Tải bản đầy đủ (.doc) (76 trang)

Tình hình thực tế về công tác tiêu thụ hàng hoá và xác định kết quả ở chi nhánh công ty bút bi thiên long hà nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (399.56 KB, 76 trang )

LỜI MỞ ĐẦU
Tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường, không một doanh nghiệp
sản xuất nào không quan tâm đến vấn đề hàng hoá và tiêu thụ hàng hoá sản
xuất ra. Chỉ có tiêu thụ khi đó giá trị sử dụng của hàng hoá mới được thực hiện,
lao động của toàn bộ doanh nghiệp mới được thừa nhận. Có thực hiện quản lý
tốt hàng hoá và tiêu thụ hàng hoá, doanh nghiệp mới có điều kiện bù đắp chi
phí đã chi ra trong quá trình sản xuất - tiêu thụ, đảm bảo quá trình tái sản xuất
giản đơn và thực hiện giá trị của lao động thặng dư - thu lợi nhuận quyết định
tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Là công cụ quan trọng và hiệu lực nhất để quản lý hoạt động sản xuất
kinh doanh, kế toán nói chung và kế toán tiêu thụ hàng hoá nói riêng phải không
ngừng được hoàn thiện.
Chuyển đổi thành Công ty - có tư cánh pháp nhân - từ năm 1992, trong
điều kiện kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt của các đơn vị cùng
ngành, để tồn tại và phát triển Công ty Bút Bi Thiên Long đã sớm tiếp cận với
những quy luật của nền kinh tế thị trường, quan tâm đẩy mạnh sản xuất, chú
trọng chất lượng sản phẩm, chủ động trong sản xuất và tiêu thụ Song song với
những điều đó bộ phận kế toán của Công ty cũng từng bước phát triển, hoàn
thiện theo bề dày thời gian cũng như những biến đổi mới của hệ thống kế toán
Việt Nam.
Trong thời gian thực tập tại Công ty Bút Bi Thiên Long, em đã đi sâu
nghiên cứu về công tác tổ chức kế toán tiêu thụ hàng hoá và xác định kết quả
của Công ty với đề tài:
" Kế toán tiêu thụ hàng hoá và xác định kết quả tại Chi Nhánh Công
ty TNHH Sản xuất và Thương mại Thiên Long"
Mục tiêu của bản chuyên đề là vận dụng lý luận về kế toán tiêu thụ hàng
hoá và xác định kết quả vào nghiên cứu thực tiễn ở Công ty Bút Bi Thiên Long,
từ đó phân tích những vấn đề còn tồn tại nhằm góp phần hoàn thiện hơn nữa
công tác kế toán tại Công ty.
1
Đề tài được trình bày với kết cấu gồm ba phần chính:


Chương I: Cơ sở lý luận chung về kế toán tiêu thụ hàng hoá và xác định kết
quả trong các doanh nghiệp thương mại.
Chương II : Tình hình thực tế về công tác tiêu thụ hàng hoá và xác định kết
quả ở Chi nhánh Công ty Bút Bi Thiên Long- Hà Nội
ChươngIII : Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện kế toán tiêu thụ hàng hoá và
xác định kết quả ở Công ty Bút Bi Thiên Long.
Đề tài được nghiên cứu và triển khai theo một hệ thống lôgíc. Với ý
tưởng, phần I nhằm đưa ra cơ sở lý luận chung về tổ chức kế toán tiêu thụ hàng
hoá và xác định kết quả, là căn cứ để so sánh đối chiếu với phần II, để từ đó có
những nhận xét biện chứng và lý giải về những kiến nghị ở phần III.
Trong quá trình thực tập, em đã nhận được sự chỉ dẫn tận tình của PGS.
TS Đặng Thị Loan cùng các cô, chú, anh, chị cán bộ phòng Tài chính kế toán
Chi nhánh Công ty Bút Bi Thiên Long. Tuy nhiên do phạm vi đề tài rộng, thời
gian thực tế chưa nhiều nên khó tránh khỏi thiếu sót, kính mong được sự chỉ đạo
giúp đỡ của thày cô, chú, anh, chị trong phòng kế toán Công ty để bản chuyên
đề của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
2
Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TIÊU THỤ HÀNG HÓA
VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ TRONG DOANH NGHIỆP
THƯƠNG MẠI
I. Ý NGHĨA VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA KẾ TOÁN TIÊU THỤ HÀNG HOÁ VÀ
XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI .
1. Ý nghĩa của quá trình tiêu thụ hàng hoá trong các doanh nghiệp
thương mại.
1.1 . Khái niệm tiêu thụ hàng hoá và xác định kết quả :
Nét đặc trưng chủ yếu trong các doanh nghiệp thương mại là hoạt động sản
xuất kinh doanh thông qua việc tiêu thụ hàng hoá thu lợi nhuận. Tiêu thụ hàng
hoá là một trong hai quá trình và là quá trình cuối trong hoạt động kinh doanh

của doanh nghiệp thương mại. Tiêu thụ hàng hoá là việc chuyển quyền sở hữu
về hàng hoá lao vụ, dịch vụ từ doanh nghiệp này sang khách hàng khác và doanh
nghiệp thu được tiền hoặc quyền thu tiền .
Số tiền thu được từ hoạt động tiêu thụ hàng hoá của doanh nghiệp được
gọi là doanh thu bán hàng, ở doanh nghiệp áp dụng tính thuế giá trị giá tăng theo
phương pháp trực tiếp thì doanh thu bán hàng là giá trị thanh toán của số hàng
đã bán bao gồm cả thuế . Ngoài ra doanh thu bán hàng còn bao gồm các khoản
phụ thu như các khoản phí thu thêm ngoài giá bán, khoản trợ cấp trợ giá của nhà
nước khi doanh nghiệp thực hiện cung ứng hàng hoá dịch vụ theo yêu cầu nhà
nước.
Để thực hiện mục đích kinh doanh của mình là thoả mãn nhu cầu tiêu
dùng của xã hội về hàng hoá dịch vụ và thu lợi nhuận sau mỗi chu kỳ kinh
doanh doanh nghiệp phải luôn tính toán, xác định chi phí bỏ ra và thu nhập thu
về, hay nói cách khác doanh nghiệp phải xác định được kết quả sản xuất kinh
doanh của mình, trong các doanh nghiệp thương mại đó chính là kết quả tiêu thụ
hàng hoá. Như vậy kết quả tiêu thụ hàng hoá là khoản chênh lệnh giữa doanh
3
thu bán hàng thu về với chi phí kinh doanh bỏ ra trong quá trình tiêu thụ hàng
hoá.
1.2 . Ý nghĩa của hoạt động tiêu thụ hàng hoá trong DNTM
Nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây với nét đặc trưng nổi bật là
từ việc sản xuất tới tiêu thụ hoàn toàn do nhà nước quyết định các doanh nghiệp
không cần quan tâm tới sản phẩm của mình sản xuất ra có được thị trường chấp
nhận hay không mà chỉ quan tâm đến sản xuất cái gì mình sẵn có. Theo chỉ tiêu
kế hoạch nước giao cho, doanh nghiệp không quan tâm tới hiệu quả sản xuất
kinh doanh, lãi hay lỗ đã có nhà nước gánh chịu …Vì vậy mỗi doanh nghiệp
phải năng động nhạy bén thích nghi với môi trường kinh doanh với mục tiêu
hướng tới là thị trường, thị trường là xuất phát điểm, là đích để các doanh
nghiệp chinh phục và khai thác. Để đạt được điều đó các doanh nghiệp phải làm
tốt công tác bán hàng, tiếp cận thị trừơng để tiêu thụ sản phẩm. Đối với các

doanh nghiệp thương mại thì hoạt động tiêu thụ hàng hoá có ý nghĩa cực kì quan
trọng. Trong doanh nghiệp thương mại hoạt động tiêu thụ hàng hoá là hoạt động
chủ yếu cuối cùng và quan trọng nhất, nó giúp cho vốn kinh doanh của doanh
nghiệp nhanh chóng chuyển từ hình thái hàng hoá sang hình thái tiền tệ và là cơ
sở xác định kết quả kinh doanh sau này.
Đối với bản thân doanh nghiệp : Thực hiện tốt công tác tiêu thụ hàng hoá
giúp cho doanh nghiệp thu hồi được vốn nhanh, làm cho tốc độ chu chuyển vốn
lưu động nhanh, từ đó doanh nghiệp không bị chiếm dụng vốn và tiết kiệm chi
phí về vốn.
Doanh nghiệp có bán được hàng thì mới có doanh thu bù đắp chi phí, thực
hiện nghĩa vụ đối với nhà nước và các đối tượng khác có liên quan và cao hơn là
thực hiện giá trị thặng dư, từ đó giúp các nhà quản trị biết được tình hình hoạt
động của doanh nghiệp mình và đưa ra các quyết định phù hợp.
Trên giác độ toàn bộ nền kinh tế quốc dân, doanh nghiệp đóng vai trò là
một đơn vị kinh tế cơ sở. Sự lớn mạnh của doanh nghiệp góp phần ổn định và
phát triển toàn bộ nền kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện mục tiêu
4
chung của toàn quốc gia. Hàng hoá của doanh nghiệp được lưu thông trên thị
trường đồng nghĩa với việc hàng hoá của doanh nghiệp được xã hội chấp nhận
hơn thế nữa là doanh nghiệp khẳng định được chỗ đứng của mình trên thị trường
Mặt khác thực hiện tốt quá trình bán hàng góp phần điều hoà giữa sản xuất và
tiêu dùng, giữa tiền và hàng, giữa cung và cầu và là điều kiện đảm bảo sự phát
triển cân đối trong ngành cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân .
1.3. Vấn đề quản lý quá trình tiêu thụ hàng hoá trong các doanh
nghiệp thương mại
Quản lý hoạt động tiêu thụ hàng hoá là quản lý hoạt động quản lý theo
đúng kế hoạch tiêu thụ, có như vậy mới thực hiện cân đối giữa cung và cầu, đảm
bảo cân đối sản xuất trong từng ngành và trong nền kinh tế. Quản lý bán hàng
cần bám sát các yêu cầu cơ bản sau đây
- Về khối lượng hàng hoá tiêu thụ: phải nắm chính xác số lượng từng loại

hàng hoá tồn đầu kỳ, nhập trong kỳ và xuất tiêu thụ và lượng dự trữ cần thiết để
có kế hoạch cung ứng kịp thời cho nhu cầu thị trường. Bộ phận quản lý hàng
hoá xuất bán phải thường xuyên đối chiếu với thủ kho về số lượng hàng hoá
luân chuyển cũng như như tồn kho.
- Về giá vốn của hàng xuất kho : Đây là toàn bộ chi phí cấu thành nên
hàng hoá và biểu hiện ở mặt giá trị hàng hoá. Đó là cơ sở xác định giá bán và
tính toán hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
2. Vấn đề xác định kết quả tiêu thụ trong doanh nghiệp thương mại
2.1. Các chỉ tiêu liên quan đến kết quả tiêu thụ:
Tuỳ thuộc vào phương pháp tính thuế GTGT, nội dung các chỉ tiêu liên
quan đến kết quả tiêu thụ có sự khác nhau. Đối với các doanh nghiệp tính thuế
GTGT theo phương pháp khấu trừ, các chỉ tiêu tạo nên kết quả tiêu thụ như
doanh thu, các khoản giảm trừ doanh thu, các chi phí trong quá trình tiêu thụ sẽ
không có thuế GTGT đầu ra hoặc được khấu trừ.
- Ngược lại, đối với các doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp
trực tiếp thì các khoản chi phí bao gồm cả thuế GTGT đầu vào và giá bán hàng
5
hóa là giá bán đã bao gồm cả thuế GTGT. Vì thế các chứng từ doanh thu bán
hàng, giảm giá, hàng bán trả lại đều bao gồm thuế GTGT đầu ra.
* Các chỉ tiêu liên quan đến việc xác định kết quả tiêu thụ.
- Doanh thu bán hàng: Là tổng giá trị được thực hiện do việc tiêu thụ hàng
hóa, sản phẩm cho khách hàng trong một thời gian nhất định. Doanh thu bán
bàng là số tiền ghi trên hóa đơn bán hàng, trên các hợp đồng cung cấp hàng hóa,
sản phẩm.
- Doanh thu thuần: Là số chênh lệch giữa doanh thu bán hàng với các
khoản giảm giá, doanh thu của số hàng bán bị trả lại, thuế TTĐB, thuế xuất
khẩu.
- Chiết khấu thanh toán: Là số tiền tính trên tổng số doanh thu trả cho
khách hàngtrước thời hạn quy định.
+ Chiết khấu thương mại: Là khoản tiền khấu trừ cho khách hàng (tiền

thưởng) do trong một khoảng thời gian nhất định khachs hàng đã tiến hành mua
một khối lượng lớn hàng hóa (tính theo tổng số hàng đã mua trong thời gian đó)
hoặc khấu trừ trên giá bán thông thường vì mua khối lượng lớn hàng hóa trong
một đợt.
- Giảm giá hàng bán: Là số tiền giảm trừ cho khách hàng ngoài hóa đơn
hay hợp đồng cung cấp mà doanh nghiệp chấp nhận cho khách hàng vì lý do
như: Hàng kém phẩm chất, không đúng quy cách, giao không đúng thời gian,
địa điểm trong hợp đồng.
- Hàng bán bị trả lại: Là số hàng được coi là tiêu thụ (khách hàng đã trả
tiền hoặc chấp nhận trả tiền) nhưng khách hàng trả lại hàng do không tôn trọng
hợp đồng kinh tế đã ký kết.
- Giá vốn hàng bán: Có thể là giá thành công xưởng thực tế của sản phẩm
xuất bán hoặc giá trị mua thực tế của hàng hóa tiêu thụ. Tùy thuộc vào đặc điểm
sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp áp dụng phương pháp tính giá vốn cho
phù hợp nhưng phải đảm bảo nguyên tắc nhất quán Tức là việc lựa chọn
phương pháp tính giá không được thay đổi trong một thời kỳ hạch toán.
6
- Chi phí bán hàng: Bao gồm các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ
sản phẩm, hàng hóa như: Chi phí nhân viên bán hàng, chi phí vật liệu, bảo trì,
công cụ, dụng cụ, chi phí vận chuyển bốc dỡ, chi phí khấu hao tài sản cố định
dùng cho bộ phận bán hàng, chi phí hoa hồng cho đại lý, chi phí dịch vụ mua
ngoài và các chi phí khác bằng tiền như chi phí bảo hành sản phẩm, chi phí
quảng cáo
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là những khoản chi phí phát sinh có liên
quan chung đến toàn bộ hoạt động của cả doanh nghiệp mà không tách riêng ra
được cho bất kỳ một hoạt động nào. Chi phí quản lý doanh nghiệp bào gồm: chi
phí quản lý, chi phí hành chính, chi phí chung khác.
3. Sự cần thiết, nhiệm vụ của kế toán tiêu thụ hàng hoá và xác định kết
quả trong các DNTM
Để quản lý tốt nhất đối với hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, không

phân biệt doanh nghiệp đó thuộc loại hình kinh tế nào, lĩnh vực hoạt động hay
hình thức sở hữu đều phải sử dụng các loại công cụ quản lý khác nhau trong đó
kế toán là một công cụ hữu hiệu. Đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường, kế toán
được sử dụng như một công cụ đắc lực không thể thiếu đối với một doanh
nghiệp cũng như đối với sự quản lý vĩ mô của nhà nước .
Trong công tác quản lý hoạt động tiêu thụ hàng hoá và xác định kết quả ở
doanh nghiệp có vai trò kế toán rất quan trọng. Các thông tin kế toán đưa ra
không chỉ phục vụ cho công tác quản lý của bản thân doanh nghiệp mà còn phục
vụ cho công tác quản lý của nhiều đối tượng liên quan khác.
Để giữ vững vai trò công cụ quản lý kinh tế có hiệu quả, kế toán tiêu thụ
hàng hoá và xác định kết quả cần thực hiện tốt các nhiệm vụ cụ thể :
+ Ghi chép phản ánh đầy đủ kịp thời khối lượng hàng hoá bán ra . Quản lý
chặt chẽ tình hình biến động và dự trữ kho hàng từ đó phát hiện và có biện pháp
xử lý kịp thời hàng hoá ứ đọng
7
+ Lựa chọn phương pháp xác định xác định giá vốn hàng xuất bán và tính
toán đúng giá trị hàng xuất bán, xác định chi phí bán hàng từ đó góp phần tính
toán xác định kết quả bán hàng đầy đủ chính xác
+ Kiểm tra phân tích tình hình thực hiện kế hoạch bán hàng từ đó cung cấp
thông tin cho lãnh đạo về thực hiện tiến độ tiêu thụ hàng hoá để làm công tác lập
kế hoạch tiêu thụ hàng hoá cho kỳ sau
+ Đôn đốc quá trình thanh toán tiền hàng nhanh chóng khi cần, kiểm tra
tình hình chấp hành kỷ luật thanh toán và quản lý chặt chẽ tiền bán hàng. Kiểm
tra tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước
+ Phản ánh đầy đủ chính xác kịp thời khoản doanh thu theo từng loại hàng
hoá kinh doanh, phục vụ cho việc đánh giá phân tích hiệu quả kinh doanh và
kiểm tra tình hình thực hiện các chế độ thể lệ tài chính hiện hành
II. NỘI DUNG TỔ CHỨC KẾ TOÁN TIÊU THỤ HÀNG HOÁ TRONG DOANH
NGHIỆP THƯƠNG MẠI
1. Các phương thức tiêu thụ hàng hoá trong các doanh nghiệp thương

mại.
Đặc điểm khác biệt cơ bản của doanh nghiệp thương mại và doanh nghiệp
sản xuất là: doanh nghiệp thương mại không trực tiếp chế tạo ra sản phẩm, hàng
hoá mà đóng vai trò trung gian giữa sản xuất và tiêu dùng. Để tạo điều kiện
thuận lợi trong quan hệ mua bán, doanh nghiệp thương mại phải biết áp dụng
linh hoạt các phương thức tiêu thụ sau:
1.1. Phương thức tiêu thụ trực tiếp:
Phương thức tiêu thụ trực tiếp là phương thức giao hàng cho người mua
trực tiếp tại kho (hay trực tiếp tại các phân xưởng không qua kho) của doanh
nghiệp. Số hàng khi bàn giao cho khách hàng được chính thức coi là tiêu thụ và
người bán mất quyền sở hưũ về số hàng này. Người mua thanh toán hoặc chấp
nhận thanh toán số hàng mà người bán đã giao.
a. Bán buôn hàng hoá
8
Bán buôn hàng hoá là bán hàng cho mạng lưới bán lẻ, cho sản xuất tiêu
dùng. Thanh toán tiền hàng chủ yếu không dùng tiền mặt mà thông qua ngân
hàng và bằng các hình thức thanh toán khác.
* Các hình thức bán buôn hàng hoá:
- Bán buôn qua kho: là trường hợp bán buôn hàng đã nhập kho và đựơc
thực hiện theo hai cách.
Bán buôn qua kho theo hình thức chuyển hàng theo hợp đồng là phương
thức mà bên bán chuyển hàng cho bên mua theo địa chỉ ghi trên hợp đồng. Số
hàng chuyển đi vẫn thuộc quyền sở hữu của bên bán. Khi bên mua thanh toán
hoặc chấp nhận số hàng chuyển giao (một phần hay toàn bộ) thì số hàng này
mới được coi là tiêu thụ và bên bán mất quyền sở hữu đối với số hàng đó.
Bán buôn qua kho theo hình thức bên mua lấy hàng trực tiếp tại kho: theo
hình thức này, hai bên ký hợp đồng trong đó ghi rõ bên mua đến kho của bên
bán nhận hàng. Căn cứ vào hợp đồng kinh tế đã ký, bên mua sẽ uỷ quyền cho
người đến nhận hàng tại kho của doanh nghiệp. Khi bên mua nhận đủ số hàng và
ký xác nhận trên chứng từ bán hàng thì số hàng đó không thuộc quyền sở hữu

của doanh nghiệp nữa, hàng được coi là đã tiêu thụ, doanh nghiệp hạch toán vào
doanh thu. Việc thanh toán tiền hàng căn cứ trên hợp đồng đã ký. Chứng từ kế
toán áp dụng trong trường hợp này là hoá đơn GTGT hoặc hoá đơn kiêm phiếu
xuất kho có chữ ký của người nhận hàng.
- Bán buôn không qua kho (giao thẳng hàng không qua kho): Đây là
trường hợp tiêu thụ hàng hoá không qua kho của doanh nghiệp. Bán buôn không
qua kho có hai hình thức thực hiện.
Bán buôn vận chuyển thẳng, không tham gia thanh toán: thực chất là hình
thức môi giới trung gian trong quan hệ mua bán.
Bán buôn vận chuyển thẳng có tham gia thanh toán: trường hợp này
doanh nghiệp phải tổ chức quá trình mua hàng, bán hàng, thanh toán tiền hàng
mua, tiền hàng đã bán với nhà cung cấp và khách hàng của doanh nghiệp.
b. Bán lẻ hàng hoá
9
Đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình vận động hàng hoá từ nơi sản
xuất đến nơi tiêu thụ. Hàng hoá được bán trực tiếp cho người tiêu dùng. Hàng
bán lẻ thường có khối lượng nhỏ, thanh toán ngay và hình thức thanh toán
thường là tiền mặt nên không cần lập chứng từ cho từng lần bán.
Bán lẻ thu tiền trực tiếp là hình thức nhân viên bán hàng chịu trách nhiệm
vật chất về số lượng hàng bán tại quầy, trực tiếp thu tiền và giao hàng trực tiếp
cho khách hàng, đồng thời ghi chép vào thẻ quầy hàng. Thẻ quầy hàng có thể
mở cho từng loại mặt hàng, phản ánh cả về số lượng và giá trị. Cuối ngày nhân
viên bán hàng kiểm tiền bán hàng và kiểm kê hàng tồn trên quầy để xác định
lượng hàng đã bán trong ngày rồi sau đó lập báo cáo bán hàng. Tiền bán hàng
được nhân viên bán hàng kê vào giấy nộp tiền cho thủ quỹ hoặc cho ngân hàng (
nếu được uỷ quyền ). Báo cáo bán hàng là căn cứ để tính doanh thu và đối chiếu
với số tiền đã nộp theo giấy nộp tiền
1.2 Phương thức bán hàng đại lý , ký gửi :
Là phương thức mà bên chủ hàng ( gọi là bên giao đại lý) xuất hàng cho
bên nhận đại lý ký gửi ( gọi là bên đại lý) để bán. Bên đại lý sẽ được nhận hoa

hồng hay chênh lệch giá, đó chính là doanh thu của bên đại lý, ký gửi. Khi bên
bán xuất giao hàng hoá cho đại lý thì số hàng hoá đó chưa xác định là tiêu thụ.
Chỉ khi nào bên đại lý đã thông báo bán được hàng lúc đó mới xác định là tiêu
thụ.
Với hình thức tiêu thụ này đòi hỏi các đại lý ký gửi có thể đảm bảo nhận
hàng, giao tiền theo đúng thời gian quy định và bán theo giá mà doanh nghiệp đã
định.
1.3. Phương thức tiêu thụ nội bộ:
Tiêu thụ nội bộ là việc mua, bán sản phẩm hàng hoá giữa đơn vị chính với
các đơn vị trực thuộc hay giữa các đơn vị trực thuộc với nhau trong cùng một
công ty, tổng công ty. Ngoài ra, được coi là tiêu thụ nội bộ còn bao gồm khoán
sản phẩm, hàng hoá, xuất biếu tặng, xuất trả lương, thưởng, xuất dùng cho hoạt
động sản xuất kinh doanh.
10
2. Phương pháp xác định giá vốn của hàng hoá tiêu thụ.
Để xác định giá vốn của hàng hoá tiêu thụ, ta phải đánh giá hàng hoá bằng
tiền và giá trị hàng hoá theo nguyên tắc nhất định. Về nguyên tắc, hàng hoá
được phản ánh theo trị giá vốn thực tế. Tuy nhiên trong quá trình hạch toán,
doanh nghiệp có thể áp dụng 2 cách đánh giá đối với hàng hoá :
* Đánh giá theo giá vốn thực tế
Trị giá hàng hoá phản ánh trong kế toán tổng hợp phải được đánh giá theo
nguyên tắc giá vốn thực tế
- Đánh giá hàng hoá nhập kho
Việc đánh giá hàng hoá nhập kho được xác định phù hợp với từng nguồn
thu nhập:
+ Hàng hoá do thuê ngoài gia công chế biến nhập kho được đánh giá theo
giá trị thực tế thi công gồm: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp đem gia công, chi
phí thuê ngoài gia công và các chi phí khác liên quan trực tiếp đến quá trình gia
công như chi phí vận chuyển, chi phí thủ tục xuất kho cho nguyên vật liệu đem
gia công, nhập kho hàng hoá đã hoàn thành gia công.

+ Hàng hoá nhập kho do mua ngoài nhập kho được đánh giá theo tổng chi
phí thực tế (nguyên tắc giá phí thực tế để có hàng hoá bao gồm: trị giá mua ( giá
bán không có thuế GTGT-đối với doanh nghiệp nộp thuế theo phương pháp
khấu trừ thuế), chi phí vận chuyển bao gói, thuế nhập khẩu )
- Đánh giá hàng hoá xuất kho
Việc tính toán xác định giá trị thực tế hàng hoá xuất kho có thể áp dụng
một trong các phương pháp chủ yếu sau:
+ Phương pháp giá trị thực tế đích danh: Theo phương pháp này giá trị thực
tế hàng hoá xuất kho được căn cứ vào đơn giá thực tế hàng hoá nhập kho từng
lô, từng lần nhập và số lượng xuất kho theo từng lần.
+ Phương pháp thực tế bình quân: theo phương pháp này giá trị thực tế
hàng hoá xuất kho được tính theo đơn giá bình quân và số lượng hàng hoá xuất
kho.
Công thức:
11
Giá trị hàng hoá thực tế
xuất kho
=
Số lượng hàng
hoá xuất kho
*
Đơn giá bình
quân
Trong đó:
Giá bình quân được xác định theo một trong ba phương pháp
Giá đơn vị bình quân
cả kỳ dự trữ
=
Trị giá thực tế hàng hoá
tồn đầu kỳ

+
Trị giá thực tế hàng hoá
nhập trong kỳ
Số lượng hàng hoá tồn
đầu kỳ
+
Số lượng hàng hoá nhập
trong kỳ

Giá đơn vị bình quân
cuối kỳ trước
=
Trị giá thực tế hàng hoá tồn đầu kỳ (hoặc cuối kỳ trước)
Số lượng hàng thực tế tồn đầu kỳ (hoặc cuối kỳ trước)
Giá đơn vị bình quân
sau mỗi lần nhập
=
Trị giá thực tế hàng hoá
tồn trước khi nhập
+
Trị giá thực tế hàng hoá
nhập
Số lượng hàng hoá tồn
trước khi nhập
+
Số lượng thực tế hàng hoá
nhập
+ Phương pháp tính giá bình quân cả kỳ dự trữ tuy đơn giản, dễ làm
nhưng độ chính xác không cao. Hơn nữa, công việc tính toán dồn vào cuối tháng
gây ảnh hưởng đến công tác quyết toán nói chung.

- Phương pháp giá đơn vị bình quân cuối kỳ trước bộc lộ những nhược
điểm khi thị trường biến động. Giá cả kỳ này tăng (hoặc giảm) đột biến với kỳ
trước thì không ảnh hưởng đến giá trị hàng hóa bán trong kỳ mà ảnh hưởng trị
giá hàng hóa tồn kho cuối kỳ, tức là gây tác động đến kỳ sau. Nếu giá cuối kỳ
trước rất cao so với kỳ này thì việc áp dụng phương pháp giá đơn vị bình quân
cuối kỳ trước tỏ ra không hợp lý. Tuy nhiên phương pháp này cũng có ưu điểm
là khá đơn giản và phản ánh kịp thời tình hình biến động hàng hóa trong kỳ.
- Phương pháp giá đơn vị bình quân sau mỗi lần nhập: khắc phục được
nhược điểm của cả hai phương pháp trên, vừa chính xác vừa cập nhật kịp thời.
Nhược điểm của phương pháp này tốn nhiều công sức, tính toán nhiều lần.
- Phương pháp nhập trước - xuất trước (FIFO):
Theo phương pháp này phải xác định được đơn giá thực tế nhập kho của
từng lần nhập, sau đó căn cứ vào số lượng xuất tính giá trị thực tế xuất kho theo
12
nguyên tắc: tính theo đơn giá thực tế nhập trước đối với số lượng xuất kho thuộc
lần nhập trước, số còn lại (tổng số xuất, số nhập của lần nhập trước) được tính
theo đơn giá thực tế của lần nhập sau. Như vậy giá thực tế hàng hóa tồn kho
cuối kỳ chính là giá trị thực tế của hàng hóa nhập kho thuộc lần nhập sau cùng.
+ Phương pháp nhập sau - xuất trước (LIFO):
Theo phương pháp này, cần xác định đơn giá từng lần nhập. Khi xuất sẽ
căn cứ vào từng số lượng xuất và đơn giá thực tế nhập kho cuối cùng, sau đó lần
lượt đến các lần nhập trước để tính giá trị thực tế hàng hóa xuất kho. Như vậy
giá trị thực tế hàng hóa tồn kho cuối kỳ là quá trình thực tế tính theo đơn giá lần
nhập đầu kỳ.
* Đánh giá hàng hóa theo giá hạch toán:
Việc đánh giá trị giá thực tế đôi khi không đáp ứng được yêu cầu kịp thời
của công tác kế toán, bởi vì giá thành sản xuất thực tế thường cuối kỳ hạch toán
mới xác định được mà việc nhập, xuất hàng hóa lại diễn ra thường xuyên, liên
tục. Do đó người ta còn sử dụng giá trị hạch toán để ghi chép kịp trị giá hàng
hóa nhập, xuất.

Giá hạch toán là giá ổn định trong kỳ do doanh nghiệp chọn. Nó có thể là
giá thành thực tế, giá kế hoạch tại một thời điểm nào đó hoặc giá nhập kho
thống nhất quy định đánh giá hàng hóa theo giá hạch toán đến cuối kỳ phải
tính chuyển giá hạch toán sang giá thực tế bằng cách:
Trị giá hàng hoá xuất
kho
=
Trị giá hạch toán thành
phẩm
* Hệ số giá
Trong đó:
Hệ số giá =
Trị giá thực tế hàng
hoá tồn đầu kỳ
+
Trị giá thực tế hàng
hoá nhập kho trong kỳ
Trị giá hạch toán
hàng hoá tồn đầu
kỳ
+
Trị giá hạch toán hàng
hoá nhập kho trong kỳ
13
3. Tổ chức hạch toán tiêu thụ hàng hóa trong các doanh nghiệp thương
mại:
3.1 . Chứng từ kế toán sử dụng trong việc nhập-xuất kho hàng hoá
Mọi nghiệp vụ biến động của hàng hoá đều được phản ánh, ghi chép vào
chứng từ ban đầu phù hợp theo đúng nội dung qui định. Những chứng từ này là
cơ sở pháp lý để tiến hành hạch toán nhập-xuất kho hàng hoá, là cơ sở của việc

kiểm tra tính cần thiết và tính hợp pháp của chứng từ. Các chứng từ sử dụng
trong kế toán hàng hoá là:
- Phiếu nhập kho
- Phiếu xuất kho
- Hoá đơn kiêm vận chuyển nội bộ.
- Thẻ kho
- Biên bản kiểm kê
Các chứng từ này phải được luân chuyển đến bộ phận kế toán đúng thời
hạn, chính xác và đầy đủ. Căn cứ vào đó kế toán kiểm tra tính hợp pháp và tiến
hành phân loại, tổng hợp ghi sổ kế toán thích hợp.
3.2 . Kế toán chi tiết hàng hoá
Kế toán chi tiết hàng hoá là việc ghi chép số liệu luân chuyển chứng từ
giữa kho và phòng kế toán trên các chỉ tiêu số lượng, giá trị hàng hoá theo từng
thứ, từng loại, từng kho hàng hoá, từng thủ kho
Tuỳ đặc điểm sản xuất và công tác kế toán ở mỗi doanh nghiệp mà kế
toán chi tiết hàng hoá được tiến hành theo một trong những phương pháp sau:
* Phương pháp ghi thẻ song song
- Ở kho: hàng ngày khi nhận được các chứng từ nhập-xuất kho hàng hoá,
thủ kho phải kiểm tra tính hợp pháp rồi tiến hành ghi chép thực nhập, thực xuất
vào thẻ kho theo chỉ tiêu số lượng mỗi chứng từ ghi vào thẻ kho một dòng. Định
14
kỳ thủ kho gửi (hay kế toán xuống lấy) toàn bộ chứng từ nhập, chứng từ xuất
hàng hoá đã được phân loại. Cuối kì tiến hành tổng cộng trên thẻ kho.
- Ở phòng kế toán: Khi nhận được các chứng từ nhập, các chứng từ xuất
hàng hoá do thủ kho gửi lên, kế toán tiến hành ghi sổ kế toán chi tiết hàng hoá
theo cả hai chỉ tiêu hiện vật và giá trị. Cuối kì hạch toán kế toán tiến hành đối
chiếu giữa số liệu trên sổ thẻ kho với sổ kế toán chi tiết hàng hoá đã được tổng
cộng trên cột hiện vật (số lượng) số liệu phải khớp nhau. Ngoài ra để có sự theo
dõi chặt chẽ hơn kế toán mở bảng kê tổng hợp nhập-xuất-tồn kho hàng hoá.
Nội dung trình tự kế toán chi tiết theo phương pháp thẻ song song được

khái quát bằng sơ đồ sau:
Sơ đồ 1: Kế toán chi tiết hàng hoá theo phương pháp thẻ song song.

15
Thẻ kho
Sổ kế toán chi
tiết h ng hoáà
Chứng từ nhập Chứng từ xuất
:Ghi hàng ngày
:Ghi cuối kỳ
:Quan hệ đối chiếu
Nghiên cứu phương pháp trên ta thấy:
Ưu điểm: Ghi chép đơn giản, dễ kiểm tra, dễ đối chiếu.
Nhược điểm: Việc ghi chép giữa kho và bộ phận kế toán còn trùng lặp về
chỉ tiêu số lượng. Việc kiểm tra đối chiếu thường tiến hành vào cuối tháng nên
hạn chế chức năng kiểm tra của kế toán.
Phạm vi áp dụng: Thích hợp với các doanh nghiệp có ít chủng loại hàng
hoá, nghiệp vụ nhập xuất không thường xuyên, trình độ chuyên môn của cán bộ
kế toán không cao.
* Phương pháp đối chiếu luân chuyển.
- Ở kho : Thủ kho cũng dùng thẻ kho để theo dõi tình hình nhập xuất hàng
hoá dựa trên các chứng từ nhập-xuất-tồn hàng hoá.
- Ở phòng kế toán: Khi nhận được các chứng từ do thủ kho gửi lên, kế toán
lập các bảng kê nhập - xuất - tồn (Theo dõi cả hiện vật và giá trị). Cuối tháng lấy
số liệu trên bảng kê nhập, Sổ đối chiếu luân chuyển dùng để ghi chép tình hình
nhập-xuất-tồn kho hàng hoá theo từng loại hàng hoá ở từng kho theo cả hai chỉ
tiêu: Hiện vật và giá trị. Sổ này dùng cho cả năm, mỗi tháng ghi một lần vào
cuối tháng.
Sơ đồ 2: Kế toán chi tiết hàng hoá theo phương pháp đối chiếu
luân chuyển.

16
Bảng kê tổng
hợp N-X-T
h ng hoáà
Thẻ kho
Chứng từ xuất
Bảng kê nhập Bảng kê xuất
Chứng từ
nhập
:Ghi hàng ngày
:Ghi cuối kỳ
:Quan hệ đối chiếu
Nghiên cứu phương pháp này ta thấy :
Ưu điểm : Khối lượng ghi chép của kế toán được giảm bớt( chỉ ghi 1 lần
vào cuối tháng.
Nhược điểm : Việc ghi chép vẫn còn trùng lặp, việc kiểm tra đối chiếu
giữa kho và phòng kế toán chỉ tiến hành vào cuối tháng nên vẫn hạn chế kiểm
tra trong công tác quản lý.
Phạm vi áp dụng : Thích hợp với các doanh nghiệp sản xuất không có
nhiều nghiệp vụ nhập xuất, không bố trí riêng nhân viên kế toán chi tiết hàng
hoá và không có điều kiện ghi chép, theo dõi tình hình nhập xuất hàng ngày.
* Phương pháp sổ số dư :
- Ở kho : Thủ kho cũng sử dụng thẻ kho để ghi chép tình hình nhập-xuất-
tồn kho hàng hoá về mặt số lượng, định kỳ gửi các chứng từ nhập, chứng từ xuất
lên phòng kế toán. Sổ số dư là do thủ kho nhận được từ kế toán vào đầu tháng,
gồm cả chỉ tiêu số lượng và giá trị.
- Ở phòng kế toán : Đầu tháng kế toán mở sổ số dư theo từng kho, dùng
cho cả năm gửi cho thủ kho. Sau đó căn cứ vào các chứng từ nhập, chứng từ
xuất lập bảng kê nhập, bảng kê xuất, bảng luỹ kế nhập, bảng luỹ kế xuất. Lập
bảng kê tổng hợp nhập-xuất-tồn kho hàng hoá theo từng loại hàng hoá, theo chỉ

tiêu giá trị. Cuối tháng đối chiếu cột số lượng trên sổ số dư với bảng kê tổng hợp
nhập-xuất-tồn, ghi đơn giá hàng hoá lên sổ số dư để tính số tồn kho trên sổ số
dư, hoàn thiện cột chỉ tiêu giá trị trên sổ số dư.
Sơ đồ 3 : Kế toán chi tiết hàng hoá theo phương pháp sổ số dư
17
Sổ đối chiếu
luân chuyển
Thẻ kho
Chứng từ nhập Chứng từ xuất
Ghi hằng ngày
Ghi cuối kỳ
Quan hệ đối chiếu
Nghiên cứu phương pháp trên ta thấy :
Ưu điểm : Giảm bớt khối lượng ghi sổ kế toán, công việc được tiến hành
đều trong tháng, việc kiểm tra được thực hiện thường xuyên, đáp ứng tốt nhất
yêu cầu quản lý.
Nhược điểm : Do kế toán chỉ theo dõi giá trị nên qua số liệu kế toán không
biết thực tế số hiện có và tình hình tăng giảm từng loại hàng hoá mà phải xem
qua số liệu trên thẻ kho. Việc kiểm tra phát hiện sai sót, nhầm lẫn giữa thủ kho
và phòng kế toán gặp nhiều khó khăn.
Phạm vi áp dụng : Thích hợp cho các doanh nghiệp có khối lượng nghiệp
vụ nhập, nghiệp vụ xuất thường xuyên nhiều chủng loại. Doanh nghiệp sử dụng
giá hạch toán, trình độ quản lý, trình độ kế toán cao.
3.3. Kế toán tổng hợp tiêu thụ hàng hóa trong doanh nghiệp thương mại:
3.3.1. Kế toán tổng hợp tiêu thụ hàng hóa theo phương pháp kê khai
thường xuyên.
- Khái niệm : Phương pháp kê khai thường xuyên là phương pháp hạch
toán mà các nghiệp vụ nhập-xuất kho hàng hoá được thể hiện trên các tài khoản
kế toán một cách thường xuyên, theo từng chứng từ nhập, chứng từ xuất.
- Tài khoản sử dụng:

18
Bảng luỹ kế nhập
Bảng luỹ kế xuất
Sổ số dư
Bảng kê tổng hợp
N - X - T
hàng hoá
+ Tài khoản 156 “Hàng hoá”: Dùng để phản ánh giá trị hiện có và tình
hình biến động các loại hàng hoá trong doanh nghiệp
Bên nợ: phản ánh các nghiệp vụ làm tăng hàng hoá, mua, biếu tặng
Bên có: phản ánh các nghiệp vụ làm giảm hàng hoá xuất kho, xuất bán
Số dư bên nợ: Phản ánh hàng hoá tồn kho cuối kỳ
+ Tài khoản 157 “Hàng gửi bán”:
Tài khoản này được sử dụng để theo dõi giá trị sản phẩm, hàng hóa tiêu thụ
theo phương thức chuyển thẳng hoặc giá trị sản phẩm, hàng hóa bán, đại lý, ký
gửi hay giá trị dịch vụ đã hoàn thành giao cho bên đặt hàng, bên mua nhưng
chưa được chấp nhận thanh toán. Số hàng hóa, sản phẩm này vẫn thuộc quyền
sở hữu của đơn vị tài khoản này được mở chi tiết theo từng mặt hàng.
Bên nợ: Giá trị sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ gửi bán
Bên có: Giá trị sản phẩm, hàng hoá, lao vụ dịch vụ được khách hàng chấp
nhận thanh toán
Giá trị hàng gửi bán bị từ chối, trả lại
Số dư: gía trị hàng gửi bán bị từ chối hoặc trả lại
+ TK 511 - Doanh thua bán hàng:
TK 511 được dùng để phản ánh tổng số doanh thu bán hàng thực tế của
doan nghiệp và các khoản khấu trừ doanh thu. từ đó, tính ra doanh thu thuần về
việc tiêu thụ trong kỳ.
Bên nợ: Số thuế phải nộp ( thuế dịch vụ đặc biệt, thuế xuất khẩu) tính trên
doanh số bán trong kỳ
Bên có: Giá bán hàng hoá doanh thu bán sản phẩm, hàng hoá cung cấp lao

vụ, dịch vụ của doanh nghiệp thực hiện trong kỳ thanh toán
+TK 512 - Doanh thu bán hàng nội bộ:
TK này dùng để phản ánh doanh thu của số hàng hóa, sản phẩm tiêu thụ nội
bộ giữ các đơn vị trực thuộc trong cùng một công ty, một tổng công ty. Ngoài ra
TK này còn sử dụng để theo dõi các khoản được coi là tiêu thụ nội bộ khác như:
sử dụng sản phẩm hàng hóa vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
19
Bên nợ: Giá trị hàng hoá trả lại ( theo giá tiêu thụ nội bộ) khoản giảm giá
hàng bán được chấp nhận trên khối lượng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ
nội bộ trong kỳ, thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp của số hàng hoá tiêu thụ nội bộ
Kết chuyển doanh thu tiêu thụ nội bộ phần vào tài khoản sử dụng kết quả
Bên có Tổng số doanh thu bán hàng nội bộ của đơn vị thực hiện trong kỳ
TK 152 Không có số dư cuối kỳ
+ TK 531 - Hàng bán bị trả lại:
TK này dùng để theo dõi khoản doanh thu của số hàng hóa, sản phẩm đã
tiêu thụ bị khách hàng trả lại. Đây là TK điều chỉnh của TK 511 để tính doanh
thu thuần.
Bên nợ: Doanh thu của số hàng giá tiêu thụ bị trả lại, đã trả lại được tiền
cho người mua hoặc tính trừ và nợ phải thu. Khách hàng với số sản phẩm hàng
hoá được bán ra.
Bên có: Kết chuyển doanh thu của số hàng đã tiêu thụ bị trả lại trừ vào
doanh thu trong kỳ
TK 531 Cuối kỳ không có số dư
+ TK 532 - Giảm giá hàng bán:
TK này được dùng để theo dõi toàn bộ các khoản giảm giá hàng bán cho
khách hàng trên giá bán đã thỏa thuận vì các lý do chủ quan của doanh nghiệp.
được hạch toán vào TK này bao gồm các khảon bớt giá, hồi khấu, và các khoản
giảm giá đặc biệt.
Bên nợ: Của các khoản giảm giá hàng bán được chấp nhận
Bên có: Kết chuyển toàn bộ số giảm giá hàng hoá trừ vào doanh thu

TK không có số dư
+ TK 632 - Giá vốn hàng bán:
Dùng để theo dõi trị giá vốn của hàng hóa, sản phẩm xuất bán trong kỳ. Giá
vốn hàng bán có thể là giá thành công xưởng thực tế của sản phẩm.
Bên nợ: Trị giá vốn của thành phẩm, hàng hoá lao vụ, dịch vụ đã cung cấp
theo háo đơn.
20
Bên có: Kết chuyển giá vốn hàng hoá tiêu thụ trong kỳ và tài khoản xác
định kết quả
TK này không có số dư
+ TK 3331 - Thuế GTGT phải nộp:
Phản ánh thuế GTGT đầu ra, số thuế GTGT của hàng bán bị trả lại, số thuế
GTGT của đầu vào được khấu trừ, thuế GTGT được miễn giảm và thuế GTGT
phải nộp.
21
Sơ đồ 4 :Hạch toán tổng hợp tiêu thụ hàng hoá trong doanh nghiệp
thương mại (theo phương pháp kê khai thường xuyên)
22
TK157,632
TK154
TK412
TK642,3381
TK138
TK157,632
TK412
TK128,222
TK156
sản xuất ( hoặc thuế
ngo ià


Gia công xong) nhập kho
Sản phẩm bán bị trả lại
Th nh phà ẩm phát hiện
Thừa khi kiểm kê
đánh giá tăng
H ng hoá xuà ất bán ,đổi biếu
Tặng, trả lương cho công nhân
viên
Thiếu khi kiểm kê
Góp vốn liên doanh
Bằng th nh phà ẩm
đánh giá giảm
Ngoài các TK trên, kế toán còn sử dụng các TK khác như 111, 112, 131,
141
* Trình tự hạch toán theo các phương thức tiêu thụ:
+ Bán buôn theo phương thức trực tiếp:
Khi chuyển giao hàng hóa cho người mua, kế toán phản ánh các bút toán
sau:
Bút toán 1: Ghi nhận tổng giá thanh toán của hàng bán.
- Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế:
Nợ TK 111: Tổng giá thanh toán của hàng bán đã thu tiền mặt.
Nợ TK 112: Tổng giá thanh toán của hàng bán thu bằng tiền gửi ngân hàng.
Nợ TK 131: Tổng giá thanh toán được người mua chấp nhận nợ.
Có TK 511 (5111): Doanh thu hàng bán theo giá bán chưa có thuế
GTGT.
Có TK 3331: Thuế GTGT phải nộp.
- Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp hoặc
đối với những mặt hàng không chịu thuế GTGT.
Nợ TK liên quan 111, 112, 131: Tổng giá thanh toán.
Có TK 511 (5111): Doanh thu bán hàng theo tổng giá thanh toán.

Bút toán 2: Ghi giá trị mua thực tế của hàng tiêu thụ
Nợ TK 632: Tập hợp giá trị mua thực tế của hàng bán.
Có TK 156 (1561): Trị giá mua thực tế của hàng bán.
Bút toán 3: Bao bì tính riêng và các khoản chi hộ cho người mua (nếu có).
Nợ TK 138 ( 1388): Phải thu khác.
Có TK liên quan 153, 111, 112, 331
Số thuế xuất khẩu, thuế TTĐB phải nộp về hàng đã bán (nếu có) ghi:
Nợ TK 511 (5111): Ghi giảm doanh thu tieue thụ
Có TK 3332: Số thuế TTĐB phải nộp.
Có TK 3333: Số thuế xuất khẩu phải nộp
23
* Hạch toán nghiệp vụ bán buôn hàng hóa qua kho theo hình thức chuyển
hàng: Khi xuất kho hàng hóa chuyển cho bên mua, kế toán ghi nhận trị giá vốn
của hàng xuất bán.
Nợ TK 157: Trị giá mua hàng gửi bán.
Có TK 156 (1561): Trị giá mua của hàng xuất kho.
Giá trị bao bì đi kèm hàng hóa có tính giá riêng, ghi:
Nợ TK 138 (1388): Trị giá bao bì đi kèm theo hàng hóa.
Có TK 153 (1532): Trị giá bao bì theo giá xuất kho.
Khi hàng hóa được chuyển cho bên mua kiểm nhận, chấp nhận thanh toán
hoặc thanh toán, kế toán ghi:
Bút toán 1: Ghi nhận tổng giá thanh toán của hàng bán.
- Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế:
Nợ TK 111, 112, 131: Tổng giá thanh toán
Có TK 511 (5111): Doanh thu bán hàng chưa có thuế GTGT
Có TK 3331: Thuế GTGT phải nộp
- Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp hoặc
đối với đối tượng không chịu thuế GTGT.
Nợ TK 111, 112, 131: Tổng giá thành toán
Có TK 511 (5111): Doanh thu bán hàng theotổng giá thanh toán

Bút toán 2: Phản ánh giá trị mua thực tế của hàng chuyển bán đã được
khách hàng chấp nhận (một phần hay toàn bộ).
Nợ TK 632: tập hợp trị giá mua của hàng chuyển bán
Có TK 157: Trị giá mua của hàng bán được khách hàng chấp nhận
Sốthuế xuất khẩu, thuế TTĐB phải nộp về hàng đã bán (nếu có) ghi:
Nợ TK 511 (5111): ghi giảm doanh thu tiêu thụ
Có TK 3332: Số thuế TTĐB phải nộp
Có TK 3333: Số thuế xuất khẩu phải nộp
Đối với giá trị bao bì kèm theo hàng hóa, bên mua chấp nhận thanh toán
hoặc đã thanh toán bao bì, kế toán ghi:
Nợ TK liên quan 111, 112, 131
24
Có TK 138 (1388): Giá trị bao bì kèm theo có tính giá riêng
* Hạch toán nghiệp vụ bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức giao
hàng trực tiếp.
Khi khách hàng chấp nhận thanh toán hoặc thanh toán lượng hàng chuyển
thẳng, kế toán tiến hành ghi nhận tổng giá thanh toán của hàng chuyển thẳng.
- Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế.
Nợ TK 111, 112, 1341: Tổng giá thanh toán.
Có TK 511 (5111): Doanh thu bán hàng chưa có thuế GTGT.
Có TK 3331: Thuế GTGT phải nộp
- Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp.
Nợ TK 111, 112, 131: Tổng giá thanh toán
Có TK 511 (5111): Doanh thu bán hàng theo tổng giá thanh toán.
Kế toán ghi nhận tổng giá thanh toán của hàng mua chuyển thẳng bằng bút
toán.
- Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế.
Nợ TK 632: Trị giá mua thực tế của hàng chuyển thẳng (không thuế
GTGT)
Nợ TK 133 (1331): Thuế GTGT được khấu trừ

Có TK liên quan 331, 111, 112, 311: Tổng giá thanh toán.
- Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp hay đối
với các đối tượng không chịu thuế GTGT.
Nợ TK 632: Trị giá mua thực tế theo tổng giá thanh toán.
Có TK 111, 112, 331, 311: Tổng giá thanh toán
* Hạch toán nghiệp vụ bán buôn vận chuyển thẳng có tham gia thanh toán
theo hình thức chuyển hàng theo hợp đồng.
Trước hết kế toán ghi nhận tổng giá thanh toán của hàng mua chuyển đo
cho bên mua bằng bút toán.
- Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế.
Nợ TK 157: Trị giá mua thực tế không có thuế GTGT.
Nợ TK 133: Thuế GTGT được khấu trừ.
25

×