Tải bản đầy đủ (.doc) (25 trang)

Nghiên cứu về Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ Khoa Học và Công Nghệ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (906.25 KB, 25 trang )

Lời nói đầu
Theo chương trình đào tạo của trường Đại học An Giang thì sinh viên năm thứ 4 ngành công nghệ
sinh học, khoa Nông nghiệp – Tài nguyên thiên nhiên có chuyến thực tập cơ sở. Nhằm mục đích
giúp sinh viên có thể hiểu rõ hơn về những ứng dụng của công nghệ sinh học trong đời sống thực
tiễn, nắm vững một số kiến thức đã học. Đồng thời cũng giúp cho sinh viên làm quen với môi
trường làm việc, để có thể thích nghi tốt nhất với môi trường làm việc sau này.
Tôi thực tập cơ sở tại Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ Khoa Học và Công Nghệ. Thời gian thực tập
từ 25/01/2010 – 28/02/2010. Được sự giúp đỡ và chỉ dạy tận tình của các anh chị trong phòng phân
tích thí nghiệm đã giúp tôi nắm vững các thao tác kỹ thuật tạo meo giống nấm, hiểu rõ hơn những
lý thuyết đã học, học hỏi được nhiều kinh nghiệm từ các anh chị và nhiều kiến thức bổ ích khác.
Tôi xin chân thành cám ơn nhà trường, khoa, đặc biệt là các thầy cô trong bộ môn, giáo viên hướng
dẫn, các anh chị ở trung tâm đã tạo đủ mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành chuyến thực tập cơ sở
trong thời gian qua.
Chương 1
1
Giới thiệu chung
1.1. Giới thiệu về Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ Khoa Học và Công Nghệ
Địa chỉ: 17 Lê Lai, phường Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên, An Giang.
Điện thoại: (076) 954306 – 954304. Fax: (076) 954305
Trung tâm Ứng dụng và chuyển giao Khoa Học Công Nghệ tỉnh An Giang được thành lập theo
quyết định số 5805/QĐ.UB.TC ngày 25/7/1997 của Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang. Nay là Trung
tâm Ứng dụng Tiến bộ Khoa học và Công nghệ hoạt động với các chức năng và nhiệm vụ chủ yếu
như sau:
- Nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao và sản xuất thử nghiệm trong các lĩnh vực khoa học
công nghệ.
- Thực hiện các dịch vụ khoa học công nghệ và môi trường:
+ Lập báo cáo đánh giá tác động môi trường
+ Tư vấn về giám sát môi trường; thiết kế, lắp đặc hệ thống xứ lý nước thải, khí thải, nước sinh
hoạt.
+ Phân tích mẫu về các chỉ tiêu môi trường (nước, không khí).
+ Tư vấn và lắp đặt hệ thống thu lôi chống sét.


+ Tư vấn về sở hữu công nghệ và ISO 9000.
+ Đánh giá công nghệ và chuyển giao công nghệ.
+ Cung ứng các loại cây giống bằng kỹ thuật cấy mô.
+ Cung ứng hóa chất, vật tư, thiết bị phục vụ họat động khoa học công nghệ và môi trường.
+ Đào tạo nghiệp vụ về quản lí khoa học công nghệ và môi trường.
+ Sản xuất kinh doanh: các sản phảm, thiết bị phục vụ nhu cầu sản xuất, sinh hoạt và bảo vệ
môi trường từ nhựa Composite bình lọc nước uống (nến lọc được làm từ nguyên liệu
Diatomite), ngọc thạch thất sơn, gốm mỹ nghệ, gốm đen, gốm đỏ, chế phẩm sinh học EM, cung
cấp meo giống, bịch phôi nấm mèo và bào ngư, bột xử lí nước sinh hoạt.
2
1.2. Đặt vấn đề
Nấm ăn là thực phẩm giàu chất dinh dưỡng, do chứa nhiều protein, các axit amin, khoáng,
vitamin…Ngoài ra, nấm ăn còn được dùng để chữa trị một số bệnh như: giảm cholesterrol trong
máu, điều hòa huyết áp, thiếu máu, ung thư…, không có các độc tố.Vì vậy nấm ăn được xem là
một loại rau cao cấp, “rau sạch”, được sử dụng ngày càng rộng rãi và phổ biến trong các bữa ăn gia
đình.
Ngoài những đặc điểm ưu việt của nấm ăn về dinh dưỡng, việc trồng nấm còn mang lại những hiệu
quả cao về kinh tế, là một trong những hướng phát triển của công nghệ sinh học. Do vậy, nghề
trồng nấm đã được hình thành, phát triển và lan rộng khắp toàn cầu từ rất lâu. Nghề trồng nấm dần
dần đã trở thành một nghề với trình độ ngày một cao và sản xuất theo qui mô công nghiệp ở nhiều
nước trên thế giới.
Ở Việt Nam, lợi thế của nghề trồng nấm ăn là rất lớn, nếu chúng ta khai thác hiệu quả tiềm năng
dồi dào về lao động nông nghiệp, rơm, rạ, nguyên vật liệu trong nông thôn và công nghệ sinh học
(Trần Đình Đằng, 2007). Tuy nhiên nghề trồng nấm ở nước ta còn quan niệm là nghề phụ nên phát
triển rất yếu so với các nước khác trên thế giới. Sản xuất chủ yếu các loài nấm quen thuộc như nấm
rơm, nấm mèo, nấm bào ngư…, các loài nấm mới có giá trị kinh tế chưa được trồng phổ biến như:
nấm mỡ, nấm hầu thủ, nấm thái dương... Vì vậy cần chú ý đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, xây dựng
qui trình sản xuất nấm mới nhằm thúc đẩy sự phát triển của nghề trồng nấm trong nước.
Nấm rơm lụa bạc là một trong những loại nấm mới, là loài nấm dại, ăn rất ngon nhưng cũng rất
hiếm. Người ta đã tìm thấy nó ở Trung Quốc và một số nơi khác trên thế giới trong đó có Việt

Nam. Hiện nay chưa có tài liệu nào nói rõ qui trình trồng nấm rơm lụa bạc.
3
Hình 1: Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ
Khoa học và Công nghệ
Năm 2002, GS-TS Phạm Thành Hổ đã nghiên cứu một số đặt tính sinh học và hệ thống chọn dòng
nấm rơm lụa bạc Volvariella bombicina phân lập tại Việt Nam, đồng thời nghiên cứu nuôi trồng 4
dòng đơn bào tử của nấm này, bước đầu ứng dụng vào chọn giống. Nấm rơm lụa bạc sống từ vùng
ôn đới đến cận nhiệt đới, nấm này cho ra quả thể trên bông gòn thải, mạt cưa, đặt biệt là mạt cưa
đã qua sử dụng (mạt cưa đã sử dụng trồng nấm mèo hoặc nấm bào ngư). Từ đó cho thấy nấm rơm
lụa bạc hoàn toàn có khả năng nuôi trồng ở nước ta.
Đề tài “Qui trình sản xuất meo nấm rơm lụa bạc trên môi trường lúa” với mục đích khảo sát tốc độ
và điều kiện lan tơ của nấm rơm lụa bạc trên môi trường lúa. Hoàn thiện qui trình sản xuất meo là
hoàn thiện bước đầu trong qui trình trồng nấm rơm lụa bạc.
Chương 2
Lược khảo tài liệu
4
2.1. Sơ lược về lịch sử trồng nấm
Nấm ăn đã được sử dụng như một loại thực phẩm ngon cách đây hơn hai ngàn năm. Loài người đã
biết dùng nấm làm thức ăn và làm thuốc từ thời hoàng đế La Mã.
Lúc đầu, nấm được thu hái ngoài tự nhiên nhưng dần dần trở thành mối quan tâm của con người.
Từ thế kỉ thứ VI, người ta đã biết trồng các loại nấm để ăn mặc dù kĩ thuật còn thô sơ. Người
Trung Quốc đã biết trồng nấm hương cách đây hơn hai ngàn năm. Nhiều tài liệu tham khảo của
Chang và Miles (1987) cho thấy nấm mèo được trồng đầu tiên ở Trung Quốc, nấm kim châm được
trồng vào khoảng năm 800 - 900 dương lịch, nấm hương, nấm rơm, nấm bạch mộc nhĩ được trồng
theo thứ tự vào những năm 1000, 1700, 1800 (Trần Thị Kim Dung, 2009).
Sự ra đời của nghề trồng nấm được xem như phát sinh ở Pháp cách đây hơn ba thế kỷ. Năm 1650,
nhận thấy nấm trắng (Agaricus Bisporus) mọc trên các luống bón phân ngựa, những người trồng
dưa bở ở Pháp lấy chổ có nấm mọc hòa vào nước, tưới cho những luống khác, kết quả thu được
nhiều hơn. Đến cuối thế kỷ XVII, nấm trắng được trồng để cung cấp cho những bữa ăn và tiệc của
vua Louis XIV. Nghề trồng nấm phát triển mạnh nhất dưới thời Napoleon và sau đó lan nhanh qua

các nước khác (Lê Duy Thắng, 2006). Với những tiến bộ trong vài thập kỷ qua, nghề trồng nấm đã
lan nhanh khắp thế giới và mang tính khoa học thật sự.
Bảng sau đây cho thấy con người đã biết nuôi trồng nhiều loại nấm dùng làm thực phẩm và dược
liệu từ rất sớm.
Loài nấm
Thời gian lần
đầu được nuôi
cấy
Loài nấm
Thời gian lần
đầu được nuôi
cấy
5
Auricularia auricula
(nấm mèo)
600 Pleurotus eryngii 1977
Flammulina velutipes
(nấm kim châm)
800
Hericium erinaceus
(hầu thủ)
1960
Lentinula edodes (nấm
hương)
1000
Agaricus blazei (thái
dương)
1970
Poria cocos (nấm phục
linh)

1232
Trametes vesicolor
(vân chi)
1981
Agaricus bisporus (nấm
mỡ)
1600 Morchella spp 1986
Ganoderma spp. (linh
chi)
1621
Lyophyllum ulmarium
1987
Volvariella volvacea
(nấm rơm)
1700
Lentinus tigrius
1988
Tremella fuciformis (nấm
ngân nhĩ)
1894
Giaesiereum
incarnatum
1989
Pleurotus ostreatus (bào
ngư xám)
1900
Tricholoma labayense
1990
Pleurotus ferulea,
Pholiota nameko (trân

châu)
1958
Tricholoma
monolicum;
Tricholoma gambosum
1991
Bảng 1: Lịch sử nuôi trồng một số loại nấm (Huỳnh Kim Hà, 2002)
Nhìn chung, công việc thăm dò và nghiên cứu cách trồng nấm đã thực sự phát triển mạnh và rộng
khắp trong những thập kỉ qua, nhất là trong 20 năm trở lại đây. Lúc đầu, người ta trồng trên gỗ
mục, rơm rạ và dần dần, với sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật, nhất là kĩ thuật vô trùng, người ta bắt
đầu nghĩ đến việc sử dụng vật liệu phế thải như mùn cưa, bã mía, bông phế thải… để trồng nấm,
và đã đem lại hiệu quả kinh tế đáng kể.
2.2. Tình hình sản xuất nấm trên thế giới, Việt Nam và An Giang
2.2.1. Tình hình sản xuất nấm trên thế giới
Vấn đề nghiên cứu và sản xuất nấm ăn trên thế giới ngày càng phát triển mạnh mẽ, nó trở thành
một ngành công nghiệp thực phẩm thực thụ. Các nước trên thế giới hiện nay tập trung nghiên cứu
và sản xuất nấm mỡ, nấm hương, nấm sò, nấm rơm là chủ yếu.
Khu vực Bắc Mỹ và châu Âu trồng nấm theo phương pháp công nghiệp lớn được cơ giới hóa toàn
bộ nên năng suất và sản lượng rất cao. Từ khâu xử lý nguyên liệu đến thu hái chế biến đều do máy
6
móc thực hiện. Năng suất nấm trung bình đạt từ 40 – 60% so với nguyên liệu ban đầu (nấm mỡ).
Năm 1983 ở Pháp sản xuất 200.000 tấn nấm mỡ tươi, nhưng chỉ cần hơn 6000 người (Đinh Xuân
Linh và ctv, 2008).
Các nơi ở khu vực châu Á (Nhật Bản, vùng lãnh thổ Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc…) triển
khai sản xuất nấm theo mô hình trang trại vừa và nhỏ, còn mang tính chất thủ công, năng suất
không cao nhưng sản xuất gia đình, trang trại với số đông nên tổng sản lượng lớn. Một số loại nấm
ăn được trồng khá phổ biến đó là nấm mỡ, nấm hương, nấm rơm, mộc nhĩ. Sản xuất nấm mỡ, nấm
hương của Trung Quốc lớn nhất thế giới.
Năm 1990, tổng sản lượng nấm ăn toàn thế giới là 3763000 tấn, trong đó nấm mỡ 1424000 tấn,
nấm hương 393000 tấn. Năm 1994, tổng sản lượng nấm thế giới lên 4909000 tấn, trong đó nấm mỡ

1846000 tấn (37,6%), nấm hương 826200 tấn (16,8%), nấm rơm 798800 tấn (6,1%), nấm kim vàng
229800 tấn (4,7%), mộc nhĩ trắng 156200 tấn (3,2%), nấm chân cơ 54800 tấn (1,1%), nấm trơn
27000 tấn (0,6%), nấm hoa cây xám 14200 tấn (0,3%), các loại nấm khác 238800 tấn (4,8%)
(Nguyễn Hữu Đống và ctv, 2005).
So sánh năm 1994 với 1990 thì nấm mỡ, nấm hương, nấm rơm, nấm kim vàng, nấm hoa cây xám
đều tăng mạnh. Các nước sản xuất nấm chủ yếu năm 1994 là: Trung Quốc 2850000 tấn (trong đó
vùng lãnh thổ Đài Loan 71800 tấn), chiếm 53,79% tổng sản lượng, Hoa Kỳ 393400 tấn (7,61%),
Nhật Bản 360100 tấn (7,34%), Pháp 185000 tấn, Hà Lan 88500 tấn, Italia 71000 tấn, Canada
46000 tấn, Anh 28500 tấn, Idonesia 118800 tấn, Hàn Quốc 92000 tấn. Sản lượng nấm của các
nước chủ yếu là nấm mỡ, còn nấm hương thì do Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc sản xuất là
chính (Nguyễn Hữu Đống và ctv, 2005).
Đến năm 2005 tổng sản lượng nấm thế giới đạt khoảng 20 triệu tấn. Riêng Trung Quốc chiếm sản
lượng 50% so với toàn thế giới. Tốc độ tăng trưởng về sản lượng nấm năm sau cao hơn năm trước
trên 5% (Nguyễn Hữu Đống và ctv, 2005). Nhìn chung nghề trồng nấm phát triển đáng kể và rộng
khắp, nhất là trong 20 năm gần đây.
2.2.2. Tình hình sản xuất nấm ăn ở Việt Nam
Ở Việt Nam, nấm ăn cũng được biết từ lâu. Tuy nhiên, chỉ hơn 10 năm trở lại đây, trồng nấm mới
được xem như là một nghề mang lại hiệu quả kinh tế.
Vấn đề nghiên cứu và phát triển nấm ăn ở Việt Nam đã bắt đầu từ những năm 70.
Năm 1984 thành lập Trung Tâm Nghiên cứu Nấm ăn thuộc Đại học Tổng hợp Hà Nội.
Năm 1985 được tổ chức FAO tài trợ và Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội quyết định thành lập
Trung tâm Sản xuất Giống nấm Tương Mai Hà Nội (sau đổi tên thành Công ty Sản xuất giống, chế
7
biến và xuất khẩu Nấm Hà Nội). Năm 1986 tổ chức FAO cũng tài trợ thành lập Xí nghiệp Nấm
Thành phố Hồ Chí Minh.
Các đơn vị tham gia sản xuất và xuất nhập khẩu nấm như: Tổng Công ty Rau quả (Vegetexco),
Tổng Công ty Xuất nhập khẩu máy (Technoimport), Unimex Hà Nội, Liên hiệp các xí nghiệp thực
phẩm vi sinh Hà Nội (Công ty Nấm Hà Nội), Xí nghiệp Nấm Thành phố Hồ Chí Minh, Công ty
liên doanh chế biến thực phẩm Meko (Cần Thơ)… Năm 1991 – 1993 Bộ Khoa học – Công nghệ và
môi trường triển khai dự án sản xuất nấm theo công nghệ của Đài Loan (Nguyễn Hữu Đống và ctv,

2005).
Tổng sản lượng các loại nấm được nuôi trồng trong những năm qua ở các tỉnh phía Bắc chủ yếu
tiêu thụ ở dạng tươi, sấy khô, muối. Năm 1988 sản lượng nấm đạt khoảng 30 tấn, tới năm 1993 sản
lượng nấm đã lên tới khoảng 250 tấn. Nhưng đến năm 1995 sản lượng nấm chỉ còn khoảng 50 tấn,
do việc tổ chức sản xuất nấm của các đơn vị chuyên doanh về nấm còn nhiều yếu kém, thiết bị ,
công nghệ trồng nấm nhập khẩu của nước ngoài không phù hợp với Việt Nam về điều kiện tự
nhiên, kinh tế, xã hội và còn nhiều nguyên nhân khác.
Từ năm 1997 sản lượng nấm tăng lên lại khoảng 120 tấn, đến năm 2005 sản lượng nấm tăng lên tới
khoảng 50000 tấn (Nguyễn Hữu Đống và ctv, 2005).
Các loại nấm được trồng nhiều nhất ở các tỉnh phía bắc là: nấm sò, nấm mỡ, nấm rơm, mộc nhĩ,
linh chi, Trân châu và nấm hương.
Ở các tỉnh phía Nam và đồng bằng sông Cửu Long nghề trồng nấm phát triển rất nhanh. Sản lượng
tăng theo cấp số nhân: năm 1990 đạt vài tấn/năm đến nay đạt trên 100000 tấn/năm. Trồng chủ yếu
là nấm rơm, nấm mèo.
2.2.3. Tình hình sản xuất nấm ở An Giang
Loại nấm được trồng phổ biến tronh tỉnh An Giang là nấm rơm, do An Giang là tỉnh có diện tích
trồng lúa lớn nên nguồn nguyên liệu rơm rạ rất dồi dào.
Nấm rơm Việt Nam bắt đầu xuất khẩu từ cuối những năm 80 thế kỷ trước, sản lượng ban đầu
2.500 tấn/năm. Đến năm 2002 xuất khẩu tăng lên 40.000 tấn, đạt kim ngạch 40 triệu USD.
Hiện nay nhu cầu tiêu dùng thế giới cần hơn 20 triệu tấn nấm/năm, tốc độ tăng 3,5%. Thị trường
tiêu thụ cao nhất là Mỹ, Nhật, Đài Loan và các nước EU. Dự kiến vào năm 2010 nước ta sẽ có sản
lượng 1 triệu tấn nấm các loại với mức tổng doanh thu 7.000 tỉ đồng, trong đó nấm chế biến XK
chiếm 50% và kim ngạch khoảng 200 triệu USD/năm (Theo báo nông nghiệp, 2009).
Tỉnh An Giang đã xây dựng đề án “Phát triển nghề trồng nấm rơm và phương án hỗ trợ tín
dụng phát triển trồng nấm rơm giai đoạn 2006 – 2010 của tỉnh An Giang”. Năm 2006, Chi cục
8
Hợp tác xã và Phát triển nông thôn tỉnh đã cùng các doanh nghiệp đầu tư xây dựng 11 cơ sở sơ chế
và tiêu thụ nấm.
Diện tích trồng nấm rơm trong tỉnh năm 2006 tăng nhanh, đạt 914 ha; tăng gấp 3 lần so năm 2005,
năng suất bình quân đạt 11,50 tấn/ha, sản lượng thu được 10.509 tấn. Giá bán nấm tươi bình quân

là 8.000 đồng/kg, đạt giá trị sản xuất gần 84 tỷ đồng, lợi nhuận thu được 50,4 tỷ đồng, giải quyết
việc làm thường xuyên cho gần 7.000 lao động và trên 45.000 lao động theo thời vụ.
Năm 2007, An Giang có kế hoạch tiếp tục mở rộng diện tích sản xuất nấm rơm trên 4.500 ha, tăng
5 lần so năm 2006.
Tính đến cuối năm 2009, toàn tỉnh đã có 3.651 ha tăng 539 ha so với năm 2008 và đạt 73,02% kế
hoạch của tỉnh, sản lượng thu được là 47.398 tấn nấm tươi, đạt giá trị sản xuất gần 710 tỷ đồng, lợi
nhuận thu được bình quân là 426 tỷ đồng (cao gần 4 lần so với trồng lúa), theo chuyên ngành tính
toán thì việc trồng 1000 ha nấm tương đương 10.000 ha trồng lúa. Mặt khác việc trồng nấm rơm
còn giải quyết việc làm thường xuyên cho 13.315 lao động và 178.050 lao động theo thời vụ trong
năm 2009.
Để đạt được kết quả trên, ngành nông nghiệp và các ngành có liên quan đã mở 72 lớp tập huấn kỹ
thuật trồng nấm rơm, tổ chức 21 điểm trình diễn, tổ chức 53 buổi hội thảo với trên 2.700 lượt
người tham dự; thực hiện 14 lần thời sự phát động trồng nấm rơm, 04 cuộc phóng sự về một số
việc cần lưu ý trong nuôi trồng và chăm sóc nấm rơm; xây dựng 16 cơ sở chế biến và tiêu thụ nấm.
Thành lập được 93 tổ sản xuất nấm rơm (tính đến năm 2009), trong đó cho các tổ vay vốn gần 1 tỷ
đồng.
Bên cạnh nấm rơm, ngành Nông nghiệp cũng tổ chức cho nông dân sản xuất nấm bào ngư được
610 ngàn bịch thu lợi nhuận trên 2,4 tỷ đồng; sản xuất 10 ngàn bịch nấm mèo thu được lợi nhuận là
30 triệu đồng.
Trong năm 2010, ngành Nông nghiệp có kế hoạch sản xuất nấm với diện tích 5.000 ha (tăng gần
1350 ha so với năm 2009), và sẽ tổ chức 100 lớp tập huấn trồng nấm rơm có đầy và không đậy rơm
áo, xây dựng 48 điểm trình diễn và tổ chức 37 cuộc hội thảo.
2.3. Tổng quát qui trình sản xuất meo giống nấm
Trong sản xuất nấm, meo giống giữ vai trò quan trọng hàng đầu. Dù chế biến nguyên liệu tốt, chăm
sóc kĩ càng nhưng giống nấm xấu thì năng suất không cao hoặc tệ hơn không có nấm mọc.
Khoa học đã xác định được rằng nấm ra các tai nấm chỉ khi nào nó được phát triển từ hệ sợi tơ
nấm. Đống rơm rạ ẩm có nấm mọc khi trong đó có sẵn hệ sợi tơ nấm hoặc bào tử nảy mầm tạo ra
hệ sợi tơ. Chỗ nào không có hệ sợi tơ hoặc bào tử thì không có nấm mọc lên. Meo giống nấm được
9

×