Tải bản đầy đủ (.doc) (31 trang)

Phân tích về vai trò chính phủ trong nền kinh tế thị trường, liên hệ thực tiễn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (262.62 KB, 31 trang )

MỞ ĐẦU
Cho đến những thập niên cuối thế kỷ XX, nền kinh tế thị trường theo
nghĩa đầy đủ chỉ có một phương án phát triển là trở thành nền kinh tế TBCN.
Theo C. Mác, kinh tế thị trường là một giai đoạn phát triển tất yếu của lịch sử
mà bất cứ nền kinh tế nào cũng phải trải qua để đạt tới nấc thang cao hơn trên
con đường phát triển và nền kinh tế TBCN chính là nền kinh tế thị trường phát
triển đến trình độ phổ biến và hoàn chỉnh. Còn nấc thang cao hơn chính là nền
kinh tế cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là nền kinh tế XHCN. Để chuyển
lên nấc thang này, nền kinh tế thị trường phải phát triển hết mức, phải trở thành
phổ biến trong đời sống kinh tế - xã hội.
Đây là một kết luận lý luận quan trọng. Nó khái quát quá trình phát triển
của lịch sử nhân loại, trong đó, kinh tế thị trường được xác định là một nấc
thang tất yếu, do đó, là mang tính phổ biến. Tính phổ biến của kinh tế thị trường
thể hiện ở cấu trúc khung chung cho mọi nền kinh tế thị trường.
Nền kinh tế thị trường từ trước đến nay nó tồn tại và phát triển chủ yếu
ở các nước tư bản, là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của CNTB.
CNTB đã biết sử dụng lợi thế của kinh tế thị trường để phục vụ cho mục tiêu
phát triển tiềm năng kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận và một cách khách quan
nổ lực rèn luyện LLSX của xã hội phát triển mạnh mẽ. Ngày nay, kinh tế thị
trường TBCN đã đạt tới giai đoạn phát triển cao và phồn thịnh trong các
nước tư tản phát triển.
Đối với đất nước ta từ Đại Hội VI của Đảng (năm 1986) đất nước ta thay
đổi định hướng, chuyển từ kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN. Để đạt được mục tiêu đã đề trong điều kiện kinh
tế thị trường hơn 10 năm qua, đất nước ta vượt qua bao khó khăn, thử thách
giành được nhiều thành tựu trên các lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó co lĩnh
vực kinh tế. Tuy nhiên trong các văn kiện của Đảng tại Đại Hội lần thứ VII, VIII
đã nêu lên những nguy cơ thách thức bởi vì sự nghiệp cách mạng XHCN ở nước
ta. Vì vậy, nền kinh tế thị trường của nước ta có trở thành hiện thực hay khẳng
định đó phụ thuộc vào vai trò lãnh đạo của Đảng và nhà nước, và đây là nhân
tố giúp phát triến triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN cũng như


là sự nghiệp phát triển nền kinh tế của đất nước. Ngày nay trong nền kinh tế
Học viên Nguyễn Đào Page 1
hiện đại, với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ khoa học kĩ thuật, nếu
không có sự can thiệp của nhà nước thì không giải quyết được các vấn đề rắc
rối của kinh tế đất nước. Vì thế kết hợp hài hòa của sự vận hành của nền kinh tế
thị trường và sự điều tiết của nhà nước là cần thiết và giải pháp mang lại sự
thành công trên con đường phát triển. Trong mối quan hệ đó, nhà nước giữ vai
trò tạo “hành lang” pháp lý và môi trường đầu tư.
Qua môn học Kinh tế học trong quản lý công, được sự hướng dẫn của giảng
viên và quá trình nghiên cứu tài liệu. Em xin trình bày tiểu luận cuối khóa của
môn học để làm rõ nội dung “Phân tích về vai trò Chính phủ trong nền kinh tế
thị trường, liên hệ thực tiễn”.
Học viên Nguyễn Đào Page 2
NỘI DUNG
I. Những lý luận về kinh tế thị trường theo định hướng XHCN
1. Chính phủ là gì?
Khái niệm chính phủ được hiểu rất khác nhau,tùy vào góc độ xem xét của
người nghiên cứu. Chẳng hạn, trong khoa học HCNN, CP được xem như bộ
máy hành pháp, là một trong ba nhánh chính quyền lực cơ bản của nhà nước( lập
pháp, hành pháp, tư pháp). Đối với góc nhìn của học môn học Kinh tế học trong
quản lý công, chúng ta chỉ xem xét vai trò điều tiết kinh tế của CP. Theo quan
điểm đó, “CP là một tổ chức được thiết lập để thực thi những quyền lực nhất
định, điều tiết hành vi của các cá nhân sống trong xã hội nhằm phục vụ cho lợi
ích chung của xã hội và tài trợ cho việc cung cấp những hàng hóa, dịch vụ thiết
yếu mà xã hội có nhu cầu”.
2. Kinh tế thị trường là gì ?
2.1 Định nghĩa: Kinh tế thị trường là nền kinh tế mà trong đó người mua
và người bán tác động với nhau theo quy luật cung cầu, giá trị để xác định giá
cả và số lượng hàng hoá, dịch vụ trên thị trường.
2.2 Đặc điểm :

- Nền kinh tế thị trường đang hình thành và phát triển :
 Kết cấu hạ tầng được đầu tư với mức độ ngày càng tăng.
 Cơ cấu kinh tế đang tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá.
 Chưa có thị trường theo đúng nghĩa của nó.
 Công cuộc đổi mới ở nước ta trong 20 năm qua đã đạt được những
thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử, đất nước đã ra khỏi khủng
hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện.
 Còn chịu ảnh hưởng lớn của mô hình kinh tế chỉ huy với cơ chế tập
trung quan liêu, bao cấp.
- Nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà
nước giữ vai trò chủ đạo:
 Các thành phần kinh tế tiến hành sản xuất hàng hóa tuy có bản chất
kinh tế khác nhau.
 Mỗi thành phần kinh tế chịu sự tác động của các quy luật kinh tế
riêng.
 Nhà nước ta phải sử dụng nhiều biện pháp để ngăn chặn và hạn chế
những khuynh hướng tự phát, những hiện tượng tiêu cực, hướng sự
Học viên Nguyễn Đào Page 3
phát triển của các thành phần kinh tế theo định hướng xã hội chủ
nghĩa.
- Nền kinh tế thị trường phát triển theo cơ cấu kinh tế "mở" :
 Cơ cấu kinh tế "mở" bắt nguồn từ sự phân bố không đều về tài
nguyên thiên nhiên và sự phát triển không đều về kinh tế, kỹ thuật
giữa các nước, đáp ứng yêu cầu quy luật phân công và hợp tác lao
động quốc tế. Vì vậy, trong thời đại ngày nay, mỗi quốc gia muốn
phát triển toàn diện cần phải tích cực mở rộng quan hệ kinh tế quốc
tế.
- Nền kinh tế thị trường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa với
sự quản lý vĩ mô của nhà nước :

 Đây là đặc điểm cơ bản nhất của kinh tế thị trường ở nước ta, làm
cho nền kinh tế thị trường ở nước ta khác với nền sản xuất hàng hóa
giản đơn trước đây, cũng như khác với nền kinh tế thị trường ở các
nước tư bản chủ nghĩa. Đặc điểm này cũng chính là mô hình kinh tế
khái quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Mô
hình kinh tế đó có những đặc trưng riêng, làm cho nó khác với kinh
tế thị trường ở các nước tư bản chủ nghĩa.
2.3 Ưu và nhược điểm của nền kinh tế thị trường.
a). Ưu điểm :
 Kinh tế thị trường luôn tạo ra cơ hội cho mọi người sáng tạo, luôn
tìm cách để cải tiến lối làm việc và rút ra những bài học kinh nghiệm
về thành công hay thất bại để phát triển không ngừng.
 Kinh tế thị trường tạo ra cơ chế đào tạo, tuyển chọn, sử dụng người
quản lý kinh doanh năng động, có hiệu quả và đào thải các nhà quản
lý kém hiệu quả.
 Kinh tế thị trường tạo ra môi trường kinh doanh tự do, dân chủ trong
kinh tế bảo vệ lợi ích người tiêu dùng.
b). Nhược điểm :
 Kinh tế thị trường chú trọng đến những nhu cầu có khả năng thanh
toán, không chú ý đến những nhu cầu cơ bản của xã hội.
 Kinh tế thị trường, đặt lợi nhuận lên hàng đầu , cái gì có lãi thì làm,
không có lãi thì thôi nên nó không giải quyết được cái gọi là “hàng
Học viên Nguyễn Đào Page 4
hoá công cộng” (đường xá, các công trình văn hoá, y tế và giáo dục,
môi trường sinh thái .v.v.)
 Trong nền kinh tế thị trường có sự phân biệt giàu nghèo rõ rệt: giàu
ít, nghèo nhiều, bất công xã hội.
3. Cơ chế thị trường là gì ? ( Tham khảo phần khác)
3.1. Định nghĩa: Cơ chế thị trường là cơ chế tự điều chỉnh nền kinh tế
hàng hoá dưới sự tác động khách quan của các quy luật kinh tế vốn có. Cơ chế

thị trường chính là một hình thức tổ chức kinh tế, trong đó những người tiêu
dùng và các sản xuất nhà kinh doanh tác động lẫn nhau qua thị trường để giải
quyết những vấn đề trung tâm của sản xuất xã hội.
3.2. Ưu và khuyết điểm của cơ chế thị trường :
a). Ưu điểm :
 Cơ chế thị trường có nhiều mặt tích cực đặc biệt là kích thích cải tiến
kỹ thuật tăng NSLĐ tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hoá đa dạng
dồi dào phong phú chất lượng tốt giá thành hạ, đáp ứng nhu cầu đa
dạng của xã hội và thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh chóng nhng
cơ chế thị trường cũng không ít những mặt khuyết tật.
b). Khuyết điểm :
 Cơ chế thị trường không thể tránh khỏi khủng hoảng, thất nghiệp lạm
phát.
 Cơ chế thị trường nhiều mục đích lợi nhuận do đó thường khai thác
bừa bãi kiệt quệ tài nguyên làm tăng thêm sự ô nhiễm môi trường mà
các doanh nghiệp phải trả tiền cho sự ô nhiễm đó.
 Cơ chế thị trường tạo ra sự giả dối gian trá trong kinh doanh tạo sự
bất bình đẳng cạnh tranh không lành mạnh và phân hoá xã hội. Vì
những khuyế tật đó do đó kinh tế thị trường phải có sự điều tiết quản
lý của Nhà nước.
 Kinh tế thị trường là nền kinh tế vận động theo các quy luật của thị
trường, trong đó quy luật giá trị đóng vai trò chi phối và được biểu
hiện bằng quan hệ cung cầu trên thị trường.
 Phân phối thu nhập không công bằng.
4. Kinh tế thị trường định hướng XHCN :
Học viên Nguyễn Đào Page 5
4.1 Vì sao Việt Nam lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa?
- Như mọi người đã biết, kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế phản
ảnh trình độ phát triển nhất định của văn minh nhân loại. Từ trước đến nay nó

tồn tại và phát triển chủ yếu dưới chủ nghĩa tư bản, là nhân tố quyết định sự tồn
tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa tư bản đã biết lợi dụng tối đa
ưu thế của kinh tế thị trường để phục vụ cho mục tiêu phát triển tiềm năng kinh
doanh, tìm kiếm lợi nhuận, và một cách khách quan nó thúc đẩy lực lượng sản
xuất của xã hội phát triển mạnh mẽ. Ngày nay, kinh tế thị trường tư bản chủ
nghĩa đã đạt tới giai đoạn phát triển khá cao và phồn thịnh trong các nước tư bản
phát triển.Tuy nhiên, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa không phải là vạn năng.
Bên cạnh mặt tích cực nó còn có mặt trái, có khuyết tật: tính bất công và bất ổn
của xã hội, đào sâu thêm hố ngăn cách giữa người giàu và người nghèo. Chính
vì thế mà, như C. Mác đã phân tích và dự báo, chủ nghĩa tư bản tất yếu phải
nhường chỗ cho một phương thức sản xuất và chế độ mới văn minh hơn, nhân
đạo hơn. Chủ nghĩa tư bản mặc dù đã và đang tìm mọi cách để tự điều chỉnh, tự
thích nghi bằng cách phát triển “nền kinh tế thị trường hiện đại”, “nền kinh tế thị
trường xã hội”, tạo ra “chủ nghĩa tư bản xã hội”, “chủ nghĩa tư bản nhân dân”,
“nhà nước phúc lợi chung”…, tức là phải có sự can thiệp trực tiếp của nhà nước
và cũng phải chăm lo vấn đề xã hội nhiều hơn, nhưng do mâu thuẫn từ trong bản
chất của nó, chủ nghĩa tư bản không thể tự giải quyết được, có chăng nó chỉ tạm
thời xoa dịu được chừng nào mâu thuẫn mà thôi. Nền kinh tế thị trường tư bản
chủ nghĩa hiện đại đang ngày càng thể hiện xu hướng tự phủ định và tự tiến hóa
để chuẩn bị chuyển sang giai đoạn hậu công nghiệp, theo xu hướng xã hội hóa.
Đây là tất yếu khách quan, là quy luật phát triển của xã hội. Nhân loại muốn tiến
lên, xã hội muốn phát triển thì dứt khoát không thể dừng lại ở kinh tế thị trường
tư bản chủ nghĩa.
- Mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Xô-viết là một kiểu tổ chức xã hội, tổ chức
kinh tế muốn sớm khắc phục những khuyết tật của chủ nghĩa tư bản, muốn
nhanh chóng xây dựng một chế độ xã hội tốt đẹp hơn, một phương thức sản xuất
văn minh, hiện đại hơn chủ nghĩa tư bản. Đó là một ý tưởng tốt đẹp, và trên thực
tế suốt hơn 70 năm tồn tại, chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô đã đạt được
nhiều thành tựu vĩ đại, làm thay đổi hẳn bộ mặt của đất nước và đời sống của
nhân dân Liên Xô. Nhưng có lẽ do nôn nóng, làm trái quy luật (muốn xóa bỏ

Học viên Nguyễn Đào Page 6
ngay kinh tế hàng hóa, áp dụng ngay cơ chế kinh tế phi thị trường), không năng
động, kịp thời điều chỉnh khi cần thiết cho nên rút cuộc đã không thành công.
- Việt Nam là một nước nghèo, kinh tế – kỹ thuật lạc hậu, trình độ xã hội
còn thấp, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Đi lên chủ nghĩa xã hội là mục tiêu
lý tưởng của những người cộng sản và nhân dân Việt Nam, là khát vọng ngàn
đời thiêng liêng của cả dân tộc Việt Nam. Nhưng đi lên chủ nghĩa xã hội bằng
cách nào ? Đó là câu hỏi lớn và cực kỳ hệ trọng, muốn trả lời thật không đơn
giản. Suốt một thời gian dài, Việt Nam, cũng như nhiều nước khác, đã áp dụng
mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Xô-viết, mô hình kinh tế kế hoạch tập trung
mang tính bao cấp. Mô hình này đã thu được những kết quả quan trọng, nhất là
đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ đất nước có chiến tranh. Nhưng về sau mô
hình này bộc lộ những khuyết điểm và trong công tác chỉ đạo cũng phạm phải
một số sai lầm mà nguyên nhân sâu xa của những sai lầm đó là bệnh giáo điều,
chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động đơn giản, nóng vội, không tôn
trọng quy luật khách quan, nhận thức về chủ nghĩa xã hội không đúng với thực
tế Việt Nam.
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn hơn và đầy đủ hơn về chủ nghĩa xã hội và
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đại hội VI của Đảng Cộng sản
Việt Nam (tháng 12-1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước nhằm
thực hiện có hiệu quả hơn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đại hội đưa ra
những quan niệm mới về con đường, phương pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội,
đặc biệt là quan niệm về công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ,
về cơ cấu kinh tế, thừa nhận sự tồn tại khách quan của sản xuất hàng hóa và thị
trường, phê phán triệt để cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, và khẳng định
chuyển hẳn sang hạch toán kinh doanh.
Đại hội chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với những hình
thức kinh doanh phù hợp, coi trọng việc kết hợp lợi ích cá nhân, tập thể và xã
hội, chăm lo toàn diện và phát huy nhân tố con người, có nhận thức mới về
chính sách xã hội.

Đại hội VI là một cột mốc đánh dấu bước chuyển quan trọng trong nhận
thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đó là kết quả của cả một quá trình tìm tòi, thử nghiệm,
suy tư, đấu tranh tư tưởng rất gian khổ, kết tinh trí tuệ và công sức của toàn
Đảng, toàn dân trong nhiều năm.
Học viên Nguyễn Đào Page 7
Hội nghị Trung ương 6 (tháng 3-1989), khóa VI, phát triển thêm một bước,
đưa ra quan điểm phát triển nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch gồm nhiều thành
phần đi lên chủ nghĩa xã hội, coi “chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý
nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã
hội”.
Đến Đại hội VII (tháng 6-1991), Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục nói rõ
hơn chủ trương này và khẳng định đây là chủ trương chiến lược, là con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng khẳng định: “Phát triển nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”. Đại hội VIII của Đảng (tháng 6-
1996) đưa ra một kết luận mới rất quan trọng: “Sản xuất hàng hóa không đối lập
với chủ nghĩa xã hội mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn
tại khách quan cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ
nghĩa xã hội đã được xây dựng”. Nhưng lúc đó cũng mới nói nền kinh tế hàng
hóa, cơ chế thị trường, chưa dùng khái niệm “kinh tế thị trường”. Phải đến Đại
hội IX của Đảng (tháng 4-2001) mới chính thức đưa ra khái niệm “kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đại hội khẳng định: Phát triển kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đường lối chiến lược nhất quán, là mô
hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam. Đây là kết quả sau nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi, tổng kết thực tiễn và là
bước phát triển mới về tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam.
4.2 Bản chất, đặc trưng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam:

Lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không
phải là sự gán ghép chủ quan giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội, mà là
sự nắm bắt và vận dụng xu thế vận động khách quan của kinh tế thị trường trong
thời đại ngày nay.
Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở nhận thức tính quy luật phát triển của
thời đại và sự khái quát, đúc rút từ kinh nghiệm phát triển kinh tế thị trường thế
giới, đặc biệt là từ thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và ở Trung
Quốc, để đưa ra chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, nhằm sử dụng kinh tế thị trường để thực hiện mục tiêu từng bước quá
độ lên chủ nghĩa xã hội.
Học viên Nguyễn Đào Page 8
Chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự
tiếp thu có chọn lọc thành tựu của văn minh nhân loại, phát huy vai trò tích cực
của kinh tế thị trường trong việc thúc đẩy phát triển sức sản xuất, xã hội hóa lao
động, cải tiến kỹ thuật – công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra nhiều
của cải, góp phần làm giàu cho xã hội và cải thiện đời sống nhân dân. Đồng thời
phải có những biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế mặt tiêu cực của kinh tế thị
trường, như chạy theo lợi nhuận đơn thuần, cạnh tranh khốc liệt, bóc lột và phân
hóa giàu nghèo quá đáng, ít quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội. Đây cũng là
sự lựa chọn tự giác con đường và mô hình phát triển trên cơ sở quán triệt lý
luận Mác – Lê-nin, nắm bắt đúng quy luật khách quan và vận dụng sáng tạo vào
điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: Kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo
những quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi
phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba
mặt: sở hữu, tổ chức quản lý, và phân phối.
Nói cách khác, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chính là nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân

chủ, văn minh.
Mục đích của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển
lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của
chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Phát triển lực lượng sản xuất hiện
đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới, tiên tiến.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà
nước. Nhà nước xã hội chủ nghĩa quản lý nền kinh tế bằng chiến lược, quy
hoạch, kế hoạch, chính sách, pháp luật, và bằng cả sức mạnh vật chất của lực
lượng kinh tế nhà nước. Đồng thời sử dụng cơ chế thị trường, áp dụng các hình
thức kinh tế và phương pháp quản lý của kinh tế thị trường để kích thích sản
xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế và khắc phục mặt
tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động, của toàn
thể nhân dân.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện phân phối chủ
yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức
đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thông qua
Học viên Nguyễn Đào Page 9
phúc lợi xã hội. Tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng
xã hội ngay trong từng bước phát triển.
Tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa và giáo dục, xây dựng nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nâng cao dân trí, giáo dục
và đào tạo con người, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực của đất nước.
Lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không
phải đơn giản là sự trở về với phương thức chuyển nền kinh tế nông nghiệp sang
nền kinh tế công nghiệp, mà điều quan trọng có ý nghĩa quyết định là phải
chuyển sang nền kinh tế hiện đại, văn minh nhằm mục tiêu từng bước đi lên chủ
nghĩa xã hội. Đây là sự lựa chọn phù hợp với các quy luật phát triển và các điều
kiện lịch sử cụ thể của thời đại và của những nước đi sau, cho phép các nước
này giảm thiểu được những đau khổ và rút ngắn được con đường đi của mình tới
chủ nghĩa xã hội trên cơ sở sử dụng được ưu thế cũng như hạn chế được những

khuyết điểm của hai cơ chế: kế hoạch và thị trường.
Nói cách khác, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là kiểu tổ
chức kinh tế đặc biệt, vừa tuân theo những nguyên tắc và quy luật của hệ thống
kinh tế thị trường, vừa bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa. Chính tính
chất, đặc trưng cơ bản này chi phối và quyết định phương tiện, công cụ, động
lực của nền kinh tế và con đường đạt tới mục tiêu, là sử dụng kinh tế thị trường,
nâng cao hiệu lực và hiệu quả điều tiết của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, phát
triển khoa học và công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, mở cửa và hội nhập
nhằm thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển rút ngắn để
trong khoảng thời gian không dài có thể khắc phục tình trạng lạc hậu, đưa Việt
Nam trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
II. Vai trò của Chính Phủ trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
1. Tính tất yếu khách quan về vai trò của Chính Phủ trong nền kinh tế
thị trường
1.1. Sự cần thiết phải chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước trong nền kinh tế
Thực tiễn vận động của nền kinh tế thế giới những năm gần đây cho thấy,
mô hình phát triển kinh tế theo xu hướng thị trường có sự điều tiết vĩ mô từ
trung tâm, trong bối cảnh của thời đại ngày nay, là mô hình hợp lý hơn cả.
Ở nước ta, việc thực hiện mô hình này, trong thực tế, chẳng những là nội
dung của công cuộc đổi mới, mà hơn thế, còn là công cụ, là phương thức để đi
tới mục tiêu chủ nghĩa xã hội.
Học viên Nguyễn Đào Page 10
Nền kinh tế nước ta hiện đang ở giai đoạn quá độ, chuyển tiếp từ nền kinh
tế tập trung, hành chính - bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Do vậy, thực chất
của giai đoạn quá độ trong nền kinh tế nước ta, đương nhiên là một vấn đề đặc
biệt có ý nghĩa, rất cần phải được nghiên cứu, xem xét: Nhận thức được thực
chất của bước chuyển này, chi phối được nó, chúng ta sẽ tính được những sai
lầm chủ quan, nóng vội duy ý chí hoặc khuynh hướng cực đoan, máy móc, sao
chép, "nhập ngoại" các mô hình kinh tế thị trường ngoại lai một cách máy móc.

Đúng như ý kiến của một số nhà nghiên cứu lý luận, thực chất của bước
chuyển đó trước hết là ở sự đổi mới các quan hệ sở hữu. Nếu như trước đây, nền
kinh tế nước ta chỉ có một kiều sở hữu tương đối thuần nhất với hai hình thức
tập thể và Nhà nước, thì hiện nay, cùng với hình thức sở hữu chủ đạo là sở hữu
Nhà nước, nền kinh tế nước ta còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác. Những
hình thức sở hữu đó, trong thực tiễn vận hành của nền kinh tế, không hẳn đã
đồng bộ với nhau. Song về tổng thể, chúng là những bộ phận khách quan của
nền kinh tế, có khả năng đáp ứng những đòi hỏi đa dạng và năng động của kinh
tế thị trường.
Điều có ý nghĩa đối với việc xác định đặc điểm của nền kinh tế quá độ ở
nước ta hiện nay có lẽ vẫn là sự thừa nhận xu hướng chủ yếu trong sự vận động
của nó: tiếp tục đổi mới và hoạt động có hiệu quả kinh tế Nhà nước để kinh tế
nhà nước thực sự giữ vai trò chủ đạo, làm đòn bẩy thúc đẩy và điều chỉnh các
hoạt động của toàn bộ nền kinh tế đề trên cơ sở đó, giải quyết các vấn đề xã hội
ngay ở tầng vĩ mô sao cho tăng trưởng kinh tế không trở nên mâu thuẫn gay gắt
với trật tự bình thường của đời sống xã hội.
Đảng ta không coi cơ chế thị trường là liều thuốc vạn năng và vì vậy không
khuyến khích phát triển nó về mọi phương diện. Bởi lẽ, việc tuyệt đối hoá vai
trò của kinh tế thị trường sẽ rơi vào một sai lầm nguy hiểm từ phía khác. Kinh tế
thị trường tuy có nhiều điểm mạnh nhưng bản thân nó vốn có những giới hạn,
những khuyết tật mang tính tự phát hết sức bướng bỉnh. Hơn thế nứa, quan hệ
thị trường còn là môi trường thuận lợi để phát sinh nhiều tiêu cực và tệ nạn xã
hội.
Thực tiễn 15 năm tiến hành công cuộc đổi mới vừa qua cho thấy, bên cạnh
tác động tích cực là cơ bản, những tác động tiêu cực do mặt trái của kinh tế thị
trường gây ra cũng hết sức nghiêm trọng, đặc biệt trên phương diện tư tưởng,
đạo đức, lối sống. Chúng ta mới áp đụng cơ chế thị trường chưa được bao nhiêu,
song bên cạnh những thành tựu, chúng ta đã phải trả giá không nhỏ cho những
Học viên Nguyễn Đào Page 11
hiện tượng tiêu cực, như do cách làm ăn thuần tuý chạy theo lợi nhuận đã dẫn

đen các hình thức lừa đảo hối lộ, trốn thuế, nợ nần khó trả, do thương mại hoá
một cách tràn lan, xâm nhập cả vào các lĩnh vực dễ thương tổn như y tế, giáo
dục, văn hoá đã làm cho các giá trị đạo đức, tinh thần bị băng hoại và xuống
cấp, đồng tiền đã chi phối nhiều quan hệ giữa người với người, sự phân hoá giàu
nghèo và bất công xã hội có chiều hướng tăng lên, lối sống ích kỷ, thực dụng có
nguy cơ ngày càng tăng
Bởi vậy, Đảng ta chỉ rõ: vận dụng các hình thức và phương pháp quản lý
nền kinh tế thị trường là để sử dụng mặt tích cực của nó phục vụ mục đích xây
dựng chủ nghĩa xã hội chứ không đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.
Kinh tế thị trường có những mặt tiêu cực mâu thuẫn với bản chất của chủ
nghĩa xã hội. Đó là xu thế phân hoá giàu nghèo quá mức, là tâm lý sùng bái
đồng tiền, vì đồng tiền mà chà đạp lên đạo đức, nhân phẩm Đi vào kinh tế thị
trường phải kiên quyết đấu tranh khắc phục, hạn chế tôi đa nhưng khuynh hướng
tiêu cực đó.
Cần thiết phải lưu ý rằng, khác với cơ chế hành chính - bao cấp, cơ chế thị
trường với các quy luật khách quan của nó, thường biểu hiện ra như là một cơ
chế tự phát hơn, tự nhiên hơn và nằm xa sự chi phối của con người hơn. Bởi
vậy, trong nền kinh tế nước ta hiện nay, việc nắm được các yếu tố tự giác và tự
phát của nền kinh tế hiểu được phương thức hoặc tìm ra được phương pháp
kiểm soát thích hợp là điều hết sức có ý nghĩa.
Thực tế những năm đổi mới vừa qua chứng tỏ rằng, trong một số quá trình
kinh tế xã hội nhất định, chúng ta đã thực sự làm chủ được những tác động tự
giác cũng như những tác động tự phát của kinh tế thị trường. Tuy nhiên, bên
cạnh đó cũng có quá nhiều hiện tượng và quá trình mà chúng ta còn buông lỏng
sự kiểm soát hoặc chưa thực sự có khả năng kiểm soát sự vận động của chúng.
Trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, việc chúng ta
bước đầu sử dụng thị trường như là một công cụ, một phương thức để đảm bảo
tăng trưởng kinh tế, trên thực tế, đã đem lại những kết quả tích cực cả về
phương diện thực tiễn lẫn phương diện nhận thức.
Thực tiễn 15 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước đã cho chúng ta

thấy, sản xuất hàng hoá cùng với nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ
chế thị trường không đối lập với chủ nghĩa xã hội, rằng nền kinh tế của thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội phải là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa. Là sản phẩm của nền văn minh nhân loại, là cơ hội để các cộng đồng mở
Học viên Nguyễn Đào Page 12
cửa, tiếp xúc với bên ngoài, kinh tế thị trường rõ ràng là xu thế phát triển khách
quan và tất yếu đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Tuy nhiên, nhận ra sức mạnh của cơ chế thị trường bao nhiêu, chúng ta
cũng hiểu rõ hơn bấy nhiêu mặt trái của nó đối với sự vận động của đời sống xã
hội. Sự tăng trưởng kinh tế đương nhiên là một mục tiêu của phát triển xã hội,
nó có khả năng tạo ra điều kiện để giải quyết các vấn đề xã hội. Nhưng tăng
trưởng kinh tế không nhất thiết đi liền với tiến bộ xã hội. Do vậy, trong quan
niệm của Đảng ta, để thực hiện sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội với mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chú, văn minh, thì kinh tế thị
trường nhất thiết phải có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa.
Tại hội thảo khoa học về kinh tế thị trường, Hội đồng lý luận Trung ương
nhận định rằng: "Chúng ta đã chuyển một bước quan trọng sang kinh tế thị
trường, nhưng chưa kết thúc bước chuyển đó. Do vậy, còn đan xen nhưng yếu tố
của nền kinh tế chuyển đổi. Những yếu tố của nền kinh tế thị trường văn minh
còn ít hơn là những yếu tố sơ khai".
1.2. Tính tất yếu của vai trò Nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở
nước ta
Trước kia, với quan điểm “Bàn tay vô hình” và nguyên lý “ Nhà nước
không can thiệp” vào nền kinh tế, A.Smith(1723-1790) cho rằng phát triển kinh
tế cần tuân theo nguyên tắc tự do, sự hoạt động của nền kinh tế là do qui luật
khách quan tự phát phân phối.
Thị trường vận động là do quan hệ cung cầu … Song trên thực tế cho thấy
rằng : nền kinh tế muốn phát triển nhanh đòi hỏi đất nước phải có cơ sở hạ tầng
hiện đại. Người ta thấy rằng : nền kinh tế phát triển càng cao, xã hội hoá mở

rộng, càng cần có sự quản lý của Nhà nước.
Vào đầu những năm 30 của thế kỉ XX, tình trạng khủng hoảng kinh tế xảy
ra liên tục. Quan điểm “ Bàn tay nhà nước” ra đời, theo Keynes và trường phái
của ông thì sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế sẽ khắc phục khủng
hoảng, thất nghiệp, tạo ra sự ổn định kinh tế. Nhưng những chấn động lớn trong
nền kinh tế, khủng hoảng, thất nghiệp vẫn xảy ra. Dẫn đến xuất hiện tư tưởng
phối hợp “Bàn tay vô hình” và “Bàn tay nhà nước”. Và các nhà kinh tế đã thừa
nhận : nền kinh tế hiện đại muốn phát triển phải dựa vào cơ chế thị trường và sự
quản lý của Nhà nước.
Trong hoàn cảnh của nước ta: Nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai
đoạn tư bản chủ nghĩa – giai đoạn tạo ra cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, do
Học viên Nguyễn Đào Page 13
đó trình độ phát triển lực lượng sản xuất của nước ta còn thấp và lạc hậu cho sự
phát triển. Tình trạng này dẫn đến khuynh hướng tư bản chủ nghĩa là điều không
tránh khỏi, do đó Nhà nước cần phải vững mạnh về mọi phương diện để huy
động mọi tiềm năng cho sản xuất, phát triển khoa học, tiến bộ xã hội. Kèm theo
sự lạc hậu về kĩ thuật, nước ta còn phải trải qua một loạt các bước quá độ với
tính chất phức tạp của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, cần phải có một Nhà
nước không những có quyết tâm, trung thành với con đường giải phóng nhân
dân lao động mà còn phải có kiến thức đầy đủ để xác định những mục tiêu, biện
pháp thích hợp với từng bước quá độ.
Bối cảnh lịch sử thế giới trong giai đoạn hiện nay cũng đặt ra nhiều thách
thức to lớn. Điều kiện quốc tế hoá nền kinh tế thế giới mở ra cho chúng ta những
cơ hội về vốn, kĩ thuật và kinh nghiệm quản lý để phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tuy nhiên đây cũng chính là con đường mà
những thế lực thù địch có dã tâm lợi dụng để chống lại công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội của ta.
Vì vậy, nếu không có một Nhà nước vững mạnh và có tài trí thì khả năng
mất độc lập tự chủ và bị lệ thuộc dưới những hình thức mới có thể trở thành hiện
thực.

Quá trình phát triển của nước ta từ khi giải phóng đến nay đã cho thấy nước
ta tất yếu phải phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo
cơ chế thị trường và mở cửa ra bên ngoài. Nền kinh tế này đã thể hiện những
mặt mạnh không thể phủ nhận của mình nhưng không phải lúc nào nó cũng
thống nhất với những yêu cầu mang tính định hướng của chủ nghĩa xã hội, thậm
chí đối lập với những định hướng ấy.
Hai khả năng phát triển chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội đều tồn tại
khách quan. Vai trò Nhà nước ta ở đây là phải giải quyết thành công mâu
thuẫn giữa hai con đường, giành thắng lợi cho con đường xã hội chủ nghĩa
trên lĩnh vực kinh tế, giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia, đưa nền kinh tế
phát triển nhanh và bền vững.
Tóm lại, trong nền kinh tế thị trường, mọi Nhà nước dù thuộc chế độ chính
trị nào cũng đều phải can thiệp, quản lý nền kinh tế ấy trong một giới hạn nhất
định. Đây là vai trò có tính tất yếu khách quan của Nhà nước, nó gắn với những
nhiệm vụ mới mẻ và khó khăn phát sinh trong từng giai đoạn phát triển của chủ
nghĩa xã hội của nước ta.
2. Vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế thị trường
2.1. Các mục tiêu của nhà nước trong nền kinh tế thị trường
Học viên Nguyễn Đào Page 14
Trong ảnh hưởng nền kinh tế nước ta hiện nay từ nền kinh tế kế hoạch hoá
tập trung chuyển sang nền kinh tế thị trường có định hướng XHCN phải trải qua
nhiều giai đoạn và không ít khó khăn. Để đạt được tới đích cuối cùng thì ta phải
ra phương hướng và mục tiêu cụ thể.
- Đó là đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định, không gặp phải những
biến động xấu, tốc độ tăng trưởng nhanh, tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm từ 9
- 10%. Đưa đất nước cơ bản thoát khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu tạo đà
mạnh mẽ cho bước phát triển mới vào những năm đầu thế kỷ XXI. Tránh những
cuộc khủng hoảng thiếu hoặc thừa, lạm phát, duy trì mức lạm phát ở mức một
con số. Đồng thời tạo việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở
thành phố xuống 5%. Để đạt được những điều đó, Nhà nước phải chú trọng :

thúc đẩy nhanh chóng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý và năng động. Ổn
định kinh tế vĩ mô, tích luỹ từ nội bộ kinh tế kìm hãm lạm phát, tích cực huy
động các nguồn vốn và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn. Tăng nhanh xuất
khẩu, giảm nhập siêu và đảm bảo các quan hệ kinh tế quốc tế. Tạo lập những
điều kiện vững chắc về nhân lực, tài chính và cơ sở vật chất kỹ thuật.
- Nhà nước phải đảm bảo hiệu quả kinh tế xã hội. Nhà nước sữa chữa
những khiếm khuyết của thị trường để thị trường hoạt động có hiệu quả như :
hạn chế ảnh hưởng của độc quyền, tình trạng vô chính phủ dẫn đến khủng
hoảng kinh tế, thất nghiệp, ô nhiễm môi trường cụ thể đối với các tổ chức độc
quyền, lợi dụng ưu thế của mình có thể quy định giá cả để thu lợi nhuận và do
đó phá vỡ ưu thế cạnh tranh hoàn hảo. Vì vậy cần có sự can thiệp của Nhà nước
để hạn chế độc quyền, đảm bảo tình trạng hiệu quả của cạnh tranh thị trường.
Còn đối với những hoạt động tiêu cực bên ngoài cũng dẫn đến không hiệu quả
của hoạt động thị trường như ô nhiễm nguôn nước và không khí, khai thác đến
cạn kiệt tài nguyên khoáng sản và đòi hỏi Nhà nước phải can thiệp. Vì vậy Nhà
nước phải sử dụng đến luật pháp để ngăn chặn những tác động tiêu cực đó.
- Cùng với các mục tiêu trên thì Nhà còn có mục tiêu quan trọng khác để
giúp cho nền kinh tế phát triển lành mạnh đó là giải quyết những vấn đề nảy
sinh trong quá trình phát triển kinh tế. Như đã nói cơ chế thị trường là cơ chế tốt
nhất để điều tiết một nền kinh tế có hiệu quả, tuy nhiên cơ chế thị trường có
một loạt những khuyết tật vì vậy ở nước ta nền kinh tế do cơ chế thị trường điều
tiết phải có sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế nhằm sửa chữa những thất bại
Học viên Nguyễn Đào Page 15
của thị trường đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định, hiệu quả và đạt được
công bằng xã hội.
Ở nước ta, để đạt được các mục tiêu đó thì không phải là việc nói mà làm
ngay được, mà nó là cả một quá trình. Quá trình đó không chỉ đòi hỏi không có
sự can thiệp của Nhà nước mà nó còn đòi hỏi sự nỗ lực của các tổ chức, các
doanh nghiệp và của mỗi thành viên trong xã hội. Vì mục đích cuối cùng không

chỉ có lợi cho Nhà nước, cho nền kinh tế mà còn có lợi cho mỗi gia đình, mỗi
thành viên trong xã hội.
2.2. Vai trò và chức năng của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở
nước ta
a). Vai trò của Nhà nước :
Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một trong
những vấn đề căn bản của triết lý phát triển ở Việt Nam hiện nay. Không phải
đến khi khủng hoảng tiền tệ xuất phát từ Mỹ năm 2008 gây ảnh hưởng lan tỏa ra
hầu khắp thế giới như hiện nay, cùng những giải pháp cơ bản mà các nước đang
sử dụng với hy vọng ngăn ngừa những kết cục bi thảm về mặt kinh tế - xã hội do
khủng hoảng đó gây ra, chúng ta mới thấy tính phi lý của cái gọi là “thị trường
tự do”, “bàn tay vô hình”. Từ rất sớm, chúng ta đã khẳng định, nền kinh tế mà
chúng ta đang xây dựng phải có sự quản lý của Nhà nước. Kiên trì tư tưởng đó,
tại Đại hội X, Đảng ta nhấn mạnh sự cần thiết phải “bảo đảm vai trò quản lý,
điều tiết nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”.
Ở Việt Nam hiện nay, vai trò của Nhà nước đối với kinh tế không chỉ xuất
phát từ yêu cầu phổ biến của quá trình phát triển kinh tế thị trường, mà còn xuất
phát từ tính đặc thù của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bài
viết này chỉ tập trung vào khía cạnh thứ hai vừa nêu.
Thị trường, kinh tế thị trường là một kiểu quan hệ giữa người với người
trong sản xuất, trao đổi và tiêu dùng, nên mang đậm dấu ấn của quan hệ xã hội,
của thể chế chính trị mà nền kinh tế đó tồn tại. Với mức độ đáng kể, sự phát
triển kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay bị chi phối và nhằm phục vụ cho
định hướng xã hội chủ nghĩa. Đương nhiên, nhân tố sâu xa bảo đảm định hướng
chính trị đối với kinh tế là đường lối, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng
Cộng sản cầm quyền. Song, để đường lối, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng
biến thành hiện thực vận động của nền kinh tế, chúng phải được thể chế hóa
thành hệ thống pháp luật, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và
được triển khai bằng Nhà nước, thông qua Nhà nước, dưới sự quản lý của Nhà
Học viên Nguyễn Đào Page 16

nước do Đảng lãnh đạo. Xét từ giác độ đó, Nhà nước có tác động trực tiếp nhất
tới việc định hướng sự vận động của kinh tế thị trường. Pháp luật, chương trình,
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước chỉ đúng, khi chúng phản ánh
chính xác yêu cầu phát triển khách quan của thị trường, lấy quy luật thị trường
làm cơ sở. Xét ở mặt này, chúng mang tính khách quan. Nhưng chúng lại là sự
thể chế hóa, cụ thể hóa mục tiêu chính trị của Đảng, nên cũng có mặt chủ quan.
Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
định hướng chủ quan (ý chí của Đảng, của Nhà nước và nhân dân ta) là ở chỗ,
cùng với việc bảo đảm lợi ích hợp lý của doanh nhân, thì việc ưu tiên bảo vệ lợi
ích hợp pháp, chính đáng của người lao động là một vấn đề có tính nguyên tắc.
Nhà nước có cơ chế, chính sách để bảo đảm sự ưu tiên đó, thể hiện ở cả ba lĩnh
vực kinh tế cơ bản sau:
- Trên lĩnh vực sở hữu: Sự tồn tại của ba chế độ sở hữu (sở hữu toàn dân,
sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân), ba hình thức sở hữu (hình thức sở hữu nhà
nước, hình thức sở hữu tập thể, hình thức sở hữu tư nhân) là một đòi hỏi khách
quan của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay. Nhà nước thông qua hệ
thống chính sách, pháp luật, đòn bẩy kinh tế để định hướng, làm cho kinh tế nhà
nước từng bước vươn lên nắm vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng kinh tế tập
thể tạo thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân.
- Trên lĩnh vực quản lý: Nhà nước xây dựng cơ chế, chính sách tạo điều
kiện thuận lợi cho người lao động trực tiếp hay thông qua các khâu trung gian
nhất định tham gia quá trình hoạch định, tổ chức, giám sát, kiểm tra việc thực
hiện các kế hoạch phát triển của doanh nghiệp.
- Trên lĩnh vực phân phối: Nhà nước vừa thông qua hệ thống chính sách
kinh tế do mình hoạch định, vừa sử dụng các nguồn lực - trực tiếp là bộ phận
kinh tế nhà nước - để định hướng, can thiệp vào lĩnh vực phân phối và phân phối
lại theo hướng ưu tiên phân phối theo lao động và qua phúc lợi xã hội; kết hợp
tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội; hoạch định các chính sách
xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa
Đặc biệt, trong sự phát triển kinh tế thị trường ở nước ta, Nhà nước

có vai trò to lớn trong việc bảo đảm sự ổn định vĩ mô cho phát triển và tăng
trưởng kinh tế. “ổn định” ở đây thể hiện sự cân đối, hài hòa các quan hệ nhu cầu,
Học viên Nguyễn Đào Page 17
lợi ích giữa người và người, tạo ra sự đồng thuận xã hội trong hành động vì mục
tiêu phát triển của đất nước. Tính đúng đắn, hợp lý và kịp thời của việc hoạch
định và năng lực tổ chức thực hiện các chính sách phát triển vĩ mô do Nhà nước
đảm nhiệm là điều kiện tiên quyết nhất hình thành sự đồng thuận đó. Là những
công cụ tạo ra sự đồng thuận xã hội, từ đó mà có ổn định xã hội cho phát triển
và tăng trưởng kinh tế, các chính sách, pháp luật của Nhà nước, một mặt, phải
phản ánh đúng những nhu cầu chung của xã hội, của mọi chủ thể kinh tế ; mặt
khác, phải tôn trọng tính đa dạng về nhu cầu, lợi ích cụ thể của các chủ thể đó.
Nhà nước ta cũng có vai trò to lớn trong việc bảo đảm gia tăng phúc lợi
xã hội, bởi mục tiêu căn bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam là góp phần thực hiện “dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh”. Có chính sách xã hội hợp lý; bảo đảm phúc lợi ngày
một gia tăng nhờ hiệu quả tác động của chính sách kinh tế tiến bộ do Nhà nước
hoạch định và tổ chức thực hiện bằng những nỗ lực của nhiều chủ thể kinh tế
khác nhau là nhân tố có vai trò quyết định trong vấn đề này.
Công bằng xã hội là một động lực của sự phát triển xã hội nói chung, của
sự phát triển và tăng trưởng kinh tế bền vững nói riêng. Một trong những mục
tiêu của quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
mà Nhà nước hướng tới là xóa bỏ tình trạng vi phạm công bằng xã hội. Đây là
một nhiệm vụ lâu dài. Ở nước ta hiện nay, công bằng xã hội trên lĩnh vực kinh tế
được biểu hiện không chỉ ở chỗ lao động ngang nhau thì được hưởng thụ ngang
nhau, mà còn ở chỗ cống hiến - đóng góp cả về vật chất lẫn tinh thần trong quá
khứ cũng như trong hiện tại - ngang nhau cho sự phát triển đất nước thì được
hưởng ngang nhau. Từ đó, việc bảo đảm yêu cầu thực hiện tiến bộ, công bằng xã
hội được thể hiện đầy đủ ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển
kinh tế là một nhiệm vụ cơ bản của Nhà nước ta trong việc thực hiện chức năng
phát triển, tăng trưởng kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội

chủ nghĩa.
Nhà nước chủ động tham gia kinh tế thị trường nhằm bảo hộ cho hình
thức tổ chức sản xuất chứa đựng các yếu tố của quan hệ sản xuất xã hội chủ
nghĩa và tạo điều kiện cho chúng phát huy ưu thế của mình; tạo vị thế cho kinh
tế nhà nước có sức mạnh định hướng xây dựng mô hình kinh tế cho phép giải
phóng con người; ngăn chặn các xu hướng phát triển kinh tế không có lợi cho
quảng đại người lao động.
Học viên Nguyễn Đào Page 18
Để thực hiện các mục tiêu đó, điều quan trọng nhất là Nhà nước tạo lập
khung khổ pháp lý cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra hiệu quả. Chỉ duy
nhất nhà nước có được chức năng này. Hệ chuẩn pháp luật kinh tế của nhà nước
càng được xây dựng đồng bộ, đúng đắn, nhất quán và kịp thời bao nhiêu, càng
có tác động tích cực tới sự vận hành của nền kinh tế bấy nhiêu. Song, tự nó,
pháp luật kinh tế không gây ra những biến đổi trong hiện thực kinh tế. Để cho
các luật kinh tế trở thành tác nhân kích thích phát triển kinh tế, chúng phải được
đưa vào vận hành. Nhà nước chính là thiết chế chủ yếu đảm đương nhiệm vụ
này. Năng lực điều hành kinh tế bằng pháp luật là một thước đo đánh giá sự
trưởng thành và vai trò của nhà nước trong kinh tế.
Vai trò của nhà nước đối với sự phát triển kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa cũng thể hiện ở việc nhà nước góp phần đắc lực vào việc tạo
môi trường cho thị trường phát triển, như tạo lập kết cấu hạ tầng kinh tế cho sản
xuất, lưu thông hàng hóa; tạo lập sự phân công lao động theo ngành, nghề, vùng
kinh tế qua việc nhà nước tiến hành quy hoạch phát triển kinh tế theo lợi thế
từng vùng, ngành và nhu cầu chung của xã hội Là chủ thể trực tiếp sở hữu
hoặc quản lý, khai thác những cơ quan truyền thông mạnh nhất của quốc gia,
nhà nước góp phần cung cấp thông tin thị trường cho các chủ thể kinh tế để các
chủ thể này chủ động lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh, đối tác kinh tế,
thời điểm thực hiện các giao dịch kinh tế, cách thức sản xuất kinh doanh có hiệu
quả nhất trong điều kiện cụ thể của mình
Muốn sản xuất phải có an toàn về môi trường xã hội, môi trường kinh

doanh, môi trường an ninh - trật tự, an toàn trong quan hệ giữa người và người,
giữa doanh nghiệp và các cơ quan công quyền Ngoài những nỗ lực của nhà
nước trong sự đồng tình của nhân dân, không lực lượng nào khác có thể tạo lập
được những yêu cầu an toàn như vậy.
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, sự giao lưu kinh tế, hội nhập kinh tế
quốc tế của mọi quốc gia chỉ có hiệu quả cao, khi có tác nhân khởi thủy từ phía
nhà nước, được hỗ trợ đắc lực từ phía nhà nước. Bằng chính sách hội nhập đúng
đắn và năng lực tổ chức thực hiện có hiệu quả chính sách đó, nhà nước góp phần
khởi đầu và có tác động tích cực vào quá trình thiết lập quan hệ quốc tế. Đại
diện cho đất nước tham gia vào các quá trình soạn thảo và thông qua chuẩn mực
luật pháp kinh tế, các hiệp định kinh tế, các nghị định thư , Nhà nước ta góp
phần tạo cho chủ thể kinh tế của đất nước vị trí có lợi trong quan hệ kinh tế quốc
Học viên Nguyễn Đào Page 19
tế. Sự kiện đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thành công
là chứng minh rõ rệt cho điều này.
Nhà nước ta là chủ thể chính của nền giáo dục - đào tạo. Bằng hệ thống
chính sách giáo dục, đào tạo của mình, được thực hiện qua hệ thống giáo dục -
đào tạo do Nhà nước thống nhất quản lý, dù tồn tại dưới nhiều loại hình khác
nhau (công lập, ngoài công lập, liên doanh, liên kết trong nước và với nước
ngoài ), Nhà nước cung cấp nguồn lao động chính, có chất lượng cho sản xuất
kinh doanh, cung cấp cán bộ quản trị doanh nghiệp cho mọi thành phần, mọi
loại hình kinh tế. Qua đó, Nhà nước ta có tác động rất mạnh và trực tiếp tới việc
nâng cao năng lực sản xuất, nâng cao hiệu quả quản lý nền kinh tế, nâng cao
hiệu quả của kinh tế thị trường nói chung.
Cùng với tác động của hệ thống luật kinh tế và sự đầu tư trực tiếp vào
kinh tế, Nhà nước còn định hướng nền kinh tế qua các công cụ gián tiếp là chính
sách kinh tế, như chính sách tài chính - tiền tệ, chính sách đầu tư, chính sách thu
nhập và việc làm
Việc nhấn mạnh vai trò của Nhà nước trong việc định hướng sự phát
triển của nền kinh tế thị trường ở nước ta không mâu thuẫn với vấn đề có tính

nguyên tắc: sự vận hành của nền kinh tế thị trường nào cũng trước hết và chủ
yếu do các quy luật thị trường quyết định. Song, quy luật kinh tế thị trường lại
thuộc lĩnh vực quy luật xã hội. Tính khách quan của nó được thể hiện và thực
hiện thông qua hoạt động có ý thức của con người. Dựa trên việc nhận thức
đúng đắn những yêu cầu của các quy luật trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước
cụ thể hóa những yêu cầu đó thành luật, chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội, xác định đúng bước đi để hiện thực hóa chúng. Đây là nhân tố có tác
động trực tiếp thúc đẩy nền kinh tế thị trường vận động phù hợp với quy luật nội
tại của nó. Ở đây có sự thống nhất giữa khách quan và chủ quan. Song, sự thống
nhất đó chỉ có được, khi lợi ích chân chính mà nhà nước theo đuổi phù hợp với
quy luật phát triển khách quan của xã hội nói chung, của kinh tế thị trường nói
riêng; chủ thể nhà nước có năng lực trí tuệ đủ tầm để nắm bắt, vận dụng yêu cầu
của các quy luật kinh tế vào việc hoạch định các chính sách phát triển. Trong
điều kiện cụ thể ở Việt Nam hiện nay, xét về bản chất, Nhà nước ta là nhà nước
của dân, do dân, vì dân, lấy lợi ích của dân tộc đáp ứng đúng nhu cầu phát triển
khách quan của xã hội làm mục tiêu hoạt động của mình. Nhà nước ta lấy hệ tư
tưởng cách mạng và khoa học (chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh)
làm một trong những cơ sở xuất phát quan trọng để hoạch định chiến lược phát
Học viên Nguyễn Đào Page 20
triển kinh tế. Đó là hai nhân tố bảo đảm có sự thống nhất giữa tính khách quan
của quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và việc
phát huy vai trò của nhà nước xã hội chủ nghĩa với tư cách là một nhân tố chủ
quan tác động tích cực tới sự phát triển của nền kinh tế đó.
Thực tiễn phát triển nền kinh tế thị trường hơn 20 năm đổi mới cho thấy,
Nhà nước ta đã có nhiều tác động tích cực trong việc bảo đảm định hướng xã hội
chủ nghĩa trong quá trình phát triển nền kinh tế này. Việc từng bước hoàn thiện
hệ thống chính sách về chế độ sở hữu và cơ cấu thành phần kinh tế đã góp phần
thúc đẩy chuyển dịch theo hướng tạo động lực và điều kiện thuận lợi hơn cho
khai thác các tiềm năng trong và ngoài nước để phát triển kinh tế- xã hội. Nhờ
đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế, nhìn chung, không ngừng được nâng cao: thời kỳ

1986 - 1990, tăng trưởng GDP bình quân đạt 4,5%/năm; 1996 - 2000: 7%/năm;
2001 - 2005: 7,5%/năm; năm 2007 đạt 8,48%. Năm 2008, dù phải đối mặt với
không ít khó khăn, nhưng Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng GDP là 6,23%.
Để góp phần giữ vững độc lập tự chủ trong phát triển kinh tế, từ đó có
độc lập tự chủ trên con đường phát triển đất nước nói chung, Nhà nước đã có
nhiều chính sách phát huy vai trò các nhân tố nội lực, coi trọng tích lũy từ nội bộ
nền kinh tế. Trong năng lực nội sinh, chúng ta coi trọng trước hết nhân tố con
người. Do vậy, Nhà nước đã có nhiều chính sách về giáo dục - đào tạo để nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực. Số lao động tốt nghiệp phổ thông trung học từ
13,5% năm 1996 tăng lên 19,7% năm 2005. Năm 1996 mới có 12,31% lực
lượng lao động được đào tạo, đến nay, tỷ lệ này đạt 31%. Về nỗ lực nâng cao
tích lũy từ nội bộ nền kinh tế: năm 1990, tỷ lệ tích lũy so với GDP mới đạt
2,9%, năm 2004 là 35,15% và những năm gần đây đều có xu hướng tăng lên
Nhà nước cũng có nhiều chính sách khai thác ngoại lực, biến ngoại lực
thành nội lực cho sự phát triển. Biểu hiện rõ nhất là Nhà nước đã hoàn thiện
Luật Đầu tư, thu hút được nhiều vốn ODA, FDI, Từ năm 1988 đến hết năm
2006, có hơn 8.000 dự án đầu tư FDI với tổng vốn đăng ký 74 tỉ USD. Năm
2006, khu vực FDI đóng góp gần 30% cho tăng trưởng kinh tế; xuất khẩu của
khu vực này chiếm khoảng 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước; cung
cấp việc làm cho khoảng 50 vạn người và việc làm gián tiếp cho 2,5 triệu người;
đào tạo được 8.000 cán bộ quản lý, 30.000 cán bộ kỹ thuật. Năm 2007, nguồn
vốn ODA từ các nước, các tổ chức tài chính quốc tế cấp cho Việt Nam đạt hơn
40 tỉ USD, trong đó, 80% là nguồn vốn vay ưu đãi. Năm 2008, dù kinh tế thế
Học viên Nguyễn Đào Page 21
giới suy thoái, nhưng nguồn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam lại tăng kỷ lục:
vốn đăng ký 64 tỉ USD, trong đó các dự án mới chiếm 60,2 tỉ USD.
Một tiêu chí quan trọng đánh giá tính định hướng xã hội chủ nghĩa của
nền kinh tế là hướng sự phát triển của nó vào việc nâng cao đời sống của nhân
dân. Nhìn lại hơn 20 năm đổi mới, thu nhập của nhân dân đã có bước cải thiện
đáng kể. Năm 1995, GDP bình quân đầu người mới đạt 289 USD; năm 2005:

639 USD; năm 2007: 835 USD. Năm 2008, GDP bình quân theo đầu người đã
đạt trên 1.000 USD. Với mức thu nhập này, Việt Nam vượt qua ngưỡng nước
thu nhập thấp(2)
Vai trò của Nhà nước ta đối với kinh tế càng bộc lộ rõ nét trong ban
hành, thực thi các chính sách khắc phục tình trạng suy giảm kinh tế gần đây.
Trên cơ sở tiên định những diễn biến xấu có thể xảy ra, Nhà nước đã đưa ra 8
nhóm giải pháp cấp bách, và bằng việc tổ chức thực hiện có hiệu quả các giải
pháp đó, Nhà nước đã góp phần tích cực vào việc kiềm chế lạm phát, chỉ số giá
tiêu dùng không ngừng giảm: tháng 9-2008 tăng 0,18%, tháng 10 giảm 0,19%,
tháng 11 giảm 0,76%, tháng 12 giảm 0,68%. Kinh tế vĩ mô ổn định: thu chi ngân
sách được cân đối; tổng thu ngân sách nhà nước vượt mức dự toán cả năm, tăng
26,3% so với năm 2007. Kim ngạch xuất khẩu đạt 62,9 tỉ USD, vượt kế hoạch
đề ra; kim ngạch nhập khẩu đạt 80,4 tỉ USD, tăng 28% so với năm 2007. Những
thành tựu này có vai trò to lớn trong việc giữ vững ổn định xã hội, tạo môi
trường thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế.
Tuy nhiên, việc phát huy vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay cũng
còn những hạn chế đáng kể: thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa còn chưa được xây dựng đồng bộ, vận hành suôn sẻ; quản lý nhà nước về
kinh tế còn nhiều bất cập; chưa có giải pháp mang tầm đột phá để kinh tế nhà
nước thực sự hoàn thành tốt chức năng chủ đạo trong nền kinh tế; kinh tế tập thể
còn rất yếu kém; năng lực cạnh tranh của nền kinh tế thấp; chưa giải quyết tốt
mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường
Để nâng cao hơn nữa hiệu quả, hiệu lực tác động của Nhà nước tới phát
triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay,
Nhà nước cần sớm hoàn thiện thể chế của nền kinh tế thị trường, đặc biệt là
hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu. Hệ thống luật này phải khẳng định và
bảo vệ sự tồn tại khách quan, lâu dài tính đa dạng của các hình thức sở hữu; bảo
vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu. Cần xác định rõ, nhiệm vụ
Học viên Nguyễn Đào Page 22

quan trọng hàng đầu của Nhà nước ta là cung cấp môi trường pháp lý tin cậy cho
các chủ thể kinh tế phát huy tối đa năng lực của họ.
Cùng với vấn đề then chốt trên, cần tiếp tục phân định rạch ròi chức năng
quản lý hành chính nhà nước đối với kinh tế và quản lý sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp; Nhà nước cần làm tốt chức năng hỗ trợ cho toàn xã hội sản xuất
hàng hóa công cũng như tư; đặc biệt là kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội
Để nâng cao năng lực của bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế, cần cải
cách thể chế xây dựng chính sách, tích cực đấu tranh chống các hành vi độc
đoán, chuyên quyền, tệ quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước.
Việc giải quyết có hiệu quả những vấn đề vừa có tính cấp bách, vừa có tính
lâu dài đó sẽ nâng cao hơn nữa hiệu quả tác động của Nhà nước tới sự phát
triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập toàn cầu hiện nay.
b). Chức năng của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường :
Như đã phân tích ở trên, nền kinh tế thị trường cần phải có sự quản lý của
Nhà nước nhằm đảm bảo cho nền kinh tế phát triển bền vững. Tuy nhiên với
những mục tiêu khác nhau, chức năng kinh tế của Nhà nước xã hội chủ nghĩa
cũng khác với các Nhà nước khác. Các chức năng này về cơ bản gồm có:
1). Nhà nước đảm bảo sự ổn định về chính trị, kinh tế, xã hội và thiết lập
khuôn khổ luật pháp để tạo điều kiện cần thiết cho các hoạt động kinh tế vì ổn
định chính trị, xã hội là điều kiện cần thiết để phát triển kinh tế. Nó bao gồm quy
định về tài sản, hoạt động thị trường, quy định chi tiết cho các hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp, các trách nhiệm tương hỗ của các liên đoàn lao động
và ban quản lý và nhiều luật lệ để xác định môi trường kinh tế. Về nhiều mặt,
các quyết định của khuôn khổ pháp luật xuất phát từ những mối quan hệ vượt ra
ngoài lĩnh vực kinh tế đơn thuần. Các luật lệ đưa ra nhằm đáp ứng những giá trị
và quan điểm được đồng tình rộng rãi về sự công bằng hơn là qua một sự phân
tích kinh tế được mài dũa rất cẩn thận về chi phí và lợi lộc. Ngoài ra khuôn khổ
pháp luật có thể tác động sâu sắc tới hành vi của các chủ thể và điều chỉnh
hành vi kinh tế của họ.

2). Nhà nước định hướng cho sự phát triển toàn bộ nền kinh tế và thực hiện
điều tiết các hoạt động kinh tế để đảm bảo cho nền kinh tế thị trường tăng
trưởng ổn định. Để thực hiện được chức năng này Nhà nước không chỉ xây dựng
các chiến lược và quy hoạch phát triển mà còn phải trực tiếp tham gia vào một
số lĩnh vực để dẫn dắt nền kinh tế – xã hội đáp ứng yêu cầu phát triển. Ngoài ra
các chính sách tài chính và tiền tệ để ổn định môi trường kinh tế vĩ mô là hết sức
Học viên Nguyễn Đào Page 23
quan trọng nhằm tránh được những chấn động bởi các cuộc khủng hoảng kinh tế
và lạm phát.
3). Nhà nước đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động có hiệu quả, các doanh
nghiệp vì lợi ích cá nhân, chạy theo lợi nhuận có thể lạm dụng tài nguyên, tàn
phá môi trường, tác động tới đời sống của con người. Vì vậy, Nhà nước phải
thực hiện những tác động bên ngoài để nâng cao hiệu quả kinh tế – xã hội. Sự
xuất hiện các tổ chức độc quyền trong nền kinh tế được coi là khuyết tật của cơ
chế thị trường, đòi hỏi Nhà nước có nhiệm vụ bảo vệ cạnh tranh, chống độc
quyền để tăng tính hiệu quả của mô hình kinh tế này.
4). Nhà nước cần hạn chế các mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, thực hiện
công bằng xã hội. Sự tác động của cơ chế thị trường đem lại hiệu quả kinh tế
cao, nhưng không tể tự động mang lại những giá trị mà xã hội mong muốn và cố
gắng vươn tới, không thể tự động đưa lại sự phân phối công bằng. Vai trò của
Nhà nước trong chức năng này là việc thực hiện phân phối thu nhập quốc dân
hợp lý, gắn mục tiêu kinh tế với mục tiêu xã hội, nâng cao đời sống của nhân
dân. Công cụ sử dụng chủ yếu là thuế, ngoài ra còn có hệ thống hỗ trợ thu nhập
cho người già, người tàn tật, người không có công ăn việc làm nhằm tạo ra mạng
lưới an toàn bảo vệ những người không may khỏi bị huỷ hoại về kinh tế. Điều
này đã được chỉ rõ trong đặc điểm của nền kinh tế thị trường ở nước ta.
5). Chức năng cuối cùng được đề cập tới là việc tăng cường quản lý, bảo vệ
tài sản công, kiểm kê, kiểm soát và hướng dẫn toàn bộ các hoạt động kinh tế –
xã hội đi vào quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội. Chỉ khi hoàn thành tốt chức năng
này chúng ta mới có một nền kinh tế độc lập, hiệu quả, một nền kinh tế xã hội

đúng nghĩa. Trải qua hơn 20 năm đổi mới, Nhà nước một mặt đã thực hiện tốt
các chức năng của mình, đạt được các mục tiêu của việc quản lý kinh tế vĩ mô,
mặt khác còn những mặt hạn chế phải được tiếp tục giải quyết là:
oNền kinh tế tuy đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao nhưng còn chưa
vững chắc. Tỷ lệ thất nghiệp còn cao, khả năng chủ động kiềm chế lạm phát
chưa bảo đảm, bội chi ngân sách còn đáng kể, nợ nước ngoài còn lớn so với
khả năng xuất khẩu. Mức tiết kiệm và đầu tư chưa cao, huy động nguồn vốn
trong nước còn hạn chế và sử dụng còn lãng phí.
oMức tích luỹ và đầu tư trong nước còn thấp, chỉ chiếm gần 20% GDP.
Trong những năm gần đây tỉ lệ này đã được cải thiện đáng kể nhưng vẫn thấp
hơn nhiều các nước trong khu vực. Điều đáng chú ý ở đây là hơn 25% đầu tư
của Việt Nam là từ nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài, phần khác là tín dụng và
Học viên Nguyễn Đào Page 24
các khoản viện trợ không hoàn lại. Thực trạng này cho thấy tình hình thu nhập
rất thấp của Việt Nam và nguồn vốn tích lũy trong nước còn hạn chế.
oVai trò của doanh nghiệp Nhà nước còn yếu, tuy đạt khoảng 40% tổng
giá trị sản lượng công nghiệp nhưng vấn đề hiệu quả đối với các doanh nghiệp
này còn khá nặng nề. Nguyên nhân một phần là do sự trì trệ trong quản lý của
các doanh nghiệp Nhà nước trong thời kì bao cấp, sự lúng túng khi chuyển sang
kinh tế thị trường đầy tính cạnh tranh, hình thức và chất lượng sản phẩm giờ là
công việc sống còn của các doanh nghiệp khiến các doanh nghiệp Nhà nước bị
mất đi tính định hướng trong nền kinh tế.
oHệ thống kế hoạch, hệ thống tài chính, ngân hàng là những công cụ chủ
đạo của Nhà nước trong quản lý vĩ mô nền kinh tế đã được đổi mới nhưng còn
chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu. Trong những năm đổi mới, một hệ thống
ngân hàng hai cấp đã được áp dụng, hoạt động khá hiệu quả trong việc cung
cấp dịch vụ và thương mại, tuy nhiên còn nhiều yếu kém. Hệ thống thanh toán
chậm, tình trạng khan hiếm tiền mặt còn phổ biến, các tổ chức tài chính địa
phương có nhu cầu tín dụng cao hơn rất nhiều so với số vốn hiện có, do đó việc
mở rộng mạng lưới dịch vụ còn hạn chế.

oCải cách hành chính còn chậm, bộ máy cồng kềnh, năng lực còn yếu kém,
quản lý chồng chéo, thủ tục phiền hà, luật pháp còn thiếu và chưa đồng bộ, các
loại hình sở hữu chưa thực sự được quy định rõ ràng. Nhà nước qua quá trình
hoạt động đã nhận thức được mặt hạn chế, đang từng bước khắc phục nhằm
đưa đất nước phát triển theo những mục tiêu đề ra về một nền dân chủ thực sự.
III. Thực trang và giải pháp của Chính Phủ nhằm nâng cao hiệu quả
quản lý nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
1. Thực trạng nền kinh tế thị trường của nước ta hiện nay
Nhà nước kiểu mới ở nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân ra đời từ
sau cách mạng Tháng Tám (1945), đã quản lý kinh tế - xã hội qua các thời kỳ
bảo vệ và xây dựng đất nước. Trong công cuộc đổi mới, Nhà nước ta đã phát
huy vai trò, trách nhiệm trong quản lý kinh tế - xã hội, tiến hành đổi mới quản lý
kinh tế nhưng vẫn giữ vững ổn định chính trị - xã hội, đảm bảo tăng trưởng kinh
tế khá, đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng; đã đổi mới cơ chế, chính sách quản lý
kinh tế và điều hành, xử lý các tình huống hết sức phức tạp có kết quả tốt.
Nhà nước cũng đã đổi mới hệ thống kinh tế nhà nước, đổi mới hệ thống tổ
chức bộ máy nhà nước, đổi mới và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý
Học viên Nguyễn Đào Page 25

×