Tải bản đầy đủ (.doc) (50 trang)

Thất thoát, lãng phí trong đầu tư: thực trạng và giải pháp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (529.85 KB, 50 trang )

Nhóm thực hiện : Nhóm 8
LỜI MỞ ĐẦU
Một trong những tư tưởng về quản lý kinh tế của Hồ chủ tịch đó là sản xuất
phải đi đôi với tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Hồ Chí Minh
coi đây là biện pháp quan trọng để tích luỹ vốn, để sản xuất kinh doanh có hiệu
quả, đặc biệt là ở một nước nghèo nàn và lạc hậu như nước ta.
Tuy nhiên ở nước ta hiện nay, thất thoát lãng phí đang gây nhiều bức xúc
và tranh cãi. Nó có thể xảy ra ở tất cả các ngành, các lĩnh vực, các địa phương; ở
mọi cấp từ trung ương xuống cơ sở; các cơ quan hành chính nhà nước; các
doanh nghiệp, các cơ quan sự nghiệp; các tổ chức chính trị -xã hội; trong các gia
đình và từng người dân, xảy ra ở mọi lúc, mọi nơi, với mọi đối tượng. Thất thoát
lãng phí gây thiệt hại lớn cho Đảng, Nhà nước, tập thể và công dân; ảnh hưởng
đến sự phát triển bền vững của đất nước. Nó gây trở ngại lớn đối với quá trình
đổi mới xây dựng đất nước; làm thất thoát khoản tài chính, tài sản lớn, làm biến
chất cán bộ, công chức, làm xói mòn lòng tin của nhân dân với Đảng và Nhà
nước; làm xấu đi hình ảnh Việt Nam trong con mắt của cộng đồng thế giới,
trước hết là các nhà đầu tư nước ngoài. Nó là nguy cơ cho tình trạng bất ổn định
kinh tế xã hội.
Như vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào để hạn chế thất thoát lãng phí trong
đầu tư? Từ vấn đề cấp thiết đó, nhóm em xin đưa ra đề tài “Thất thoát, lãng phí
trong đầu tư: thực trạng và giải pháp”. Nhóm em rất mong qua sự nghiên cứu lý
thuyết và tra cứu thông tin cho đề tài có thể hiểu thêm về vấn đề này và vận
dụng vào thực tế để góp phần đưa nước ta hoàn thành quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước như mục tiêu đã đề ra của Đảng và Nhà nước ta.
1
Nhóm thực hiện : Nhóm 8
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN VỀ THẤT THOÁT VÀ LÃNG PHÍ
TRONG ĐẦU TƯ
I. Khái quát về đầu tư
1. Khái niệm đầu tư


Đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực hiện tại để tiến hành các hoạt động nào
đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã
bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Như vậy mục tiêu của mọi công cuộc đầu tư là
đạt được các kết quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà người đầu
tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư.
Nguồn lực phải hy sinh có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao
động và trí tuệ. Những kết quả sẽ đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài
chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc
với năng suất lao động cao hơn trong nền sản xuất xã hội.
2. Phân loại đầu tư
2.1 Đầu tư tài chính
Là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các
chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước (gửi tiết kiệm, mua trái phiếu
chính phủ) hoặc lãi suất tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của công ty phát hành. Đầu tư tài chính không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế
(nếu không xét đến quan hệ quốc tế trong lĩnh vực này) mà chỉ làm tăng giá trị
tài chính của tổ chức, cá nhân đầu tư. Với sự hoạt động của hình thức đầu tư tài
chính, vốn bỏ ra đầu tư được lưu chuyển dễ dàng, khi cần có thể rút ra một cách
nhanh chóng (rút tiết kiệm, chuyển nhượng trái phiếu, cổ phiếu cho người khác).
2
Nhóm thực hiện : Nhóm 8
Điều đó khuyến khích người có tiền bỏ ra để đầu tư. Để giảm độ rủi ro, họ có thể
đầu tư nhiều nơi, mỗi nơi một ít tiền. Đây là một nguồn cung cấp vốn quan
trọng cho đầu tư phát triển.
2.2 Đầu tư thương mại
Là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ ra để mua hàng hoá và sau đó bán
với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận cho chênh lệch giá khi mua và khi bán. Loại
đầu tư này cũng không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếu không xét đến
ngoại thương), mà chỉ làm tăng tài sản tài chính của người đầu tư trong quá trình
mua đi bán lại, chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá giữa người bán với người

đầu tư và người đầu tư với khách hàng của họ. Tuy nhiên, đầu tư thương mại có
tác dụng thúc đẩy quá trình lưu thông của cải vật chất do đầu tư phát triển tạo ra,
từ đó thúc đẩy đầu tư phát triển, tăng thu cho ngân sách, tăng tích luỹ vốn cho
phát triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ nói riêng và nền sản xuất xã hội nói
chung .
2.3 . Đầu tư phát triển
2.3.1 Khái niệm
Đầu tư phát triển (ĐTPT) là một bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi
dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo
ra những tài sản vật chất (nhà xưởng, thiết bị…) và tài sản trí tuệ (tri thức, kỹ
năng…), gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển.
2.3.2 Vấn đề kết quả và hiệu quả của ĐTPT
Kết quả của ĐTPT là sự tăng thêm về tài sản vật chất (nhà xưởng, thiết bị,
…), tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật,…) và tài
sản vô hình (những phát minh, sáng chế, bản quyền,…). Các kết quả đạt được
của đầu tư góp phần làm tăng thêm năng lực sản xuất của xã hội.
3
Nhóm thực hiện : Nhóm 8
Hiệu quả của ĐTPT phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả kinh tế xã hội
thu được với chi phí chi ra để đạt kết quả đó.
Kết quả và hiệu quả ĐTPT cần được xem xét trên cả phương diện chủ đầu
tư và xã hội, đảm bảo kết hợp hài hoà giữa các loại lợi ích, phát huy vai trò chủ
động sáng tạo của chủ đầu tư, vai trò quản lý, kiểm tra giám sát của cơ quan
quản lý nhà nước các cấp.
Đối với đề tài về thất thoát, lãng phí (TTLP) trong đầu tư, chúng ta sẽ xem
xét nguyên nhân và giải pháp của vấn đề này theo khía cạnh ĐTPT.
II. TTLP trong ĐTPT
1. Quan niệm về thất thoát, lãng phí
1.1 Thất thoát là gì?
Thất thoát vốn trong đầu tư là tất cả các hoạt động tác động tới dự án đầu tư

làm mất mát hoặc tổn thương các nguồn lực của dự án.
Thất thoát xảy ra đối với khoản tiền đầu tư mà nhà đầu tư bỏ ra để trả cho
các chi phí được duyệt trong quyết toán vốn đầu tư. Các khoản chi phí này chưa
được kiểm tra, giám sát chặt chẽ dẫn đến gian lận, tham nhũng hay rút ruột công
trình gây thất thoát vốn ngay từ khi đồng vốn chưa đi vào dự án.
1.2 Lãng phí là gì
Lãng phí là mặt đối lập với tiết kiệm. Trong đầu tư xây dựng cơ bản
(XDCB), mọi việc làm tăng chi phí đầu tư so với mức cần thiết dẫn đến làm
giảm hiệu quả vốn đầu tư được coi là sự lãng phí.
Theo Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, cũng như Pháp lệnh của ủy
ban Thường vụ Quốc hội về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chúng ta có thể
hiểu lãng phí là sử dụng các nguồn lực tài chính, lao động, thời gian... vượt quá
định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định hoặc
4
Nhóm thực hiện : Nhóm 8
sử dụng đúng định mức, tiêu chuẩn, chế độ nhưng chất lượng đạt thấp hơn hoặc
không đúng mục tiêu đã xác định
Lãng phí diễn ra nổi lên ở một số dạng sau đây: Dự án được đầu tư khi
chưa thực sự cần thiết phải đầu tư; Dự án được đầu tư với quy mô, công suất
không phù hợp so với nhu cầu; Dự án được đầu tư với yêu cầu kỹ thuật và mỹ
thuật không phù hợp so với nhu cầu; Dự án được đầu tư ở địa điểm và thời điểm
không hợp lý; Thiết bị và công trình của dự án có chất lượng thấp làm giảm tuổi
thọ của dự án; Tiến độ dự án bị kéo dài; Một số chi phí chung, chi phí khác, chi
phí thiết bị, lao động và vật tư cao hơn thực tế; Một số khoản chi phí trong dự án
được chi chưa tiết kiệm.
Lãng phí và thất thoát là hai căn bệnh trong đầu tư XDCB. Trong sự lãng
phí có thất thoát vì trong số tiền lãng phí có thể có phần bị thất thoát và thất
thoát dẫn đễn lãng phí vì thất thoát làm tăng chi phí không cần thiết hoặc làm
giảm chất lượng công trình dẫn đến làm giảm hiệu quả vốn đầu tư.
2. Các dạng TTLP trong ĐTPT

TTLP xuất hiện dưới nhiều hình thức cụ thể trong các lĩnh vực khác nhau.
Dưới đây là một số loại cơ bản
2.1. TTLP trong đầu tư XDCB
Đây là một dạng TTLP chi tiêu diễn rất nghiêm trọng. Thường bao gồm các
dạng sau:
- TTLP trong khâu quy hoạch (không có quy hoạch hoặc quy hoạch
không tốt).
- TTLP trong khâu xác định chủ trương đầu tư.
- TTLP trong khâu thẩm định, phê duyệt, thiết kế kỹ thuật, tổng dự
toán.
5
Nhóm thực hiện : Nhóm 8
- TTLP trong khâu kế hoạch hoá đầu tư.
- TTLP trong khâu đấu thầu xây dựng.
- TTLP trong công tác chuẩn bị xây dựng.
- TTLP trong khâu tổ chức thực hiện.
- TTLP trong cơ chế quản lý giá trong xây dựng.
- TTLP trong khâu thanh, quyết toán.
2.2. TTLP khác trong ĐTPT
- TTLP trong công nghệ.
- TTLP trong đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực.
- TTLP trong thu thuế.
III. Những khả năng dẫn đến TTLP từ đặc điểm của ĐTPT
Khi nghiên cứu về ĐTPT có thể thấy được rằng các đặc điểm của nó cũng
tiềm ẩn những khả năng dẫn đến TTLP
1. Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư
phát triển thường rất lớn có thể dẫn đến TTLP
Vốn đầu tư lớn nằm khê đọng lâu trong suốt quá trình thực hiện đầu tư.
Như vậy, nếu không có giải pháp tạo vốn và huy động vốn hợp lý, xây dựng các
chính sách, quy hoạch, kế hoạch đầu tư đúng đắn, quản lý chặt chẽ tổng vốn đầu

tư, bố trí vốn theo tiến độ đầu tư, thực hiện đầu tư trọng tâm trọng điểm rất dễ
gây ra TTLP.
Với nguồn vốn đầu tư lớn như thế, nhưng quyết định đầu tư chủ yếu vẫn
chạy theo số lượng mà chưa tính đến khả năng bố trí nguồn vốn, chưa chú trọng
6
Nhóm thực hiện : Nhóm 8
đúng mức đến hiệu quả đầu tư. Chính điều đó đã dẫn đến những lãng phí nguồn
vốn ĐTPT.
Lao động cần sử dụng cho các dự án là rất lớn, đặc biệt đối với các dự án
trọng điểm quốc gia. Tuy nhiên, công tác tuyển dụng, đào tạo, sử dụng và đãi
ngộ không tuân thủ một kế hoạch định trước và không hợp lý đã làm chậm tiến
độ của dự án và bị ảnh hưởng tiêu cực do vấn đề “hậu dự án” tạo ra như việc bố
trí lại lao động, giải quyết lao động dôi dư… tạo ra TTLP
2. Thời kỳ đầu tư kéo dài gây TTLP các nguồn lực
Thời kì đầu tư tính từ khi khởi công thực hiện dự án đến khi dự án hoàn
thành và đưa vào hoạt động. Nhiều công trình ĐTPT có thời gian đầu tư kéo dài
hàng chục năm.
Trên thực tế việc đầu tư dàn trải đã dẫn đến tình trạng kéo dài thời gian thi
công các công trình, dự án; nguồn vốn ngân sách lại phải phân tán, “rải mành
mành” làm nhiều dự án cùng dở dang, chậm đưa vào sử dụng nên không phát
huy hiệu quả đồng vốn đầu tư, gây TTLP các nguồn lực. Do vốn lớn lại nằm khê
đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư nên để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư,
giảm khả năng TTLP cần tiến hành phân kì đầu tư, bố trí vốn và các nguồn lực
tập trung hoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình, quản lý chặt chẽ tiến
độ kế hoạch đầu tư, khắc phục tình trạng thiếu vốn, nợ đọng vốn đầu tư xây
dựng cơ bản.
3. TTLP do thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài
Thời gian vận hành các kết quả đầu tư tính từ khi đưa công trình vào hoạt
động cho đến khi hết thời hạn sử dụng và đào thải công trình. Trong suốt quá
trình vận hành, các thành quả đầu tư chịu sự tác động 2 mặt, cả tích cực và tiêu

cực của nhiều yếu tố tự nhiên, chính trị, kinh tế, xã hội…
7
Nhóm thực hiện : Nhóm 8
Trong quá trình đầu tư, quản lý quá trình vận hành kết quả đầu tư không
tốt, không nhanh chóng đưa thành quả đầu tư vào sử dụng đã làm cho công trình
không hoạt động tối đa được công suất, chậm thu hồi vốn và dẫn đến các hao
mòn vô hình.
Ngoài ra cần chú ý đúng mức đến yếu tố độ trễ thời gian trong đầu tư. Đầu
tư trong năm nhưng thành quả đầu tư chưa chắc đã phát huy tác dụng ngay
trong năm đómà từ những năm sau và kéo dài trong nhiều năm. Đây là đặc điểm
rất riêng của lĩnh vực đầu tư, ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý hoạt động đầu
tư và rất dễ dẫn đến thất thoát lãng phí.
4. Quá trình thực hiện đầu tư cũng như thời kỳ vận hành các kết quả
đầu tư bị thất thoát do ảnh hưởng của các nhân tố về tự nhiên, kinh tế xã
hội vùng
Các thành quả của hoạt động ĐTPT mà là các công trình xây dựng thường
phát huy tác dụng ở ngay tại nơi nó được tạo dựng nên. Không thể dễ dàng di
chuyển các công trình đã đầu tư từ nơi này sang nơi khác nên công tác quản lý hoạt
động ĐTPT cần phải quán triệt đặc điểm này trên một số nội dung sau:
Trước tiên chính là việc chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư. Đầu tư cái
gì, công suất bao nhiêu là hợp lý… cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng, dựa trên
những căn cứ khoa học. Đối tượng đầu tư và quy mô đầu tư không thích hợp
làm cho dự án đầu tư đó không hiệu quả. Ví dụ, công suất xây dựng nhà máy
sàng tuyển than ở khu vực có mỏ than (do đó quy mô vốn đầu tư) phụ thuộc rất
nhiều vào trữ lượng than của mỏ. Do trữ lượng than của mỏ ít mà quy mô của
nhà máy sàng tuyển lớn nên không đảm bảo cho nhà máy hàng năm hoạt động
hết công suất với số năm tồn tại của nhà máy theo dự kiến trong dự án.
Thứ hai là vấn đề lựa chọn địa điểm đầu tư. Để lựa chọn địa điểm thực hiện
đầu tư đúng phải dựa trên những căn cứ khoa học, dựa vào một hệ thống các chỉ
tiêu kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường, văn hoá… Không đảm bảo xây dựng

8
Nhóm thực hiện : Nhóm 8
một bộ tiêu chí khác nhau và nhiều phương án so sánh để lựa chọn vùng lãnh
thổ và địa điểm đầu tư cụ thể hợp lý nhất đã không thể khai thác được tối đa lợi
thế vùng và không gian đầu tư cụ thể, không tạo điều kiện phát huy hiệu quả vốn
đầu tư gây TTLP.
5. ĐTPT có độ rủi ro cao.
Do quy mô vốn đầu tư lớn, thời kì đầu tư kéo dài và thời gian vận hành các
kết quả đầu tư cũng kéo dài… nên mức độ rủi ro của hoạt động ĐTPT thường
cao. Rủi ro đầu tư do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ quan từ
phía các nhà đầu tư như quản lý kém, chất lượng sản phẩm không đạt yêu cầu…
có nguyên nhân khách quan như giá nguyên liệu tăng, giá bán sản phẩm giảm,
công suất sản phẩm không đạt công suất thiết kế… gây ra những tổn thất về vốn
đầu tư.
IV. TTLP trong các giai đoạn đầu tư.
Theo nghiên cứu của Bộ Xây dựng, tình hình TTLP trong ĐTPT xảy ra ở
tất cả các khâu từ quy hoạch, quyết định đầu tư, thực hiện đầu tư, vận hành kết
quả đầu tư.
1. Trong khâu quy hoạch
Quy hoạch (QH) là khâu rất quan trọng, làm tiền đề cho các quá trình đầu
tư. Hiện nay, chất lượng QH phát triển nhiều ngành chưa cao hoặc chậm
được phê duyệt, chưa gắn kết chặt chẽ QH phát triển ngành với vùng và địa
phương, chưa sát với thực tế, chồng chéo, thiếu tầm nhìn dài hạn, chưa chú
trọng thỏa đáng đến yếu tố môi trường và xã hội… Rõ ràng là hiện chưa có
sự thống nhất giữa QH “cứng” với quy hoạch “mềm”, giữa QH mang tính định
hướng với QH mang tính chỉ tiêu. Chất lượng QH còn hạn chế, thiếu tầm nhìn
dài hạn và đồng bộ, chưa tuân thủ tính khách quan của quy luật thị trường. Kế
hoạch đầu tư phải chờ điều chỉnh, trong khi QH không sát, dẫn đến có công trình
9
Nhóm thực hiện : Nhóm 8

xây dựng xong hiệu quả rất thấp, gây TTLP lớn. Tình trạng lập QH cho có hình
thức để đủ thủ tục xin vốn đầu tư, quyết định kế hoạch đầu tư không chuẩn bị kỹ
vẫn phổ biến; Khi chất lượng công trình kém, xuống cấp nhanh thì lại đổ cho
thời gian, nhiệm vụ gấp, phải bảo đảm tiến độ trên giao… Tính pháp lý của QH
thấp, phổ biến tình trạng không tuân thủ nghiêm theo QH, kế hoạch đã được
duyệt; Thay đổi bổ sung không đúng thẩm quyền làm sai lệch QH chung, chưa
tôn trọng QH của các ngành khác…
2. Trong công tác chuẩn bị đầu tư:
Công tác chuẩn bị đầu tư bao gồm: lập và thẩm định dự án đầu tư
Các nguyên nhân dẫn tới giảm chất lượng chuẩn bị dự án vừa có tính chất
chủ quan bắt nguồn từ chính các chủ thể tham gia trong hoạt động xây dựng ở
giai đoạn này gồm chủ đầu tư, nhà thầu tư vấn, cơ quan quản lý nhà nước có liên
quan và vừa có tính chất khách quan phát sinh từ các bất cập trong quy trình
quản lý đầu tư xây dựng, trong các định mức kinh tế - kỹ thuật và trong hệ thống
tiêu chuẩn, quy chuẩn.
3. Trong công tác thực hiện đầu tư
Thực hiện đầu tư bao gồm: đấu thầu công trình và thi công dự án
Công tác đấu thầu, chỉ định thầu vi phạm các quy định hiện hành. Hạ giá
thầu thấp không có căn cứ để trúng thầu hoặc trúng thầu với giá rất thấp nhưng
vẫn làm được, chứng tỏ khâu lập thiết kế dự toán không đúng; Hiện tượng thông
thầu, tiêu cực, tham nhũng để chọn nhà thầu sai dẫn đến những hiện tượng rất
nghiêm trọng như vụ Thuỷ cung Thăng Long, một số vụ của Tổng Công ty Dầu
khí...
Trong việc thi công công trình, những sai sót trong kỹ thuật thiết kế và thi
công , vi phạm về nghiệm thu, thanh quyết toán, có tiêu cực xảy ra ở phía chủ
đầu tư, cơ quan quản lý, đơn vị tư vấn, nhà thầu thi công và cả phía nhà cung
10
Nhóm thực hiện : Nhóm 8
cấp. Đồng thời hiện tượng tráo đổi vật tư, thiết bị đưa vào công trình, nâng giá,
khai khống khối lượng, cắt xén vật tư cũng đưa lại những TTLP cho công trình.

4. Giai đoạn vận hành kết quả đầu tư
Sau khi nhận bàn giao công trình, chủ đầu tư có trách nhiệm khai thác;
hoàn thiện tổ chức và phương pháp quản lý nhằm phát huy đầy đủ và có hiệu
quả các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật đã được đề ra trong dự án đầu tư. Việc kéo dài
thời gian vận hành kết quả đầu tư làm cho mức rủi ro trong đầu tư cao hơn, dễ
gây ra những lãng phí đối với công trình, dự án.
V. Các nhân tố tác động đến TTLP trong đầu tư
1. Nhân tố con người
Công tác cán bộ là cốt lõi để giải quyết mọi vấn đề. Trong hoạt động đầu tư
có nhiều chức danh cán bộ như: khảo sát, tư vấn, thiết kế, soát, kiểm tra, giám
sát, thẩm định, kiểm định, phản biện, quản lý doanh nghiệp tư vấn, người có
thẩm quyền quyết định phê chuẩn, quản lý dự án, quản lý thi công,… Mỗi chức
danh nhiều khi không có các nhân nào chịu trách nhiệm chính, cá nhân nào liên
đới trách nhiệm, vậy nên đã xảy ra tình trạng “rất nhiều người có quyền, song rất
ít người chịu trách nhiệm cụ thể” tồn tại trong quản lý điều hành và triển khai dự
án nên thất thoát dễ dàng xảy ra. Vậy nguyên nhân là do đâu?
1.1 Phẩm chất đạo đức của cán bộ quản lý con người yếu kém
Phẩm chất đạo đức là yếu tố cơ bản đầu tiên của người cán bộ. Cán bộ có
giỏi nhưng phẩm chất kém cũng không mang đến hiệu quả trong công tác. Đó là
sự sa sút, biến chất về phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của một bộ phận cán bộ,
công nhân, viên chức, lợi dụng cương vị được giao cố ý làm trái, thông đồng,
móc ngoặc với nhau để làm ăn phi pháp trong đầu tư XDCB, coi việc nhận dự
án công trình XDCB như một cơ hội làm ăn để tăng thu nhập, làm giàu bất
chính và thăng tiến, làm giảm hiệu lực của các nguyên tắc pháp lý, phá vỡ các
11
Nhóm thực hiện : Nhóm 8
quy trình quy phạm trong ĐTXD, gây nên những hậu quả đáng tiếc. Điển hình
nhất là vụ PMU18 ở Bộ GTVT.
Hiện nay, tình trạng thiếu trách nhiệm, không sâu sát thực tế, vì lợi ích cục
bộ của ngành, địa phương và vì thành tích đã có những quyết định chủ trương

đầu tư sai là nguyên nhân quan trọng gây ra dàn trải, TTLP không nhỏ, ảnh
hưởng về lâu dài. Tuy chưa có số liệu đầy đủ nhưng nhiều chuyên gia cho rằng
trong đầu tư và xây dựng, lãng phí ở các khâu do các quyết định không sát,
không đúng chiếm khoảng 60-70% tổng số TTLP. Chưa kể tình trạng cố ý làm
sai, vi phạm pháp luật, vụ lợi trong đầu tư XDCB còn diễn ra ở nhiều dự án.
1.2 Trình độ chuyên môn thấp
Ngoài việc một số chủ thể tham gia quá trình triển khai các dự án cố ý vi
phạm các quy định quản lý dự án thì ở nhiều trường hợp khác, năng lực hạn chế,
trình độ chuyên môn yếu, thiếu tính chuyên nghiệp của các chủ thể cũng ảnh
hưởng trực tiếp đến tiến độ, chất lượng, giá thành của dự án. Tại Hội thảo toàn
quốc về nguồn nhân lực ngành xây dựng mới đây đã thống nhất nhận định:
nguồn nhân lực trong XDCB vừa thiếu vừa yếu ở tất cả các khâu, các chủ thể
tham gia quản lý triển khai (chủ đầu tư, Ban quản lý dự án, tư vấn khảo sát, thiết
kế, giám sát, đến nhà thầu xây lắp). Thực tế này cũng đã được Đoàn giám sát
của UBTVQH ghi nhận trong quá trình làm việc với các bộ, ngành địa phương.
Báo cáo của Đoàn giám sát cho biết: Một số Ban quản lý dự án không có kỹ sư
xây dựng; Việc phân cấp mạnh cho huyện, xã trong XDCB tỏ ra vượt quá khả
năng chuyên môn của cán bộ thuộc các cấp này...
2. Cơ chế chính sách
2.1 Hệ thống văn bản pháp luật chưa hoàn chỉnh
Mặc dù nước ta đã có Pháp lệnh, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí,
nhưng vẫn chưa có cơ chế phòng ngừa, đấu tranh một cách cụ thể, đồng bộ,
12
Nhóm thực hiện : Nhóm 8
thống nhất chặt chẽ. Những nội dung pháp luật chưa thật sự tuyên truyền sâu
rộng đến với dân, chưa thấm nhuần vào nhận thức, hành động của mọi người;
chưa có chế tài xử lý nghiêm minh, kịp thời những người vi phạm. Việc thực
hiện cải cách hành chính vừa chậm vừa lúng túng, chưa tạo ra tác động tích cực
cho phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí.
2.2 Cơ chế quản lý, thanh tra giám sát không hiệu quả

Tổ chức bộ máy quản lý điều hành các dự án đầu tư còn nhiều yếu kém,
nhiều đầu mối, nhiều tầng nấc. Vẫn còn tình trạng các cơ quan quản lý nhà nước
can thiệp sâu vào công việc của đơn vị kinh doanh. Cơ chế quản lý nhiều khi
chưa được xác lập rõ ràng, minh bạch. Công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán,
giám sát đã tiến hành và đạt được một số kết quả nhưng vẫn còn bất cập, chưa
đáp ứng yêu cầu chống quan liêu, lãng phí, chưa phối hợp chặt chẽ, thường
xuyên, đồng bộ giữa những cơ quan, tổ chức cùng ngăn chặn, chống lãng phí.
Chưa thật sự huy động đông đảo nhân dân tham gia chống lãng phí. Chưa có cơ
chế bảo vệ những người phát hiện, lên án các hành vi lãng phí. Trong bộ máy
nhà nước, ở không ít nơi chưa thiết lập chế độ kiểm tra, giám sát quyền lực một
cách chặt chẽ, cụ thể. Chính sách tài chính vẫn còn biểu hiện cơ chế "xin - cho".
Việc thực hành dân chủ còn nhiều hạn chế, do độc đoán chuyên quyền dẫn đến
những quyết định không chuẩn xác, làm lãng phí tiền của, thời gian, công sức,
làm giảm sút niềm tin của quần chúng nhân dân.
3. Nhóm nhân tố khách quan khác
TTLP trong ĐTPT cũng là do nguyên nhân từ các yếu tố khách quan như
thiên tai, dịch bệnh trong nước, giá cả trên thị trường thế giới biến động. Những
tác động trên sẽ làm giảm tiến độ của công trình, ảnh hưởng tới đội ngũ tham gia
công trình, làm giá cả nguyên vật liệu dẫn đến thời kỳ đầu tư kéo dài tạo nên
những lãng phí cho dự án.
13
Nhúm thc hin : Nhúm 8
Chơng II
Thực trạng thất thoát lãng phí trong
đầu t ở Việt Nam giai đoạn 2001-2007
Đầu t là hoạt động nhằm thúc đẩy tăng trởng kinh tế. Tuy nhiên không phải
cứ đầu t nhiều thì nền kinh tế sẽ có tốc độ tăng trởng cao, vì điều này còn phụ
thuộc vào hiệu quả sử dụng vốn đầu t. Thc tế đã chứng minh hiệu quả sử dụng
vốn đầu t giảm dần: năm 1995 đầu t 3 đồng tăng trởng 1 đồng, năm 2003 đầu t 5
đồng tăng trởng 1 dồng, năm 2005 đầu t 7 đồng mới tăng trởng 1 đồng.

Một trong những nguyên nhân làm giảm hiệu quả sử dụng vốn là hiện t-
ợng TTLP trong đầu t. Trong giai đoạn 2001-2005, lợng TTLP ở mức sơ bộ 15%
thì con số cũng lên đến hàng chục ngàn tỷ đồng mỗi năm.
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong phòng chống TTLP nhng tình trạng
này vẫn diễn ra tràn lan tại các công trình, dự án; và đây vn đang là vấn đề nan
giải của các cấp các ngành cần đợc giải quyết.
TTLP hiện nay là nghiêm trọng, kéo dài suốt dọc trong tất cả các giai
đoạn đầu t, từ công tác QH đến việc chuẩn bị đầu t, thực hiện đầu t, vận hành kết
quả đầu t.
I. TTLP từ công tác QH.
QH là giai đoạn đầu tiên quyết định đầu t vào đâu, đầu t vào cái gì, quy
mô nh thế nào. Vì vậy, QH sai lầm sẽ tạo hệ lụy về lâu dài. Công tác QH của nớc
ta hiện nay còn mang tính bị động, cha làm cơ sở, kế hoạch cho TPT, dẫn đến
một số quyết định đầu t sai lầm, hoặc dự án phải điều chỉnh nhiều lần, gây TTLP
14
Nhúm thc hin : Nhúm 8
về vốn và các nguồn lực khác. Theo nhận định của một số chuyên gia kinh tế,
TTLP do công tác QH gây ra lên tới 60-70% tổng TTLP trong đầu t.
1. TTLP do QH thiu tm nhỡn di hn
QH đầu t ở nớc ta hiện nay thực sự cha có sự thẩm định một cách kỹ
càng về các căn cứ kinh tế xã hội nh điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, hay các yếu tố
về thị trờng. Từ đó, một số QH đã thể hiện rõ nét những sai sót, yếu kém: thiếu thị
trờng đầu vào; sản phẩm đầu ra không có chỗ đứng, không tiêu thụ đợc, nhà máy
buộc phải đóng cửa, gây ra lãng phí vốn đầu t.
1.1. Nhà máy thiếu nguyên liệu đầu vào.
Lãng phí trên 52 tỷ đồng nguồn vốn đầu t nhà nớc.
Theo điều tra, trong giai doạn 2001-2007, các nhà máy(NM) chế biến
rau quả của nớc ta hầu nh chỉ hoạt động với 25-30% công suất. Một điển hình là
NM chế biến cà chua của công ty xuất nhập khẩu rau quả đặt tại Hải Phòng. Hoàn
thành từ năm 2001 nhng mỗi năm NM chỉ hot động với 4,5% công suất do không

có đủ nguyên liệu. Thời điểm thu mua nhiều nhất của NM kể từ khi hoạt động là
150-170 tấn/ngày, dù vậy vẫn cha đủ do công suất NM lên tới 240 tấn nguyên
liệu/ngày.Đợc đầu t dây chuyền hiện đại của Italy với tổng vốn đầu t nhà nớc trên
52 tỷ đồng, NM hoạt động không hiu quả đã làm lãng phí nguồn vốn đầu t.
Do công tác QH, đặc biệt là QH vùng nguyên liệu còn nhiều bất cập,
việc xác định quy mô địa điểm một số cơ sở chế biến cha tốt, cha phù hợp với khả
năng cung cấp nguyên liệu; thậm chí có những doanh nghiệp cha coi trọng việc
phát triển vùng nguyên liệu, làm cho sản xuất luôn bị động, thiếu nguyên liệu,
hoạt động dới công suất. Hu qu l NM buộc phải đóng cửa sản xuất, không có
khả năng trả nợ, và việc quyết định đầu t cho NM đã gây lãng phí lớn.
Hoặc một hiện trạng nữa tại Thái Bình, công trình NM chế biến gạo sau thu
hoạch ở huyện Đông Hng, xây dựng xong nhng do đặt ở vùng không có lúa nên
15
Nhúm thc hin : Nhúm 8
NM rơi vào tình trạng đói nguyên liệu, buộc phải cho hai công ty khác thuê lại
dùng việc khác.
Thiếu nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất còn là nguyên nhân dẫn đến cạnh
tranh giữa các doanh nghiệp, đẩy giá thành nguyên liệu đầu vào, làm chi phí sản
xuất và do đó giá sản phẩm cũng tăng theo. Đây là một lãng phí cho chi phí sản
xuất không đáng có.
1.2. Nhà máy thiếu thị trờng đầu ra.
Xây NM 100 tỷ đồng rồiđóng cửa:
Theo Bộ Xây Dựng, trong năm 2005 có 43 công trình TTLP, tổng mức
đầu t trên 5362 tỷ đồng, trong đó có công trình NM gạch Granit thiên thạch Nam
Định với số vốn 100 tỷ đồng, là công trình gây TTLP vốn đầu t nhà nớc lớn thứ hai
trong tổng số 43 công trình.
Đã có thời gian ngành sản xuất gạch ốp lát Ceramic và Granit nhân tạo
đựơc xem là dễ kiếm lời do nhu cầu thị trờng phát triển mạnh. Vì thế các doanh
nghiệp đổ xô vào đầu t, đã không ít doanh nghiệp bị điêu đứng. Do không nghiên
cứu kỹ lỡng, không có khả năng dự báo trung và dài hạn về thị trờng tiềm năng

cho sản phẩm, các doanh nghiệp chỉ thấy đợc những lợi ích trớc mắt, chỉ trong
vòng 5 năm công suất ngàn-->

×