Tải bản đầy đủ (.doc) (11 trang)

chuyên đề lịch sử đảng cộng sản việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (111.87 KB, 11 trang )

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP
MÔN CHUYÊN ĐỀ LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM II
Câu 1: Vì sao Nguyễn Ái Quốc và Đảng ta lựa chọn con đường XHCN cho dân tộc Việt
Nam.
- Nguồn gốc: từ quá trình tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh
- Lý do: Năm 1858 Việt Nam bị thực dân Pháp xâm lược, từ 1 nước phong kiến chuyển sang
thuộc địa nửa phong kiến. Cùng với đó là sự thất bại của những khuynh hướng chính trị
phong kiến và tư sản trong phong trào dân tộc Việt Nam, khẳng định con đường giải phóng
dân tộc dưới ngọn cờ tư tưởng phong kiến và tư sản không thành công và phù hợp với xu thế
của thời đại nữa. Lịch sử đặt ra yêu cầu cấp thiết: phải tìm ra 1 con đường cứu nước mới.
- Sự tìm tòi: Nguyễn Ái Quốc ra đi chỉ với mục đích tìm ra con đường cứu nước mới cho
dân tộc, Người tìm hiểu và nghiên cứu tất cả các xu hướng cách mạng khác nhau trên thế
giới xem nó có phù hợp với Việt Nam không.
+ Cách mạng thánh 10 Nga thành công. Đối với nướ Nga thì đó là cuộc cách mạng vô sản,
nhưng đối với các dân tộc thuộc địa trong đế quốc Nga thì đó còn là 1 cuộc cách mạng giải
phóng dân tộc. Vì nhờ đó mà các đan tộc trong đế quốc Nga được độc lập, có quyền tự
quyết.
+ Với thắng lợi đó chủ nghĩa Mác – Lênin từ 1 học thuyết khoa học trở thành hiện thực và
được truyền bá rộng rãi khắp nơi, dẫn đến sự ra đời của 1 loạt các đẳng cộng sản: Đức,
Hunggari(1918), Mỹ 1919, Anh, Pháp 1920, Trung Quốc 1921… Cùng với đó là sự thành
lập Quốc tế cộng sản 3/1919. Tại hội nghị II 1920 “sơ thảo lần thứ nhất những vấn đề dân
tộc thuộc địa” của Lênin được công bố. Luận cương nổi tiếng này đã chỉ ra phương hướng
đấu tranh giải phóng các dân tộc bị áp bức.
+ Tiếp cận với chủ nghĩa Mác – Lênin và đặc biệt là khi đọc “luận cương lần thứ nhất về vấn
đề dân tộc thuộc địa”, Người rất vui mừng và khẳng định “đây là cái mà chúng ta đang
cần”,”con đường giải phong cho chúng ta”. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “muốn cứu nước và giải
phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Như vậy, từ đây
cách mạng Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô sản và chấm dứt thời kỳ khủng hoảng
về đường lối cách mạng ở Việt Nam
- Sự vận dụng: Thực chất đó là sự vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện thực tế
của nước ta lúc bấy giờ. Hồ Chí Minh đã xây dựng nên 1 học thuyết về giải phóng và phát


triển dân tộc theo phương hướng xã hội chủ nghĩa.
+ Sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam năm 1930 là kết quả của sự sàng lọc nghiêm khắc
của lịch sử dân tộc dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin. Là sản phẩm của sự kết hợp
chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phong trào công nhân và phong trào yêu
nước của Việt Nam. Đảng ra đời làm cho con đường cách mạng nước ta đi theo cách mạng
vô sản trở lên rõ ràng hơn
+ Đảng ra đời đã lãnh đạo cách mạng đi theo con đường mà Hồ Chí Minh đã chọn. Cương
lĩnh chính trị đầu tiên đã khẳng định phương hướng, chiến lược của cách mạng Việt Nam là:
làm tư sản cách mạng dân quyền và thổ địa cách mạng để đi tới cộng sản chủ nghĩa, quá
trình đó gồm 3 giai đoạn liên tiếp nhau.
+ Luận cương chính trị của Đảng cộng sản đông dương cũng xác định tính chất của cách
mạng đông dương lúc này là: cách mạng tư sản dân quyền, có tính chất thổ địa và phản đế.
Con đường cách mạng Việt Nam là bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa mà tiến
thẳng lên cộng sản chủ nghĩa.
+ Tuy nhiên trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền 1930 – 1945, cũng như trong những
năm 1945 – 1949 của cuộc kháng chiến chống thực dân pháp, Đảng chưa thể tập trung trí tuệ
để xây dựng đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa. Năm 1950, trong quá trình chuẩn bị Đại
hội Đảng lần thứ II, vấn đề này mới được đặt ra.
- Kết luận: Sự lựa chọn là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tiễn của xã hội
Việt Nam và xu thế phát triển của thế giới. Đồng thời khẳng định tài năng, sự thông minh,
tài thao lược, sự sáng tạo, luôn đi theo cái mới của Hồ Chí Minh.
Câu 2: Quan niệm của Đảng ta về 3 giai đoạn chiến lược trong quá trình phát triển từ 1
xã hội thuộc địa lên xã hội chủ nghĩa.
- 3 giai đoạn chiến lược trong quá trình phát triển từ 1 xã hội thuộc địa lên chủ nghã xã hội
được đưa ra tại đại hội lần thứ II của Đảng 2/1951. Khẳng định con đường cách mạng Việt
Nam là chủ nghĩa xã hội, ngoài ra không có con đường nào khác, đó là con đương từ 1 nước
thuộc địa nửa phong kiến tiến lên chủ nghĩa xã hội. Và muốn tiến lên tới chủ nghĩa xã hội,
nước ta phải trải qua 3 giai đoạn chiến lược sau:
+ Giai đoạn 1: tiêu diệt đế quốc xâm lược, giải phóng dân tộc, củng cố Nhà nước dân chủ
nhân dân.

Trong điều kiện cách mạng của nước ta là phải đánh đổ đế quốc xâm lược và phong kiến là
1 chiến lược, nằm trong giai đoạn này.
Đây là nhiệm vụ mạng tính tiên quyết, chỉ hoàn thành nhiệm vụ của giai đoạn này thì mới
có thể thực hiện được những giai đoạn tiếp theo.
Tính chất của giai đoạn này rất khó khăn, sự hy sinh cả vật chất lẫn tính mạng, bởi ta
đương đầu với những lực lượng mạnh mẽ và áp đảo.
+ Giai đoạn 2: xóa bỏ những di tích phong kiến và nửa thuộc địa, triệt để thực hiện khẩu
hiệu “người cày có ruộng”, hoàn chỉnh chế độ dân chủ nhân dân.
Sau khi có được chính quyền trong tay, có nghĩa là giai đoạn 1 đã hoàn thành thì mới tiếp
tục được thực hiện giai đoạn 2 này
Thực chất giai đoạn này là giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa, trong đó ta thực hiên chủ
nghĩa xã hội, cải tạo xã hội cũ giữ lại những cái tiến bộ và thủ tiêu những cái lac hậu đi
ngược lại mục tiêu của cách mạng.
Tính chất của gia đoạn này rất phức tạp bởi phá bỏ những cái tồn tại lâu đời trong xã hội là
việc hoàn toàn khó khăn, nhất là khi chính quyền cách mạng mới giành được con non trẻ.
+ Giai đoạn 3: làm xong nhiệm vụ dân chủ nhân dân, gây đầy đủ điều kiện để tiến lên chủ
nghĩa xã hội.
Đó là giai đoạn xây dựng cơ sở chủ nghĩa xã hội, chuẩn bị điều kiện để tiwwns lên thực
hiện chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa. Giai đoạn này không phải hoàn toàn là giai đoạn của cách
mạng xã hội chủ nghĩa, mà chính là 1 quá trình trong đó cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân Việt Nam hoàn thành và chuyển biến thành cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Nhiệm vụ trọng tâm của Đảng là đẩy mạnh việc kỹ nghệ hóa, phát triển kỹ nghệ năng, phát
triển thật rộng bộ phận kinh tế nhà nước, tập thể hóa nông nghiệp dần dần, thực hiện những
kế hoạch dài hạn để gây them và củng cố cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội, tiến lên chủ
nghãi xã hội.
Những bước cụ thể của giai đoạn này phải tùy theo điều kiện cụ thể của tình hình trong
nước và ngoài nước khi đó mà quyết định. Song điều chắc chắn là ta phải hoàn thành xong
giai đoạn này thì mới có thể di lên chủ nghĩa xã hội được
Nước ta là nước nông nghiệp, kỹ nghệ không phát triển. Muốn mau phát triển kỹ nghệ thì
tất yếu phải khuyến khích tư sản dân tộc kinh doanh và giúp đỡ tư bản tư nhân phát triển

trong 1 thời gian khá lâu. Đồng thời phải kiểm soát và tiết chế họ, đưa họ vào phát triển theo
hướng tư bản nhà nước. Không thể nói đến cải tạo xã hội, xóa bỏ mọi hình thức bóc lột ngay
- Kết luận: Sự phân tích trên chứng minh nguyên nhân khiến ta phải trải qua 3 giai đoạn mới
đạt tới chủ nghĩa xã hội đươc. Thuyết 1 giai đoạn là hoàn toàn không có căn cứ, thậm chí lại
nguy hiểm nữ.
Chính cương đảng lao động Việt Nam đã xác định nhiệm vụ trung tâm của từng gia đoạn
đó là: - 1: hoàn thành giải phóng dân tộc
- 2: xóa bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, thực hiện triệt để người cày
có ruộng, phát triển kỹ nghệ, hoàn chỉnh chế độ dân chủ nhân dân
- 3: xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội, tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã hội
=> Ba giai đoạn này không tách rời nhau mà mật thiết liên hệ với nhau
Câu 3: Quan niệm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam của Đảng ta, trong Đại hội IX và Đại hội X.
- Các hội nghị Ban chấp hành trung ương khóa VII dã cụ thể hóa cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ qua độ lên chủ nghĩa xã hội để chỉ đạo thự tiễn, Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ IX của Đảng đã bổ sung 1 số vấn đề về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam
+ Về mục tiêu lý tưởng của Đảng: Khẳng định cương lĩnh là ngọn cờ chiến đấu và thắng lợi
của sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, định
hướn cho mọi hoạt động của Đảng. Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước theo
con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Đại hội bổ sung them cụm từ “dân chủ” vào mục tiêu phấn đấu của nhân dân ta:”độc lập
dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh. Việc thêm cụm từ đó vào mục tiêu được phản ánh đầy đủ hơn, rõ ràng hơn nhân thức
về vấy đề dân chủ, 1 vấn đề lớn thuộc bản chất của chủ nghĩa xã hội.
+ Về nền tảng tư tưởng của Đảng: Đại hội IX nói rõ nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí
Minh: là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt
Nam, là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện hoàn cảnh
thực tế nước ta.
Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người: về độc

lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh đan tộc với sức mạnh thời đại,
về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc, về quyền làm chủ của nhân dân,
về đạo đức cách mạng, về xây dựng Đảng trong sạch…
Việc khẳng định lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng,
kim chỉ nam cho mọi hành động là bước phát triển quan trọng trong nhận thwucs và tư duy
lý luận của Đảng
+ Về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội: Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội nước ta là sự
phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác
lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng
tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa,
đặc biệt là khoa học công nghệ để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế
hiện đại
Đó là quá trình khó khăn phức tạp, cho nên phải trải qua 1 thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều
chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ. Cùng với đò là sự
tồn tại nhiều hình thức sở hữu tư kiệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế, giai cấp, tầng lớp
xã hội khác nhau.
+ Về mô hình kinh tế tổng quát: Đò là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Mục đích: Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất
phù hợp trên cả 3 mặt sở hữu, quản lý và phân phối.
Đó là nền kinh tế có sự quản lý của của nhà nước bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch, chính sách; thực hiện phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế; thực
hiện tăng trưởng kinh tế gắn liền với đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội
Điều đó thể hiện tư duy của Đảng về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và trình độ của lực
lượng sản xuất. Và là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội
+ Về chế độ sở hữu và các thành phần kinh tế: Có 5 thành phần kinh tế: nhà nước, tập thể, tư
bản nhà nước, cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân. Chủ trương tạo điều kiện cho kinh tế có
vốn đầu tư nước ngoài phát triển thuận lợi, hướng vào xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng
kinh tê, xã hội gắn với thu hú công nghệ hiện đại, tạo thêm việc làm. Cải thiện môi trường
kinh tế và pháp lý để thu hút mạnh vốn đầu tư nước ngoài.

+ Về đấu tranh giai cấp và động lực phát triển đất nước:
Mối quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội lá mối quan hệ hợp tác đấu tranh nội bộ
nhân dân, đoàn kết hợp tcs lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc dưới sự lãnh
đạo của Đảng. Nội dung chủ yếu của đấu tranh giai cấp là thục hiện thăng lợi sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng
nước nghéo, kém phát triển, thực hiện công bằng xã hội, chống áp bức bất công, đấu tranh
ngăn chặn và khắc phục những tư tưởng và hành động sai trái, đấu tranh chống mọi âm mưu
và hành động chống phá của các thế lực thù địch bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng nước ta
thành 1 nước xã hội phồn vinh, nhân dân hạn phúc
Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết trên cơ sở liên minh công – nông –
trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể và xã hội,
phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội
+ Về xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế: Gắn liền
biện chứng với tự chủ về chính trị, tạo ra sức mạnh tổng hợp đảm bảo quyền độc lập tự chủ
trên mọi mặt của đất nước. Chủ trương chủ động hội nhập kinh tế và nhấn mạnh nguyên tắc
cơ bản, bao trùm là giữ vững độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, đảm bảo vững
chắc an ninh tổ quốc.
- Qua 20 năm đổi mới 1986 – 2000, nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội của Đảng ngày càng sáng tỏ hơn, hệ thống lý luận về công cuộc đổi mới, về chủ
nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã được hình thành trên
những nét cơ bản. Đại hội Đảng lần thứ X đã tổng kết, bổ sung và hoàn chỉnh them 1 bước
nhận thức về những vấn đề:
+ Về đặc trưng chủ yếu của chủ nghĩa xã hội:
1- Xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.
2- Do nhân dân lao động làm chủ.
3- Có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất
phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
4- Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
5- Con người được giải phóng khỏi áp bức, bắt công, có cuộc sống ấm no, tự do hạn phúc,
phát triển toàn diện

6- Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và cùng nhau
tiến bộ.
7- Có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới
sự lãnh đạo của Đảng
8- Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới
+ Về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội: những quá trình cơ bản cần phải thực hiện là:
1- Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: Nắm vững
định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường; nâng cao vai trò quản lý của
nhà nước; phát triển đồng bộ các loại thị trường cơ bản theo hướng cạnh tranh lành
mạnh; phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình sản xuất kinh doanh. Đại hội xác
đinh nước ta có 5 thành phần kinh tế: nhà nước, tập thể, tư nhân, tư bản nhà nước, có
vốn đầu tư nước ngoài; và 3 chế độ sở hữu: toàn dân, tập thể và tư nhân.
2- Đảm bảo vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia: Nhấn mạnh yêu cầu cần xây dựng
quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh toàn diện, kết hợp phát triển kinh
tế - xã hội với tăng cường sức mạnh quốc phòng an ninh; xây dựng quân đội, công an
ngày càng chính quy, tinh nhuệ, từng buwocs hiện đại
3- Mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế: đưa các
quan hệ quốc tế đi vào chiều sâu và ổn định, bền vững; Sẵn sàng đối thoại với các
nước, các tổ chức quốc tế và khu vực về vấn đề nhân quyền và quyền con người. Đẩy
mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn các thể chế kinh tế
toàn cầu, khu vưc, song phương, lấy phục vụ lợi ích đất nước làm mục tiêu cao nhất.
Câu 4: Quá trình hình thành nội dung đường lối đổi mới của Đảng (1975 - 1986).
- Ba bước đột phá quan trọng trong thời kỳ trước đổi mới
+ Để đi đến đường lối đổi mới toàn diện tại Đại hội VI, Đảng ta, qua thực tiễn lãnh đạo sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đã trải qua nhiều bước tìm tòi và thử nghiệm. Sau Đại
thắng mùa Xuân năm 1975, đất nước thống nhất, Đại hội IV của Đảng họp tháng 12-1976 đã
đề ra đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước mà nội dung cơ bản là tiến hành
đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ
thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt.
Nhưng trong quá trình tổ chức thực hiện, chúng ta đã phạm sai lầm chủ quan, nóng vội, tính

sai bước đi. Trong phát triển lực lượng sản xuất, đã không tập trung phát triển nông nghiệp
và công nghiệp nhẹ mà quá thiên về công nghiệp nặng, ham làm nhanh, làm nhiều. Về quan
hệ sản xuất, đã chủ trương cải tạo ồ ạt, muốn nhanh chóng xoá bỏ các thành phần kinh tế tư
nhân để xác lập một cách phổ biến các hình thức sở hữu tập thể và toàn dân đối với tư liệu
sản xuất ngay cả khi lực lượng sản xuất còn rất thấp kém. Về quản lý, đã chọn mô hình kế
hoạch hoá tập trung quan liêu, phủ nhận kinh tế thị trường, xem nhẹ năng suất, chất lượng và
hiệu quả.
Do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trước hết là những nguyên nhân về tổ
chức và quản lý kinh tế, vào những năm cuối thập niên 70 thế kỷ XX, đất nước dần dần lâm
vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng. Trong hoàn cảnh ấy, vấn đề sống còn
là đưa đất nước thoát ra khỏi khủng hoảng. Muốn vậy, phải thay đổi mạnh mẽ cách nghĩ và
cách làm, tìm tòi và thử nghiệm cách làm ăn mới cho những vấn đề đặt ra.
+ Hội nghị Trung ương 6 khoá IV (8-1979), với chủ trương bằng mọi cách “làm cho sản
xuất bung ra”, là bước đột phá đầu tiên của quá trình tìm tòi và thử nghiệm đó. Hội nghị chủ
trương ổn định nghĩa vụ lương thực trong 5 năm, phần dôi ra được bán cho Nhà nước hoặc
trao đổi tự do; khuyến khích mọi người tận dụng ao hồ, ruộng đất hoang hoá; đẩy mạnh chăn
nuôi gia súc dưới mọi hình thức; sửa lại thuế lương thực và giá lương thực để khuyến khích
sản xuất; sửa lại chế độ phân phối theo định suất, định lượng, Nghị quyết Hội nghị Trung
ương 6 nhanh chóng được nhân dân cả nước đón nhận và biến thành hành động cụ thể trong
thực tiễn nền kinh tế. Chỉ một thời gian ngắn, trong cả nước xuất hiện rất nhiều điển hình về
cách làm ăn mới. Long An từ giữa năm 1980 đã thí điểm mô hình “mua cao, bán cao”, “bù
giá vào lương” thay cho cơ chế “mua cung, bán cấp”. Hải Phòng, Vĩnh Phú, Nghệ Tĩnh thí
điểm hình thức khoán. Từ thực tế các thí điểm đó, ngày 13-1-1981, Ban Bí thư Trung ương
Đảng ra Chỉ thị 100-CT/TW về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm
và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp. Tiếp đó, trong công nghiệp, bước đầu xác
định quyền tự chủ của các cơ sở trong sản xuất kinh doanh, tự chủ về tài chính của các xí
nghiệp theo các Quyết định 25/CP và 26/CP của Hội đồng Chính phủ. Nghị quyết Trung
ương 6, Chỉ thị 100 của Ban Bí thư và các Quyết định 25/CP và 26/CP của Chính phủ cho
thấy những ý tưởng ban đầu của đổi mới, tuy còn sơ khai, chưa cơ bản và toàn diện, nhưng
đó là bước đầu có ý nghĩa, đặt những cơ sở đầu tiên cho quá trình đổi mới sau này.

+ Đại hội toàn quốc lần thứ V của Đảng (3-1982) phát triển thêm một bước, đánh giá một
cách khách quan thành tựu và hạn chế trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, đã chỉ ra nguyên
nhân chủ quan gây nên sự sa sút của nền kinh tế là những khuyết điểm, sai lầm về lãnh đạo
và quản lý. Để góp phần khắc phục tư tưởng nóng vội, Đại hội đưa ra khái niệm về “chặng
đường trước mắt” của thời kỳ quá độ và xác định trong chặng đường này, nội dung chính
của công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là “coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, kết hợp
nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp nặng trong một cơ cấu hợp lý”.
Đại hội cũng khẳng định sự tồn tại năm thành phần kinh tế trong một thời gian nhất định ở
miền Nam.
Tuy nhiên sau đó, Hội nghị Trung ương 5 khoá V (12-1983) lại cho rằng sự chậm chạp
trong cải tạo xã hội chủ nghĩa là một trong những nguyên nhân của tình trạng khó khăn về
kinh tế, xã hội, từ đó, chủ trương để ổn định tình hình, phải đẩy mạnh hơn nữa cải tạo xã hội
chủ nghĩa; Nhà nước phải nắm hàng, nắm tiền, xoá bỏ thị trường tự do về lương thực và các
nông hải sản quan trọng, thống nhất quản lý giá
+ Hội nghị Trung ương 8 khoá V (6-1985) là bước đột phá thứ hai với chủ trương dứt khoát
xoá bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, thực hiện cơ chế một giá; xoá bỏ chế độ cung
cấp hiện vật theo giá thấp, chuyển mọi hoạt động sản xuất kinh doanh sang cơ chế hạch toán
kinh doanh xã hội chủ nghĩa Tháng 9-1985, cuộc tổng điều chỉnh giá - lương - tiền được
bắt đầu bằng việc đổi tiền, xoá bỏ hoàn toàn chế độ tem phiếu. Do tư tưởng nóng vội, cuộc
tổng điều chỉnh này đã dẫn tới tình trạng giá cả thị trường có nhiều diễn biến phức tạp; lạm
phát bị đẩy lên tốc độ phi mã. Đầu năm 1986, lại phải lùi một bước, quay trở lại thực hiện
chính sách hai giá
+ Hội nghị Bộ Chính trị khoá V (8-1986) là bước đột phá thứ ba với kết luận về một số vấn
đề thuộc quan điểm kinh tế. Nội dung là: 1- Về cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, phải lấy nông
nghiệp làm mặt trận hàng đầu; ra sức phát triển công nghiệp nhẹ, phát triển có chọn lọc công
nghiệp nặng; 2- Về cải tạo xã hội chủ nghĩa và củng cố quan hệ sản xuất mới, phải xác định
cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
nước ta; 3- Về cơ chế quản lý kinh tế, lấy kế hoạch làm trung tâm, đồng thời phải sử dụng
đúng quan hệ hàng hoá tiền tệ, dứt khoát xoá bỏ cơ chế tập trung, bao cấp; chính sách giá
phải vận dụng quy luật giá trị, tiến tới thực hiện cơ chế một giá.

Kết luận của Bộ Chính trị có ý nghĩa to lớn trong việc định hướng soạn thảo lại một cách
căn bản Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội VI của Đảng.
- Đại hội VI, bước ngoặt cơ bản và quyết định của đổi mới
Đại hội VI của Đảng đánh dấu một bước ngoặt rất cơ bản và có ý nghĩa quyết định trong
sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, với việc đề ra đường lối đổi mới toàn diện
đất nước - từ đổi mới tư duy đến đổi mới tổ chức, cán bộ và phong cách lãnh đạo của Đảng;
từ đổi mới kinh tế đến đổi mới hệ thống chính trị và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.
Đại hội khẳng định: Đối với nước ta, đổi mới là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách mạng,
là vấn đề có ý nghĩa sống còn.
Trong đánh giá tình hình, Đại hội đề ra phương châm “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá
đúng sự thật, nói rõ sự thật”; từ đó không chỉ khẳng định những thành tựu đạt được mà còn
thẳng thắn vạch ra sai lầm trong bố trí cơ cấu kinh tế, trong phân phối lưu thông, trong cải
tạo xã hội chủ nghĩa và cả trong cơ chế quản lý nền kinh tế. Đại hội kết luận rằng: “những
sai lầm nói trên là những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai
lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện”. Và “Những sai lầm đó bắt nguồn từ những
khuyết điểm trong hoạt động tư tưởng, tổ chức và công tác cán bộ Đảng. Đây là nguyên
nhân của mọi nguyên nhân ”.
Đại hội nêu lên bốn bài học kinh nghiệm lớn: Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng
phải quán triệt tư tưởng lấy dân làm gốc, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân;
Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan;
phải biết kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới; phải
xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ chính trị của một đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân
tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Tiếp tục tư tưởng về phân kỳ thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa ở nước ta, Đại
hội VI xác định chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ, xem ổn định mọi mặt tình hình
kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp
hoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo là nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát
những năm còn lại của chặng đường đầu tiên này.
Câu 5: Cơ sở hoạch định đường lối đổi mới của Đảng.
- Cơ sở lý luận: quá trình tìm tòi đường lối đổi mới cũng là quá trình nghiên cứu sâu sắc và

nhân thức rõ hơn những đặc trưng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Thời của Mác
ông đề cập đến khái niệm thời kỳ quá độ nhưng lại bàn chủ yếu về quá độ chính trị. Với
thắng lợi của cách mạng tháng 10 Nga, Lênin đã làm rõ hơn những đặc trưng của thời kỳ quá
độ:
+ Đặc trưng đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là sự tồn tại của nhiều thành
phần kinh tế: kinh tế xã hội chủ nghĩa, tư bản nhà nước, tư bản tư nhân, cá thể, tự nhiên…
tương ứng với đó là các hình thức sở hữu và với trình độ tổ chức sản xuất khác nhau Nhà
nước xã hội chủ nghĩa có nhiệm vụ xác định phương hướng tiến lên chủ nghĩa xã hội, chứ
chưa có nghĩa là nền kinh tế đã là kinh tế xã hội chủ nghĩa. Lênin chỉ rõ sự cần thiết phải có
1 loạt những bước quá độ như chủ nghĩa tư bản nhà nước, đặc biệt là những nước nông
nghiệp lac hậu đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
+ Đặc trưng quan trọng mà ông chỉ ró: đây là 1 thời kỳ lịch sử lâu dài và phải trải qua những
chặng đường, bước đi cụ thể.
+ Lênin cũng đã nhiều lần nêu rõ trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội vẫn còn tồn tại
nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội và do đó vẫn diễn ra đấu tranh giai cấp dưới nhiều hình thức
mới
+ Lênin nhấn mạnh rằng tiến lên chủ nghĩa xã hội không thể chỉ dựa vào nhiệt tình cách
mạng mặc dù nhiệt tình là rất quan trọng và cần thiết, nhưng phải quan tâm đến lợi ích cá
nhân. Chủ nghĩa xã hội không phản đối sự phát triển những nhân tố kích thích cá nhân. Chủ
tịch Hồ Chí Minh cho rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội mới chú trọng đầy đử tới lợi ích thiết
thân của mỗi con người và động viên mọi người ra sức lao động sản xuất có chất lượng, hiệu
quả để nâng cáo đời sống của chính mình, gột rửa thói ỷ lại và lười biếng.
- Cơ sở thực tiễn: Đường lối đổi mới đó là kết quả của sự tổng kết thực tiễn, từ những cách
thức tổ chức, quản lý năng động, có hiệu quả của nhiều địa phương, cơ sở, nhiều ngành kinh
tế; là kết quả tổng hợp những sáng kiến của nhân dân trong lao động, sản xuất, làm ăn kinh
tế, tổng kết ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân
Trên cở sở nhận thức những đặc trưng của Lênin, đại hội VI đã đưa ra những vấn đề thực
tiễn của đổi mới đó là:
Đảng gọi chặng đường đầu tiên của ta là 1 bước quá độ nhỏ trong bước quá độ lớn: nhiệm
vụ chủ yếu đó là xây dựng những tiền đề chính trị, kinh tế, xã hội cần thiết để triển khai công

nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trên quy mô lớn.
Đảng ta cũng nhận thức rõ về đặc trưng chính trị: làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng, sự tổ
chức quản lý điều hành của Nhà nước trong từng thời kỳ quá độ
Sự nhận thức đúng đắn về những đặc trưng của từng thời kỳ qua độ cũng có nghĩa là xuất
phát từ thực tế, tôn trong và hành động theo quy luật khách quan. Đó cũng tránh được bện
chủ quan, duy ý chí, nống vội hoặc bảo thủ, trì trệ, bất chấp quy luật. Không bao giờ được
lấy tình cảm và mong muốn chủ quan làm điểm xuất phát cho đường lối
Đảng ta trước hết cũng phải thay đổi nhận thức, đổi mới tư duy. Phải nhận thức đúng đắn
và hành động phù hợp với hệ thống quy luật khách quan, trong đó các quy luật đặc thù của
chủ nghĩa xã hội ngày càng chi phối mạnh mẽ phương hướng phát triển của xã hội. DO đó
quyết định đổi mới và đường lối đổi mới là sản phảm của tư duy khoa học và thể hiện quyết
tâm sửa chữa sai lầm trong cả nhận thức quy luật khách quan, cả trong vận dụng và hành
động trong thực tế.
Đại hội VI cũng nhấn mạnh rằng, cải tạo xã hội chủ nghĩa, xây dựng quan hệ sản xuất mới
bao gồm 3 mặt: xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, quản lý, phân phôi xã hội chủ
nghĩa
- Đại hội VI xác đính đường lối đổi mới trong bối cảnh các nước xã hội chủ nghĩa đã tiến
hành chuyển đổi trong đường lối và hành động; Trung Quốc năm 1978 và có những thành
quả nhất định; Liên Xô và các nước Đông Âu từ đầu những năm 80 đã có những khới động
để thoát khoi sự trì trệ. Ở mỗi nước xã hội chủ nghĩa có cách làm và bước đi khác nhau và
kết quả cũng khác nhau. Kinh nghiệm lịch sử đặt ra Cho Đảng ta phải nêu cao tinh thần độc
lập, tự chủ và sáng tạo cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam và không xã vời những quy luật,
những nguyên lý phổ biến của chủ nghãi Mác – Lênin
Câu 6: Nội dung đường lối đổi mới của Đảng.
- Đổi mới cơ cấu kinh tế, sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế: Đó là phát triển nền kinh
tế nhiều thành phần, cùng với kinh tế quốc doanh và tập thể còn có thành phần kinh tế khác:
kinh tế gia đình, kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà
nước, kinh tế tự nhien, tư cung, tự cấp.
- Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế: Xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, thay
vào đó là là cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hoạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa,

đúng nguyên tắc tập trung dân chủ. Đổi mới kế hoạch hóa. Nhà nước sử dụng tốt các đòn
bẩy kinh tế: chính sách giá cả, tiền lương, tài chính, tiền tệ, ngân hàng. Chính sách tiết kiệm
phải được thấu suốt trong kinh tế hoạch hóa và cac đòn bấy kinh tế
- Đổi mới hoạt động kinh tế đối ngoại trên cơ sở mở rộng và nâng cao hiệu qur kinh tế đối
ngoại: kinh tế đối ngoại có vai trò ổn định và phát triển kinh tế trong chặng đường đầu tiên,
cũng như sự nghiệp phát triển khoa học – kỹ thuật và công nghiệp hóa xã hội. Khuyến khích
nước ngoài đầu tư vào nước ta đặc biệt là những ngành kỹ thuật đòi hỏi cao. Có chính sách
tạo điều kiện cho người nước ngoài và Việt kiều vào nước ta để hợp tác kinh doanh
- Đổi mới và tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước: Tăng cường bộ máy nhà nước từ
trung ương đến địa phương và cơ sở hình thành 1 hệ thống thống nhất, có sự phận địn rõ
ràng rành mạch nhiệm vụ, quyền hạn trách nhiệm, phân biệt rõ các chức năng. Nhiệm vụ chủ
yếu của nhà nước là: thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành pháp luật, chính
sách cụ thể; xây dựng chiện lược kinh tế - xã hội và cụ thể hóa nó; quản lý hành chính – xã
hội và hành chính – kinh tế; kiểm tra thực hiện những kế hoạch của nhà nước. Thực hiện 1
quy chế làm việc khoa học,c có hiệu suất cao, với đội ngũ cán bộ có phẩm chất chính trị và
có năng lực quản lý nhà nước, kinh tế, xã hội.
- Đổi mới chính sách xã hội: Cần có chính sách xã hội cơ bản lâu dài, chú trọng phát triển
yếu tố con người và lấy việc phục vụ con người làm mục đichfs cao nhất, giải quyết việc
làm. Thực hiện công bằng xã hội, giữ gìn kỷ cương trong mọi lĩnh vự của đời sống. Chăm lo
như cầu văn hóa, giáo dục, sức khỏe của nhân dân. Xây dựng chính sách bảo trợ xã hội.
Thực hiện đúng chính sách dân tôc, giai cấp.
_ Đổi mới tư duy: Đổi mới trên cơ sở nắm vững chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh, đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết có hệ thống quá trình xây dựng chủ
nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc để có những kết luận và bài học cần thiêt cũng như những
sai lầm hạn chế cần khắc phục về mặt lý luận. Đổi mới phong cách làm việc phục vụ nhân
dân, lấy dân làm gốc. Đi sát thực thế, nắm vững và vận dụng đúng đắn quy luật khách quan
là điều kiện cơ bản đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng. Khắc phục tệ quan liêu, chủ quan, duy ý
chí, chống các biểu hiện tiêu cức như: tham ô, đặc quyền, đặc lợi. Nâng cao sức chiến đấu
của tổ chức cơ sở.
Câu 7: Quá trình phát triển đường lối đổi mới của Đảng.

- Những năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng và nhà nước chú trọng cụ thể hóa thể
chế hóa đường lối để đưa đường lối vào cuộc sống:
+ Ngày 5.4.1988 Bộ chính trị ra nghị quyết số 10- NQ/TW về đổi mới quản lý kinh tế nông
nghiệp(khoán 10) xác định vai trò của kinh tế hộ nông dân; thực hiện chế độ bù giá vào
lương, trả lương bằng tiền để xóa chế độ tem phiếu, phân phối bao cấp
+ Đại hội VII: thông qua cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội và chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, cương linh đưa ra
mô hình xã hội chủ nghĩa gồm 6 đặc trưng, làm rõ hơn sự nhận thức của Đảng ta về chủ
nghĩa xã hội. Nền tảng tư tưởng: Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đường
lối ngoại giao: Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới, thúc đẩy hoạt động
đối ngoại, chuyển từ thế đối đầu sang đối thoại. Phát triển nền kinh tế: chuyển mạnh sang
kinh tế nhiều thành phần, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển dịch mạng mẽ cơ
cấu kinh tế
+ Đại hội VIII: Đề ra và thực hiện chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo, phát triển khoa
học và công nghệ. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
và hệ thống chính trị. Đẩy mạnh cải cách hành chính, chú trọng phát huy nội lực trên cơ sỏ
đại đoàn kết dân tộc. Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đạm đà bản sắc dân tộc, tăng cường hội
nhập quốc tế. Tăng trưởng kinh tế gắn liền với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
+ Đại hội IX: Làm rõ quan điểm kinh tế thị trường định hưỡng xã hội chủ nghĩa, vai trò của
chế độ sở hữu và 6 thành phần kinh tế. Phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là
nhiệm vụ trung tâm.
+ Đại hội X: Khẳng định đường lối đổi mới là hoàn toàn đúng đắn, nhất quán, phát triển
phong phú và sáng tạo phù hợp với điều kiện thực tế của nước ta. Sự phát triển quan trọng:
Kinh tế: phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Xác định 5 thành phần kinh tế và 3 hình thức sở hữu.
Phát triển đồng bộ các loại thị trường: hàng hóa, dịch vụ, bất động sản, lao động, khoa học
và công nghệ… Đẩy mạnh công nhiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế trị thức
Chính trị: xây dựng hòa thiện hệ thống chính trị, đảm bảo sự lãnh đạo, quản lý đất nước,
xã hội có hiệu quả, giữ vững ổn định chính trị. Thường xuyên xây dựng và chỉnh đốn Đảng.
Tăng cường vai trò của Mặt trận và các tổ chức đoàn thể nhân dân, củng cố khối đoàn kết

dân tộc
Xã hội: Thực hiện có hiệu quả các chính sách xã hội, thực hiện chiến lược xóa đói giảm
nghèo. Kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, công bằng xã hội. Mục tiêu: dân giàu
nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.
Bảo vệ Tổ quốc: xây dựng và thực hiện chiến lược bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới.
Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại mở rộng, đa phương hóa, Việt Nam muốn làm bạn,
đối tác tin cậy của tất cả các nước trên thế giới trên tinh thần hữu nghị, hợp tác cùng phát
triển.

×