Tải bản đầy đủ (.doc) (47 trang)

on tap PL TM HH va DV

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (260.8 KB, 47 trang )

ÔN TẬP MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI
Phân biệt hợp đồng mua bán hàng hoá và hợp đồng mua bán tài sản
1.Mối liên hệ giữa hợp đồng mua bán hàng hoá và hợp đồng mua bán tài sản: Luật Thương mại
được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kì họp thứ 7 thông qua ngày
14/6/2005. Luật này thay thế Luật Thương mại ngày 10/5/1997 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2006
đã đánh dấu một bước phát triển mới của pháp luật thương mại nói chung và pháp luật về mua bán hàng
hoá nói riêng.
Quan hệ mua bán hàng hoá được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lí là hợp đồng mua bán
hàng hoá (HĐMBHH). HĐMBHH có bản chất chung của hợp đồng, là sự thoả thuận nhằm xác lập, thay
đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán. Dù Luật Thương mại 2005 không đưa
ra định nghĩa về HĐMBHH song có thể các định bản chất pháp lí của HĐMBHH trong thương mại trên
cơ sở điều 428 của Bộ luật Dân sự về hợp đồng mua bán tài sản (HĐMBTS). Do đó, HĐMBHH trong
thương mại là một dạng cụ thể của HĐMBTS, dù vẫn mang những nét đặc thù riêng về chủ thể, đối
tượng, hình thức…, thoả thuận về việc MBHH ở hiện tại hoặc MBHH sẽ có ở một thời điểm nào đó trong
tương lai đều có thể là một HĐMB. Quan hệ HĐMBHH sẽ hình thành bất cứ khi nào nếu một chủ thể mua
hàng hoá bằng tiền hoặc phương thức thanh toán khác và nhận quyền sở hữu hàng hoá.
2. Phân biệt hợp đồng mua bán hàng hoá và hợp đồng mua bán tài sản:
Thứ nhất, về đối tượng. HĐMBHH trong thương mại có đối tượng là hàng hoá. Tuy nhiên không thể
hiểu theo nghĩa thông thường, hàng hoá là sản phẩm lao động của con người, được tạo ra nhằm mục đích
thoả mãn nhu cầu của con người hay chỉ bao gồmmáy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, hàng
tiêu dùng, các động sản khác được lưu thông trên thị trường, nhà ở dùng để kinh doanh đưới hình thức cho
thuê, mua, bán (khoản 3 Điều 5 Luật Thương Mại 1997). Luật Thương mại 2005 quy định :
“Hàng hoá bao gồm: a) Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; b) Những vật
gắn liền với đât đai.”
Như vậy, hàng hoá trong thương mại là đối tượng mua bán có thể là hàng hoá hiện đang tồn tại hoặc
sẽ có trong tương lai, hàng hoá có thể là động sản hoặc bất động sản được phép lưu thông thương mại và
phải loại trừ một số hàng hoá đặc biệt chịu sự điều chỉnh riêng như cổ phiếu, trái phiếu…Còn đối tượng
của HĐMBTS rộng hơn là các loại tài sản quy định trong Điều 162 Bộ luật Dân sự 2005 : vật, tiền, giấy tờ
có giá và các quyền tài sản được phép giao dịch.
Thứ hai, về chủ thể. chủ thể trong HĐMBHH chủ yếu là thương nhân. Khái niệm về thương nhân
được đề cập đến trong khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại bao gồm : tổ chức kinh tế được thành lập hợp


pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng kí kinh doanh. Thương
nhân là chủ thể của HĐMBHH có thể là thương nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài (trong
HĐMBHH quốc tế). Ngoài chủ thể là thương nhân, các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân cũng
có thể trở thành chủ thể của HĐMBHH. Hoạt động của chủ thể không phải là thương nhân và không nhằm
mục đích lợi nhuận trong quan hệ HĐMBHH chỉ phải tuân theo Luật Thương maị khi chủ thể này lựa
chọn áp dụng Luật Thương mại.
Trong khi đó, chủ thể tham gia HĐMBTS có thể là mọi tổ chức, cá nhân đầy đủ năng lực, có nhu cầu mua
bán tài sản, có sự mở rộng hơn rất nhiều so với chủ thể trong HĐMBHH.
Thứ ba, về mục đích. HĐMBHH trong thương mại chủ yếu là để kinh doanh thu lợi nhuận cho các
thương nhân. Chỉ phần nào đó phục vụ mục đích tiêu dùng và các mục đích khác cho cả thương nhân và
những chủ thể không phải thương nhân tuỳ theo mong muốn và nhu cầu của họ trong từng thời điểm.
HĐMBTS lại không nhất thiết là có mục đích kinh doanh mà có thể nhằm nhiều mục đích khác nhau
như : tiêu dùng, tặng, cho, làm từ thiện hoặc đơn giản là vì sở thích…Sự khác nhau này là do yếu tố chủ
thể quyết định. Vì chủ thể chủ yếu của HĐMBHH là thương nhân, mà đã nói đến thương nhân thì khó có
thể không nhắc đến lợi nhuận, hoạt động chính của họ là kinh doanh và thu lợi nhiận, không có lợi nhuận
họ không thể tồn tại lâu dài dù vốn đầu tư có lớn đi nữa.
Thứ tư, về hình thức. Ta hầu như không thấy sự khác biệt nào khi so sánh Điều 401 về hình thức
hợp động dân sự của Bộ luật Dân sự 2005 với Điều 24 về hình thức HĐMBHH của Luật Thương mại
2005. Chúng đều có thể xác lập bằng lời nói, văn bản hoặc hành vi cụ thể. Tuy nhiên, trong thực tế kinh
doanh chúng ta thấy rằng, đối tượng là hàng hoá thường mang số lượng nhiều, giá trị lớn và để đảm bảo
lợi ích, tránh xảy ra tranh chấp không đáng có thì hình thức hợp đồng bằng văn bản hay được ưu tiên do
1/47
những ưu điểm vốn có của nó (minh bạch, rõ ràng, có thể dễ dàng đưa ra làm bằng chứng khi có tranh
chấp).
Thứ năm, về nội dung. Nội dung của HĐMBHH là các điều khoản do các bên thoả thuận, thể hiện
quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng, là sự phát triển tiếp tục những quy định của dân
luật truyền thống về HĐMBTS. Có rất nhều sự tiếp tục tạo nên sự khác biệt như :
Khó có thể tìm thấy điều luật cụ thể trong Bộ luật Dân sự về nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ
của HĐMBTS, nhưng trong Luật Thương mại được đề cập trong Điều 46 như sau: “1. Bên bán không
được bán hàng hoá vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Bên bán phải chịu trách nhiệm trong trường hợp có tranh

chấp liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ với hàng hoá đã bán; 2. Trường hợp bên mua yêu cầu bên bán
phải tuân theo bản vẽ kĩ thuật, thiết kế, công thức hoặc những số liệu chi tiết do bên mua cung cấp thì bên
mua phải chịu trách nhiệm về các khiếu nại liên quan đến những vi phạm quyền sử hữu trí tuệ phát sinh từ
việc bên bán đã tuân thủ những yêu cầu của bên mua.”
Điểm đặc biệt hơn, giá không phải là nội dung bắt buộc để HĐMBHH có hiệu lực. Bởi ngay cả
khi không có sự thoả thuận về giá hàng hoá, không có sự toản thuận về phương pháp xác định giá và cũng
không có bất kì chỉ dẫn nào khác về giá thì giá của hàng hoá được xác định theo giá của loại hàng hoá đó
trong các điều kiện tương tự về phương thức giao hàng, thời điểm mua bán hàng hoá, thị trường địa lí,
phương thức thanh toán và các điều kiện khác có ảnh hưởng đến giá (Điều 52 Luật Thương mại 2005).
Trong HĐMBTS thường mang tính chất nhỏ, lẻ thì việc toản thuận về giá mang ý nghĩa rất lớn. Để tránh
xảy ra tranh chấp các chủ thể, đặc biệt là các thương nhân phải rất chú ý điểm khác biệt này trong kinh
doanh.
3. Ý nghĩa việc phân biệt hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng mua bán tài sản: Đối với
Luật Thương mại 2005, Bộ luật Dân sự 2005 luôn luôn là bộ luật gốc, việc xác định đối tượng điều chỉnh
riêng đôi khi không dàng chút nào. Việc phân biệt HĐMBHH trong thương mại và HĐMBTS là điều hết
sức cần thiết cho các nhà làm luật và ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc chọn luật áp dụng của từng
trường hợp cụ thể.
Câu 1: Phân tích khái niệm và đặc điểm của mua bán hàng hóa trong thương mại. Phân biệt
quan hệ mua bán hàng hóa trong thương mại với quan hệ hàng đổi hàng, quan hệ tặng cho hàng
hóa, quan hệ cho thuê hàng hóa.
Khái niệm và đặc điểm của mua bán hàng hóa trong thương mại.
Khái ni ệm : mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng,
chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên
bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận (Khoản 8 Điều 3).
Đặc điểm:
 Các đặc điểm của hoạt động thương mại nói chung như: do thương nhân thực hiện, nhằm múc đích sinh
lợi nhuận, được thực hiện trên thị trường một cách hợp pháp, là hoạt động mua bán mang tính chất chuyên
nghiệp.
 Các đặc điểm riêng: đối tượng là hàng hóa (trong đó có sự dịch chuyển quyền sở hữu hàng hóa từ bên
bán sang bên mua); phải phát sinh trên cơ sở hợp đồng (đặc trưng quan trọng là thỏa thuận); bên bán có

nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ
thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá.
Phân biệt quan hệ mua bán hàng hóa trong thương mại với một số quan hệ có đối tượng là hàng
hoặc hàng hóa.
Phân biệt với quan hệ hàng đổi hàng (có thể hiểu quan hệ hàng đổi hàng là quan hệ trao đổi cổ xưa, là
quan hệ trao đổi tài sản dân sự thuần túy, là quan hệ trao đổi hàng hóa thương mại): là quan hệ trao đổi cổ
xưa…(chém trong phòng thi) là quan hệ trao đổi tài sản dân sự thuần túy: khác về chủ thể, mục đích lợi
nhuận, luật thương mại không điều chỉnh nó. Là quan hệ trao đổi hàng hóa thương mại chỉ khác với mua
bán hàng hóa thương mại ở chỗ đây là một dạng đặc biệt của mua bán hàng hóa thương mại, vì đối tượng
và phương tiện thanh toán đều là hàng hóa và mục đích lợi nhuận chưa nhìn rõ như mua bán hàng hóa.
Với tặng cho hàng hóa: khác về mục đích lợi nhuận, khác về tính chất của hợp đồng (song vụ có đền
bù nên cũng khác về các hậu quả pháp lí…)
Với quan hệ cho thuê hàng hóa: khác ở chỗ nếu đối tượng là vật không tiêu hao, hàng hóa ko bị
chuyển quyền sở hữu, đương nhiên quyền và nghĩa vụ của các bên khác hẳn với các bên chủ thể trong
mua bán hàng hóa, có thể thỏa thuận hoặc không thỏa thuận về vấn đề thời hạn (cái này là một điểm khác
2/47
với mua bán vì mua bán không đặt thời hạn chiếm hữu hàng), đối với 1 bên nó là hàng hóa nhưng bên còn
lại thì không.
Câu 2: Phân tích khái niệm và đặc điểm của mua bán hàng hóa trong thương mại. Phân biệt
quan hệ mua bán hàng hóa với quan hệ mua bán tài sản trong dân sự.
Khái niệm và đặc điểm của mua bán hàng hóa trong thương mại.
Khái ni ệm : mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng,
chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên
bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận (Khoản 8 Điều 3)
Đặc điểm:
 Các đặc điểm của hoạt động thương mại nói chung như: do thương nhân thực hiện, nhằm mục đích sinh
lợi nhuận, được thực hiện trên thị trường một cách hợp pháp, là hoạt động mua bán mang tính chất chuyên
nghiệp.
 Các đặc điểm riêng: đối tượng là hàng hóa (trong đó có sự dịch chuyển quyền sở hữu hàng hóa từ bên
bán sang bên mua); phải phát sinh trên cơ sở hợp đồng (đặc trưng quan trọng là thỏa thuận); bên bán có

nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ
thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá
Phân biệt quan hệ mua bán hàng hóa với quan hệ mua bán tài sản trong dân sự.
Về chủ thể: thương nhân và ko cần là thương nhân
Về đối tượng: là hàng hóa (là hàng, vật trong dân sự), là tài sản (đối tượng rộng hơn)
Về mục đích: lợi nhuận, các mục đích đa dạng khác ngoài lợi nhuận
Về luật điều chỉnh: luật thương mại (tập trung ở chương 2)và dân sự (các vấn đề chung về nghĩa vụ , hợp
đồng…), ko điều chỉnh bởi luật thương mại (tập trung ở mục 1 chương 18 phần 3)
Câu 3: Phân tích khái niệm và đặc điểm của mua bán hàng hóa trong thương mại. Nêu rõ nguồn
luật cơ bản điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại.
Khái niệm và đặc điểm của mua bán hàng hóa trong thương mại.
Khái niệm: mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có
nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán;
bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá
theo thỏa thuận (Khoản 8 Điều 3)
Đặc điểm:
 Các đặc điểm của hoạt động thương mại nói chung như: do
thương nhân thực hiện, nhằm múc đích sinh lợi nhuận, được thực hiện trên thị
trường một cách hợp pháp, là hoạt động mua bán mang tính chất chuyên
nghiệp.
 Các đặc điểm riêng:
 đối tượng là hàng hóa (trong đó có sự dịch chuyển quyền sở
hữu hàng hóa từ bên bán sang bên mua)
 phải phát sinh trên cơ sở hợp đồng (đặc trưng quan trọng là
thỏa thuận)
 bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng
hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán
cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá
Nêu rõ nguồn luật cơ bản điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa
trong thương mại.

Nguồn luật cơ bản là pháp luật quốc gia, điều ước quốc tế, tập quán, thói quen
thương mại.
Câu 4: Nêu và phân tích các vấn đề pháp lý cơ bản của việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
trong TM (chủ thể, đại diện, đề nghị giao kết hợp đồng, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng và thời
điểm giao kết, nội dung cơ bản cần thỏa thuận)
Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữa các bên theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển
quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán,
nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận
3/47
1. Chủ thể
Chủ thể giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa chủ yếu là thương nhân (hoạt
động thương mại độc lập thường xuyên liên tục, mục đích lợi nhuận, hợp pháp có
đăng kí kinh doanh), các điều kiện vớ vẩn khác (kiểu như độ tuổi, năng lực…)
phải được đảm bảo. bao gồm bên mua bên bán và bên trung gian (nếu có)
2. Đại diện
Hợp đồng mua bán hàng hóa có thể do bên đại diện giao kết (đại diện theo
pháp luật hoặc theo ủy quyền)
3. Đề nghị giao kết hợp đồng
Đề nghị giao kết hợp đồng mua bán là việc thương nhân này thể hiện rõ ý định
giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề
nghị đối với bên đã được xác định cụ thể (Điều 390 Bộ luật dân sự)
Đề nghị giao kết có thể do bên bán hoặc bên mua thực hiện.
Đề nghị không được pháp luật qui định về hình thức, dựa vào hình thức của
hợp đồng mua bán hàng hóa để xác định, có thể bằng văn bản, lời nói hoặc hành vi cụ
thể hoặc kết hợp giữa các hình thức này.
Phương thức: có thể được gửi đến 1 hoặc nhiều chủ thể đã xác định
Đề nghị được chuyển đến nơi cư trú hoặc trụ sở của bên đc đề nghị
Đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên đề nghị
Bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua phương thức
khác

Các qui định về thay đổi hủy bỏ chấm dứt đề nghị qui định trong bộ luật dân sự
từ điều 390 đến 396 bộ luật dân sự
4. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị đối với
bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị. (396 bộ luật dân sự)
Về thời hạn:
Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu
lực khi được thực hiện trong thời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận
được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của
bên chậm trả lời.
Trong trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đến chậm vì lý do
khách quan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan này thì thông báo
chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp bên đề nghị trả lời ngay
không đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị.
Khi các bên trực tiếp giao tiếp với nhau, kể cả trong trường hợp qua điện thoại
hoặc qua các phương tiện khác thì bên được đề nghị phải trả lời ngay có chấp nhận
hoặc không chấp nhận, trừ trường hợp có thoả thuận về thời hạn trả lời.
Bên được đề nghị giao kết hợp đồng có thể rút lại thông báo chấp nhận giao kết
hợp đồng, nếu thông báo này đến trước hoặc cùng với thời điểm bên đề nghị nhận
được trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng.
5. Thời điểm giao kết
Nhìn chung: Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được trả
lời chấp nhận giao kết. Hợp đồng cũng xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời
mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thoả thuận im lặng là sự trả lời chấp
nhận giao kết.
Với đồng bằng lời nói: thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp
đồng.
Với hợp đồng bằng văn bản: thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản.
6. Nội dung cơ bản cần thỏa thuận
Các điều khoản

Nhất thiết phải có điều khoản về đối tượng (nó là loại hàng hóa gì)
Các vấn đề về giá cả, chất lượng, thời điểm, địa điểm, phương thức thanh
4/47
toán…có thể không cần thỏa thuận mà hợp đồng vẫn không vô hiệu
Các điều khoản đương nhiên thì không phải thỏa thuận nhưng thỏa thuận thì
vẫn không vô hiệu.
Câu 5: Phân tích khái niệm, đặc điểm và nội dung chủ yếu (các điều khoản cơ bản) của hợp đồng
mua bán hàng hóa.
Khái niệm
Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt
các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán hàng hóa (bao gồm cả mua bán hàng
hóa quốc tế; mua bán hàng hóa trong nước).
Đặc điểm
Về chủ thể: chủ yếu là thương nhân, có thể trong nước và cả nước ngoài, có thể
không là thương nhân nhưng vẫn áp dụng luật thương mại điều chỉnh nếu lựa chọn áp
dụng
Về hình thức: Hợp đồng mua bán hàng hoá được thể hiện bằng lời nói, bằng
văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể. Đối với các loại hợp đồng mua bán
hàng hoá mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các
quy định đó (Điều 24 Luật Thương mại)
Về đối tượng: là hàng hóa, hàng hóa bao gồm: tất cả các loại động sản, kể cả
động sản hình thành trong trong tương lai, những vật gắn liền với đất đai (khoản 2
Điều 3 Luật Thương mại)
Về nội dung: quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ mua bán. Theo đó,
bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận
tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng hóa và trả tiền cho bên bán. Mục đích của
các bên mua bán là lợi nhuận.
Ben  www.phamlinhnham.wordpress.com
ơ
♥ αμ Λιυη ΝηαΘμ ♥ ♥ ♥ ξοοδ λωγχο ψοω 

8
Nội dung chủ yếu
Là các điều khoản
Không bắt buộc các bên phải thỏa thuận những nội dung cụ thể nào, tuy nhiên
với điều khoản chủ yếu của hợp đồng mua bán nói chung là đối tượng thì bắt buộc
các bên phải thỏa thuận về đối tượng. Từ thực tiễn, nội dung bao gồm: đối tượng,
chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán, thời hạn và địa điểm giao nhận hàng.
Câu 6: phân tích các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa
 Chủ thể tham gia hợp đồng phải có năng lực pháp luật và năng lực
hành vi. Đối với các thương nhân khi tham gia hợp đồngphải đáp ứng điều kiện
có đăng ký kinh doanh hợp pháp đối với hàng hóa được mua bán. Trong trường
hợp mua bán hàng hóa có điều kiện kinh doanh thì thương nhân phải đáp ứng
các điều kiện kinh doanh đó theo quy định của pháp luật.
 Đại diện của các bên giao kết hợp đồng phải đúng thẩm quyền, có
thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền. người không có
quyền đại diện, khi giao kết sẽ không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với
bên hợp đồng được đại diện, trừ trường hợp bên giao kết kia biết hoặc phải biết
về việc không có quyền đại diện.
 Mục đích và nội dung của hợp đồng mua bán không vi phạm điều
cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội hàng hóa là đối tượng của hợp
đồng không bị cấm kinh doanh theo quy định của pháp luật.
 Hợp đồng mua bán được giao kết đảm bảo các nguyên tắc của hợp
đồng theo quy định của pháp luật: tự do giao kết nhưng không trái pháp luật,
trái đạo đức xã hội; tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, trung thực và ngay thẳng.
 Hình thức hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật.
Ben  www.phamlinhnham.wordpress.com
5/47
ơ
♥ αμ Λιυη ΝηαΘμ ♥ ♥ ♥ ξοοδ λωγχο ψοω 
9

Câu 7: phân tích các nghĩa vụ của bên bán và bên mua trong HĐMBHH
theo quy đinh của LTM 2005
Bên bán
Giao hàng đúng chất lượng
Về nguyên tắc phải căn cứ vào nội dung hợp đồng để xác định vấn đề này, nếu
không thì dựa trên quy định của pháp luật, các trường hợp sau đây được coi là hàng
hóa không phù hợp với hợp đồng (Điều 39)
 không phù hợp với mục đích sử dụng sử dụng thông thường của
các hàng hóa cùng chủng loại;
 không phù hợp với mục đích bên mua báo cho bên bán hoặc bên
bán phải biết vào thời điểm giao kết hợp đồng
 không bảo đảm chất lượng theo mẫu mà bên mua đã giao cho bên
bán
 Không được bảo quản, đóng gói theo cách thức thông thường đối
với loại hàng hoá đó hoặc không theo cách thức thích hợp để bảo quản hàng
hoá trong trường hợp không có cách thức bảo quản thông thường
Giao chứng từ kèm theo hàng hóa
Các chứng từ như: chứng nhận chất lượng, chứng nhận nguồn gốc xuất xứ…
Trường hợp không có thỏa thuận, bên bán có nghĩa vụ giao cho bên mua trong thời
hạn, tại thời điểm hợp lý để bên mua có thể nhận hàng.
Giao hàng đúng thời hạn
Nghĩa vụ này được qui định tại điều 42 Luật Thương mại
Chứng từ phải giao trong thời hạn thỏa thuận hoặc thời điểm hợp lí, nếu giao
trước hạn mà thiếu sót thì trong thời hạn vẫn được khắc phục những thiếu sót này,
nhưng nếu việc này gây thiệt hại hoặc bất lợi cho bên mua thì bên mua được quyền
yêu cầu bên bán khắc phục hoặc chịu chi phí đó
Giao hàng đúng địa điểm
Theo Điều 35
Theo thỏa thuận không có thỏa thuận thì lần lượt theo các nguyên tắc sau:
Ben  www.phamlinhnham.wordpress.com

ơ
♥ αμ Λιυη ΝηαΘμ ♥ ♥ ♥ ξοοδ λωγχο ψοω 
10
Hàng hóa gắn liền với đất đai thì giao tại nơi có đất đai
Giao cho người vận chuyển đầu tiên nếu có qui định về vận chuyển
Giao tại kho nếu biết kho
Giao tại nơi kinh doanh cư trú của bên bán
Tạo điều kiện cho bên mua kiểm tra hàng hóa trước khi giao hàng
Trường hợp có thỏa thuận thì bên bán phải bảo đảm cho bên mua có điều kiện
tiến hành việc ktra hàng hóa. Nếu phát hiện hàng hóa ko đúng hợp đồng, bên mua
phải thông báo cho bên bán trong 1thời hạn hợp lý.
Đảm bảo quyền sở hữu đối với hàng hóa
Trừ trường hợp PL có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác, quyền
SH được chuyển từ bên bán sang bên mua kể từ thời điểm hàng hóa được chuyển
giao.
Rủi ro đối với hàng hóa
Trường hợp các bên ko có thỏa thuận, theo LTM xác định như sau:
Trong trường hợp có địa điểm giao hàng xác định: rủi ro chuyển giao cho bên
mua khi nhận hàng tại địa điểm đó.
Trong trường hợp không có địa điểm giao hàng xác định: rủi ro được chuyển
6/47
cho bên mua khi hàng hóa đã đc giao cho người vận chuyển đầu tiên.
Trong trường hợp giao hàng cho người nhận hàng để giao mà ko phải là người
vận chuyển: rủi ro đc chuyển giao cho bên mua chỉ khi: bên mua nhận được chứng từ
sở hữu hàng hóa hoặc khi người nhận hàng để giao xác nhận quyền chiếm hữu của
bên mua.
Trong trường hợp mua bán hàng hóa đang trên đường vận chuyển: rủi ro đc
chuyển cho bên mua kể từ thời điểm giao kết HĐ.
Bảo hành hàng hóa
TH hàng hóa mua bán có bảo hành thì bên bán phải chịu trách nhiệm bảo hành

hàng hóa đó theo nội dung và thời hạn đã thỏa thuận. Bên bán phải chịu các chi phí
về bảo hành, trừ trường hợp có thỏa thuận khác(Điều 49). 1.
Bên mua
Ben  www.phamlinhnham.wordpress.com
ơ
♥ αμ Λιυη ΝηαΘμ ♥ ♥ ♥ ξοοδ λωγχο ψοω 
11
Nhận hàng và thanh toán tiền
nhận hàng:
Được hiểu là bên mua tiếp nhận trên thực tế hàng hóa từ bên bán. Bên mua
hàng có ngĩa vụ nhận hàng theo thỏa thuận.
Sau khi hoàn thành việc giao nhận, bên bán vẫn phải chịu trách nhiệm về
những khiếm khuyết của hàng hóa được giao, nếu bên bán biết hoặc phải biết nhưng
không thông báo cho bên mua.
Bên bán giao hàng mà bên mua không tiếp nhận thì bị coi là VPHĐ và phải
chịu các biện pháp chế tài theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
thanh toán:
Là nghĩa vụ quan trọng nhất của bên mua. Các điều khoản thanh toán trong
hợp đồng mua bán:
Địa điểm thanh toán:
Trường hợp không có thỏa thuận, địa điểm thanh toán sẽ là:
Địa điểm kinh doanh của bên bán tại thời điểm giao kết hợp đồng, nếu không
là tại nơi cư trú của bên bán;
Địa điểm giao hàng hoặc giao chứng từ, nếu việc thanh toán trùng với giao
hàng hoặc giao chứng từ.
Thời hạn thanh toán:
Trường hợp không có thỏa thuận thì:
Bên mua phải thanh toán vào thời điểm bên bán giao hàng hoặc giao chứng từ;
Bên mua không có nghĩa vụ thanh toán khi chưa kiểm tra hàng hóa (trong
trường hợp có thảo thuận).

Bên mua phải thanh toán trong trường hợp hàng hóa mất mát, hư hỏng sau thời
điểm rủi ro được chuyển từ bên bán sang bên mua.
Xác định giá: Trường hợp không có thỏa thuận thì giá của hàng hóa được xác
định theo gía của loại hàng hóa đó trong các điều kiện tương tự về phương thức giao
hàng, thời điểm mua bán, thị trường địa lý, phương thức thanh toán và các điều kiện
khác.
Ben  www.phamlinhnham.wordpress.com
ơ
♥ αμ Λιυη ΝηαΘμ ♥ ♥ ♥ ξοοδ λωγχο ψοω 
12
Chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán: Bên bán có quyền yêu cầu bên mua trả
tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại
thời điểm thanh toán.
Ngừng thanh toán:
7/47
Trừ trường hợp có thỏa thuận khác:
Bên mua có bằng chứng về việc bên bán lừa dối thì có quyền tạm ngừng thanh
toán;
Có bằng chứng về đối tượng của hàng hóa là đối tượng đang bị tranh chấp
Có bằng chứng bến bán giao hàng không phù hợp với HĐ.
(Bằng chứng mà bên mua đưa ra không xác thực, gây thiệt hại cho bên bán thì
bên mua phải BTTH đó và chịu các chế tài khác theo quy định.)
Câu 8: Đặc điểm của dịch vụ thương mại. Kể tên những dịch vụ thương mại
được điều chỉnh bởi luật thương mại.
Dịch vụ là hoạt động của con người nhằm đáp úng yêu cầu nào đó của con
người và được kết tinh thành các loại sản phẩm vô hình.
Dịch vụ thương mại ra đời bởi hoạt động cung ứng dịch vụ thương mại. Cung
ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung ứng
dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử
dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng

dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận. (khoản 9 Điều 3)
Đặc điểm
- luôn có sự tham gia của 2 loại chủ thể, các chủ thể cung ứng dịch
vụ chủ yếu là thương nhân
- đối tượng của dịch vụ thương mại là dịch vụ
- các bên trong hoạt động cung ứng dịch vụ có mục đích khác nhau
một bên là nhận được thanh toán, một bên là thỏa mãn nhu cầu
- hình thức thực hiện dịch vụ phải thông qua hợp đồng
Ben  www.phamlinhnham.wordpress.com
ơ
♥ αμ Λιυη ΝηαΘμ ♥ ♥ ♥ ξοοδ λωγχο ψοω 
13
Những dịch vụ thương mại được điều chỉnh bởi luật thương mại năm 2005
 Nhóm dịch vụ xúc tiến thương mại: dịch vụ khuyến mại,
quảng cáo, trưng bày giới thiệu hàng hóa dịch vụ, hội trợ triển lãm.
 Nhóm dịch vụ trung gian thương mại: đại diện, môi giới, ủy
thác, đại lí
 Nhóm khác: đấu giá, đấu thầu, gia công, logistics, quá cảnh
hàng hóa, giám định, cho thuê hàng hóa, nhượng quyền thương mại.
Câu 9: Phân tích quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên trong hợp đồng
cung ứng dịch vụ thương mại.
Bên cung ứng dịch vụ (xem từ Điều 78 đến 84) (tự chém từng vấn đề trong
phòng thi)
 Cung ứng các dịch vụ và thực hiện những công việc có liên quan
một cách đầy đủ, phù hợp với thoả thuận và theo quy định của Luật thương
mại:
 Về kết quả thực hiện dịch vụ: trong trường hợp không có
thỏa thuận khác nếu công việc đòi hỏi phạt đạt được kết quả nhất định
thì bên cung ứng dịch vụ phải đạt được kết quả này, nếu công việc đòi
hỏi bên cung ứng dịch vụ phải nỗ lực cao nhất để đạt được kết quả như

mong muốn thì bên cung ứng dịch vụ phải thực hiện dịch vụ đó với nỗ
lực và khả năng cao nhất.
 Về thời hoàn thành dịch vụ: nếu không có thỏa thuận thì
phải hoàn thành trong thời gian hợp lí trên cơ sở tính toán các điều kiện
và hoàn cảnh cụ thể, trong trường hợp nghĩa vụ chỉ có thể hoàn thành
khi khách hàng đáp ứng được những điều kiện nhất định thì bên cung
ứng không có nghĩa vụ phải hoàn thành dịch vụ cho đến khi các điều
kiện đó được đáp ứng.
8/47
Ben  www.phamlinhnham.wordpress.com
ơ
♥ αμ Λιυη ΝηαΘμ ♥ ♥ ♥ ξοοδ λωγχο ψοω 
14
 Tuân thủ những yêu cầu hợp lí của khách hàng liên quan
đến những thay đổi trong quá trình thực hiện dịch vụ, chi phí phát sinh
do thực hiện sẽ do khách hàng trả trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
 Bảo quản và giao lại cho khách hàng tài liệu và phương tiện được
giao để thực hiện dịch vụ sau khi hoàn thành công việc;
 Thông báo ngay cho khách hàng trong trường hợp thông tin, tài
liệu không đầy đủ, phương tiện không bảo đảm để hoàn thành việc cung ứng
dịch vụ;
 Giữ bí mật về thông tin mà mình biết được trong quá trình cung
ứng dịch vụ nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định
 Hợp tác với khách hàng (trao đổi thông tin, tiến hành các hoạt
động cần thiết).
Bên khách hàng
 Thanh toán tiền cung ứng dịch vụ như đã thoả thuận trong hợp
đồng; nếu không có thỏa thuận khác thì việc thanh toán được tiến hành khi
dịch vụ hoàn thành
 Cung cấp kịp thời các kế hoạch, chỉ dẫn và những chi tiết khác để

việc cung ứng dịch vụ được thực hiện không bị trì hoãn hay gián đoạn;
 Hợp tác trong tất cả những vấn đề cần thiết khác để bên cung ứng
có thể cung ứng dịch vụ một cách thích hợp;
 Trường hợp một dịch vụ do nhiều bên cung ứng dịch vụ cùng tiến
hành hoặc phối hợp với bên cung ứng dịch vụ khác, khách hàng có nghĩa vụ
điều phối hoạt động của các bên cung ứng dịch vụ để không gây cản trở đến
công việc của bất kỳ bên cung ứng dịch vụ nào.
Ben  www.phamlinhnham.wordpress.com
ơ
♥ αμ Λιυη ΝηαΘμ ♥ ♥ ♥ ξοοδ λωγχο ψοω 
15
Câu 10: Phân tích khái niệm và đặc điểm của hoạt động đại diện cho thương
nhân. So sánh đại diện cho thương nhân với đại diện theo ủy quyền theo quy định
của Bộ luật dân sự 2005
Khái niệm (Điều 141 Luật Thương mại )
Đại diện cho thương nhân là việc một thương nhân nhận uỷ nhiệm (gọi là bên
đại diện) của thương nhân khác (gọi là bên giao đại diện) để thực hiện các hoạt động
thương mại với danh nghĩa, theo sự chỉ dẫn của thương nhân đó và được hưởng thù
lao về việc đại diện.
Trong trường hợp thương nhân cử người của mình để làm đại diện cho mình
thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự.
Vậy đại diện cho thương nhân được chia làm 2 thường hợp là hợp động cung
ứng dịch vụ thương mại và là trường hợp cá nhân đại diện cho tổ chức là thương
nhân. Tuy nhiên trường hợp thứ 2 không xét phân tích đặc điểm
Đặc điểm
 Chủ thể: Quan hệ đại diện cho thương nhân phát sinh giữa bên đại
diện và bên giao đại diện. Cả 2 bên đều phải là thương nhân.
 Bản chất: Bên giao đại diện sẽ ủy quyền cho bên đại diện thay
mặt, nhân danh bên giao đại diện thực hiện các hoạt động thương mại. Khi bên
đại diện giao dịch với bên thứ 3, thì về mặt pháp lí các hành vi do người này

thực hiện được xem như người ủy quyền (người giao đại diện thực hiện). Bên
giao đại diện phải chịu trách nhiệm về các cam kết do bên đại diện thực hiện
9/47
trong phạm vi ủy quyền.
 Nội dung của hoạt động đại diện rất đa dạng: có thể thỏa thuận
thực hiện một phần hoặc toàn bộ các hoạt động thương mại thuộc pham vi hoạt
động của bên giao đại diện, nó có thể bao gồm các hoạt động như tìm kiếm cơ
hội kinh doanh cho bên giao đại diện, thay mặt bên giao đại diện để thực hiện
các hoạt động nghiên cứu thị trường, lựa chọn đối tác, đàm phán, giao kết hợp
đồng với bên thứ 3…)
Ben  www.phamlinhnham.wordpress.com
ơ
♥ αμ Λιυη ΝηαΘμ ♥ ♥ ♥ ξοοδ λωγχο ψοω 
16
 Hình thức pháp lí: thông qua hợp đồng đại diện cho thương nhân
(phải được lập thành văn bản hoặc các hình thức có giá trị tương đương)
So sánh đại diện cho thương nhân với đại diện theo ủy quyền theo quy
định của Bộ luật dân sự 2005
Tiêu chí Đại diện cho thương nhân Đại diện theo ủy quyền
Chủ thể Bắt buộc phải là TN Chỉ cần đáp ứng các điều kiện về chủ
thể đại diện trong bộ luật dân sự.
Mục
đích
Nhằm mục đích lợi nhuận Không nhất thiết phải nhằm mục đích
lợi nhuận.
Hình
thức
Phải được lập thành văn bản
hoặc các hình thức khác có
giá trị pháp lý tương đương

Các bên tự thỏa thuận hình thức chỉ phải
lập thành văn bản khi pháp luật qui định
Câu 11: Phân tích đặc điểm của hoạt động môi giới thương mại theo qui
định của Luật Thương mại. Quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên trong hoạt
động môi giới thương mại?
Môi giới thương mại là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân làm
trung gian (gọi là bên môi giới) cho các bên mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ (gọi
là bên được môi giới) trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá,
dịch vụ và được hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới.
Đặc điểm
 Về chủ thể: bao gồm bên môi giới, bên được môi giới trong đó
bên môi giới phải là thương nhân có đăng kí hoạt động môi giới bên được môi
giới không nhất thiết phải là thương nhân.
 Về nội dung: bao gồm tìm kiếm và cung cấp các thông tin cần
thiết về đối tác cho bên được môi giới, tiến hành các hoạt động giới thiệu về
hàng hóa, dịch vụ cần môi giới, thu xếp để các bên đc môi giới tiếp xúc với
Ben  www.phamlinhnham.wordpress.com
ơ
♥ αμ Λιυη ΝηαΘμ ♥ ♥ ♥ ξοοδ λωγχο ψοω 
17
nhau, giúp đỡ các bên được môi giới soạn thảo văn bản hợp đồng khi họ yêu
cầu.
 Về mục đích: mục đích của bên môi giới là tìm kiếm lợi nhuận,
mục đích bên được môi giới là kí kết được hợp đồng.
 Về phạm vi: rất rộng bao gồm tất cả các hoạt động có thể kiếm lời
như môi giới mua bán hàng hóa, môi giới chứng khoán, môi giới bảo hiểm,
10/47
môi giới bất động sản…
 Hình thức: hợp đồng môi giới
* bên môi giới được kí hợp đồng với bên thứ 3 trừ trường hợp nó là đại diện.

Quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên trong hoạt động môi giới thương
mại
Bên môi giới
 Bảo quản các mẫu hàng hoá, tài liệu được giao để thực hiện việc
môi giới và phải hoàn trả cho bên được môi giới sau khi hoàn thành việc môi
giới;
 Không được tiết lộ, cung cấp thông tin làm phương hại đến lợi ích
của bên được môi giới;
 Chịu trách nhiệm về tư cách pháp lý của các bên được môi giới,
nhưng không chịu trách nhiệm về khả năng thanh toán của họ;
 Không được tham gia thực hiện hợp đồng giữa các bên được môi
giới, trừ trường hợp có uỷ quyền của bên được môi giới.
 Được cung cấp các thông tin, tài liệu, phương tiện cần thiết liên
quan đến hàng hoá, dịch vụ;
 Được trả thù lao môi giới và các chi phí hợp lý khác nếu các bên
không có thỏa thuận thì quyền hưởng thù lao môi giới được phát sinh từ khi
các bên được môi giới kí được hợp đồng với nhau, thù lao được xác định theo
giá dịch vụ (qui định tại điều 86 Luật Thương mại)
Ben  www.phamlinhnham.wordpress.com
ơ
♥ αμ Λιυη ΝηαΘμ ♥ ♥ ♥ ξοοδ λωγχο ψοω 
18
Bên được môi giới
 Cung cấp các thông tin, tài liệu, phương tiện cần thiết liên quan
đến hàng hoá, dịch vụ;
 Trả thù lao môi giới và các chi phí hợp lý khác cho bên môi giới.
Câu 12: Phân tích quyền và nghĩa vụ của bên đại diện, bên giao đại diện với
nhau và đối với bên thứ 3
Quyền và nghĩa vụ của bên đại diện với bên giao đại diện
Nghĩa vụ:

 Thực hiện hoạt động thương mại với danh nghĩa và vì lợi ích của
bên giao đại diện, thực hiện các hoạt động chỉ trong phạm vi đại diện và không
được thực hiện các hoạt động đó với danh nghĩa của mình hoặc của một bên
khác (đặc biệt quan trọng trong trường hợp có xung đột lợi ích giữa bên đại
diện và bên giao đại diện: trường hợp gây thiệt hại do vượt quá phạm vi đại
diện, trường hợp có xung đột lợi ích kinh tế…)
 Thông báo cho bên đại diện về cơ hội và kết quả thực hiện các
hoạt động thương mại đã ủy quyền (đây là những thông tin đã biết hay phải
biết, nó sẽ giúp bên giao đại diện hoạch định kế hoạch kinh doanh và đưa ra
những chỉ dẫn cho bên đại diện tiếp tục thực hiện công việc đại diện)
 Thực hiện những chỉ dẫn của bên giao đại diện nếu nó không vi
phạm qui định của pháp luật (có thể từ chối nếu nó vi phạm pháp luật hoặc trao
đổi lại nếu thấy chỉ dẫn đó nếu được thực hiện sẽ gây thiệt hại cho bên giao đại
diện)
 Không được thực hiện hoạt động thương mại với danh nghĩa của
mình hoặc người thứ 3 trong phạm vi đại diện
 Bảo quản các tài liệu được giao để thực hiện hoạt động đại diện
 Không tiết lộ hoặc cung cấp bí mật liên quan đến hoạt động
thương mại của bên giao đại diện
Ben  www.phamlinhnham.wordpress.com
11/47
ơ
♥ αμ Λιυη ΝηαΘμ ♥ ♥ ♥ ξοοδ λωγχο ψοω 
19
Quyền:
 Hưởng thù lao
 Yêu cầu thanh toán chi phí
 Nắm giữ các tài sản được giao (đương nhiên)
Bên giao đại diện
Nghĩa vụ

 Thông báo về việc giao kết, việc thực hiện các hợp đồng mà bên
đại diện đã giao kết (bên đại diện cần phải biết bên giao đại diện có chấp nhận
hay không việc đó, về khả năng có giao kết hợp đồng và thực hiện hợp đồng
được không, thông báo này cần phải kịp thời)
 Cung cấp tài sản tài liệu cần thiết để bên đại diện thực hiện hoạt
động đại diện
 Trả thù lao và các chi phí hợp lí khác
Quyền
 Không chấp nhận những hợp đồng bên đại diện đã kí không đúng
thẩm quyền (nếu có thiệt hại được bồi thường)
 Yêu cầu bên đại diện cung cấp những thông tin liên quan đến việc
thực hiện hoạt động thương mại được ủy quyền
 Đưa ra những chỉ dẫn và yêu cầu bên đại diện tuân thủ những chỉ
dẫn đó
Nghĩa vụ với bên thứ ba:
- Của bên đại diện: báo cho bên thứ 3 về thời hạn, phạm vi đại diện,
về việc sửa đổi bổ sung phạm vi đại diện (584 Bộ luật Dân sự)
- Của bên giao đại diện: báo bằng văn bản cho bên thứ 3 về việc
đơn phương chấm dứt hợp đồng đại diện, nếu không báo thì hợp đồng mà bên
đại diện kí với bên thứ 3 vẫn có hiệu lực trừ trường hợp bên thứ 3 biết hoặc
buộc phải biết về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng này (588 Bộ luật Dân
sự )
Ben  www.phamlinhnham.wordpress.com
ơ
♥ αμ Λιυη ΝηαΘμ ♥ ♥ ♥ ξοοδ λωγχο ψοω 
20
Câu 13: Phân tích đặc điểm của hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa và đại
lý thương mại.
Hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa
Uỷ thác mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận uỷ thác

thực hiện việc mua bán hàng hoá với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã
thoả thuận với bên uỷ thác và được nhận thù lao uỷ thác (155 Luật Thương mại)
Đặc điểm
Về chủ thể: quan hệ ủy thác mua bán hàng hóa được xác lập giữa bên ủy thác
và bên nhận ủy thác. Bên được ủy thác phải là thương nhân kinh doanh mặt hàng phù
hợp với hàng hóa được ủy thác, bên ủy thác không nhất thiết phải có tư cách thương
nhân. Bên nhận ủy thác tiến hành hoạt động với danh nghĩa của chính mình và các
hành vi của bên nhận ủy thác sẽ mang lại hậu quả cho chính họ. hoạt động ủy thác
đôi khi còn được gọi là hoạt động “kí gửi”.
Về nội dung: gồm việc giao kết và thực hiện ủy thác. Nội dung của ủy thác
hẹp hơn so vơi đại diện.
Về hình thức: hợp đồng ủy thác (phải được lập thành văn bản hoặc các hình
thức khác có giá trị tương đương)
Hoạt động đại lí thương mại
12/47
Đại lý thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại
lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao
đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù
lao(166 Luật Thương mại)
Đặc điểm
 Về chủ thể: quan hệ phát sinh giữa bên đại lí và bên giao đại lí, cả
2 bên đều phải là thương nhân. Bên đại lí nhận hàng hóa để bán hoặc nhận tiền
để mua hoặc nhận ủy quyền để cung ứng dịch vụ cho bên giao đại lí.
 Về nội dung: bao gồm việc giao kết và thực hiện hợp đồng đại lí,
bên đại lí nhân danh chính mình để thực hiện các hợp đồng với bên thứ 3
Ben  www.phamlinhnham.wordpress.com
ơ
♥ αμ Λιυη ΝηαΘμ ♥ ♥ ♥ ξοοδ λωγχο ψοω 
21
(trong quan hệ đại lí mua bán hàng hóa, hàng hóa vẫn thuộc sở hữu của bên

giao đại lí cho tới khi nó được bán)
 Về hình thức: phát sinh qua hợp đồng đại lí (văn bản hoặc các
hình thức khác có giá trị tương đương)
Câu 14: Phân tích đặc điểm của hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa. So
sánh ủy thác mua bán hàng hóa với đại lí thương mại.
Hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa
Uỷ thác mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận uỷ thác
thực hiện việc mua bán hàng hoá với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã
thoả thuận với bên uỷ thác và được nhận thù lao uỷ thác (155 Luật Thương mại)
Đặc điểm
Về chủ thể: quan hệ ủy thác mua bán hàng hóa được xác lập giữa bên ủy thác
và bên nhận ủy thác. Bên được ủy thác phải là thương nhân kinh doanh mặt hàng phù
hợp với hàng hóa được ủy thác, bên ủy thác không nhất thiết phải có tư cách thương
nhân. Bên nhận ủy thác tiến hành hoạt động với danh nghĩa của chính mình và các
hành vi của bên nhận ủy thác sẽ mang lại hậu quả cho chính họ. hoạt động ủy thác
đôi khi còn được gọi là hoạt động “kí gửi”.
Về nội dung: gồm việc giao kết và thực hiện ủy thác. Nội dung của ủy thác
hẹp hơn so vơi đại diện.
Về hình thức: hợp đồng ủy thác (phải được lập thành văn bản hoặc các hình
thức khác có giá trị tương đương)
So sánh trang sau
Ben  www.phamlinhnham.wordpress.com
ơ
♥ αμ Λιυη ΝηαΘμ ♥ ♥ ♥ ξοοδ λωγχο ψοω 
22
So sánh
ủy thác mua bán hàng hóa Đại lí thương mại
Điểm giống
 thực hiện thông qua các thương nhân trung gian
 bên trung gian bằng danh nghĩa của chính mình

thực hiện việc mua bán hàng hóa cho người khác
 mục đích của bên trung gian là hưởng thù lao
Chủ thể
Chỉ cần bên trung gian là
thương nhân
Cả 2 bên đều phải là thương nhân
Phạm vi
Chỉ được thực hiện trong
13/47
lĩnh vực mua bán hàng
hóa
Thực hiện trong cả lĩnh vực cung
ứng dịch vụ
Quyền của
bên trung
gian
Bên thứ 3 do bên ủy thác
thỏa thuận (chỉ định)
Được lựa chọn bên thứ 3
Điểm khác
Tính chất
của quan hệ
Mang tính vụ việc, đơn lẻ
Là quá trình hơp tác lâu dài giữa
bên đại lý và bên giao đại lý. trong
QH đại lý, bên đại lý có sự gắn bó
phụ thuộc vào bên giao đại lý đồng
thời bên giao địa lý có sự kiểm tra,
giám sát chặt chẽ đối với hoạt động
của bên đại lý.

Câu 15: Phân tích đặc điểm của hoạt động đại lí thương mại. So sánh đại
lí thương mại với ủy thác mua bán hàng hóa
Hoạt động đại lí thương mại
Đại lý thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại
lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao
đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao
(166 Luật Thương mại)
Ben  www.phamlinhnham.wordpress.com
ơ
♥ αμ Λιυη ΝηαΘμ ♥ ♥ ♥ ξοοδ λωγχο ψοω 
23
Đặc điểm
 Về chủ thể: quan hệ phát sinh giữa bên đại lí và bên giao đại lí, cả
2 bên đều phải là thương nhân. Bên đại lí nhận hàng hóa để bán hoặc nhận tiền
để mua hoặc nhận ủy quyền để cung ứng dịch vụ cho bên giao đại lí.
 Về nội dung: bao gồm việc giao kết và thực hiện hợp đồng đại lí,
bên đại lí nhân danh chính mình để thực hiện các hợp đồng với bên thứ 3
(trong quan hệ đại lí mua bán hàng hóa, hàng hóa vẫn thuộc sở hữu của bên
giao đại lí cho tới khi nó được bán)
 Về hình thức: phát sinh qua hợp đồng đại lí (văn bản hoặc các
hình thức khác có giá trị tương đương)
So sánh
ủy thác mua bán hàng hóa Đại lí thương mại
Điểm
giống
 thực hiện thông qua các thương nhân trung gian
 bên trung gian bằng danh nghĩa của chính mình thực
hiện việc mua bán hàng hóa cho người khác
 mục đích của bên trung gian là hưởng thù lao
Chủ

thể
Chỉ cần bên trung gian là
14/47
thương nhân
Cả 2 bên đều phải là thương nhân
Phạm
vi
Chỉ được thực hiện trong
lĩnh vực mua bán hàng hóa
Thực hiện trong cả lĩnh vực cung ứng
dịch vụ
Quyền
của
bên
trung
gian
Bên thứ 3 do bên ủy thác
thỏa thuận (chỉ định)
Được lựa chọn bên thứ 3
Điểm khác
Tính
chất
của
quan
hệ
Mang tính vụ việc, đơn lẻ
Là quá trình hơp tác lâu dài giữa bên
đại lý và bên giao đại lý. trong QH đại
lý, bên đại lý có sự gắn bó phụ thuộc
vào bên giao đại lý đồng thời bên giao

địa lý có sự kiểm tra, giám sát chặt
chẽ đối với hoạt động của bên đại lý.
Ben  www.phamlinhnham.wordpress.com
ơ
♥ αμ Λιυη ΝηαΘμ ♥ ♥ ♥ ξοοδ λωγχο ψοω 
24
Câu 16: Phân tích đặc điểm của các hình thức đại lí theo qui định của Luật
Thương mại
Đại lý bao tiêu là hình thức đại lý mà bên đại lý thực hiện việc mua, bán trọn
vẹn một khối lượng hàng hoá hoặc cung ứng đầy đủ một dịch vụ cho bên giao đại lý.
Bên giao đại lí ấn định giá giao, bên đại lí ấn định giá bán, bên đại lí hưởng giá
chênh lệch, ngoài ra vẫn được hưởng thù lao đại lí.
Đại lý độc quyền là hình thức đại lý mà tại một khu vực địa lý nhất định bên
giao đại lý chỉ giao cho một đại lý mua, bán một hoặc một số mặt hàng hoặc cung
ứng một hoặc một số loại dịch vụ nhất định, nó được hưởng thù lao đại lí.
Tổng đại lý mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ là hình thức đại lý mà bên đại
lý tổ chức một hệ thống đại lý trực thuộc để thực hiện việc mua bán hàng hoá, cung
ứng dịch vụ cho bên giao đại lý, hình thức này tạo ưu thế trong việc phân phối sản
phẩm, nó được hưởng thù lao đại lí.
Các hình thức khác mà các bên thỏa thuận: đại lí hoa hồng: ,,,, đại lí bảo đảm
thanh toán…
Câu 17: Phân tích đặc điểm của khuyến mại. Phân tích và cho ví dụ về các
hình thức khuyến mại theo luật thương mại năm 2005
Khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến
việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi
ích nhất định.
15/47
Đặc điểm:
 Chủ thể thực hiện hoạt động khuyến mại là thương nhân, thương
nhân tự thực hiện việc khuyến mại cho mình hoặc làm dịch vụ cho thương

nhân khác để kinh doanh (việc này hình thành trên cơ sở hợp đồng dịch vụ
khuyến mại)
 Cách thức xúc tiến thương mại: dành cho khách hàng những lợi
ích nhất định (vật chất hoặc phi vật chất). Khách hàng được khuyến mại là
người tiêu dùng hoặc là các trung gian phân phối.
Ben  www.phamlinhnham.wordpress.com
ơ
♥ αμ Λιυη ΝηαΘμ ♥ ♥ ♥ ξοοδ λωγχο ψοω 
25
 Mục đích của việc khuyến mại là xúc tiến việc bán hàng và cung
ứng dịch vụ để tăng thị phần của doanh nghiệp trên thị trường hàng hóa dịch
vụ chủ yếu thông qua việc lôi kéo khách hàng thực hiện hành vi mua sắm, sử
dụng dịch vụ, giới thiệu sản phẩm mới, kích thích trung gian phân phối chú ý
hơn nữa tới hàng hóa của doanh nghiệp, tăng lượng hàng đặt mua
Các hình thức khuyến mại theo Luật Thương mại
 Đưa hàng hoá mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng
thử không phải trả tiền: thông thường hình thức này được áp dụng khi thương
nhân muốn giới thiệu một sản phẩm mới hoặc một sản phẩm cải tiến, hàng giới
thiệu thường là hàng đang hoặc sẽ bán trên thị trường.
 Tặng hàng hoá cho khách hàng, cung ứng dịch vụ không thu tiền:
quà tặng có thể là hàng hóa dịch vụ thương nhân đang kinh doanh hoặc hàng
hóa dịch vụ của thương nhân khác, thương nhân có thể liên kết xúc tiến thương
mại.
 Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng, giá
cung ứng dịch vụ trước đó, được áp dụng trong thời gian khuyến mại đã đăng
ký hoặc thông báo. Trường hợp hàng hóa, dịch vụ thuộc diện Nhà nước quản lý
giá thì việc khuyến mại theo hình thức này được thực hiện theo quy định của
Chính phủ. Pháp luật cũng qui định mức độ giảm giá với các đơn vị hàng hóa
dịch vụ để bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh.
 Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu

sử dụng dịch vụ để khách hàng được hưởng một hay một số lợi ích nhất định.
 Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm phiếu dự thi cho khách hàng
để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố.
 Bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương
trình mang tính may rủi mà việc tham gia chương trình gắn liền với việc mua
hàng hóa, dịch vụ và việc trúng thưởng dựa trên sự may mắn của người tham
gia theo thể lệ và giải thưởng đã công bố.
Ben  www.phamlinhnham.wordpress.com
ơ
♥ αμ Λιυη ΝηαΘμ ♥ ♥ ♥ ξοοδ λωγχο ψοω 
26
 Tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên, theo đó việc tặng
thưởng cho khách hàng căn cứ trên số lượng hoặc trị giá mua hàng hóa, dịch
vụ mà khách hàng thực hiện được thể hiện dưới hình thức thẻ khách hàng,
phiếu ghi nhận sự mua hàng hoá, dịch vụ hoặc các hình thức khác.
 Tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn hóa, nghệ
thuật, giải trí và các sự kiện khác vì mục đích khuyến mại, việc này có thể áp
dụng với người đã hay chưa mua hàng hóa sử dụng dịch vụ.
 Ngoài ra cũng có thể khuyến mại bằng các hình thức khác nhưng
trước khi tiến hành phải được cơ quan nhà nước chấp thuận.
16/47
Câu 18: Phân tích các đặc điểm của quảng cáo thương mại và nêu rõ các
hoạt động quảng cáo thương mại bị cấm thực hiện.
Quảng cáo thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân để
giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của mình
Đặc điểm
 Chủ thể là thương nhân có thể quảng cáo cho mình hoặc kinh
doanh dịch vụ quảng cáo
 Về tổ chức thực hiện: thương nhân tiến hành các hoạt động cần
thiết để quảng cáo cho sản phẩm của mình, thông thường thương nhân thường

thuê dịch vụ quảng cáo để đạt hiệu quả cao.
 Về cách thức: thương nhân sử dụng sản phẩm và phương tiện
quảng cáo thương mại để thông tin về sản phẩm quảng cáo (phương tiện quảng
cáo là đặc trưng quan trọng để phân biệt quảng cáo với các hình thức xúc tiến
thương mại khác như hội trợ triển lãm…)
 Mục đích là giới thiệu về hàng hóa, dịch vụ nhằm tạo sự nhận biết
và kiến thức của khách hàng về sản phẩm, thu hút khách hàng để đáp ứng nhu
cầu cạnh tranh và mục tiêu lợi nhuận của thương nhân.
Ben  www.phamlinhnham.wordpress.com
ơ
♥ αμ Λιυη ΝηαΘμ ♥ ♥ ♥ ξοοδ λωγχο ψοω 
27
Các hoạt động quảng cáo thương mại bị cấm thực hiện
 Quảng cáo làm tiết lộ bí mật nhà nước, phương hại đến độc lập,
chủ quyền, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội. Bởi quảng cáo là quá
trình thông tin một chiều, người xem chỉ có thể tiếp nhận thông tin chứ không
thể đối thoại hay phản hồi, chính vì vậy mà họ có thể tiếp nhận thông tin dưới
nhiều góc độ khác nhau, và có những cách hiểu không nguyên vẹn như ý tưởng
của người quảng cáo. Chính vì thế mà dù chỉ là để khuếch trương, giới thiệu
sản phẩm của mình thì cũng không một chủ thể nào được vô tình làm tổn hại
đến các lợi ích chính trị. Không một chủ thể nào được sử dụng Quốc kì, Đảng
kì, Quốc ca, hình ảnh các vị lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam … để
quảng cáo.
 Quảng cáo có sử dụng sản phẩm quảng cáo, phương tiện quảng
cáo trái với truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt
Nam và trái với quy định của pháp luật. Để tăng thu hút người xem nhằm
quảng bá cho sản phẩm của mình, các thương nhân thường phải gây ấn tượng
cho người xem nhưng cũng không được vì thế mà gây ấn tượng bằng cách xâm
hại đến các giá trị truyền thống. Chính vì thế mà không chủ thể nào được
quảng cáo có tính chất kì thị dân tộc, phân biệt chủng tộc, xâm phạm tự do tín

ngưỡng, tôn giáo, quảng cáo có tính chất kích thích bạo lực, kinh dị; dùng từ
ngữ không lành mạnh…
 Quảng cáo hàng hoá, dịch vụ mà Nhà nước cấm kinh doanh,hạn
chế kinh doanh hoặc cấm quảng cáo. Quảng cáo là để giới thiệu sản phẩm càng
rộng rãi càng tốt, nên nếu hàng hóa dịch vụ nào nhà nước cấm kinh doanh, hạn
chế kinh doanh hoặc cấm quảng cáo thì không được phép quảng cáo dưới bất
kì hình thức nào.
 Quảng cáo thuốc lá, rượu có độ cồn từ 30 độ trở lên và các sản
phẩm, hàng hoá chưa được phép lưu thông, dịch vụ chưa được phép cung ứng
trên thị trường Việt Nam tại thời điểm quảng cáo Đây không những chỉ là qui
định trong luật thương mại mà các văn bản khác cũng có qui định cụ thể về các
Ben  www.phamlinhnham.wordpress.com
ơ
♥ αμ Λιυη ΝηαΘμ ♥ ♥ ♥ ξοοδ λωγχο ψοω 
17/47
28
loại sản phẩm này. Ví dụ trong thông tư số 19/2005/TT-BVHTT cũng đã qui
định rõ về các hoạt động được coi là quảng cáo thuốc lá, trong lĩnh vực y tế
pháp lệnh quảng cáo năm 2001 nghiêm cấm quảng cáo thuốc chưa được cấp
đăng kí hoặc hết hạn đăng kí, đã bị loại khỏi danh mục thuốc cho phép sử
dụng…
 Lợi dụng quảng cáo thương mại gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà
nước, tổ chức, cá nhân. Để bảo vệ cho lợi ích của nhà nước và của cá nhân, tổ
chức khác thì qui định này là vô cùng cần thiết. Lợi ích của nhà nước, tổ chức,
cá nhân ở đây có thể là lợi ích về vật chất hoặc cũng có thể là lợi ích về danh
dự, uy tín.
 Quảng cáo bằng việc sử dụng phương pháp so sánh trực tiếp hoạt
động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của mình với hoạt động sản xuất,
kinh doanh hàng hoá, dịch vụ cùng loại của thương nhân khác. Quảng cáo bằng
việc sử dụng phương pháp so sánh là một cách tự đề cao hàng hóa dịch vụ của

mình bằng cách cho rằng sản phẩm của mình tốt hơn sản phẩm của thương
nhân khác, hạ thấp sản phẩm của thương nhân khác hoặc quảng cáo rằng sản
phẩm cũng tốt như sản phẩm cùng loại đã có uy tín trên thị trường. Việc so
sánh này có thể là so sánh về chất lượng, về giá cả, về qui trình sản xuất sản
phẩm… mọi hành vi hạ thấp hoặc dựa dẫm vào sản phẩm của người khác để
quảng bá cho hình ảnh sản phẩm của mình đều bị coi là đi ngược lại với bản
chất của quảng cáo.
 Quảng cáo sai sự thật về một trong các nội dung số lượng, chất
lượng, giá, công dụng, kiểu dáng, xuất xứ hàng hóa, chủng loại, bao bì, phương
thức phục vụ, thời hạn bảo hành của hàng hoá, dịch vụ. Vì là quảng cáo thương
mại, chủ thể thực hiện quảng cáo là thương nhân nên qui định để đảm bảo
quảng cáo đúng sự thật được khắt khe hơn so với qui định về quảng cáo thông
thường, và các qui định về nội dung không được quảng cáo sai sự thật theo thời
gian cũng được hoàn chỉnh hơn (theo luật thương mại năm 1997 thì chưa có
qui định về xuất xứ hàng hóa). Qui định không những chỉ nhằm đảm bảo cho
Ben  www.phamlinhnham.wordpress.com
ơ
♥ αμ Λιυη ΝηαΘμ ♥ ♥ ♥ ξοοδ λωγχο ψοω 
29
thương nhân cố tình đưa sai một thông tin nào đó về sản phẩm hòng tạo ra lợi
thế hơn cho mình so với đối thủ mà còn đảm bảo cho lợi ích của người tiêu
dùng.
 Quảng cáo cho hoạt động kinh doanh của mình bằng cách sử dụng
sản phẩm quảng cáo vi phạm quyền sở hữu trí tuệ; sử dụng hình ảnh của tổ
chức, cá nhân khác để quảng cáo khi chưa được tổ chức, cá nhân đó đồng ý.
Đây là qui định hoàn toàn mới so với luật thương mại năm 1997 và pháp lệnh
quảng cáo năm 2001, qui định này không nhằm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ,
quyền của cá nhân với hình ảnh.
 Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh theo quy định của
pháp luật. Theo qui định của luật cạnh tranh những hành vi được coi là quảng

cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh:
 So sánh trực tiếp hàng hoá, dịch vụ của mình với hàng hoá,
dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác;
 Bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác để gây nhầm lẫn
cho khách hàng;
 Đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng
về một trong các nội dung: giá, số lượng, chất lượng, công dụng, kiểu
dáng, chủng loại, bao bì, ngày sản xuất, thời hạn sử dụng, xuất xứ hàng
18/47

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×