Tải bản đầy đủ (.pdf) (107 trang)

Biện pháp quản lý hoạt động dạy - học môn nghiệp vụ lễ tân khách sạn tại trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.49 MB, 107 trang )



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƢ PHẠM



ĐỖ THỊ MINH





BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC
MÔN NGHIỆP VỤ LỄ TÂN KHÁCH SẠN
TẠI TRƢỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI




LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC








HÀ NỘI - 2008
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI




KHOA SƢ PHẠM



ĐỖ THỊ MINH




BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC
MÔN NGHIỆP VỤ LỄ TÂN KHÁCH SẠN
TẠI TRƢỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI



LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60 14 05



NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. TRẦN KHÁNH ĐỨC




HÀ NỘI - 2008














1
MỤC LỤC



Trang
MỞ ĐẦU
1
1.
Lý do chọn đề tài
1
2.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3
3.
Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4
4.

Giả thuyết khoa học
4
5.
Phạm vi nghiên cứu
4
6.
Phương pháp nghiên cứu
4
7.
ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
5
8.
Cấu trúc luận văn
5
Chƣơng 1.
Cơ sở lý luận quản lý hoạt động dạy - học
7
1.1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu
7
1.1.1.
Các nhà nghiên cứu giáo dục nước ngoài
7
1.1.2.
Các nhà nghiên cứu giáo dục Việt Nam
8
1.2.
Một số khái niệm cơ bản
10
1.2.1.

Quản lý
10
1.2.2.
Hoạt động dạy - học
13
1.2.3.
Quá trình dạy học
14
1.3.
Cơ sở lý luận về quá trình dạy - học
14
1.3.1.
Cấu trúc
14
1.3.2.
Bản chất của quá trình dạy - học
17
1.3.3.
Các đặc điểm của quá trình dạy - học
18
1.4.
Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy - học
20
1.4.1.
Mục đích quản lý
20
1.4.2.
Nội dung và các chức năng quản lý
20
1.4.3.

Quản lý quá trình dạy - học
24
1.4.4.
Phương pháp quản lý
26
1.4.5.
Đánh giá hiệu quả quản lý
29

Tiểu kết chương 1
30


2
Chƣơng 2.
Thực trạng của hoạt động dạy - học và quản lý hoạt
động dạy - học môn nghiệp vụ lễ tân khách sạn tại
trƣờng Cao đẳng Du lịch Hà Nội
31
2.1.
Khái quát về quá trình hình thành và phát triển của Trường
Cao đẳng Du lịch Hà Nội
31
2.1.1.
Lịch sử phát triển
31
2.1.2.
Vị trí, chức năng, nhiệm vụ
33
2.1.3.

Cơ cấu tổ chức
33
2.1.4.
Cơ sở vật chất
34
2.1.5.
Đội ngũ cán bộ, giảng viên, công nhân viên
36
2.1.6.
Quy mô và cơ cấu ngành nghề đào tạo
36
2.1.7.
Đối tượng tuyển sinh và loại hình đào tạo
37
2.1.8.
Nơi làm việc của sinh viên sau khi tốt nghiệp
38
2.1.9.
Sơ đồ đào tạo
38
2.2.
Thực trạng hoạt động dạy - học môn Nghiệp vụ lễ tân
khách sạn
40
2.2.1.
Vị trí, tính chất và ý nghĩa của môn học trong chuyên
ngành đào tạo
40
2.2.2.
Mục tiêu môn học

40
2.2.3.
Nội dung chương trình, học liệu
41
2.2.4.
Hình thức tổ chức dạy học, phương pháp dạy học, phương
pháp học
42
2.2.5.
Kiểm tra - đánh giá
48
2.3.
Thực trạng quản lý hoạt động dạy - học môn Nghiệp vụ lễ
tân khách sạn tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
54
2.3.1.
Lập kế hoạch
54
2.3.2.
Chuẩn bị các điều kiện bảo đảm (chương trình, giảng viên,
cơ sở vật chất)
55
2.3.3.
Quản lý quá trình dạy - học
60
2.3.4.
Kiểm tra - đánh giá
61
2.4.
Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động dạy - học

môn Nghiệp vụ lễ tân khách sạn tại Trường Cao đẳng Du
lịch Hà Nội
61
2.4.1.
ưu điểm
61


3
2.4.2.
Hạn chế
63

Tiểu kết chương 2
66
Chƣơng 3.
Các biện pháp quản lý hoạt động dạy - học môn nghiệp
vụ lễ tân khách sạn tại trƣờng Cao đẳng Du lịch Hà
Nội
67
3.1.
Định hướng phát triển của nhà trường trong các năm tới
67
3.2.
Các nguyên tắc đề xuất biện pháp
68
3.2.1.
Đảm bảo tính mục tiêu
68
3.2.2.

Đảm bảo tính thực tiễn
68
3.2.3.
Đảm bảo tính hệ thống
68
3.2.4.
Đảm bảo tính khả thi
69
3.3.
Các biện pháp quản lý hoạt động dạy - học môn Nghiệp vụ
lễ tân khách sạn
69
3.3.1.
Nhóm biện pháp 1: Quản lý xây dựng chương trình môn học
69
3.3.2.
Nhóm biện pháp 2: Quản lý quá trình dạy - học
82
3.3.3.
Nhóm biện pháp 3: Quản lý các điều kiện đảm bảo
84
3.4.
Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
89

Tiểu kết chương 3
92
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
93
1.

Kết luận
93
2.
Khuyến nghị
95
TÀI LIỆU THAM KHẢO
97
PHỤ LỤC












4
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI đã chứng kiến rất nhiều biến
đổi sâu sắc của loài người. Bên cạnh sự phát triển của kinh tế tri thức, công
nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, mối quan hệ giữa các quốc gia trên thế
giới cũng đã có những thay đổi sâu sắc về bản chất. Tuy nhiên một lần nữa
con người được đặt vào vị trí trung tâm của sự phát triển, con người được
xem là nguồn lực vô tận, là nhân tố quyết định đến mục tiêu của sự phát triển.

Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã thực sự quan tâm đến nguồn lực con
người, coi nguồn lực con người chính là nhân tố quyết định sự phát triển bền
vững. Xuất phát từ quan điểm trên, giáo dục - đào tạo được coi là chính sách
quốc gia quan trọng nhất trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước ta trong giai đoạn hiện nay. Phát triển giáo dục - đào tạo là một trong
những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước. Do đó, việc đầu tư cho giáo dục - đào tạo là yếu tố cơ bản để phát
triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
Nghị quyết Trung ương II khóa VIII của Đảng đã khẳng định: “Giáo dục
và đào tạo hiện nay phải có một bước chuyển nhanh về chất lượng và hiệu quả
đào tạo, về số lượng và quy mô đào tạo, nhất là chất lượng dạy học trong các nhà
trường nhằm nhanh chóng đưa giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu đối mới của
đất nước, thực hiện nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phục
vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước”.
Như vậy, vấn đề cấp thiết hiện nay ở nước ta là đảm bảo và nâng cao chất
lượng trong giáo dục và đào tạo. Đặc biệt là đối với các cơ sở đào tạo nghề
nghiệp mang tính ứng dụng. Chủ trương đối mới hoạt động dạy - học theo
hướng tích cực trong đào tạo nghề nghiệp đã và đang được các cơ sở đào tạo
triển khai thực hiện để gắn việc đào tạo đạt chuẩn và đáp ứng nhu cầu xã hội.


5
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định “ đưa ngành
Du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước”. Và trên thực tế,
trong những năm qua, ngành Du lịch đã đạt được kết quả phát triển đáng khích
lệ mặc dù phải đối mặt với những vấn đề như khủng hoảng kinh tế toàn cầu, dịch
bệnh và thiên tai khắc nghiệt. Để ngành Du lịch đạt được những kết quả trên và
tiếp tục tạo đà cho việc phát triển trong tương lai đòi hỏi ngành Du lịch Việt
Nam phải mở rộng thị trường, tăng cường quảng bá xúc tiến, tạo ra các sản
phẩm, dịch vụ hấp dẫn với du khách, nâng cao chất lượng dịch vụ và đẩy mạnh

hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn và kỹ
năng nghiệp, năng lực giao tiếp ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành
trong tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế. Việc tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng
cho việc phát triển trên đòi hỏi các cơ sở đào tạo về du lịch phải có chiến lược
trong trước mắt và tương lai.
Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội (trực thuộc Tổng cục Du lịch, nay là
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) được thành lập ngày 24/7/1972, đến nay đã
trải qua 37 năm xây dựng và phát triển. Khởi đầu là Trường Du lịch Việt Nam
chỉ đào tạo công nhân kỹ thuật ở trình độ dạy nghề. Năm 1997, trường được
nâng cấp lên thành Trường Trung học nghiệp vụ Du lịch Hà Nội. Đến năm
2003, trường được nâng cấp lên thành Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội.
Cùng với sự phát triển chung của ngành, của đất nước trong sự nghiệp đổi
mới, hoạt động dạy - học nói chung và hoạt động dạy - học các môn chuyên
ngành ở Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội những năm qua có nhiều chuyển
biến tích cực. Hoạt động giảng dạy và học tập các môn chuyên ngành nghiệp
vụ từng bước được nâng lên. Tuy nhiên, phương pháp, chất lượng và hiệu quả
còn bộc lộ một số hạn chế và bất cập so với yêu cầu nhiệm vụ. Để đáp ứng
được yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho ngành du lịch và xứng đáng là một
trường đầu ngành của du lịch Việt Nam, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
cần phải đổi mới hoạt động dạy - học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo trong
lĩnh vực du lịch để đáp ứng nhu cầu xã hội.


6
Trước tình hình hiện nay, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội đã xác định
xây dựng mục tiêu “Rèn luyện kỹ năng thực hành nghiệp vụ và giao tiếp
ngoại ngữ đến mọi cấp học” là phương châm hành động trong công tác giảng
dạy và học tập cho tất cả các chuyên ngành đào tạo, đáp ứng yêu cầu của xã
hội và đòi hỏi của thực tiễn. Do đặc thù nghề nghiệp, đòi hỏi người học phải
được trang bị những kiến thức kỹ năng nghề nghiệp và khả năng giao tiếp

ngoại ngữ để có thể làm việc trong môi trường hội nhập khu vực và quốc tế.
Trong số các kiến thức cần thiết mà Nhà trường trang bị cho người học thì
vấn đề đầu tiên đó là kỹ năng nghề nghiệp. Kỹ năng này được trang bị bởi các
môn nghiệp vụ. Quản lý hoạt động dạy - học môn nghiệp vụ chuyên ngành có
vai trò quan trọng quyết định đến chất lượng đào tạo đặc biệt là việc hình thành
các kỹ năng nghiệp vụ cho học sinh, sinh viên làm việc sau khi tốt nghiệp ra
trường có thể đáp ứng được nhu cầu thực tế của xã hội.
Nhận thấy hiện nay chưa có đề tài, luận văn nào nghiên cứu về vấn
đề quản lý hoạt động giảng dạy và học tập môn học Nghiệp vụ lễ tân khách
sạn; do đó xuất phát từ nhận thức trên, với những kiến thức được tiếp thu
trong quá trình học tập chương trình quản lý giáo dục, cộng với thực tiễn
công tác, bản thân tôi nhận thấy việc quản lý hoạt động dạy - học môn
Nghiệp vụ lễ tân khách sạn ở Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội là việc làm
thiết thực và có ý nghĩa. Bởi vậy, tôi chọn đề tài: “Quản lý hoạt động dạy -
học môn Nghiệp vụ lễ tân khách sạn tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà
Nội” để làm luận văn tốt nghiệp chương trình Thạc sỹ Quản lý giáo dục với
mục đích hệ thống lại kiến thức đã được lĩnh hội trong thời gian học tập,
làm cơ sở đánh giá kết quả học tập của bản thân, đồng thời mong muốn
đóng góp một phần nhỏ bé của mình trong công tác tham mưu với Ban
Giám hiệu Nhà trường, Khoa Quản trị kinh doanh khách sạn - nhà hàng, Bộ
môn Nghiệp vụ lễ tân khách sạn về công tác quản lý hoạt động dạy - học
môn học Nghiệp vụ lễ tân khách sạn hiện nay và những năm tiếp theo.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu


7
2.1. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất những biện pháp quản lý thích hợp và hiệu quả hoạt động dạy -
học môn Nghiệp vụ lễ tân khách sạn tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội.


2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác quản lý hoạt động dạy - học
môn Nghiệp vụ lễ tân khách sạn.
- Đánh giá thực trạng hoạt động dạy - học và quản lý dạy học môn
Nghiệp vụ lễ tân khách sạn tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội.
- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy - học môn Nghiệp vụ lễ
tân khách sạn tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động dạy - học môn Nghiệp vụ lễ tân khách sạn tại Trường Cao
đẳng Du lịch Hà Nội.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý hoạt động dạy - học môn Nghiệp vụ lễ tân khách
sạn tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội.
4. Giả thuyết khoa học
Hiện nay việc quản lý hoạt động dạy- học môn Nghiệp vụ lễ tân khách
sạn tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội còn nhiều hạn chế và chưa có tác
động tích cực. Nếu đề xuất và áp dụng các biện pháp quản lý hoạt động dạy-
học môn Nghiệp vụ lễ tân khách sạn có hiệu quả thì chất lượng dạy và học
môn nghiệp vụ lễ tân khách sạn sẽ được nâng cao và đáp ứng được mục tiêu
đề ra của nhà trường và của ngành du lịch đối với việc phát triển nguồn nhân
lực du lịch chất lượng cao trong giai đoạn hiện nay.
5. Phạm vi nghiên cứu
Hoạt động dạy - học môn Nghiệp vụ lễ tân khách sạn tại Trường Cao
đẳng Du lịch Hà Nội.


8
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

- Kế thừa kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học liên quan do
các tác giả trong và ngoài nước thực hiện.
- Tham khảo các văn kiện, tài liệu, báo, tạp chí, v.v về quản lý giáo dục.
- Tham khảo các bài luận văn cùng chuyên ngành và các bài giảng của
các giáo sư, tiến sĩ về quản lý giáo dục.
- Tham khảo các bài giảng về Lý thuyết và Thực hành nghiệp vụ lễ tân
khách sạn theo phương pháp giảng dạy mới của Dự án Phát triển nguồn nhân
lực du lịch Việt Nam do các chuyên gia đầu ngành Du lịch thực hiện.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp chuyên gia.
6.3. Nhóm phương pháp nghiên cứu hỗ trợ
Lấy ý kiến của các chuyên gia về lĩnh vực nghiên cứu.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
7.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn làm sáng tỏ quan điểm về việc quản lý hoạt động dạy - học
môn Nghiệp vụ lễ tân khách sạn tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội.
7.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề xuất những biện pháp quản lý có giá trị thực tiễn góp phần phổ biến,
tri thức, kinh nghiệm quản lý nhằm bảo đảm cho môn học đạt hiệu quả và
mục tiêu do nhà trường và ngành du lịch đề ra trong giai đoạn hiện nay.
7.3. Điểm mới của luận văn
- Lần đầu tiên đưa ra biện pháp quản lý hoạt động dạy - học môn
Nghiệp vụ lễ tân khách sạn tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội.
- Xây dựng biện pháp quản lý hoạt động dạy - học môn nghiệp vụ lễ tân
khách sạn theo mục tiêu của trường và ngành du lịch trong giai đoạn hiện nay.


9

8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và tài liệu tham khảo, luận
văn được trình bày trong 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận quản lý hoạt động dạy - học.
Chƣơng 2: Thực trạng của hoạt động dạy - học và quản lý hoạt động dạy
- học môn Nghiệp vụ lễ tân khách sạn tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội.
Chƣơng 3: Những biện pháp quản lý hoạt động dạy - học môn Nghiệp
vụ lễ tân khách sạn tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội.








10
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC

1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Để nâng cao chất lượng dạy - học, vai trò của các biện pháp quản lý hết
sức quan trọng. Đây là vấn đề luôn được các nhà nghiên cứu giáo dục trong
và ngoài nước quan tâm. Họ đã nghiên cứu từ thực tiễn các nhà trường để tìm
ra các biện pháp quản lý hiệu quả nhất.
1.1.1. Các nhà nghiên cứu giáo dục nước ngoài
Các nhà nghiên cứu quản lý giáo dục Xô Viết trong những công trình
nghiên cứu của mình đã cho rằng: “Kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trường
phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý công tác hoạt động của
đội ngũ giáo viên”. V.A Xukhomlinxki đã tổng kết những thành công cũng như
thất bại của 26 năm kinh nghiệm thực tiễn làm hiệu trưởng của mình, cùng với

nhiều tác giả khác, ông đã đưa ra một số biện pháp quản lý của hiệu trưởng.
Về xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, các nhà nghiên cứu
thống nhất cho rằng: Một trong những chức năng của hiệu trưởng nhà trường
là phải xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, phát huy được tính sáng tạo
trong lao động của họ và tạo ra khả năng ngày càng hoàn thiện tay nghề sư
phạm. Hiệu trưởng phải biết lựa chọn đội ngũ giáo viên bằng nhiều nguồn
khác nhau và bồi dưỡng họ trở thành những giáo viên tốt theo tiêu chuẩn nhất
định, bằng những biện pháp khác nhau.
Một biện pháp quản lý hoạt động dạy học để nâng cao chất lượng mà
các tác giả quan tâm là tổ chức hội thảo khoa học. Thông qua hội thảo, giáo
viên có điều kiện trao đổi những kinh nghiệm về chuyên môn nghiệp vụ để
nâng cao trình độ của mình. Tuy nhiên để hoạt động này đạt hiệu quả cao, nội
dung các cuộc hội thảo khoa học cần phải được chuẩn bị kỹ, phù hợp và có
tác dụng thiết thực đến dạy học. Tổ chức hội thảo phải sinh động, thu hút
đuợc nhiều giáo viên tham gia thảo luận, trao đổi. Vấn đề đưa ra hội thảo phải
mang tính thực tiễn cao, phải là vấn đề được nhiều giáo viên quan tâm và có


11
tác dụng thiết thực đối với việc dạy và học. Qua các cuộc hội thảo, hiệu
trưởng hiểu thêm các quan điểm của giáo viên về dạy học, bản thân giáo viên
nắm vững hơn, hiểu sâu hơn về khoa học cơ bản, về các vấn đề còn đang mơ
hồ và họ sẽ mở rộng hơn tầm nhìn, tầm hiểu biết để vận dụng vào trong giảng
dạy, từ đó nâng cao hơn chất lượng dạy học.
V.A Xukhomlinxi và Xvecxlerơ còn nhấn mạnh đến biện pháp dự
giờ và phân tích bài giảng. Xvecxlerơ cho rằng việc dự giờ và phân tích bài
giảng là đòn bẩy quan trọng nhất trong công tác quản lý quá trình giảng
dạy của giáo viên. Việc phân tích bài giảng mục đích là phân tích cho giáo
viên thấy và khắc phục các thiếu sót, đồng thời phát huy mặt mạnh nhằm
nâng cao chất lượng bài giảng.

Trong cuốn “Vấn đề quản lý và lãnh đạo nhà trường”, V.A
Xukhomlinxki đã nêu cụ thể cách tiến hành dự giờ và phân tích bài giảng giúp
cho Hiệu trưởng thực hiện tốt và có hiệu quả biện pháp quản lý này.
1.1.2. Các nhà nghiên cứu giáo dục Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề quản lý nhà trường nhằm nâng cao chất lượng dạy
-học cũng là một vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm trong nhiều năm
qua. Đó là các tác giả Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Ngọc Quang, Hoàng Chính,
Hà Sĩ Hồ, Lê Tuấn. Khi nghiên cứu các tác giả đều nêu lên nguyên tắc chung
của việc quản lý hoạt động dạy học của người giáo viên như sau:
- Khẳng định trách nhiệm của mỗi giáo viên bộ môn là chịu trách
nhiệm về chất lượng giảng dạy học sinh trong lớp mình phụ trách.
- Đảm bảo định mức lao động với các giáo viên.
- Giúp đỡ thiết thực và cụ thể để cho các giáo viên hoàn thành tốt các
trách nhiệm của mình.
Từ các nguyên tắc chung đó, các tác giả đã nhấn mạnh vai trò của
quản lý trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục. Tác giả Hà Sĩ Hồ và Lê Tuấn
cho rằng: “ Trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo, việc quản lý dạy và học là


12
nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường”. Các tác giả đã nhấn mạnh: Hiệu trưởng
phải là người “luôn luôn biết kết hợp một cách hữu cơ quản lý dạy và học
(theo nghĩa rộng) với sự quản lý các bộ phận; hoạt động dạy và học của các
bộ môn và các hoạt động khác hỗ trợ cho hoạt động dạy học nhằm làm cho
tác động giáo dục được hoàn chỉnh, trọn vẹn”.
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang xác định: “Dạy học và giáo dục trong sự
thống nhất là hoạt động trung tâm của nhà trường” và “Quản lý nhà trường
thực chất là quản lý quá trình sư phạm của thày”.
Tác giả Trần Thị Bích Liễu nhấn mạnh tới những khó khăn trong
công tác quản lý nhà trường trong điều kiện mới. Mà việc “đổi mới chương

trình, sách giáo khoa, đòi hỏi sự đổi mới phương pháp quản lý và lãnh đạo
của hiệu trưởng sao cho phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của các
thành viên trong trường”.
Tác giả Cao Thị Thanh Mai đề cập đến tính chất đặc thù trong công
tác “quản lý hoạt động dạy - học môn tiếng Anh trong nhà trường theo hướng
chuẩn hóa”. Trên thực tế, mặc dù tiếng Anh đã được đưa vào giảng dạy khá
lâu trong các trường cao đẳng, đại học, song kết quả thì chưa khả quan. Điều
nổi bật nhất đối với sinh viên là không sử dụng được ngôn ngữ này như một
phương tiện giao tiếp cũng như đọc và tra cứu tài liệu chuyên ngành.
Một số các tác giả khác như Đỗ Thị Kim Oanh, Vũ Thị Tuyết cũng đã
phát hiện ra một số vấn đề trong công tác giảng dạy và đề xuất một số biện
pháp trong việc “quản lý hoạt động dạy - học môn tiếng Anh chuyên ngành
trong xu thế hội nhập”.
Như vậy vấn đề nâng cao chất lượng dạy học, từ lâu đã được các nhà
nghiên cứu giáo dục trong và ngoài nước quan tâm. Hiện nay, chúng ta đang
quyết tâm đẩy nhanh công nghiệp hóa - hiện đại hóa, phấn đấu đến năm 2020,
nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại thì việc
nâng cao chất lượng dạy học để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đã trở


13
thành mối quan tâm chung của toàn xã hội, đặc biệt là của các nhà nghiên cứu
giáo dục, các cơ sở giáo dục, các cơ sở đào tạo nghề và các trường CĐ, ĐH.
Qua công trình nghiên cứu của họ, ta thấy một điểm chung, đó là: Khẳng định
vai trò quan trọng của công tác quản lý của hiệu trưởng trong việc nâng cao
chất lượng dạy và học ở các cấp học, bậc học. Đây cũng chính là một trong
những tư tưởng mang tính chiến lược về phát triển giáo dục của Đảng ta “Đổi
mới quản lý giáo dục - đào tạo là khâu đột phá”.
Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội được giao nhiệm vụ đào tạo nghề
du lịch ở trình độ cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề cho tương

lai và phấn đấu xứng đáng là trường dẫn đầu của ngành Du lịch Việt Nam.
Trong những năm qua, vấn đề quản lý như thế nào để nâng cao chất lượng
giảng dạy chỉ được nói đến một cách chung chung, cũng chưa có chuyên đề,
bài viết nào về vấn đề này. Vì vậy vấn đề quản lý hoạt động dạy - học ở
Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội nói chung như thế nào, làm thế nào để thực
hiện được các giải pháp để đạt được mục tiêu đào tạo đặt ra: Nâng cao chất
lượng dạy - học đối với môn học Nghiệp vụ lễ tân khách sạn trong Trường Cao
đẳng Du lịch Hà Nội chính là vấn đề mà tác giả quan tâm nghiên cứu trong luận
văn này.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Quản lý
Từ khi xã hội loài người xuất hiện thì nhu cầu quản lý cũng hình thành.
Xã hội phát triển qua các phương thức sản xuất cổ truyền đến văn minh hiện
đại làm cho trình độ tổ chức, điều hành cũng được nâng cao, phát triển theo
các đòi hỏi ngày càng cao như một tất yếu lịch sử khách quan.
Sự phát triển xã hội dựa vào nhiều yếu tố, trong đó chủ yếu là phụ
thuộc vào trình độ nắm vững tri thức và trình độ quản lý. Mọi hoạt động xã
hội đều cần đến những tác động quản lý. Khi nói đến quản lý người ta phải đề


14
cập đến chủ thể và đối tượng quản lý. Chủ thể và đối tượng quản lý để có thể
là người hoặc tổ chức do con người lập nên.
Trong nghiên cứu khoa học có rất nhiều quan niệm về quản lý, theo
những cách tiếp cận khác nhau. Quản lý là cai quản, chỉ huy, lãnh đạo, chỉ
đạo, kiểm tra theo góc độ tổ chức. Theo góc độ điều khiển từ quản lý là lái,
điều khiển, điều chỉnh. Theo cách tiếp cận hệ thống thì quản lý là sự tác động
của chủ thể quản lý (hay đối tượng quản lý) nhằm tổ chức, phối hợp hoạt
động của con người trong quá trình sản xuất - xã hội để đạt được mục đích đã
định.

Theo C.Mác: “Bất cứ một lao động mang tính chất xã hội trực tiếp hay lao
động cùng nhau, được thực hiện ở quy mô tương đối lớn, đều cần đến mức độ nhiều
hay ít sự quản lý, nhằm thiết lập sự phối hợp giữa những công việc cá nhân và thực
hiện những chức năng chung, nảy sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất,
khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của nó. Một người chơi vĩ cầm đơn
lẻ tự điều khiển mình còn dàn nhạc thì cần người chỉ huy”.
Như vậy, đã xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù là tổ chức,
điều khiển các hoạt động của con người theo những yêu cầu nhất định - được
gọi là hoạt động quản lý. Xã hội phát triển qua các phương thức sản xuất, thì
trình độ tổ chức, điều hành tất yếu cũng được nâng lên, phát triển theo với
những đòi hỏi ngày càng cao. Khi lao động xã hội đạt tới một trình độ và quy
mô phát triển nhất định thì sự phân công lao động tất yếu sẽ dẫn đến việc tách
quản lý thành một dạng hoạt động đặc biệt, sẽ hình thành một bộ phận lao
động trực tiếp và một bộ phận chuyên hoạt động quản lý, tạo thành một mối
quan hệ trong quản lý. Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, quản lý
đã trở thành một khoa học và ngày càng phát triển toàn diện.
Theo Harld Koontz (Mỹ): “Quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm
đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân để đạt được mục đích của
nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường trong đó
con người có thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất


15
và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ
thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học”.
Quản lý là cách thức tốt nhất để đạt được mục tiêu chung. Vì vậy,
nhiệm vụ của quản lý là biến các mối quan hệ trên thành những yếu tố tích
cực, hạn chế xung đột và tạo nên môi trường thuận lợi để hướng tới mục tiêu.
Ở khía cạnh này, quản lý là một nghệ thuật. Đó là “bí quyết” sắp xếp các
nguồn lực của tổ chức, là sự sáng tạo khi đối phó với những tình huống khác

nhau trong hoạt động của tổ chức.
Tuy nhiên, các bí quyết đó chỉ có thể được khám phá trên sự đúc kết kinh
nghiệm thực tế. Các nhà quản lý chỉ có thể thực hiện sự mệnh của mình tốt hơn
khi vận dụng những kinh nghiệm đã được đúc kết, khái quát hóa thành những
nguyên tắc, phương pháp và kỹ năng quản lý cần thiết. Đó chính là khoa học,
khoa học quản lý. Vì thế, quản lý vừa là khoa học, nhưng lại vừa là nghệ thuật.
Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có
định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên khách thể (đối
tượng) quản lý về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các
luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo
ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”.
Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình
định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được
những mục tiêu nhất định”.
Theo tác giả Nguyễn Bá Sơn: “Quản lý là sự tác động có hướng đích
của thể quản lý đến đối tượng quản lý bằng một hệ thống các giải pháp nhằm
thay đổi trạng thái của đối tượng quản lý, đưa hệ thống tiếp cận mục tiêu cuối
cùng, phục vụ lợi ích của con người”.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích,
có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung
là khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu, dự kiến”.


16
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động
quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người
quản lý) lên khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm
cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”.
Một cách tiếp cận khác của nhà lý luận quản lý nước ngoài O. Donnel
đã cho rằng: “Quản lý là sự thiết lập và giữ gìn môi trường nội bộ của một tổ

chức mà ở đó, mọi người cùng nhau làm việc thoải mái, cộng tác để đạt được
những hiệu quả và hiệu suất trong công việc vì mục đích chung của tập thể,
của tổ chức đó”.
Như vậy, quản lý được hiểu là sự trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu
nhất định của tổ chức và điều khiển các hoạt động của mọi tổ chức, cá nhân
theo những yêu cầu nhất định. Có người cho rằng quản lý là quá trình hoàn
thành công việc thông qua con người và làm việc với con người.
1.2.2. Hoạt động dạy - học
Dạy - học là một bộ phận của quá trình tổng thể giáo dục nhân cách
toàn vẹn, là quá trình tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh nhằm truyền
thụ và lĩnh hội những tri thức khoa học, những kỹ năng và kỹ xảo hoạt động
nhận thức và thực tiễn, để trên cơ sở đó hình thành thế giới quan, phát triển
năng lực sáng tạo và xây dựng các phẩm chất, nhân cách người học theo mục
đích giáo dục. Dạy - học gồm hai hoạt động:
Hoạt động dạy là việc tổ chức, điều khiển tối ưu quá trình học sinh lĩnh
hội kiến thức, hoàn thiện và phát triển nhân cách học sinh. Vai trò chủ đạo
của hoạt động dạy được biểu hiện ra với ý nghĩa là tổ chức và điều khiển sự
học tập của học sinh giúp cho họ nắm được kiến thức, hình thành kỹ năng,
thái độ. Hoạt động dạy tuân theo chương trình quy định.
Mục đích hàng đầu của hoạt động dạy là giúp cho học sinh học được và
hiểu được điều học chính vì vậy mỗi hành động của giáo viên và mỗi thao tác
định hướng hoặc cải tiến việc dạy đều được xem xét theo một tiêu chí đơn
giản: có dẫn tới một cách học của học sinh được thiết kế bởi giáo viên hay


17
không? Điều này có ý nghĩa là giáo viên phải hình dung học sinh học môn của
mình như thế nào mới đạt hiệu quả cao? Giáo viên phải thiết kế giờ giảng như
thế nào mới hay và hiệu quả?
Hoạt động học là quá trình tự điều khiển tối ưu sự chiếm lĩnh khái niệm

khoa học, bằng cách đó hình thành cấu trúc tâm lý mới, phát triển nhân cách
toàn diện. Vai trò tự điều khiển của hoạt động học thể hiện ở sự tự giác, tích
cực, tự lực và sáng tạo dưới sự điều khiển của giáo viên nhằm chiếm lĩnh khái
niệm khoa học. Khi chiếm lĩnh khái niệm khoa học bằng hoạt động tự lực
sáng tạo, học sinh đồng thời đạt được ba mục đích bộ phận đó là trí dục, phát
triển tư duy và năng lực hoạt động.
Nội dung của hoạt động học bao gồm toàn bộ hệ thống khái niệm của
các môn học, bằng phương pháp đặc trưng của môn học, của khoa học đó đối
với phương pháp nhận thức, phương pháp chiếm lĩnh khoa học để biến kiến
thức của nhân loại thành học vấn của chính bản thân.
1.2.3. Quá trình dạy học
Quá trình dạy học là một quá trình gắn liền với hoạt động giáo dục của
con người. Trong nhà trường, hoạt động dạy và hoạt động học phải hướng tới
mục tiêu đào tạo trên cơ sở phải hoàn thành những nhiệm vụ nhất định. Quá
trình dạy và học là một hệ thống toàn vẹn, có cấu trúc gồm nhiều hệ thống. Mục
đích và nhiệm vụ dạy học, nội dung, phương pháp và phương tiện , thày, trò,
hình thức tổ chức dạy học cùng các môi trường văn hoá - chính trị - xã hội, môi
trường kỹ thuật - khoa học, kinh tế. Mỗi thành tố có vị trí nhất định, có chức
năng riêng và chúng có mối quan hệ mật thiết, biến chứng với nhau. Mỗi thành
tố vận động theo quy luật riêng và đồng thời tuân theo quy luật chung của toàn
hệ thống. Mặt khác toàn bộ hệ thống quá trình dạy học lại có mối quan hệ qua lại
và thống nhất với các môi trường của nó. Trong cấu trúc của quá trình dạy học
thì thày với hoạt động dạy, trò với hoạt động học là hai nhân tố trung tâm, hai
nhân tố này luôn gắn bó mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau, vì nhau và cùng
hướng vào một mục đích. Hoạt động dạy là một tổ chức và điều khiển tối ưu quá


18
trình học sinh chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo. Nó gồm có hai chức năng cơ
bản là truyền đạt và điều khiển. Hoạt động học là quá trình tự giác, tích cực, tự

lực chiếm lĩnh tri thức dưới sự điều khiển sư phạm của người thày. Hai nhân tố
trung tâm thày với hoạt động dạy, trò với hoạt động học là đặc trưng cơ bản nhất
của quá trình dạy học. Nếu không có thày và trò, không có dạy và học thì sẽ
không có quá trình dạy và học. Các nhân tố mục đích, nhiệm vụ, nội dung,
phương pháp và phương tiện dạy học chỉ phát huy được tác dụng tích cực trong
sự vận động và phát triển của hai nhân tố trung tâm này.
1.3. Cơ sở lý luận về quá trình dạy - học
1.3.1. Cấu trúc
Cấu trúc của quá trình dạy - học được mô tả trực tiếp qua sơ đồ 1.1.
Sơ đồ 1.1: Cấu trúc của quá trình dạy - học








(Nguồn: Nguyễn Đức Chính. Bài giảng Đánh giá trong giáo dục. Khoa
Sư phạm, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007).
Hoạt động dạy - học trong nhà trường cao đẳng, đại học được thể hiện
qua sơ đồ 1.2.
Sơ đồ 1.2: Chu trình hoạt động dạy - học





KHÁI NIỆM KHOA HỌC
DẠY

Truyền đạt
Điều khiển
HỌC
Lĩnh hội
Tự điều khiển
Cộng tác
Yêu cầu xã hội
Hệ mục tiêu
Nội dung dạy - học

Hình thức tổ chức dạy - học


19










(Nguồn: Nguyễn Đức Chính. Bài giảng Đánh giá trong giáo dục. Khoa
Sư phạm, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007).
Nhiệm vụ của nhà trường là đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội. Tức là,
xã hội cần những con người có những phẩm chất gì thì nhà trường phải dự
đoán trước để đào tạo kịp thời đáp ứng nhu cầu đó. Nói cách khác, xã hội
chính là người đặt hàng/khách hàng, còn nhà trường là người cung cấp dịch

vụ/sản phẩm. Trong thời đại cạnh tranh mạnh mẽ hiện nay, khách hàng là
“thượng đế” mà sản phẩm giáo dục là một hàng hóa “đặc biệt”. Do đó việc
lựa chọn mục tiêu, nội dung, hình thức, kiểm tra - đánh giá trong quá trình
dạy - học sẽ tác động, ảnh hưởng hay quyết định đến chất lượng của học sinh.
1.3.1.1. Mục tiêu
Mục tiêu trong quá trình dạy - học được coi như cái đích, cái kết quả
cần đạt được sau khi kết thúc quá này. Mục tiêu đó phải xuất phát từ nhu cầu
xã hội, nhu cầu người học và khả năng đáp ứng của người dạy để hình thành
nhân cách và năng lực lao động nghề nghiệp theo các chuyên ngành đào tạo.
Mục tiêu là điều mà cả người dạy và người học đều hướng đến trong quá trình
dạy - học. Khoảng cách giữa nhu cầu xã hội, mong muốn của người học, khả
năng của người dạy càng gần nhau, tiệm cận nhau thì mục tiêu của quá trình


20
dạy - học được xác định là hiệu quả nhất. Từ mục tiêu này sẽ quyết định đến
nội dung dạy - học, hình thức tổ chức dạy - học, kiểm tra - đánh giá kết quả.
1.3.1.2. Nội dung
Nội dung dạy - học luôn theo sát mục tiêu, là công cụ để thực hiện mục
tiêu. Với mục tiêu cụ thể, việc lựa chọn nội dung, chương trình, học liệu nhằm
cung cấp, trang bị hệ thống kiến thức, kỹ năng cho người học trong quá trình
dạy - học. Trong vô vàn tri thức của nhân loại, việc lựa chọn nội dung dạy -
học cần phải tìm hiểu đối tượng giảng dạy (người học) đặt trong mối quan hệ
tổng thể của xã hội để dạy những gì mà người học và xã hội cần, chứ không
chỉ dạy những gì mà mình (người dạy) có. Vấn đề đặt ra là lựa chọn nội dung,
chương trình, học liệu như thế nào cho phù hợp với mục tiêu, đối tượng và
quỹ thời gian của môn học.


1.3.1.3. Hình thức

Hình thức tổ chức dạy - học bao gồm các cách thức tổ chức hoạt động
dạy học như: tổ chức trên lớp, thảo luận, thí nghiệm, kèm cặp cá nhân Hình
thức luôn căn cứ vào nội dung dạy - học và có định hướng là mục tiêu. Hình
thức chính là phương tiện truyền tải nội dung chứa đựng mục tiêu trong đó.
Ngoài mục tiêu, nội dung thì hình thức tổ chức dạy - học cũng có ý nghĩa
quyết định đến khả năng truyền đạt của người dạy và khả năng tiếp thu của
người học. Không có một hình thức tổ chức hoạt động dạy - học nào là tối ưu
hơn cả, mà tùy từng theo từng trường hợp cụ thể (mục tiêu, nội dung, đối
tượng, quy mô, môi trường, phương tiện ) đòi hỏi người dạy cần vận dụng
một cách linh hoạt, sáng tạo trong việc tổ chức hoạt động dạy - học. Hoạt
động này bao gồm cả phương pháp dạy, phương pháp học và hình thức kiểm
tra - đánh giá học sinh.
1.3.1.4. Kiểm tra, đánh giá


21
Đây chính là khâu cuối cùng của quá trình dạy - học trong nhà trường.
Chỉ thông qua kiểm tra, đánh giá mới biết được mục tiêu đề ra có đạt được
hay không và đạt được bao nhiêu, để từ đó có những điều chỉnh thích hợp
nhằm đạt được mục tiêu một các tối ưu và toàn diện hơn. Thông qua việc
kiểm tra, đánh giá, bản thân người học và người dạy sẽ có được câu trả lời
cho mình về kết quả của quá trình dạy - học. Kiểm tra, đánh giá là khâu vô
cùng quan trọng có ý nghĩa quyết định đến cả một quá trình dạy - học. Do đó
cần tiến hành một cách công bằng, chính xác bằng những bộ công cụ kiểm
tra, đánh giá để có được một kết quả trung thực nhất từ người học. Bởi lẽ chỉ
có kết quả thực chất mới phản ánh đúng mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức
dạy - học một cách chính xác. Không vì “chạy theo thành tích” mà làm méo
mó kết quả của khâu kiểm tra, đánh giá dẫn đến “thành tích ảo” trong giáo
dục.
1.3.2. Bản chất của quá trình dạy - học

Bản chất của quá trình dạy - học là quá trình nhận thức và hành động
có định hướng theo mục tiêu dạy học. Nó là một hệ toàn vẹn bao gồm hoạt
động dạy và hoạt động học. Hai hoạt động này luôn tương tác với nhau, thâm
nhập vào nhau, sinh thành ra nhau. Sự tương tác giữa hoạt động dạy và hoạt
động học mang tính chất cộng tác (cộng đồng và hợp tác).
Tóm lại, quá trình dạy - học với tư cách là hoạt động đặc biệt có mục
đích trang bị cho học sinh những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn nghề
nghiệp và phát triển những năng lực sáng tạo, hình thành thái độ, nhận thức
đúng đắn trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp của người học.
1.3.3. Các đặc điểm của quá trình dạy - học
- Quá trình dạy - học là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể.
Đây là một quá trình có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức, có hướng dẫn
nhằm hình thành và phát triển nhân cách con người, đáp ứng được các yêu
cầu của xã hội. Quá trình đó thường bao gồm hai quá trình bộ phận: quá trình
dạy học và quá trình giáo dục (nghĩa hẹp). Nhưng quá trình dạy học là bộ


22
phận chính, có ý nghĩa rất quyết định đến kết quả của quá trình sư phạm tổng
thể, nó nhằm trau dồi học vấn, hình thành và phát triển tri thức, kỹ năng, kỹ
xảo nghề nghiệp cho người học. Quá trình giáo dục chủ yếu nhằm hình thành
lý tưởng, niềm tin và hành vi đạo đức, tạo nên “cái lõi nhân cách” cho người
học.
- Quá trình dạy học là một quá trình nhận thức. Hoạt động của quá
trình này bao gồm quá trình nhận thức, quy luật nhận thức và quá trình vận
động của nhận thức. Bởi mục đích của dạy học là thông qua hoạt động học -
một hoạt động nhận thức độc đáo của người học, giúp họ lĩnh hội được những
kinh nghiệm xã hội mà loài người đã tích luỹ.
Quá trình nhận thức là quá trình phản ánh các hiện tượng thực tiễn
nhưng không phải phản ánh tất cả mọi hiện tượng của cá nhân mới được chọn

lọc và phản ánh.
Quy luật nhận thức trong quá trình dạy - học là sự nhận thức những
điều mà nhân loại đã biết, tức là những điều mới mẻ chỉ đối với chính bản
thân người học. Hoạt động nhận thức của người học không cần phải diễn ra
theo như trình tự và thời gian mà loài người và các nhà khoa học đã nhận thức
ra chân lý đó. Tuỳ vào đặc điểm nội dung học tập, khả năng và điều kiện học
tập thực tế mà người học có thể thực hiện hoạt động nhận thức - học tập đi từ
cụ thể đến trừu tượng, hay ngược lại từ trừu tượng đến cụ thể.
Quá trình vận động của sự nhận thức là quá trình vận dụng biện chứng
đầy mâu thuẫn. Nguồn gốc, cơ chế và khuynh hướng của nó được thể hiện
trong các quy luật của duy vật biện chứng, cần được nghiên cứu và nhận thức
đầy đủ để vận dụng vào thực tế tổ chức quá trình dạy học.
- Quá trình dạy học là một quá trình tâm lý. Khía cạnh tâm lý ở đây có
ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự thành công của việc dạy học. Vài chục
năm gần đây, qua tâm lý học về “dạy học phát triển”, người ta cho rằng, dạy
học phải đi trước sự phát triển, tức là dạy học phải cao hơn hiện tại. Ở mỗi lứa
tuổi, quá trình phát triển diễn ra không giống nhau và ở mỗi lứa tuổi, có một


23
hoạt động chủ đạo tương ứng khác nhau. Việc phát triển động cơ học tập như
là kích thích bên trong nhằm thúc đẩy người học tham gia học tập một cách
tích cực, và việc phát triển hứng thú nhận thức diễn ra ngay trong quá trình
nhận thức là những vấn đề đặc biệt quan trọng, tác động đến chất lượng và
hiệu quả của quá trình dạy học.
- Quá trình dạy học là một quá trình xã hội. Dạy học là sự tương tác
giữa người và người, và xã hội (bao hàm tổ, nhóm, lớp, tập thể sư phạm, xã
hội trong trường, xã hội ngoài nhà trường ). Mục đích dạy học do xã hội đặt
ra và người dạy chính là người đại diện cho xã hội, được xã hội phân công
làm nhiệm vụ giáo dục - đào tạo thế hệ trẻ thông qua việc tổ chức, điều khiển,

chỉ đạo quá trình dạy - học trong nhà trường.
Công tác dạy học - giáo dục của nhà trường cần đến sự tham gia đóng
góp nhiều mặt của các lực lượng xã hội khác nhau dưới những khía cạnh quan
trọng, như: quá trình phát triển chương trình giáo dục - đào tạo của nhà
trường cần được thực hiện trong sự phối hợp chặt chẽ giữa các nhà giáo dục -
đào tạo với các lực lượng xã hội ngoài nhà trường, đặc biệt là các chuyên gia
thực tiễn và những đại diện của các cơ sở sử dụng người tốt nghiệp. Nhà
trường cần huy động và phối hợp chặt chẽ với các lực lưọng và tổ chức xã hội
ngoài nhà trường, trong đó có phụ huynh của họ, nhằm giúp cho công tác dạy
học - giáo dục của nhà trường thực hiện được nguyên lý, phương châm giáo
dục của Đảng, trên cơ sở đáp ứng được nhu cầu của xã hội trên bình diện
quốc gia như ở từng khu vực, vùng, miền.
1.4. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy - học
1.4.1. Mục đích quản lý
Quản lý hoạt động dạy - học chính là việc quản lý các thành tố cấu thành
nên quá trình dạy học cũng như các mối quan hệ tương tác giữa các thành tố ấy.
Trong đó trung tâm là quản lý hoạt động dạy của thày và hoạt động học của trò.
Trên quan điểm hệ thống thì quan hệ hoạt động dạy và hoạt động học là
quan hệ điều khiển. Do đó hoạt động quản lý quá trình dạy học chủ yếu tập

×