Tải bản đầy đủ (.pdf) (130 trang)

quản lý hoạt động dạy học tại trung tâm dạy nghề và giáo dục thường xuyên huyện tiên lãng - thành phố hải phòng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.5 MB, 130 trang )


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM




NGUYỄN ĐÌNH TRƢỜNG





QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TẠI TRUNG TÂM
DẠY NGHỀ VÀ GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN
HUYỆN TIÊN LÃNG - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG





LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC










THÁI NGUYÊN - 2014

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM




NGUYỄN ĐÌNH TRƢỜNG




QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TẠI TRUNG TÂM
DẠY NGHỀ VÀ GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN
HUYỆN TIÊN LÃNG - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60.14.01.14



LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC




Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. PHAN VĂN KHA





THÁI NGUYÊN - 2014

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

i
LỜI CAM ĐOAN

Tên tôi là: Nguyễn Đình Trƣờng
Công tác tại: Trung tâm Dạy nghề & GDTX Tiên Lãng - Huyện Tiên Lãng -
Thành phố Hải Phòng
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân
tôi, đƣợc thực hiện dƣới sự hƣớng dẫn khoa học của GS.TS. Phan Văn Kha.
Các số liệu, kết quả nghiên cứu đƣợc trình bày trong luận văn này là trung
thực và chƣa từng đƣợc công bố trong các luận văn khác.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2014
Tác giả



Nguyễn Đình Trƣờng


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

ii
LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, tác giả luôn nhân
đƣợc sự động viên, khuyến khích và tạo điều kiện giúp đỡ nhiệt tình của các cấp lãnh
đạo, các thầy giáo, cô giáo, anh chị em, bạn bè đồng nghiệp và gia đình.
Với tình cảm chân thành, tác giả bảy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
Khoa Tâm lý giáo dục, Phòng Sau Đại Học - Trƣờng Đại học Sƣ phạm -Đại
học Thái Nguyên, các thầy cô giáo tham gia giảng dạy, cung cấp những kiến thức
giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Phan Văn Kha
ngƣời trực tiếp hƣớng dẫn khoa học, đã tận tình chỉ đạo, giúp đỡ, góp ý để tác giả có
thể hoàn thành luận văn này.
Tác giả xin chân thành cảm ơn Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hải Phòng,
Trung tâm Dạy nghề & Giáo dục thƣờng xuyên Tiên Lãng, cùng với những ngƣời
thân và các bạn đồng nghiệp đã tận tình giúp đỡ, cung cấp tài liệu, số liệu tham gia
đóng góp nhiều ý kiến, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình học tập,
nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn.
Với thời gian nghiên cứu còn hạn chế, phạm vi nghiên cứu còn hẹp , thực tiễn
công tác vô cùng sinh động, chắc chắn luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót
và hạn chế. Tác giả rất mong nhận đƣợc những ý kiến đóng góp chân thành từ các
thầy giáo, cô giáo, bạn bè đồng nghiệp và bạn đọc.
Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2014
Tác giả




Nguyễn Đình Trƣờng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

iii
MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 3
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu 3
4. Giả thuyết khoa học 4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6. Phƣơng pháp nghiên cứu 4
7. Giới hạn đề tài 5
8. Cấu trúc của luận văn 5
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
THPT HỆ GDTX TẠI TRUNG TÂM DẠY NGHỀ VÀ GDTX 6
1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1. Các quan niệm về GDTX 6
1.1.2. Bối cảnh của GDTX trên thế giới và ở Việt Nam 6
1.2. Một số khái niệm cơ bản 8
1.2.1. Giáo dục chính quy và giáo dục thƣờng xuyên 8

1.2.2. Quản lý 15
1.2.3. Quản lý giáo dục 20
1.2.4. Nguyên tắc quản lý giáo dục 21
1.2.5. Quản lý hoạt động dạy học 21
1.3. Giám đốc với việc quản lý hoạt động dạy học THPT hệ GDTX ở trung tâm
Dạy nghề & giáo dục thƣờng xuyên 27
1.3.1. Vị trí, vai trò, nhiệm vụ của Giám đốc Trung tâm Dạy nghề & GDTX 27
1.3.2. Nội dung quản lý của Giám đốc đối với hoạt động dạy học THPT hệ
GDTX ở trung tâm 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

iv
1.3.3. Các nhân tố ảnh hƣởng đến việc quản lý của Giám đốc đối với hoạt động
dạy học THPT hệ GDTX ở Trung tâm 36
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 38
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THPT HỆ GDTX
VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THPT HỆ GDTX TẠI TRUNG
TÂM DẠY NGHỀ VÀ GDTX HUYỆN TIÊN LÃNG - TP HẢI PHÒNG 39
2.1. Vài nét về kinh tế - xã hội Thành phố Hải Phòng 39
2.1.1. Phát triển kinh tế 39
2.1.2. Văn hóa - xã hội 40
2.1.3. Quốc phòng - an ninh 41
2.2. Thực trạng hoạt động dạy học THPT hệ GDTX tại trung tâm Dạy nghề và
GDTX huyện Tiên Lãng - Thành phố Hải Phòng 41
2.2.1. Một số nét về trung tâm Dạy nghề và GDTX huyện Tiên Lãng 41
2.2.2. Thực trạng hoạt động dạy học THPT hệ GDTX ở trung tâm Dạy nghề và
giáo dục thƣờng xuyên huyện Tiên Lãng những năm qua 41
2.3. Thực trạng quản lý hoạt động dạy học THPT hệ GDTX tại trung tâm Dạy
nghề và giáo dục thƣờng xuyên huyện Tiên Lãng 54

2.3.1. Hoạt động dạy của giáo viên 56
2.3.2. Quản lý công tác bồi dƣỡng chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao trình độ
cho GV 67
2.3.3. Quản lý hoạt động học của học viên 69
2.3.4. Quản lý cơ sở vật chất, thiết bị, phƣơng tiện và đồ dùng dạy học 70
2.3.5. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động dạy học THPT hệ GDTX
tại Trung tâm Dạy nghề và giáo dục thƣờng xuyên huyện Tiên Lãng 71
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2 73
Chƣơng 3: GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THPT HỆ
GDTX TẠI TRUNG TÂM DẠY NGHỀ VÀ GDTX HUYỆN TIÊN LÃNG -
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 74
3.1. Định hƣớng và những nguyên tắc đề xuất các giải pháp quản lý hoạt động
dạy học THPT hệ GDTX tại Trung tâm Dạy nghề và GDTX huyện Tiên Lãng 74
3.1.1. Định hƣớng phát triển Trung tâm Dạy nghề &GDTX huyện Tiên Lãng -
Hải Phòng 74
3.1.2. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 75

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

v
3.1.2.2. Đảm bảo tính đồng bộ 75
3.1.2.3. Đảm bảo tính kế thừa 75
3.1.2.4. Đảm bảo tính khả thi 75
3.2. Các giải pháp quản lý hoạt động dạy học THPT hệ GDTX tại trung tâm
Dạy nghề và giáo dục thƣờng xuyên huyện Tiên Lãng. 76
3.2.1. Giải pháp 1: Nâng cao nhận thức cho cán bộ và giáo viên về vị trí, tầm
quan trọng của quản lý hoạt động dạy học THPT hệ GDTX. 76
3.2.2. Giải pháp 2: Tăng cƣờng quản lý hoạt động dạy của giáo viên 78
3.2.3. Giải pháp 3: Tăng cƣờng quản lý hoạt động học của học viên 84
3.2.4. Giải pháp 4: Nâng cao quản lý bồi dƣỡng năng lực đội ngũ giáo viên 90

3.2.5. Giải pháp 5: Xây dựng, củng cố và sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất,
trang thiết bị phục vụ dạy học. 94
3.2.6. Giải pháp 6: Tăng cƣờng ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt động dạy học. 96
3.3. Mối quan hệ giữa các giải pháp quản lý hoạt động dạy học 99
3.4. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp 100
3.4.1. Tính cần thiết 101
3.4.2. Tính khả thi 102
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3 103
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 104
1. Kết luận 104
1.1. Lý luận 104
1.2. Thực trạng 104
1.3. Đề xuất các giải pháp 105
2. Khuyến nghị 105
2.1. Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo 105
2.2. Đối với Sở Giáo dục & Đào tạo Hải Phòng và UBND Huyện Tiên Lãng 106
2.3. Đối với Trung tâm Dạy nghề và GDTX huyện Tiên Lãng 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
PHỤ LỤC

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CBQL
Cán bộ quản lý
CĐĐH
Cao đẳng đại học
CNH - HĐH

Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
CNTT
Công nghệ thông tin
GD&ĐT
Giáo dục và đào tạo
GDCN
Giáo dục chuyên nghiệp
GDCQ
Giáo dục chính quy
GDKCQ
Giáo dục không chính quy
GDTX
Giáo dục thƣờng xuyên
GV
Giáo viên
HĐDH
Hoạt động day học
HĐH
Hiện đại hóa
HTSĐ
Học tập suốt đời
HV
Học viên
KT-XH
Kinh tế - xã hội
PCGDTH
Phổ cập giáo dục tiểu học
PTCS
Phổ thông cơ sở
TH

Tiểu học
THCS
Trung học sơ cở
THPT
Trung học phổ thông
TDTT
Thể dục thể thao
UBND
Ủy ban nhân dân
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
XMC
Xóa mù chữ


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

v
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1. Ban giám đốc 42
Bảng 2.2. Tổ trƣởng, tổ phó chuyên môn 42
Bảng 2.3. Cơ cấu giáo viên 43
Bảng 2.4: Quy mô đào tạo 44
Bảng 2.5: Đánh giá xếp loại học lực 44
Bảng 2.6: Đánh giá xếp loại hạnh kiểm 44
Bảng 2.7. Thực trạng việc thực hiện hoạt động dạy học của giáo viên 48
Bảng 2.8. Thực trạng hoạt động của tổ chuyên môn về việc đổi mới PPDH 49
Bảng 2.9. Nhận thức của CBQL về sự cần thiết và đánh giá của giáo viên về
mức độ thực hiện các biện pháp quản lý dạy học 55

Bảng 2.10. Đánh giá thực trạng quản lí hoạt động lập kế hoạch 56
Bảng 2.11. Nhận thức của CBQL về mức độ cần thiết, đánh giá của GV về mức
độ thực hiện các biện pháp quản lý thực hiện chƣơng trình giảng dạy 58
Bảng 2.12. Nhận thức của CBQL về mức độ cần thiết và đánh giá của GV về mức
độ thực hiện việc phân công chủ nhiệm và giảng dạy cho giáo viên 60
Bảng 2.13. Nhận thức của CBQL về mức độ cần thiết và đánh giá của GV về mức
độ thực hiện biện pháp quản lý việc soạn bài, chuẩn bị lên lớp và giờ
dạy trên lớp 62
Bảng 2.14. Thực trạng quản lí việc thực hiện đổi mới PPDH 63
Bảng 2.15. Nhận thức của CBQL về mức độ cần thiết và đánh giá của giáo viên về
mức độ thực hiện biện pháp quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
của học viên 64
Bảng 2.16. Nhận thức của CBQL về mức độ cần thiết và đánh giá của giáo viên
về mức độ thực hiện biện pháp quản lý hồ sơ của giáo viên 66
Bảng 2.17. Nhận thức của CBQL về mức độ cần thiết và đánh giá của giáo viên
về mức độ thực hiện biện pháp quản lý công tác bồi dƣỡng chuyên
môn nghiệp vụ, nâng cao trình độ cho giáo viên 68
Bảng 2.18. Nhận thức của CBQL về mức độ cần thiết, đánh giá của GV về mức
độ thực hiện biện pháp quản lý hoạt động học tập của học viên 70
Bảng 2.19. Nhận thức của CBQL về mức độ cần thiết và đánh giá của giáo viên về
mức độ thực hiện biện pháp quản lý CSVC, thiết bị phục vụ cho hoạt
động dạy học 71
Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các giải pháp đề xuất 101
Bảng 3.2: Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các giải pháp đề xuất 102

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

vi
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ


Sơ đồ 1.1: Hệ thống GDCQ và GDKCQ (GDTX) 10
Sơ đồ 1.2: Bản chất quá trình quản lý 16
Sơ đồ 1.3. Mô hình quản lý 17
Sơ đồ 1.4 : Vai trò của giáo viên và học viên trong hoạt động dạy học 24
Sơ đồ 3.1: Mối quan hệ giữa các giải pháp quản lý 100




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Cơ sở lý luận
Trong xu thế hội nhập, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, nền
kinh tế tri thức và toàn cầu hóa hiện nay, đất nƣớc ta đang tích cực đẩy mạnh sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Từ thực tế đó đã đề ra một nhu cầu cấp bách
về chất lƣợng nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực con ngƣời và đó cũng là yêu cầu cấp
thiết đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Với yêu cầu phát triển ngày càng mạnh
mẽ, đòi hỏi tri thức ngày càng cao nhƣ vậy thì thời gian đào tạo chính quy trong nhà
trƣờng là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, sẽ là không đủ để con ngƣời sẵn sàng thích
ứng và đảm nhận vai trò làm thay đổi trong đời sống xã hội. Vì thế cần phải có đào
tạo mới, đào tạo lại, đào tạo liên tục và nơi thực hiện nhiệm vụ đó chính là các trung
tâm Dạy nghề và giáo dục thƣờng xuyên. Trung tâm Dạy nghề và giáo dục thƣờng
xuyên có vai trò quan trọng góp phần nâng cao chất lƣợng toàn diện nguồn lực con
ngƣời. Điều đó đã đƣợc cụ thể hóa trong Luật giáo dục: “Trung tâm giáo dục thường
xuyên là cơ sở giáo dục không chính quy trong hệ thống giáo dục quốc dân với mục
tiêu giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện
nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ để

cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời
sống xã hội hiện nay ”[27].
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định “Phát triển,
nâng cao chất lượng nguồn lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong
những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững đất nước. Đổi mới căn bản,
toàn diện nền giáo dụcViệt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân
chủ hoá và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp
dạy và học, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ
quản lý giáo dục là khâu then chốt”, Bộ giáo dục đào tạo đã xác định mục tiêu đến
năm 2020 của ngành là: “Nâng cao chất lượng giáo dục và đổi mới công tác quản lý
”. Nghị quyết Hội nghị Trung ƣơng 8 khoá XI đã khẳng định “
”.
Nâng cao chất lƣợng giáo dục luôn là vấn đề quan tâm của các cơ sở giáo dục nói
chung và các Trung tâm Dạy nghề và giáo dục thƣờng xuyên nói riêng. Chất lƣợng giáo
dục, chất lƣợng dạy học là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình giáo dục ở các trƣờng học
trong hệ thống giáo dục quốc dân. Chất lƣợng giáo dục quyết định sự tồn tại và phát
triển của sự nghiệp giáo dục, của mỗi cơ sở giáo dục, của mỗi Trung tâm. Nâng cao

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

2
chất lƣợng giáo dục là vấn đề cơ bản của ngành Giáo dục, là tâm trí của mọi nhà
giáo, mọi thành viên trong xã hội. Cũng nhƣ các bộ phận khác của xã hội, quản lý
giáo dục giữ vai trò quan trọng trong hoạt động giáo dục. Quản lý giáo dục quyết
định đƣờng đi của hệ thống giáo dục, để triển khai đúng hƣớng, phù hợp với yêu cầu
phát triển của xã hội, đất nƣớc. Trong khi đó, vấn đề sống còn của giáo dục là chất
lƣợng giáo dục, vì vậy việc quản lý nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục, chất lƣợng
dạy học đang là vấn đề đƣợc quan tâm trong các cơ sở giáo dục hiện nay.
Để nâng cao chất lƣợng giáo dục trong các trung tâm Dạy nghề và giáo dục
thƣờng xuyên cần phải chú trọng đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt

động dạy học. Thực tiễn cho thấy chất lƣợng và hiệu quả của công tác quản lý hoạt
động dạy học trong trung tâm Dạy nghề và giáo dục thƣờng xuyên không chỉ liên
quan trực tiếp đến chất lƣợng giáo dục học sinh mà cả chất lƣợng đội ngũ giáo viên.
Đối với Trung tâm Dạy nghề và giáo dục thƣờng xuyên, hoạt động dạy học là
nhiệm vụ chủ yếu và cực kỳ quan trọng. Muốn hoạt động này thu đƣợc kết quả tốt cần
phải có những biện pháp quản lý phù hợp đó chính là vấn đề mà tất cả các nhà quản lý
quan tâm. Để thực hiện mục tiêu giáo dục, đáp ứng yêu cầu thực tiễn của xã hội, nâng
cao chất lƣợng dạy học đòi hỏi Giám đốc Trung tâm Dạy nghề và giáo dục thƣờng
xuyên cần phải có những biện pháp quản lý sao cho phù hợp và hiệu quả nhất. Những
biện pháp đó sẽ tác động trực tiếp tới đội ngũ giáo viên và học viên là những yếu tố hàng
đầu để nâng cao chất lƣợng giáo dục cũng nhƣ kết quả dạy học.
1.2. Cơ sở thực tiễn
Tiên Lãng là một huyện thuần nông thuộc Thành phố Hải Phòng, trong những
năm gần đây đã có những bƣớc đi lên vững chắc, toàn diện. Đặc biệt, giáo dục - đào
tạo của huyện nói chung và Trung tâm Dạy nghề và GDTX huyện Tiên Lãng nói
riêng đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dƣỡng nhân tài tạo đà cho sự phát triển KT - XH của huyện nhà. Cụ thể Trung tâm
Dạy nghề và GDTX huyện Tiên Lãng đã góp phần tích cực trong việc tổ chức dạy
học để nâng cao trình độ học vấn cho ngƣời dân trên địa bàn không có điều kiện học
tập ở cơ sở giáo dục chính quy, chuẩn hoá trình độ cho cán bộ làm việc ở các cơ
quan, xí nghiệp, lực lƣợng vũ trang, góp phần đẩy nhanh tiến độ phổ cập bậc trung
học trên địa bàn. Ngày nay, đứng trƣớc yêu cầu mới của xã hội trong sự nghiệp CNH
- HĐH đất nƣớc, đòi hỏi phải có sự đổi mới nhiều mặt, trong đó việc quản lý đảm
bảo chất lƣợng nói chung và các lớp trung học phổ thông nói riêng là chiến lƣợc
trƣớc mắt và lâu dài nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội và hoàn thành tốt nhiệm vụ nâng
cao dân trí và đào tạo nguồn nhân lực của Trung tâm Dạy nghề và GDTX huyện Tiên
Lãng trong giai đoạn phát triển hiện nay và trong tƣơng lai.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu


3
Trung tâm Dạy nghề và GDTX huyện Tiên Lãng trực thuộc ủy ban nhân dân
huyện Tiên Lãng - Thành phố Hải Phòng đƣợc thành lập ngày 01 tháng 8 năm 2013
trên cơ sở sáp nhập giữa hai đơn vị là Trung tâm Dạy nghề huyện Tiên Lãng và
Trung tâm GDTX huyện Tiên Lãng. Là đơn vị mới đƣợc thành lập, còn non trẻ, lại
nằm trên huyện thuần nông xa trung tâm Thành phố, đối tƣợng tham gia học THPT
tại Trung tâm thì đa dạng cả về độ tuổi lẫn hình thức học tập nên việc quản lý hoạt
động dạy học THPT là một yêu cầu cấp thiết. Mặc dù đã đạt đƣợc những thành quả
nhất định trong quá trình phát triển, nhƣng chất lƣợng giảng dạy vẫn còn gặp nhiều
khó khăn, hạn chế, bất cập đó là: Chƣa linh hoạt các loại hình đào tạo nhằm đáp ứng
nhu cầu của ngƣời học; CSVC - trang thiết bị dạy học, điều kiện học tập chƣa đáp
ứng nhu cầu đổi mới chƣơng trình giáo dục thƣờng xuyên hiện nay; giáo viên chậm
đổi mới phƣơng pháp dạy học, ý thức học tập của học viên chƣa cao đặc biệt là tính
tự giác trong học tập. Công tác quản lý việc thực hiện nề nếp dạy học của giáo viên,
học tập của học viên chƣa có chiều sâu, đôi khi còn lỏng lẻo. Do đó chất lƣợng dạy
học của Trung tâm chƣa đáp ứng đƣợc nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực có chất
lƣợng cao cho huyện nhà. Vì vậy, việc tìm kiếm, đề xuất các biện pháp quản lý dạy
học nhằm nâng cao chất lƣợng dạy học tại Trung tâm Dạy nghề và giáo dục thƣờng
xuyên huyện Tiên Lãng là một thực tế cần đƣợc giải quyết.
Với những lý do trên, việc tìm ra những giải pháp mang tính khả thi và hiệu
quả cao trong công tác giảng dạy, đảm bảo chất lƣợng là một nhu cầu thiết yếu không
chỉ mang tính lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn cao đối với sự phát triển của Trung
tâm trong giai đoạn hiện nay. Vì vậy, tác giả chọn đề tài nghiên cứu: “ Quản lý hoạt
động dạy học tại Trung tâm Dạy nghề và giáo dục thường xuyên huyện Tiên Lãng
- Thành phố Hải Phòng” làm luận văn tốt nghiệp cho mình với mong muốn góp
phần nâng cao chất lƣợng dạy học trung học phổ thông trong Trung tâm Dạy nghề và
giáo dục thƣờng xuyên Tiên Lãng nói riêng và trong các Trung tâm Dạy nghề và giáo
dục thƣờng xuyên nói chung.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn hoạt động dạy học THPT hệ

GDTX, quản lý hoạt động dạy học THPT hệ GDTX tại Trung tâm Dạy nghề và giáo
dục thƣờng xuyên huyện Tiên Lãng, đề xuất những giải pháp có tính khả thi nhằm
quản lý hoạt động dạy học THPT hệ GDTX tại Trung tâm Dạy nghề và giáo dục
thƣờng xuyên huyện Tiên Lãng, qua đó nâng cao chất lƣợng dạy học tại Trung tâm.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động dạy học THPT hệ GDTX tại Trung tâm Dạy nghề và giáo dục
thƣờng xuyên huyện Tiên Lãng - Thành phố Hải Phòng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

4
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp quản lý hoạt động dạy học THPT hệ GDTX tại Trung tâm Dạy nghề
và giáo dục thƣờng xuyên huyện Tiên Lãng - Thành phố Hải Phòng
4. Giả thuyết khoa học
Trong thực tiễn chỉ đạo hoạt động giáo dục và đào tạo, Trung tâm Dạy nghề và
giáo dục thƣờng xuyên huyện Tiên Lãng đã sử dụng một số giải pháp quản lý hoạt
động dạy học THPT hệ GDTX, các giải pháp đó dù đã góp phần thúc đẩy các hoạt
động dạy học THPT hệ GDTX, góp phần nâng cao chất lƣợng và hiệu quả của quá
trình đào tạo, bồi dƣỡng; tuy nhiên chất lƣợng vẫn còn có những hạn chế nhất định.
Do vậy, nếu xây dựng và áp dụng một số giải pháp quản lý hoạt động dạy học phù
hợp thì sẽ nâng cao đƣợc chất lƣợng dạy học, hiệu quả quản lý hoạt động dạy học
THPT hệ GDTX của Trung tâm Dạy nghề và giáo dục thƣờng xuyên huyện Tiên
Lãng và một số các Trung tâm Dạy nghề và giáo dục thƣờng xuyên khác của Thành
phố Hải Phòng.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu lý luận quản lý hoạt động dạy học THPT hệ GDTX của Trung
tâm Dạy nghề và GDTX.
5.2. Đánh giá thực trạng hoạt động dạy học THPT hệ GDTX và quản lý hoạt

động dạy học THPT hệ GDTX của Trung tâm Dạy nghề và giáo dục thƣờng xuyên
huyện Tiên Lãng - Thành phố Hải Phòng.
5.3. Đề xuất các giải pháp quản lý hoạt động dạy học THPT hệ GDTX nhằm nâng
cao chất lƣợng ở Trung tâm Dạy nghề và giáo dục thƣờng xuyên huyện Tiên Lãng.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong đề tài này có sử dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu sau:
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Để có cơ sở lý luận làm nền tảng cho quá trình nghiên cứu, tiến hành thu thập
tài liệu, đọc tài liệu, từ đó phân tích tổng hợp vấn đề từ góc độ lý luận có liên quan
đến đề tài.
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1. Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn
Thiết kế các phiếu điều tra, đánh giá về quản lý hoạt động dạy học theo tiêu chí
trên các mặt tƣ tƣởng, đạo đức, kiến thức, kỹ năng . Từ đó đi sâu phân tích đánh giá
đƣợc thực trạng của việc quản lý hoạt động của Trung tâm trong những năm qua cũng
nhƣ trong thời gian tới.
Thu thập thông tin qua việc quan sát hoạt động quản lý của Giám đốc Trung
tâm Dạy nghề và giáo dục thƣờng xuyên về hoạt động dạy học của đội ngũ giáo viên
thể hiện qua giờ dạy.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

5
6.2.2. Phương pháp chuyên gia:
Thu thập lấy ý kiến của các chuyên gia, nhà quản lý trong lĩnh vực quản lý hoạt
động dạy học.
6.2.3. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn:
Thông qua các báo cáo của Trung tâm, của ngành về lĩnh vực này trong các
năm để từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm.
6.3. Phương pháp toán thống kê

Sử dụng phƣơng pháp này để xử lý và phân tích các số liệu các thông tin trong
quá trình nghiên cứu.
7. Giới hạn đề tài
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động dạy học THPT hệ GDTX tại Trung
tâm Dạy nghề và giáo dục thƣờng xuyên huyện Tiên Lãng, từ đó đề xuất một số giải
pháp để nâng cao chất lƣợng dạy học nói riêng, chất lƣợng giáo dục và đào tạo của
Trung tâm nói chung.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
chủ yếu đƣợc thể hiện qua 3 chƣơng nhƣ sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học THPT hệ GDTX tại
trung tâm Dạy nghề và giáo dục thƣờng xuyên.
Chương 2: Thực trạng hoạt động dạy học THPT hệ GDTX và quản lý hoạt
động dạy học THPT hệ GDTX tại Trung tâm Dạy nghề và giáo dục thƣờng xuyên
huyện Tiên Lãng - Thành phố Hải Phòng.
Chương 3: Giải pháp quản lý hoạt động dạy học THPT hệ GDTX tại Trung
tâm Dạy nghề và giáo dục thƣờng xuyên huyện Tiên Lãng - Thành phố Hải Phòng.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

6
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THPT HỆ GDTX
TẠI TRUNG TÂM DẠY NGHỀ VÀ GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN
1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Các quan niệm về GDTX
Trong cuộc cạnh tranh khốc liệt của thế giới hiện đại , sức mạnh của các quốc
gia phụ thuộc chủ yếu vào sức mạnh của tri thức toàn dân, cụ thể hơn đó là đất nƣớc
đó có một nền giáo dục tiên tiến, mọi công dân đều đƣợc thừa hƣởng những thành

quả tốt nhất của nền giáo dục. Xác định đƣợc tầm quan trọng chiến lƣợc đó, các nƣớc
trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng luôn đƣa mục tiêu phát triển một
nền giáo dục tiên tiến, hiện đại là một trong những mục tiêu hàng đầu trong chiến
lƣợc phát triển của quốc gia mình. Nhận thức đƣợc điều đó, Đảng và Nhà nƣớc ta
thực sự coi giáo dục là lực lƣợng chiến lƣợc trong công cuộc phát triển đất nƣớc
“giáo dục là quốc sách hàng đầu, là lực lƣợng thúc đẩy, là điều kiện cơ bản” đảm bảo
việc thực hiện thắng lợi những mục tiêu kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ đất
nƣớc. Đầu tƣ cho giáo dục là đầu tƣ cho sự phát triển. Quan điểm giáo dục mới là
phải biến hoạt động học tập trở thành một nhu cầu chính đáng trong cuộc sống của
con ngƣời, vì vậy việc tạo điều kiện cho mọi ngƣời luôn có điều kiện tiếp cận với
những loại hình học tập chính là yêu cầu bức thiết của xã hội hiện đại. Thuật ngữ
GDTX ra đời chính từ hƣớng phát triển giáo dục đó. Hiện nay giáo dục thƣờng
xuyên có nhiều hình thức, nhiều loại hình nhằm thỏa mãn nhu cầu học tập của con
ngƣời, góp phần nâng cao dân trí, năng lực lao động, thích ứng với yêu cầu của xã
hội và nâng cao chất lƣợng cuộc sống của bản thân.
1.1.2. Bối cảnh của GDTX trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.2.1. Bối cảnh GDTX trên thế giới
Trƣớc những năm 60 giáo dục nhà trƣờng (giáo dục chính qui) chiếm vị trí
“độc tôn” trong sự nghiệp giáo dục của các nƣớc trên thế giới. Ngƣời ta thƣờng quan
niệm rằng việc học tập phải thực hiện ở những môi trƣờng giáo dục chính thống đƣợc
tổ chức chặt chẽ bởi Nhà nƣớc, những đối tƣợng đƣợc học tập cũng chỉ gói gọn trong
một độ tuổi nhất định.
Năm 1968 xuất hiện tác phẩm nổi tiếng của Ph.Combs “Khủng hoảng giáo dục
trên phạm vi toàn thế giới”. Trong tác phẩm này đề cập đến 4 vấn đề sau:
- Giáo dục trong nhà trƣờng không đủ sức đáp ứng nhu cầu học tập cho mọi ngƣời.
- Học vấn trong nhà trƣờng thậm trí cả nhà trƣờng đại học không đáp ứng
đƣợc yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
- Kiến thức học trong nhà trƣờng là quá ít ỏi và chóng lạc hậu.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu


7
- Giáo dục không chính qui (GDKCQ) mới gợi ý cho giáo dục thoát khỏi
khủng hoảng đó.
Đây chính là tác phẩm mở ra xu hƣớng phát triển mới cho giáo dục.
Đến thập kỷ 70, Edgar Farue, 1972 đã cho xuất bản cuốn sách “Học để tồn tại”
đã làm xoay chuyển nhận thức về giáo dục, đặc biệt là giáo dục ngƣời lớn đặt trong
khuôn khổ của giáo dục suốt đời. Từ đó, các quan điểm, khái niệm giáo dục suốt đời,
học tập suốt đời, xã hội học tập đƣợc đƣa ra bàn luận và nhiều nhà giáo dục lớn trên thế
giới đã cần phải có quan niệm rộng về giáo dục: Giáo dục ngƣời lớn, GDTX, GDKCQ
phải đƣợc coi là bộ phận chủ yếu quan trọng cùng với nhà trƣờng chính quy cần cung
cấp cơ hội học tập suốt đời. Đây là định hƣớng cho cải cách giáo dục đƣơng thời.
Cuối năm 80 đến đầu năm 90 chƣơng trình giáo dục cho mọi ngƣời ở Châu Á -
Thái Bình Dƣơng đƣợc phát động năm 1985 bao gồm: Phổ cập tiểu học, xoá mù chữ
và GDTX. Đặc biệt Hội nghị cấp cao toàn thế giới về giáo dục cho mọi ngƣời đƣợc tổ
chức tại Jomtien - Thái Lan (1990) càng nhấn mạnh thêm về chƣơng trình giáo dục
này và coi đó là những bộ phận cơ bản để thực hiện mục tiêu cao cả đó.
Tháng 7/1997 tại Hamburg - Đức, hội nghị lần thứ V về giáo dục ngƣời lớn
gồm các vị lãnh đạo nhà nƣớc, những ngƣời đứng đầu chính phủ, phi chính phủ và
các tổ chức quần chúng, xã hội khác đã khẳng định:
- Vai trò giáo dục của ngƣời lớn đó là chìa khoá để bƣớc vào thế kỷ 21.
- Thừa nhận sự đóng góp to lớn của GDTX đối với việc đào tạo nguồn nhân
lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi nƣớc cũng nhƣ việc xóa đói giảm nghèo,
bảo vệ môi trƣờng sinh thái đồng thời đối với sự phát triển cá nhân mỗi ngƣời [32].
1.1.2.2. Những quan niệm về GDTX ở các nước khu vực Châu Á và ở Việt Nam
Trong Tuyên ngôn của Hội nghị thế giới lần thứ V về giáo dục ngƣời lớn đã
khẳng định: “Giáo dục ngƣời lớn và giáo dục trẻ em tuy khác nhau tuỳ theo sự phát
triển văn hoá, môi trƣờng, kinh tế - xã hội của mỗi nƣớc, song giáo dục ngƣời lớn và
giáo dục trẻ em đều là những bộ phận cần thiết của quan niệm mới về giáo dục, học tập
suốt đời, GDTX nhƣ là một bộ phận không thể thiếu đƣợc của hệ thống giáo dục” [32]

Nhƣ vậy GDTX có vị trí quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Trong hội thảo “Chƣơng trình giáo dục cho mọi ngƣời” Châu Á - Thái Bình
Dƣơng ở thủ đô nƣớc Australia tháng 11/1987, UNESCO đã định nghĩa: “GDTX là một
khái niệm rộng lớn, bao gồm tất cả các cơ hội học tập mà mọi ngƣời đều mong muốn
hoặc cần có sau xoá mù chữ cơ bản và giáo dục tiểu học”. Định nghĩa bao hàm các ý sau:
- GDTX dành cho ngƣời lớn đã biết chữ.
- GDTX đáp ứng nhu cầu mong muốn của mọi ngƣời.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

8
- GDTX có thể bao hàm những kinh nghiệm do giáo dục chính qui, không
chính qui và phi chính qui cung cấp.
- GDTX đƣợc qui định là “cơ hội tham gia vào quá trình học tập suốt đời sau
khi kết thúc tiểu học hoặc tương đương”.
Trong tuyên ngôn 21 điểm của UNESCO đã có những điểm hết sức quan trọng
cho GDTX phát triển:
- GDTX phải là nét chủ đạo của mọi chính sách giáo dục trong những năm tới
tại các nƣớc công nghiệp phát triển cũng nhƣ các nƣớc đang phát triển.
- GDTX cho mọi lứa tuổi trong suốt cuộc đời không chỉ bó hẹp trong 4 bức
tƣờng, có nghĩa là phải cải tổ toàn diện ngành giáo dục. Giáo dục phải trở thành một
phong trào quần chúng thực sự.
- GDTX phải tiến hành và tiếp thu bằng nhiều cách khác nhau. Điều quan
trọng là không phải học theo cách nào mà học cái gì và học đƣợc cái gì.
- Xoá bỏ đƣợc các hàng rào giả tạo lỗi thời giữa các ngành giáo dục, giữa giáo
dục chính qui và không chính qui.
Ý tƣởng cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham
muốn tột bậc là đồng bào ta, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng đƣợc học hành”. Vì
thế, chỉ sau 6 ngày (sau ngày Tuyên ngôn độc lập) khai sinh ra nƣớc Việt Nam dân
chủ cộng hoà, ngày 08 tháng 9 năm 1945 Bác Hồ đã ký sắc lệnh Nha bình dân học

vụ, một hệ thống giáo dục ngƣời lớn đầu tiên ở nƣớc ta và cũng là tiền thân của
ngành giáo dục sau này. Tiếp những năm sau đó, hình thành hệ BTVH và đào tạo bồi
dƣỡng tại chức, loại hình giáo dục tiền thân của GDTX. [17]
Cũng từ các quan niệm trên, ta có thể nói GDTX, học tập thƣờng xuyên sẽ mở
rộng thành giáo dục suốt đời, học tập suốt đời, trở thành một nguyên tắc chi phối cả nền
giáo dục, xây dựng một xã hội học tập, phù hợp với xu thế phát triển của đầu thế kỷ 21.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên
1.2.1.1. Giáo dục chính quy
Ngƣời ta đã đề nghị hiểu các thuật ngữ trên nhƣ sau:
"Giáo dục chính quy" dùng để chỉ những chƣơng trình học đƣợc cung cấp bởi
những thể chế giáo dục đã thiết lập nhƣ các trƣờng học, các trƣờng Tiểu học, Trung
học cơ sở, THPT, THCN, Cao đẳng và Đại học.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân thì giáo dục chính quy có 2 đặc điểm "Đối
tượng người học" và "sự xác nhận trình độ người học" đó là:
- Dành cho ngƣời học chủ yếu trong độ tuổi còn trẻ (độ tuổi này quy định đối
với giáo dục phổ thông và linh hoạt đối với đào tạo ngành nghề [28].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

9
- Dẫn đến những văn bằng chính thức của Nhà nƣớc là sự xác nhận trình độ
giáo dục và đào tạo của từng bậc học, cấp học của hệ thống giáo dục quốc dân.
Yêu cầu của giáo dục chính quy là tính chặt chẽ, tính chuẩn mực của công tác
giáo dục và đào tạo, đặc biệt về các yêu cầu tuyển sinh, chƣơng trình, quá trình dạy
học, đánh giá cấp văn bằng
1.2.1.2. Giáo dục thường xuyên (GDTX)
a. Vị trí của GDTX trong hệ thống giáo dục quốc dân
Hiện tại một số nƣớc trong khu vực và trên thế giới dùng các thuật ngữ với
nghĩa gần tƣơng đƣơng nhau khi nói về khái niệm giáo dục thƣờng xuyên nhƣ: Giáo

dục ngƣời lớn; Giáo dục không chính quy; Giáo dục thƣờng xuyên liên tục;
Ở Việt Nam từ sau cách mạng tháng 8/1945 đến nay chúng ta đã sử dụng
nhiều thuật ngữ nhƣ: Bình dân học vụ; bổ túc văn hóa; giáo dục không chính quy;
giáo dục thƣờng xuyên. Việc sử dụng thuật ngữ khác nhau này, trong từng giai đoạn
phản ánh quá trình phát triển về chất lƣợng trong quan niệm về GDTX ở Việt Nam
cũng nhƣ các nƣớc trong khu vực.
Trƣớc đây GDTX cơ bản chỉ quan tâm vào việc xóa mù chữ, bổ túc văn hóa,
thì ngày nay giáo dục thƣờng xuyên bao gồm nhiều hình thức; không chính quy,
không tập trung, tại chức, vừa làm,vừa học, từ xa, hệ mở, tự học có hƣớng dẫn, mục
đích của các hình thức này là bồi dƣỡng nâng cao trình độ, cập nhật kiến thức, hình
thành kỹ năng Dạy nghề ngắn hạn, trang bị kiến thức kỹ năng cho ngƣời lao động, tạo
cơ hội, công ăn việc làm cho họ.
Ngày nay để phát huy và thích ứng trong một xã hội phát triển thì mỗi ngƣời
cần phải có trách nhiệm học tập thƣờng xuyên, học liên tuc; học suốt đời. Bởi vậy,
quan niệm về giáo dục cũng đã thay đổi, giáo dục không chỉ bó hẹp trong phạm vi
nhà trƣờng, giáo dục không phải dành riêng cho thế hệ trẻ, mà nó diễn ra ở khắp mọi
nơi, mọi chỗ, trong suốt cuộc đời của mỗi con ngƣời, cho tất cả mọi ngƣời, mọi lứa
tuổi, dƣới nhiều hình thức học khác nhau trong hệ thống giáo dục quốc dân. Hiện nay
giáo dục trong nhà trƣờng và giáo dục ngoài nhà trƣờng, giáo dục dành cho ngƣời ít
tuổi, giáo dục dành cho ngƣời lớn tuổi đều đƣợc tồn tại trong hệ thống giáo dục quốc
dân. Trong cuộc đời mỗi con ngƣời GDCQ chỉ chiếm khoảng 1/3 thời gian, còn lại là
giáo dục thƣờng xuyên. Luật giáo dục coi GDTX vừa là một bộ phận của hệ thống
của giáo dục quốc dân vừa là một phƣơng thức giáo dục tồn tại song song với giáo
dục chính quy. Điều 4 Luật giáo dục có ghi "Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo
dục chính quy và giáo dục thường xuyên". [28].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

10


Sơ đồ 1.1: Hệ thống GDCQ và GDKCQ (GDTX)
Trong định hƣớng phát triển giáo dục thời kỳ công nghiệp hoá (CNH). hiện đại
hoá (HĐH) có đề cập "phát triển GDTX, liên tục với các hình thức học tập đa dạng,
nhằm bồi dƣỡng nâng cao dân trí và nghề nghiệp cho ngƣời lao động, xây dựng lối sống
văn hoá, phổ biến kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, chuyển đổi nghề nghiệp, tạo nên
phong trào toàn dân học tập, học suốt đời". Giáo dục là rất cần thiết cho quá trình xây
dựng nguồn nhân lực con ngƣời, nhƣng chỉ riêng giáo dục chính qui thì không đủ sức
phục vụ cho yêu cầu phát triển của xã hội hiện nay. Vì vậy, GDTX có một vị trí quan
trọng, có tầm chiến lƣợc trong nền giáo dục quốc dân. Theo Luật giáo dục (38/2005),
giáo dục không chính qui là phƣơng thức giáo dục giúp cho mọi ngƣời vừa làm vừa học,
học liên tục, học suốt đời, nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình
độ học vấn chuyên môn, nghiệp vụ. Giáo dục không chính qui (GDKCQ) gồm: chƣơng
trình xoá mù chữ, giáo dục sau khi biết chữ, chƣơng trình đào tạo bổ sung, tu nghiệp;
nâng cao trình độ, cập nhật kiến thức, chƣơng trình giáo dục đáp ứng yêu cầu ngƣời học,
chƣơng trình giáo dục để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân theo hình thức
vừa học vừa làm (tại chức), học từ xa, tự học có hƣớng dẫn.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

11
b. Vai trò của GDTX trong hệ thống giáo dục quốc dân
Với quan niệm truyền thống (trƣớc thập kỷ 60) hệ thống giáo dục quốc dân ở
các nƣớc chủ yếu phát triển giáo dục trong nhà trƣờng chính qui tập trung - giáo dục
chính qui đƣợc coi là nền giáo dục độc tôn.
Trong kỷ nguyên với cuộc cách mạng về công nghiệp thông tin và sự bùng nổ
về tri thức thì ngay cả những ngƣời đƣợc giáo dục tốt nhất cũng khó mà theo kịp các
sự biến đổi luôn luôn diễn ra nhanh chóng về kiến thức, trong công nghệ, và sẽ trở
nên lạc hậu nhanh chóng, vì vậy cập nhật nâng cao kiến thức của ngƣời lớn là rất
quan trọng, giúp họ thích ứng với những biến đổi. Quan niệm về học tập suốt đời là
chìa khoá mở cửa vào thế kỷ 21 và gắn với xã hội học hành. Để làm đƣợc việc này

cần giữ cho cánh cửa giáo dục rộng mở. Cần đƣa ra một thể chế và phƣơng thức học
phù hợp để mọi ngƣời có thể đi vào giáo dục bất kỳ thời gian nào.
Nhƣ vậy giáo dục không chỉ diễn ra một lần, giới hạn trong độ tuổi nhất định,
mà là quá trình diễn ra liên tục và xuyên suốt cả cuộc đời. Để đáp ứng yêu cầu của xã
hội, của ngƣời học, cần phải có phƣơng thức giáo dục mới thích ứng, bổ trợ cho giáo
dục chính qui, đó là phƣơng thức giáo dục không chính qui, nó đƣợc thực hiện bởi
các trung tâm GDTX.
Thực tế cho thấy, sự ra đời của GDTX đã mở lối thoát cho cuộc khủng hoảng
về nguồn lực ở các nƣớc đang phát triển và nó giữ vai trò quan trọng là một bộ phận,
một phân hệ trong hệ thống giáo dục quốc dân. Cùng với hệ thống giáo dục chính qui,
nó cung ứng và thoả mãn nhu cầu học tập suốt đời cho mọi ngƣời.
c. Cơ sở pháp lý của GDTX
Quan điểm của Đảng và Chính phủ về GDTX.
+ Nghị quyết TƢ 4 khoá VII đã khẳng định: "Cần phải thực hiện một nền
GDTX cho mọi người xác định học tập suốt đời là quyền lợi và trách nhiệm của mỗi
công dân. Đổi mới giáo dục bổ túc và đào tạo tại chức, khuyến khích phát triển các
loại hình GD-ĐT không chính qui, khuyến khích tự học. Mở rộng dạy học ngoại ngữ".
+ Nghị quyết TƢ 2 khoá VIII chủ trƣơng thực hiện công bằng xã hội: "Tạo
điều kiện để ai cũng được học hành”. "Tạo cơ hội cho mọi người có thể lựa chọn
cách học phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnh của mình”.
"Mở rộng các hình thức học tập thường xuyên, đặc biệt là hình thức học tập từ
xa. Quan tâm đào tạo và đào tạo lại cán bộ quản lý, kỹ thuật, nghiệp vụ và công nhân
các doanh nghiệp tăng cường đào tạo và bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý
các cấp, các ngành”.
+ Nghị quyết 90 CP ngày 24/11/1993 của Chính phủ: "GDTX là một trong
năm phân hệ trong cơ cấu khung của hệ thống giáo dục quốc dân".

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

12

- Luật giáo dục (2005): Khẳng định GDTX là một phân hệ của hệ thống giáo
dục quốc dân, nó đƣợc coi là phƣơng thức giáo dục không chính quy “ giúp mọi
người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở
rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện cuộc
sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội” [28].
Theo Luật giáo dục thì GDTX/GDKCQ ở Việt Nam có 4 chƣơng trình sau:
+ Chƣơng trình xoá nạn mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ.
+ Chƣơng trình giáo dục đáp ứng nhu cầu ngƣời học; cập nhật kiến thức, kỹ
năng, chuyển giao công nghệ.
+ Chƣơng trình đào tạo, bồi dƣỡng nâng cao trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ.
+ Chƣơng trình giáo dục để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân.
Các hình thức thực hiện chƣơng trình giáo dục thƣờng xuyên để lấy văn bằng của
hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm: vừa làm vừa học, học từ xa, tự học có hƣớng dẫn.
d. Mục tiêu, chức năng và đặc điểm của GDTX
- Mục tiêu: Tạo lập một xã hội học tập nhằm cung ứng cơ hội học tập và tạo
điều kiện thuận lợi cho mọi công dân, ở mọi trình độ có thể học tập thƣờng xuyên, học
tập suốt đời, phù hợp với hoàn cảnh từng ngƣời, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã
hội, khoa học công nghệ, văn hoá và nghệ thuật, nhằm góp phần vào sự nghiệp nâng
cao dân trí và đào tạo nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc.
- Chức năng: GDTX tạo cơ hội cho mọi ngƣời có yêu cầu học từ chỗ chƣa biết
chữ để đạt đƣợc trình độ học vấn căn bản; học tiếp tục để đạt đƣợc trình độ đào tạo
tƣơng đƣơng với giáo dục chính qui; học để bổ sung kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp
và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để thích ứng với những tiến bộ nhanh
chóng của khoa học công nghệ.
- Đặc điểm: GDTX là một hệ thống thành phần của hệ thống giáo dục quốc
dân, tạo cơ hội học tập cho mọi ngƣời có nhu cầu và nguyện vọng. GDTX bao gồm
nhiều nội dung, chƣơng trình giáo dục đào tạo: xoá mù chữ (XMC), giáo dục cấp lớp
(bổ túc văn hoá), bồi dƣỡng chuyên đề, giáo dục tiếp tục lấy văn bằng, chứng chỉ,
bằng nhiều hình thức học phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của ngƣời học nhƣ: học
từ xa, học tại chức, học chuyên tu, học hàm thụ, tự học có hƣớng dẫn,

1.2.1.3. Trung tâm GDTX
a. Khái niệm về trung tâm GDTX
Trong Hội nghị về trung tâm GDTX đƣợc tổ chức tại Srilanca tháng 11/1994
đã định nghĩa: “Trung tâm GDTX là tổ chức giáo dục địa phương, ngoài hệ thống
giáo dục chính qui, thuộc các làng hoặc các cộng đồng thành phố, thường được quản
lý bởi nhân dân địa phương có nhiệm vụ cung cấp nguồn lực cho sự phát triển địa

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

13
phương và việc học tập định hướng theo gia đình và cung cấp thông tin về câu hỏi:
cái gì? làm sao? ở đâu? khi nào? các cá nhân có thể tham gia vào các hình thức học
tập khác nhau của GDTX”. [31]
Trung tâm GDTX là nơi trực tiếp đồng thời cũng là nơi liên kết với các cơ sở
giáo dục-đào tạo, các tổ chức kinh tế, xã hội trong cộng đồng nhằm cung ứng các cơ
hội và điều kiện học tập cho những ngƣời không có điều kiện học tập trong các cơ sở
giáo dục chính quy.
Căn cứ Quyết định 01/2007/QĐ-BGDĐT, ngày 02 tháng 01 năm 2007 của Bộ
trƣởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của trung
tâm giáo dục thƣờng xuyên:“Trung tâm giáo dục thường xuyên là cơ sở giáo dục
thường xuyên của hệ thống giáo dục quốc dân. Trung tâm giáo dục thường xuyên bao
gồm trung tâm giáo dục thường xuyên quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau
đây gọi chung là trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện), trung tâm giáo dục
thường xuyên tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là trung tâm
giáo dục thường xuyên cấp tỉnh). Trung tâm giáo dục thường xuyên có tư cách pháp
nhân, có con dấu và tài khoản riêng”.[3]
b. Vị trí , nhiệm vụ của trung tâm GDTX
- Vị trí: Trung tâm GDTX là cơ sở giáo dục không chính quy trong hệ thống
giáo dục quốc dân, thực hiện các chƣơng trình giáo dục theo phƣơng thức giáo dục
không chính quy.

- Nhiệm vụ:
- Tổ chức thực hiện các chương trình giáo dục:
+ Chƣơng trình xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ;
+ Chƣơng trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của ngƣời học, cập nhật kiến thức, kỹ
năng, chuyển giao công nghệ;
+ Chƣơng trình đào tạo, bồi dƣỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
bao gồm: chƣơng trình bồi dƣỡng ngoại ngữ, tin học ứng dụng, công nghệ thông tin -
truyền thông; chƣơng trình đào tạo, bồi dƣỡng nâng cao trình độ chuyên môn; chƣơng
trình đào tạo, bồi dƣỡng nâng cao nghiệp vụ; chƣơng trình dạy tiếng dân tộc thiểu số
cho cán bộ, công chức công tác tại vùng dân tộc, miền núi theo kế hoạch hằng năm
của địa phƣơng;
+ Chƣơng trình giáo dục thƣờng xuyên cấp trung học cơ sở và THPT.
- Điều tra nhu cầu học tập trên địa bàn: xác định nội dung học tập, đề xuất với
sở giáo dục và đào tạo, chính quyền địa phƣơng việc tổ chức các chƣơng trình và
hình thức học phù hợp với từng loại đối tƣợng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

14
- Tổ chức các lớp học theo các chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung
học cơ sở và trung học phổ thông quy định .
- Tổ chức dạy và thực hành kỹ thuật nghề nghiệp, các hoạt động lao động sản
xuất và các hoạt động khác phục vụ học tập.
- Nghiên cứu, tổng kết rút kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động nhằm nâng cao
chất lượng giáo dục góp phần phát triển hệ thống giáo dục thường xuyên.
- Tổ chức liên kết đào tạo: Trung tâm giáo dục thƣờng xuyên phải bảo đảm các
yêu cầu về cơ sở vật chất, thiết bị và cán bộ quản lý phải phù hợp với yêu cầu của
từng ngành đƣợc liên kết đào tạo; Trƣờng trung cấp chuyên nghiệp, cơ sở giáo dục
đại học đƣợc phép liên kết với trung tâm giáo dục thƣờng xuyên khi thực hiện
chƣơng trình giáo dục thƣờng xuyên lấy bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp;

Trung tâm giáo dục thƣờng xuyên cấp tỉnh đƣợc phép liên kết với Cơ sở giáo dục đại
học khi thực hiện chƣơng trình giáo dục thƣờng xuyên lấy bằng tốt nghiệp cao đẳng,
bằng tốt nghiệp đại học.
c. Hệ thống trung tâm GDTX
- Trung tâm GDTX thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng (sau đây gọi
chung là trung tâm GDTX tỉnh). Trung tâm này không thực hiện nhiệm vụ chƣơng
trình xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ.
- Trung tâm GDTX quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi
chung là trung tâm GDTX huyện). Trung tâm này không thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ
các trƣờng cao đẳng, đại học tổ chức thực hiện chƣơng trình đào tạo không chính quy
ở địa phƣơng.
Nhƣ vậy các trung tâm GDTX đƣợc phân bố thành một mạng lƣới, từ tỉnh,
thành phố đến các quận, huyện, thị xã (đƣợc gọi là trung tâm tỉnh, trung tâm huyện),
trung tâm GDTX tỉnh khác trung tâm cấp huyện về cấp quản lý và một số chức năng,
nhiệm vụ. Trong quan hệ giữa trung tâm GDTX cấp tỉnh và trung tâm cấp huyện
không phải là quan hệ "trên, dƣới" trong quản lý.
d. Trung tâm GDTX và ý nghĩa đối với chiến lược phát triển giáo dục
Ở Việt Nam GDTX là kế thừa bình dân học vụ 1945, BTVH 1954 và Tại chức
1959. Ngành học đã đƣợc thành lập từ khi cách mạng vừa thành công, nó nhƣ là một
bộ phận của giáo dục cách mạng, nó đã góp phần quan trọng vào quá trình xây dựng
và phát triển đất nƣớc.
Đại hội VIII của Đảng đã chỉ rõ: "Phương hướng chung của GD&ĐT trong
những năm tới là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH tạo điều kiện
cho nhân dân, đặc biệt là thanh niên có việc làm, khắc phục những yếu kém trong
GD&ĐT". [Văn kiện đại hội đảng toàn quốc lần VIII- NXB chính trị quốc gia- 1997].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

15
Tại Đại hội IX, Đảng ta đã coi “phát triển giáo dục và đào tạo là một trong

những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH, là điều kiện để phát huy
nguồn lực con người-yếu tố cơ bản để phát triển xã hội nhanh và bền vững”. [Văn
kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX - NXB chính trị quốc gia - 2001].
Nhƣ vậy để thoả mãn nhu cầu to lớn về nhân lực, lao động kỹ thuật, thì bên
cạnh việc củng cố nâng cấp mạng lƣới các trƣờng đào tạo chính qui cần phải quan tâm,
mở rộng các loại hình đào tạo khác phù hợp với nhu cầu và điều kiện của ngƣời học, đó
là hình thức học không chính qui, mà các trung tâm GDTX là các cơ sở để thực hiện.
e. Hệ THPT trong Trung tâm GDTX
- Hệ THPT trong các Trung tâm GDTX đƣợc thực hiện trong 3 năm học, từ lớp
10 đến lớp 12. Học viên vào học lớp 10 phải có bằng tốt nghiệp THCS, không phân
biệt độ tuổi và đƣợc lựa chọn hình thức học tập phù hợp với từng loại đối tƣợng.
- Nội dung giáo dục phải đảm bảo các yêu cầu về nội dung của chƣơng trình
giáo dục THPT.
- Học viên học hết chƣơng trình THPT có đủ điều kiện theo quy định của Bộ
trƣởng Bộ GD&ĐT thì đƣợc dự thi và nếu đạt yêu cầu thì đƣợc Giám đốc Sở
GD&ĐT cấp bằng tốt nghiệp THPT
1.2.2. Quản lý
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài ngƣời, từ khi có sự phân công lao động
đã xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù, đó là tổ chức, điều khiển các hoạt
động lao động theo những yêu cầu nhất định. Dạng lao động mang tính đặc thù đó
đƣợc gọi là hoạt động quản lý. Đó là các hoạt động do một hay nhiều ngƣời khác
nhằm đạt tới hiệu quả. Mác đã từng nói: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao
động chung nào tiến hành trên quy mô tƣơng đối lớn thì ít nhiều cũng cần đến một sự
chỉ đạo để điều hòa hoạt động cá nhân … Một ngƣời độc tấu vĩ cầm thì tự điều khiển
lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trƣởng” .
Khái niệm “quản lý ” đƣợc định nghĩa theo nhiều cách khác nhau dựa trên cơ sở
những cách tiếp cận khác nhau, vừa là khoa học vừa là nghệ thuật đang là vấn đề thu
hút nhiều sự quan tâm. Sau đây là một số định nghĩa về “quản lý ”:
- Theo F.W.Taylor (nhà quản lý ngƣời Mỹ 1856 - 1915) ngƣời có học thuyết
chú trọng vào nhiệm vụ cho rằng “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì

cần làm và làm cái đó bằng phƣơng pháp tốt nhất và rẻ nhất ”
- Theo H.Fayol (1841-1925), kỹ sƣ ngƣời Pháp - Ông quan niệm: “Quản lý
hành chính là kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”. Trong học
thuyết quản lý của mình H.Fayol đƣa ra 5 chức năng cần thiết của một nhà quản lý là:
Dự báo và lập kế hoạch; Tổ chức; Điều khiển; Phối hợp; Kiểm tra.

×