩy vào chỗ nào trong câu a (b, c)?
Sau khi học sinh hỏi và trả lời trong nhóm dựa vào các câu hỏi gợi ý
trên, học sinh sẽ đặt dấu phẩy vào vị trí đúng như sau:

a) Tối qua, tại nhà văn hoá xã, Đoàn Ca nhạc Bông Sen đã biểu diễn
phục vụ bà con xã Hoà Hưng.
b) Vì muốn xem bóng đá, Hùng phải cố gắng làm xong các bài tập cô
giao về nhà.
c) Từ khắp nơi, bà con kéo về núi Cương để dự lễ hội đền Hùng.
Để học sinh nắm chắc cách hỏi đáp theo nhóm như trên tôi ra thêm
bài tập để các nhóm tự hỏi và trả lời và tìm ra chỗ đặt dấu câu đúng. Bài tập
như sau:
Bài tập 1:
Điền dấu phẩy vào chỗ thích hợp trong mỗi câu sau:
a) Vì chạy chơi ngoài nắng Long đã bị cảm sốt.
b) Do mất điện cuộc liên hoan văn nghệ trong hội vui học tập phải kết
thúc sớm.
c) Nhờ sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo dạy thể dục đội bóng bàn lớp
3C đã giành được giải Nhất.
Bài tập 2:
Đặt dấu phẩy vào chỗ thích hợp trong mỗi câu văn sau:
a) Con gà này có bộ lông mã tía cổ bạnh màu hạt đậu.

15
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu
b) Con gà ông Bảy Hoá có bộ mã khá đẹp lông trắng pha đỏ mỏ búp
chuối mào cờ hai cánh như hai vỏ trai úp nhưng lại hay tán tỉnh láo toét.
1.4. Khai thác kinh nghiệm ngữ cảm của học sinh.
Ở biện pháp này học sinh sẽ hoạt động theo nhóm (bàn). Một học sinh
sẽ đọc đoạn (câu) cần điền dấu đã cho, đến chỗ nào các em dừng thì sẽ gạch
xổ phân cách, sau đó nhóm trao đổi và sửa chữa rồi xác định lại các chỗ cần
đặt dấu câu theo yêu cầu. Với biện pháp này, tôi khai thác cảm nhận tự
nhiên đối với Tiếng Việt vốn là bản ngữ của các em. Trên cơ sở ấy, học sinh
trao đổi và xem xét để nhận diện việc sử dụng dấu trong câu một cách có ý

thức.
Ví dụ:
Đặt dấu phẩy vào vị trí thích hợp trong mỗi câu dưới đây:
Dưới tầm cánh chú bây giờ là luỹ tre xanh rì rào trong gió là bờ ao
với những khóm khoai nước rung rinh… Còn trên tầng cao cánh chú là đàn
cò đang bay là trời xanh trong và cao vút.
Với bài tập này học sinh sẽ đọc và gạch xổ như sau:
Dưới tầm cánh chú bây giờ / là luỹ tre xanh rì rào trong gió / là bờ ao
với những khóm khoai nước rung rinh…/ Còn trên tầng cao cánh chú / là
đàn cò đang bay / là trời xanh trong / và cao vút.
Dựa vào các gạch xổ phân cách, cả nhóm sẽ thảo luận và tìm ra vị trí
đặt dấu phẩy đúng như sau:
Dưới tầm cánh chú bây giờ là luỹ tre xanh rì rào trong gió, là bờ ao
với những khóm khoai nước rung rinh… Còn trên tầng cao cánh chú là đàn
cò đang bay, là trời xanh trong và cao vút.

16
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu
Sau khi học sinh làm đúng được các bài tập trên tôi ra thêm bài tập để
học sinh làm. Bìa tập như sau:
Bài tập 1:
Đặt dấu phẩy vào những chỗ thích hợp trong đoạn văn dưới đây:
Mỗi cây có một đời sống riêng một tiếng nói riêng. Cây lan cây huệ
cây hồng nói chuyện bằng hương bằng hoa. Cây mơ cây cải nói chuyện
bằng lá. Cây bầu cây bí nói bằng quả. Cây khoai cây dong nói bằng củ bằng
rễ… Phải yêu vườn như Loan mới hiểu được lời nói của các loài cây.
Bài tập 2:
Đặt dấu phẩy vào chỗ thích hợp trong đoạn văn sau:
Bản giao hưởng “Mùa thu” cất lên. Những chiếc lá vàng rơi trong
nắng nắng lung linh kỳ ảo. Lá vàng phủ hai bờ tiếng gió xào xạc nói với lá.

Hương mùa thu nhẹ thoảng những con bướm vàng bay rối mắt. Giai điệu trữ
tình trong sáng quán xuyến từ đầu đến cuối phần biểu diễn của Dế Mèn.
1.5. Sử dụng trò chơi tập trung.
Ví dụ:
Hãy chép lại đoạn văn sau và đặt dấu phẩy vào những chỗ thích hợp:
Nhân dân ta luôn ghi sâu lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng
bào Kinh hay Tày Mường hay Dao Gia-rai hay Ê-đê Xơ đăng hay Ba-na và
các dân tộc anh em khác đều là con cháu Việt Nam đều là anh em ruột thịt.
Chúng ta sống chết có nhau sướng khổ cùng nhau no đói giúp nhau.
Với bài tập này, giáo viên có thể tiến hành trò chơi tập trung như sau:
- Giáo viên đưa ra gợi ý: “Đoạn có 2 câu. Câu 1 có 4 dấu phẩy, các
dấu phẩy ấy nên đặt vào đâu? Câu 2 có 2 dấu phẩy, các dấu phẩy nên đặt
vào đâu?”

17
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu
- Nhóm 4 học sinh chép đoạn văn vào giấy khổ lớn, sau đó trao đổi
xác định các chỗ cần đặt dấu phẩy trong câu trong khoảng 3 phút.
- Các nhóm đính sản phẩm trên bảng lớp.
- Giáo viên nêu đáp án được viết trên bảng phụ hay trên một tờ giấy
khổ lớn, trên cơ sở đó học sinh đối chiếu xác định nhóm làm đúng hay sai.
- Giáo viên điều chỉnh, hướng dẫn, giải thích những trường hợp nhầm
lẫn (có thể đặt câu hỏi để học sinh tự giải thích).
* Với biện pháp này tôi cũng ra thêm một số bài tập để học sinh được
chơi nhiều lần. Bài tập như sau:
Bài tập 1:
Đặt dấu phẩy vào những chỗ thích hợp trong các câu sau:
Sân bóng là một khoảng đất hẹp mấn mô trước khu nhà tập thể. Tất cả
các cầu thủ đều cởi trần chân đất đuổi theo quả bóng cao su bằng quả cam.
Khung thành mỗi bên là khoảng trống giữa hai chiếc dép.

Bài tập 2:
Em đặt dấu phẩy vào những chỗ nào trong đoạn văn sau?
Mỗi bản nhạc mỗi bức tranh mỗi câu chuyện mỗi vở kịch mỗi cuốn
phim,… đều là một tác phẩm nghệ thuật. Người tạo nên tác phẩm nghệ thuật
là các nhạc sĩ hoạ sĩ nhà văn nghệ sĩ sân khấu hay đạo diễn. Họ đang lao
động miệt mài say mê để đem lại cho ta những giờ giải trí tuyệt vời giúp ta
nâng cao hiểu biết và góp phần làm cho cuộc sống mỗi ngày một tốt đẹp
hơn.
Bài tập 3:
Em đặt dấu phẩy vào chỗ nào trong mỗi câu dưới đây?
Lê Lai cứu chúa

18
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu
Giặc Minh xâm chiếm nước ta. Chúng làm nhiều điều bạo ngược
khiến lòng dân vô cùng căm giận. Bấy giờ ở Lam Sơn có ông Lê Lợi phất
cờ khởi nghĩa. Trong những năm đầu nghĩa quân còn yếu thường bị giặc
vây. Có lần giặc vây rất ngặt quyết bắt bằng được chủ tướng Lê Lợi. Ông Lê
Lai liền đóng giả làm Lê Lợi đêm một toán quân phá vòng vây. Giặc bắt
được ông nhờ vậy mà Lê Lợi và số quân còn lại được cứu thoát.
2. Kiểu bài điền dấu cuối câu:
“Dấu cuối câu” bao gồm dấu chấm, dấu hỏi và dấu chấm than. Có hai
dạng bài sử dụng dấu cuối câu là: Dạng bài ngắt một đoạn thành các câu rồi
viết lại cho đúng chính tả và dạng bài điền dấu câu thích hợp trên một đoạn
với các câu đã được phân cách sẵn với những ô trống hay không có ô trống.
2.1. Dạng bài ngắt một đoạn thành các câu rồi viết lại cho đúng
chính tả.
Trọng tâm của dạng bài ngắt một đoạn thành các câu rồi viết lại cho
đúng chính tả là giúp học sinh nắm cách sử dụng dấu chấm. Việc sử dụng
dấu chấm liên quan đến khái niệm về câu. Có hai khái niệm để nhận diện

câu. Một là dấu hiệu hình thức: câu bắt đầu bằng một chữ hoa và kết thúc
bằng dấu chấm. Hai là dấu hiệu nội dung: câu thể hiện một ý. Do vậy, muốn
giúp học sinh có thể ngắt đoạn thành các câu hơp lý, giáo viên cần dựa vào
hai đặc điểm cơ bản của câu; đặc biệt là đặc điểm nội dung để tìm ra những
biện pháp tổ chức hoạt động học tập một cách thích hợp đối với dạng bài tập
này.
Dưới đây là một vài biện pháp tổ chức cho học sinh hoạt động thực
hiện bài tập ngắt một đoạn thành các câu rồi viết lại cho đúng chính tả.

19
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu
a) Đặt mỗi câu hỏi phù hợp với nội dung ý của các câu trong đoạn
để giúp học sinh phát hiện ra đoạn gồm mấy ý.
Ví dụ: Ngắt đoạn dưới đây thành 5 câu và ghép lại cho đúng chính
tả:
Trên nương, mỗi người một việc người lớn thì đánh trâu ra cày các bà
mẹ cúi lom khom tra ngô các cụ già nhặt cỏ đốt lá mấy chú bé đi bắc bếp
thổi cơm.
Với bài tập này, giáo viên nêu 5 câu hỏi (có thể theo thứ tự ý trong
đoạn hoặc có thể không. Trường hợp đảo thứ tự sẽ tạo thách thức cho học
sinh hơn, nhờ vậy các em sẽ động não nhiều hơn). Các câu hỏi như sau:
- Trên nương, ai thế nào?
- Ai làm gì?
- Những ai làm gì?
- Những ai làm gì?
- Những ai làm gì?
Khi giáo viên đưa ra các câu hỏi như trên, học sinh sẽ phân tích từng
câu theo câu hỏi của giáo viên như sau:
- Trên nương, mỗi người một việc.
Ai? thế nào?

- Người lớn thì đánh trâu ra cày.
Ai? làm gì?
- Các bà mẹ cúi lom khom tra ngô.
Những ai? làm gì?
- Các cụ già nhặt cỏ, đốt lá.

20
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu
Những ai? làm gì?
- Mấy chú bé đi bắc bếp thổi cơm.
Những ai? làm gì?
Sau khi học sinh phân tích thì việc viết lại đoạn văn theo đúng theo
yêu cầu là đơn giản.
b) Sử dụng sơ đồ hỗ trợ học sinh tìm kiếm các ý tương ứng với các
câu trong đoạn.
Biện pháp này thích hợp với học sinh trung bình.
Cũng với bài tập phần a, tôi có thể sử dụng sơ đồ sau.
Ý Câu
Lưu ý: Cột ý có thể là ý tóm tắt của từng câu, song thực hiện điều này
không phải dễ dàng nhất là đối với các câu ngắn. Vì vậy có thể rút ra những
từ khoá trong câu như những gợi ý để học sinh dựa vào đó phát hiện trọn
vẹn câu chứa từ khoá ấy.
c) Khai thác kinh nghiệm ngữ cảm của học sinh.
Cho học sinh đọc to trong nhóm hay cặp và đến chỗ nào các em dừng
thì gạch xổ phân cách câu, sau đó trao đổi, sửa chữa và xác định câu. Với
biện pháp này, chủ yếu khai thác cảm nhận tự nhiên đối với Tiếng Việt vốn
là bản ngữ của các em. Trên cơ sở ấy, học sinh trao đổi và xem xét để nhận
diện câu một cách có ý thức.

21

Trên nương
đánh trâu ra cày
tra ngô
nhặt cỏ, đốt lá
bắc bếp
Trên nương, mỗi người một việc.
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu
- Biện pháp này tiến hành tương tự khi dạy học sinh đặt dấu phẩy vào
vị trí thích hợp trong câu.
d) Sử dụng trò chơi tập trung:
Giáo viên đưa ra những gợi ý về âm để học sinh tìm ra chữ cuối của
mỗi câu. Ví dụ cũng với bài tập ở biện pháp a tôi tiến hành như sau:
Câu 1 kết thúc bằng một tiếng bắt đầu bằng âm “vờ”. Câu 2 kết thúc
bằng tiếng bắt đầu bằng âm “cờ”. Câu 3 kết thúc bằng tiếng bắt đầu bằng âm
“en-nờ”. Câu 4 kết thúc bằng tiếng bắt đầu bằng âm “e-lờ”. Câu 5 kết thúc
bằng tiếng bắt đầu bằng âm “cờ”.
Lưu ý: Việc sử dụng biện pháp này đặc biệt thích hợp đối với đoạn
văn trong đó mỗi câu có nhiều tiếng bắt đầu cùng một âm, vì như thế tạo
cho học sinh nhiều chọn lựa, nhờ vậy hoạt động cách xác định câu không
chỉ dựa vào hình thức mà còn dựa vào nội dung ý nghĩa của câu.
Sau khi đưa ra 4 biện pháp dạy dạng bài ngắt một đoạn thành các câu
rồi viết lại cho đúng chính tả như trên, tôi đưa ra các bài tập cùng dạng để
học sinh được thực hành nhiều lần theo các biện pháp mà giáo viên đã dạy.
Các bài tập như sau:
Bài tập 1: Dựa vào từng sự việc để chia đoạn sau thành 4 câu. Cuối
mỗi câu cần ghi dấu chấm và đầu câu phải viết hoa.
Sáng nào mẹ tôi cũng dậy rất sớm đầu tiên, mẹ nhóm bếp nấu cơm
sau đó mẹ quét dọn trong nhà, ngoài sân lúc cơm gần chín, mẹ gọi anh em
tôi dậy ăn sáng và chuẩn bị đi học.
Bài tập 2: Chép đoạn văn dưới đây vào vở sau khi đặt dấu chấm vào

chỗ thích hợp và viết hoa những chữ đầu câu:

22
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu
Ông tôi vốn là thợ gò hàn vào loại giỏi có lần, chính mắt tôi đã thấy
ông tán đình đồng chiếc búa trong tay ông hoa lên, nhát nghiêng, nhát thẳng,
nhanh đến mức tôi chỉ cảm thấy trước mặt ông phất phơ những sợi tơ mỏng
ông là niềm tự hào của cả gia đình tôi.
Bài tập 3: Dùng những câu hỏi sau (Hậu là ai? Hậu thường làm gì
mỗi lần về quê? Có lần cả buổi sáng Hậu đã làm gì? Một lần Hậu đã mải
miết làm gì từ sáng đến chiều?) để ngắt đoạn sau thành 4 câu. Viết lại đoạn
văn này sau khi đã ngắt câu bằng các dấu chấm:
Hậu là cậu em họ tôi sống ở thành phố mỗi lần về quê, Hậu rất thích
đuổi bướm, câu cá có khi cả buổi sáng em chạy tha thẩn trên khắp thửa
ruộng của bà để đuổi theo mấy con bướm vàng, bướm nâu một lần, em mải
miết ngồi câu từ sáng đến chiều mới được một con cá to bằng bàn tay.
Bài tập 4: Dùng dấu chấm để ngắt đoạn sau thành 4 câu rồi ghép lại
đoạn văn này cho đúng quy tắc viết hoa đầu câu:
Đà Lạt là một trong những nơi nghỉ mát nổi tiếng vào bậc nhất ở nước
ta thành phố phảng phất tiết trời của mùa thu với sắc trời xanh biếc và
không gian thoáng đãng, mênh mông, quanh năm không biết đến mặt trời
chói chang mùa hè Đà Lạt giống như một vườn lớn với thông xanh và hoa
trái xứ lạnh giữa thành phố có hồ Xuân Hương mặt nước phẳng như gương
phản chiếu sắc trời êm dịu.
Bài tập 5: Trong đoạn văn dưới đây, người viết quên không đặt dấu
chấm. Em chép đoạn văn vào vở sau khi đặt dấu chấm vào chỗ thích hợp và
viết hoa những chữ đầu câu:
Trang và Thảo là đôi bạn rất thân với nhau một hôm, Thảo rủ Trang
ra công viên chơi Trang đồng ý ra tới đấy, hai đứa tha hồ ngắm hoa đẹp


23
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu
Trang thích nhất là cây hoa thọ tây nở nhiều cánh, nhuỵ tụm ở giữa, dưới
nắng xuân càng tăng thêm vẻ lộng lẫy còn Thảo lại thích hoa tóc tiên màu
hoa mượt như nhung.
2.2. Dạng bài điền dấu câu thích hợp trên một đoạn với các câu đã
được phân cách sẵn với những ô trống hay không có ô trống.
Ở dạng này, căn cứ vào nội dung kiến thức về dấu câu cần hình thành
cho học sinh qua bài tập, có thể phân các bài tập dạng này thành các kiểu
như sau:
a). Kiểu bài yêu cầu điền một loại dấu cuối câu.
Trọng tâm của kiểu bài yêu cầu điền một loại dấu cuối câu là giúp học
sinh nắm cách sử dụng loại dấu chấm câu ấy.
Các dấu cuối câu liên quan đến chức năng của câu dấu chấm liên
quan đến kiểu câu dùng để kể; dấu chấm hỏi liên quan đến câu dùng để cảm
thán, để ra mệnh lệnh, hoặc để mời gọi. Do vậy, muốn giúp học sinh chọn
dấu thích hợp để sử dụng, điều quan trọng là hướng dẫn học sinh, qua thông
tin được đề cập trong câu, đoán xem người viết muốn gì: kể lại sự việc; hỏi
để biết điều gì đó; hay bày tỏ cảm xúc, ra lệnh, yêu cầu …
Dưới đây là một số biện pháp tổ chức cho học sinh học kiểu bài yêu
cầu điền một loại dấu cuối câu:
* Cách 1: Cho học sinh trao đổi theo cặp hay theo nhóm nhỏ để đoán
xem qua các câu, người viết muốn kể lại sự việc; hỏi để biết điều gì đó; hay
bày tỏ cảm xúc, ra lệnh, yêu cầu … Sau đó, điền một dấu câu thích hợp với
mục đích diễn đạt.
* Cách 2: Giáo viên dùng các thẻ từ trình bày những mục đích sử
dụng khác nhau của câu, đề nghị học sinh chọn một mục đích thích hợp rồi

24
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu

dựa vào nội dung câu đang tìm đó ghi dấu câu tương ứng với mục đích sử
dụng ấy.
* Cách 3: Giáo viên trình bày lên bảng ba loại dấu cuối câu, đề nghị
học sinh chọn dấu thích hợp rồi dựa vào nội dung câu giải thích vì sao chọn
dấu ấy.
b). Kiểu bài yêu cầu điền nhiều loại dấu cuối câu.
Mục đích của kiểu bài yêu cầu điền nhiều loại dấu cuối câu nhằm
giúp học sinh củng cố kiến thức về công dụng của các dấu cuối câu đã học
và phân biệt cách sử dụng chúng. Vì vậy, khi dạy kiểu bài yêu cầu điền
nhiều loại dấu cuối câu giáo viên cần lưu ý:
* Dấu chấm: dùng để đánh dấu chỗ kết thúc câu trần thuật. Nhiều
khi, nó cũng được dùng ở cuối những câu cầu khiến (câu khiến) hoặc câu
cảm thán (câu cảm) mà ý cảm thán hay cầu khiến không mạnh.
Ví dụ: - Dấu chấm dùng ở cuối câu trần thuật:
Duới đường, lũ trẻ đang thả rủ nhau thả những chiếc thuyền gấp bằng
giấy trên những vũng nước mưa.
- Dấu chấm dùng ở cuối câu cảm và câu khiến:
Bác dất vui lòng biết rằng cháu nào cũng siêng học, siêng làm, ăn ở
sạch sẽ, biết giữ kỉ luật, lễ phép. Thế là tốt lắm. Bác khuyên các cháu gắng
sức thêm. Việc gì có ích cho Tổ quốc thì các cháu nên gắng sức làm.
* Dấu chấm hỏi: dùng để đánh dấu chỗ kết thúc câu hỏi (câu nghi
vấn).
Ví dụ: - Hằng ngày, các em làm việc gì ?
- Buổi sáng, chúng em học trên lớp, buổi chiều làm bài.

25

×