Tải bản đầy đủ (.pdf) (100 trang)

Biện pháp quản lý công tác đánh giá kết quả học tập của học viên trong đào tạo trực tuyến ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.99 MB, 100 trang )



F31
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM







LÊ KHẮC QUYỀN





BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ
HỌC TẬP CỦA HỌC VIÊN TRONG ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI


LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÍ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05







Người hướng dẫn khoa học: TS. NGÔ QUANG SƠN






HÀ NỘI – 2008



MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài 2
3. Giả thuyết khoa học 2
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 2
5. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu 2
6. Phƣơng pháp nghiên cứu 3
7. Phạm vi nghiên cứu 3
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ
HỌC TẬP CỦA HỌC VIÊN TRONG ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN 4
1.1. Sơ lƣợc về lịch sử phát triển ĐTTT 4
1.1.1. Trên thế giới 4
1.1.2. Ở trong nước 8
1.2. Một số khái niệm cơ bản 12
1.2.1. Quản lý 12
1.2.2. Quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường 16

1.2.3. Quản lý hoạt động dạy học trong ĐTTT 16
1.2.4. Học viên 20
1.2.5. Kết quả học tập 20
1.2.6. Một số khái niệm trong ĐTTT 21
1.3. Ứng dụng CNTT&TT trong giáo dục 25
1.3.1. Ứng dụng CNTT&TT trong giáo dục 25
1.3.2. Ứng dụng CNTT&TT trong dạy học 30
1.3.3. Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong ĐTTT 32
1.4. Đánh giá kết quả học tập 34
1.4.1. Tổng quan về ĐGKQHT 34
1.4.2. Vai trò, chức năng của ĐGKQHT 37
1.4.3. Các nguyên tắc đánh giá 38
1.4.4. Các hình thức đánh giá 38
1.4.5. Quy trình đánh giá 39
1.5. Đánh giá KQHT trong ĐTTT 40
1.5.1. Đánh giá KQHT của học viên trong ĐTTT 40
1.5.2. Quản lý công tác ĐGKQHT của học viên trong ĐTTT 42
Kết luận chƣơng 1 44
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC ĐGKQHT CỦA HỌC VIÊN
TRONG ĐTTT Ở TRƢỜNG ĐHSP HÀ NỘI 45
2.1. Khái quát về trƣờng ĐHSP Hà Nội 45


2.1.1. Chức năng, nhiệm vụ, tầm nhìn, sứ mạng của trường ĐHSP Hà Nội 46
2.1.2. Các mục tiêu của trường 47
2.1.3. Quy mô trường, lớp, số học viên, cán bộ giảng viên của trường ĐHSP Hà
Nội năm học 2006 - 2007 48
2.1.4. Quan hệ hợp tác Quốc tế 49
2.2. Thực trạng ĐTTT và công tác ĐGKQHT của học viên ở Trƣờng ĐHSP Hà
Nội 49

2.2.1. Thực trạng ứng dụng CNTT trong dạy và học ở trường ĐHSP Hà Nội 49
2.2.2. Thực trạng ĐTTT ở Trường ĐHSP Hà Nội 50
2.2.3. Thực trạng công tác ĐGKQHT của học viên ở trường ĐHSP Hà Nội 53
Kết luận chƣơng 2 58
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC ĐGKQHT CỦA HỌC
VIÊN TRONG ĐTTT Ở TRƢỜNG ĐHSP HÀ NỘI 59
3.1. Cơ sở đề xuất các biện pháp 59
3.2. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 60
3.2.1. Các biện pháp đề xuất phải mang tính hệ thống và đồng bộ 60
3.2.2. Các biện pháp đề xuất phải mang tính khả thi 61
3.2.3. Các biện pháp đề xuất phải đảm bảo tính hiệu quả 61
3.3. Một số biện pháp pháp quản lý công tác ĐGKQHT của học viên trong
ĐTTT ở trƣờng ĐHSP Hà Nội 62
3.3.1. Biện pháp 1: Xây dựng quy chế ĐTTT ở trường ĐHSP Hà Nội 62
3.3.2. Biện pháp 2: Hoàn thiện CSVC trong ĐTTT ở trường ĐHSP Hà Nội 64
3.3.3. Biện pháp 3: Xây dựng quy trình và quản lý quy trình đánh giá KQHT của
học viên trong ĐTTT 67
3.3.4. Biện pháp 4: Nâng cao năng lực đánh giá KQHT cho đội ngũ CBQL và
giáo viên trong ĐTTT 79
Kết luận chƣơng 3 82
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84
1. Kết luận 84
2. Kiến nghị 85
2.1. Đối với trung tâm CNTT của trường 85
2.2. Đối với trường ĐHSP Hà Nội 85
2.3. Đối với bộ GD&ĐT 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
PHỤ LỤC 89




MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài 2
3. Giả thuyết khoa học 2
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 2
5. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu 2
6. Phƣơng pháp nghiên cứu 3
7. Phạm vi nghiên cứu 3
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ
HỌC TẬP CỦA HỌC VIÊN TRONG ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN 4
1.1. Sơ lƣợc về lịch sử phát triển ĐTTT 4
1.1.1. Trên thế giới 4
1.1.2. Ở trong nước 8
1.2. Một số khái niệm cơ bản 12
1.2.1. Quản lý 12
1.2.2. Quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường 16
1.2.3. Quản lý hoạt động dạy học trong ĐTTT 16
1.2.4. Học viên 20
1.2.5. Kết quả học tập 20
1.2.6. Một số khái niệm trong ĐTTT 21
1.3. Ứng dụng CNTT&TT trong giáo dục 25
1.3.1. Ứng dụng CNTT&TT trong giáo dục 25
1.3.2. Ứng dụng CNTT&TT trong dạy học 30
1.3.3. Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong ĐTTT 32
1.4. Đánh giá kết quả học tập 34
1.4.1. Tổng quan về ĐGKQHT 34
1.4.2. Vai trò, chức năng của ĐGKQHT 37

1.4.3. Các nguyên tắc đánh giá 38
1.4.4. Các hình thức đánh giá 38
1.4.5. Quy trình đánh giá 39
1.5. Đánh giá KQHT trong ĐTTT 40
1.5.1. Đánh giá KQHT của học viên trong ĐTTT 40
1.5.2. Quản lý công tác ĐGKQHT của học viên trong ĐTTT 42
Kết luận chƣơng 1 44
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC ĐGKQHT CỦA HỌC VIÊN
TRONG ĐTTT Ở TRƢỜNG ĐHSP HÀ NỘI 45
2.1. Khái quát về trƣờng ĐHSP Hà Nội 45


2.1.1. Chức năng, nhiệm vụ, tầm nhìn, sứ mạng của trường ĐHSP Hà Nội 46
2.1.2. Các mục tiêu của trường 47
2.1.3. Quy mô trường, lớp, số học viên, cán bộ giảng viên của trường ĐHSP Hà
Nội năm học 2006 - 2007 48
2.1.4. Quan hệ hợp tác Quốc tế 49
2.2. Thực trạng ĐTTT và công tác ĐGKQHT của học viên ở Trƣờng ĐHSP Hà
Nội 49
2.2.1. Thực trạng ứng dụng CNTT trong dạy và học ở trường ĐHSP Hà Nội 49
2.2.2. Thực trạng ĐTTT ở Trường ĐHSP Hà Nội 50
2.2.3. Thực trạng công tác ĐGKQHT của học viên ở trường ĐHSP Hà Nội 53
Kết luận chƣơng 2 58
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC ĐGKQHT CỦA HỌC
VIÊN TRONG ĐTTT Ở TRƢỜNG ĐHSP HÀ NỘI 59
3.1. Cơ sở đề xuất các biện pháp 59
3.2. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 60
3.2.1. Các biện pháp đề xuất phải mang tính hệ thống và đồng bộ 60
3.2.2. Các biện pháp đề xuất phải mang tính khả thi 61
3.2.3. Các biện pháp đề xuất phải đảm bảo tính hiệu quả 61

3.3. Một số biện pháp pháp quản lý công tác ĐGKQHT của học viên trong
ĐTTT ở trƣờng ĐHSP Hà Nội 62
3.3.1. Biện pháp 1: Xây dựng quy chế ĐTTT ở trường ĐHSP Hà Nội 62
3.3.2. Biện pháp 2: Hoàn thiện CSVC trong ĐTTT ở trường ĐHSP Hà Nội 64
3.3.3. Biện pháp 3: Xây dựng quy trình và quản lý quy trình đánh giá KQHT của
học viên trong ĐTTT 67
3.3.4. Biện pháp 4: Nâng cao năng lực đánh giá KQHT cho đội ngũ CBQL và
giáo viên trong ĐTTT 79
Kết luận chƣơng 3 82
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84
1. Kết luận 84
2. Kiến nghị 85
2.1. Đối với trung tâm CNTT của trường 85
2.2. Đối với trường ĐHSP Hà Nội 85
2.3. Đối với bộ GD&ĐT 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
PHỤ LỤC 89



DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CBQL
Cán bộ quản lý
CNH-HĐH
Công nghiệp hóa-Hiện đại hóa
CNNT
Công nghệ Thông tin
CNTT&TT
Công nghệ thông tin và truyền thông

CSVC
Cơ sở vật chất
Đài TNVN
Đài tiếng nói Việt Nam
ĐGKQHT
Đánh giá kết quả học tập
ĐH CNTT
Đại học Công nghệ Thông tin
ĐHQG
Đại học Quốc Gia
ĐTTT
Đào tạo trực tuyến
ĐTTX
Đào tạo từ xa
GD-ĐT
Giáo dục-Đào tạo
GDTX
Giáo dục từ xa
KH-CN
Khoa học-Công nghệ
KT-XH
Kinh tế-Xã hội
QLGV
Quản lý giáo viên
QLHT
Quản lý học tập
QLSV
Quản lý sinh viên
TBDH
Thiết bị dạy học

THCN
Trung ho
̣
c chuyên nghiê
̣
p
THCS
Trung ho
̣
c Cơ sơ
̉

THPT
Trung ho
̣
c phô
̉
thông
TP. HCM
Thành phố Hồ Chí Minh


1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nền kinh tế thế giới đang bước vào giai đoạn kinh tế tri thức. Việc nâng cao
hiệu quả chất lượng giáo dục, đào tạo sẽ là nhân tố sống còn quyết định sự tồn
tại và phát triển của mỗi quốc gia, công ty, gia đình và cá nhân. ĐTTT chính là
giải pháp hữu hiệu giải quyết vấn đề này. Ngày nay công nghệ ĐTTT đã góp
phần đổi mới cả phương thức dạy và học. ĐTTT đã đáp ứng những tiêu chí giáo

dục mới mà từ trước tới nay chưa từng được áp dụng đó là: có thể học mọi nơi,
học mọi lúc, học theo sở thích, học suốt đời,… ĐTTT không chỉ dùng cho
GDTX qua mạng mà sẽ cùng tồn tại với cách học tập truyền thống và bổ sung
cho cách học truyền thống.
ĐTTT đã trở thành một xu thế tất yếu trong nền kinh tế tri thức và đã tạo ra
một cuộc cách mạng về dạy học. ĐTTT mang lại hiệu quả kinh tế cao và đang
thu hút được sự quan tâm đặc biệt của nhiều nước trên thế giới. Nhiều trường
đại học có danh tiếng trên thế giới đã chọn ĐTTT như một chiến lược định
hướng phát triển. Chỉ với một giáo viên hoặc một chuyên gia giỏi có thể giảng
dạy cho một số lượng lớn người học. Với mỗi khóa ĐTTT có thể dễ dàng mời
giáo viên, chuyên gia nước ngoài giảng dạy từ xa nên giảm được chi phí… Như
vậy, ĐTTT góp phần mở rộng quy mô đào tạo, làm giảm bất bình đẳng về cơ hội
học tập giữa người giàu và người nghèo, giữa nông thôn và thành thị, giúp giáo
dục Việt Nam hội nhập với nền giáo dục thế giới.
ĐTTT cũng thay đổi cách tiếp cận và lĩnh hội tri thức so với mô hình học
tập truyền thống. Các hoạt động học tập, nghiên cứu, thảo luận, chia sẻ kiến thức
trên mạng mang lại cho người học sự hứng thú, sáng tạo và chủ động.
Ở nước ta, ĐTTT đã và đang được triển khai, thử nghiệm ở một số trường
Đại học và cũng đã thu được những kết quả nhất định song vẫn có những khó
khăn trong quá trình thiết kế học liệu; đánh giá chương trình; ĐGKQHT của học


2
viên; cài đặt và ứng dụng các công cụ quản lý trong ĐTTT, v.v…. Đặc biệt phải
kể đến những khó khăn về công tác quản lý ĐTTT và ĐGKQHT của học viên.
Để góp phần giải quyết một số tồn tại trên, tác giả chọn đề tài nghiên cứu
“Biện pháp quản lý công tác ĐGKQHT của học viên trong ĐTTT ở trường
ĐHSP Hà Nội”.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu đề xuất một số biện pháp quản lý công tác ĐGKQHT của học

viên trong ĐTTT ở trường ĐHSP Hà Nội.
3. Giả thuyết khoa học
Nếu đề ra được các biện pháp quản lý công tác ĐGKQHT của học viên
trong ĐTTT phù hợp với các yêu cầu và khả năng thực tế của trường thì sẽ góp
phần nâng cao chất lượng ĐTTT ở trường ĐHSP Hà Nội.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
a. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý công tác ĐGKQHT của học viên trong
ĐTTT.
b. Nghiên cứu thực trạng công tác ĐGKQHT của học viên trong ĐTTT ở trường
ĐHSP Hà Nội, từ đó phân tích các ưu, nhược điểm trong công tác quản lý
hoạt động này.
c. Đề xuất một số biện pháp quản lý công tác ĐGKQHT của học viên trong
ĐTTT ở trường ĐHSP Hà Nội
5. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
 Khách thể: Công tác ĐGKQHT của học viên trong ĐTTT ở trường ĐHSP
Hà Nội.
 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý công tác ĐGKQHT của học
viên trong ĐTTT ở trường ĐHSP Hà Nội.


3
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
 Nghiên cứu lý luận: nghiên cứu hệ thống lý luận về quản lý và lý luận về
ĐGKQHT của học viên. Ứng dụng CNTT&TT trong ĐTTT.
 Nghiên cứu thực tiễn: Nghiên cứu trạng quản quản lý công tác đánh giá
KQHT của học viên ở trường ĐHSP Hà Nội, từ đó đề xuất các biện pháp
quản lý công tác đánh giá KQHT của học viên trong ĐTTT.
7. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu công tác quản lý việc ĐGKQHT của học viên trong ĐTTT ở
trường ĐHSP Hà Nội.



4
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC
ĐÁNH GIÁ KQHT CỦA HỌC VIÊN TRONG ĐTTT
1.1. Sơ lƣợc về lịch sử phát triển ĐTTT
1.1.1. Trên thế giới
Theo tác giả Natalie Aranda [2], khi nền giáo dục thay đổi môi trường
dạy học như thay đổi lớp học trước đây chỉ học cố định một chỗ, ĐTTX đã
bắt đầu ra đời. Ý tưởng về GDTX có thể được vạch ra bởi kỹ thuật in ấn.
Từ rất sớm, việc in ấn đã trở thành phương thức thúc đẩy học tập, sinh viên
có thể tự học theo kế hoạch riêng của mình mà không có sự trợ giúp của
người hướng dẫn. Sự tự giúp đỡ bản thân đơn giản này là một trong những
ví dụ về ĐTTX.
Khi các công nghệ tiến bộ hơn xuất hiện ra đã tạo ra khả năng mở
rộng hơn cho ĐTTX. Khi đài phát thanh (Radio) trở nên thông dụng, khả
năng cung cấp kiến thức qua phương tiện trung gian này đã được nghiên
cứu kỹ lưỡng. Tivi là một lợi thế cơ bản đã được sử dụng trong ĐTTX. Sự
phát triển của một mạng lưới Tivi khép kín trở nên phù hợp với mô hình
lớp học chỉ với một giáo viên tại chỗ và các sinh viên ở nhiều địa điểm,
được và phủ sóng trên phạm vi rộng. Trở ngại của phương thức đào tạo này
là sinh viên phải sẵn sàng học vào giờ phát sóng [2].
Tiếp theo đó là sự xuất hiện của máy tính và sự phát triển của Internet
đã mang chúng ta đến với thời kỳ vàng hiện nay của ĐTTX. GDTX thực tế
đã bắt đầu với sự xuất hiện của “Trung tâm học tập với sự trợ giúp của máy
tính” (CALC: Computer Assisted Learning Center) vào năm 1982 ở
Rindge, New Hampshire. Đây là trường học trực tuyến đầu tiên ở Mỹ mặc
dù cũng có một chương trình khác tương tự đang được thử nghiệm ở Na-
Uy vào cùng thời điểm. Từ 1994 - 1995, khi Internet đã trở nên phổ biến
rộng rãi chỉ từ một mô hình nhỏ ban đầu của các nhà cung cấp Internet nội

bộ, nhờ đó GDTT đã thực sự trở nên bùng nổ [2].


5
Giai đoạn đầu là sự giới thiệu các lớp học trực tuyến riêng biệt. Các
lớp học này dự định cung cấp cho các khu trường sở (Campus) và không
thay thế chúng. Đã có sự miễn cưỡng khi cải cách giáo dục để không thay
đổi các phương pháp dạy học truyền thống và sự miễn cưỡng này vẫn tồn
tại kéo dài trong một số trường hợp. Tuy vậy, các lợi ích của GDTT ngày
càng trở nên rỡ ràng hơn. Ngay bây giờ, một chương trình cấp bằng trực
tuyến có thể dễ dàng được tìm thấy từ các trường cao đẳng, các trường
chuyên nghiệp (Collesges). Hiện nay, các cơ hội từ GDTT tăng nhanh mỗi
ngày và bằng cấp trực tuyến đã được những người sử dụng lao động đón
nhận một cách tự nhiên cũng như Internet đã trở nên hòa nhập vào cuộc
sống thường ngày [2].
Cũng theo tác giả Natalie Aranda [1], E-Learning là một thuật ngữ rất
rộng. Nó thường được sử dụng để mô tả môi trường dạy học có sử dụng
máy tính. Có rất nhiều công nghệ có thể dùng cho E-Learning. Đào tạo từ
xa là một thuật ngữ đã được rút ra từ E-Learning. Thuật ngữ ĐTTX được
sử dụng để mô tả một môi trường học tập mà địa điểm lớp học thay đổi so
với lớp học truyền thống và trường sở.
E-Learning đã được bắt đầu cũng vào khoảng thời gian máy tính được
phát triển cho nhu cầu thực hành cá nhân. Trên thực tế, ý tưởng và thực
hành về ĐTTX xảy ra trước thời kỳ của máy tính hầu như 100 năm. Ở Anh,
vào năm 1840, các lớp học tốc ký đã được đề xuất bởi các khóa học tương
tự qua thư tín. Sự phát triển của dịch vụ bưu điện đã làm cho phương thức
của ĐTTX này thông dụng ở giai đoạn đầu thế kỷ trước. Phương thức này
đã dẫn đến một số lượng lớn các chương trình giáo dục “thông qua thư tín”.
Máy tính chỉ duy nhất làm cho ĐTTX dễ dàng hơn và tốt hơn. Tivi, máy
Video, và thậm chí Radio tất cả đã góp phần thúc đẩy ĐTTX phát triển [1].

Trong những năm gần đây, sự phát triển của công nghệ E-Learning và
khả năng tạo một lớp học ảo và một môi trường học tập ảo (VLE: Virtual
Learning Environment) đã dần phá vỡ sự miễn cưỡng vẫn còn tồn tại khi


6
chuyển từ mô hình giáo dục truyền thống sang E-Learning với sự trợ giúp
đắc lực của máy tính và hệ thống CNTT&TT.
Theo tổ chức Thomson NETg [39], các làn sóng phát triển của E-
Learning được chia thành các giai đoạn như sau:

Hình 1: Các làn sóng của E-Learning

Giai đoạn trước năm 1983: Trước khi máy tính được phổ biến rộng
rãi, đào tạo có người hướng dẫn (ILT: Instructor-Led Training) là phương
thức đào tạo chính. ILT cho phép các sinh viên rời khỏi văn phòng làm việc
để tập trung vào học tập, tương tác với người hướng dẫn và các bạn cùng
lớp. Dù sao ITL cũng có nghĩa là chi phí cao và lãng phí thời gian làm việc
chính trong giờ hành chính, dẫn đầu là các nhà cung cấp dịch vụ đào tạo để
tìm kiếm một con đường đào tạo tốt hơn.
Kỷ nguyên đa phương tiện (1984-1993): Máy tính cùng với hệ điều
hành Windows 3.1, Macintosh, CD-ROMs, Powerpoint. Đây là những lợi
thế của kỷ nguyên đa phương tiện. Trong một nỗ lực để làm cho đào tạo có
thể di chuyển được hơn và hấp dẫn trực quan hơn, các khóa đào tạo dựa
trên máy tính (CBT: Computer-Based Training) đã được triển khai bằng
CD-ROM. Sự tiện lợi của CD-ROM mọi lúc, mọi nơi đã làm giảm chi phí
mà ILT chưa làm được, giúp phục hồi lại kỹ nghệ đào tạo. Mặc dù có
những lợi ích rõ ràng, các khóa học CD-ROM còn thiếu sự tương tác của
Kỷ nguyên dạy học có
người hướng dẫn /Sử

dụng văn bản dựa trên
thảo luận máy tính
Kỷ nguyên
Đa phương tiện
1984 - 1993
Làn sóng thứ 1
/E-Learning
/sự thông tin đồng bộ
1994 - 1999

Làn sóng thứ 2
/E-Learning
/phần mềm xã hội
2000 - 2005

Các làn sóng của E-Learning



7
người hướng dẫn và sự trình diễn động - làm giảm sự tập trung của sinh
viên.
Làn sóng thứ nhất của E-Learning (1994-1999): được phát triển dựa
trên Web. Các nhà cung cấp dịch vụ đào tạo bắt đầu thăm dò công nghệ
mới này. Sự ra đời của E-Mail, Web, trình duyệt (Bowsers), HTML, phần
mềm đa phương tiện, Audio/Video chất lượng thấp và JAVA đơn giản đã
bắt đầu thay đổi bộ mặt của đào tạo đa phương tiện. Sự hướng dẫn chủ yếu
qua E-Mail, mạng nội bộ với sự trợ giúp của máy tính bằng văn bản (Text)
và đồ họa đơn giản. Đào tạo dựa trên Web với chất lượng Web triển khai
thử nghiệm thấp.

Làn sóng thứ hai của E-Learning (2000 - 2005): Với các lợi thế về
công nghệ - bao gồm JAVA/các ứng dụng trên mạng, đa phương tiện, băng
thông truy cập với tốc độ cao, và lợi thế thiết kế Website - đã tạo ra cuộc
cách mạng cho kỹ nghệ đào tạo. Ngày nay, đào tạo có người hướng dẫn
(ITL) qua Web có thể tích hợp theo thời gian thực của người thầy, thúc đẩy
các dịch vụ dành cho người học, nội dung liên tục được cập nhật, hấp dẫn,
nội dung “sinh ra bởi Web” tạo ra một cách hiệu quả cao, môi trường đào
tạo đa chiều. Các giải pháp đào tạo công phu được cung cấp thập chí với
chi phí thấp, chất lượng học tập cao hơn và là sự sắp đặt trước cho một
chuẩn mới của làn sóng E-Learning tiếp theo.
Cùng với sự phát triển của ĐTTT, các kỹ thuật và công cụ ĐGKQHT
trong ĐTTT cũng phát triển theo nó nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo trực
tuyến. Các hệ thống E-Learning hiện nay thường được tích hợp sẵn các
công cụ trợ giúp cho công tác ĐGKQHT như: hệ thống quản lý ngân hàng
đề thi, công cụ hỗ trợ giáo viên soạn thảo câu hỏi trắc nghiệm, công cụ tạo
đề thi tự động từ ngân hàng câu hỏi, các công cụ tổ chức thi trắc nghiệm và
đánh giá trực tuyến v.v


8
1.1.2. Ở trong nƣớc
Có thể nói, ở Việt Nam, tiền thân của ĐTTT chính là ĐTTX thông qua
Đài TNVN. Đến nay, Đài TNVN đã triển khai ĐTTX được 13 năm.
Chương trình GDTX của Đài TNVN đã giúp hàng trăm nghìn người nâng
cao trình độ, kiến thức.
Theo TS. Lê Văn Thanh, Giám đốc trung tâm đào tạo từ xa, Viện Đại
học Mở Hà Nội, Đài TNVN đã phối hợp rất chặt chẽ với Viện Đại học Mở
Hà Nội thực hiện chương trình đào tạo đại học từ xa. Đến nay, Đài TNVN
đã phát hơn 10.000 chương trình đào tạo từ xa, giúp hàng triệu người có
điều kiện học tập nâng cao trình độ. Tính đến tháng 6/2007, đã có trên

10.000 sinh viên tốt nghiệp đại học đào tạo từ xa và hiện có 50.000 người
đang theo học.
Về hiệu quả của việc học đại học từ xa qua Đài TNVN, chị Nguyễn
Thuý Hằng, một tân cử nhân Luật Kinh tế nhận xét: "Học đại học từ xa qua
Đài TNVN có nhiều cái lợi. Thứ nhất là tiết kiệm được thời gian, không
phải tập trung đến lớp nhưng vẫn nắm được nhiều kiến thức. Thứ hai, đây
là phương thức học tập tương đối rẻ” [32].
Cùng với tốc độ phát triển nhanh của CNTT&TT ở Việt Nam, các loại
hình ĐTTX, ĐTTT lần lượt ra đời. Đến nay, song song với mô hình đào tạo
truyền thống, nhiều cơ sở đào tạo trong nước đã triển khai mô hình ĐTTX,
ĐTTX qua mạng. Các mô hình đào tạo mới này đã phát triển rất đa dạng và
mạnh mẽ trong một khoảng thời gian ngắn. Để quản lý loại hình đào tạo
này, Chính phủ, Bộ GD&ĐT đã ban hành một số văn bản như:
- Quy chế về tổ chức đào tạo, thi, kiểm tra, cấp chứng chỉ văn bằng tốt
nghiệp theo hình thức GDTX do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban
hành theo Quyết định số 40/2003/QĐ-BGD&ĐT ngày 08/08/2003;
- Quyết định số 164/2005/QĐ-TTg ngày 04 tháng 7 năm 2005 về việc
Phê duyệt Đề án “Phát triển GDTX giai đoạn 2005 – 2010”;


9
Cùng với sự phát triển của mạng Internet, cơ sở hạ tầng CNTT&TT và
cơ sở pháp lý về quản lý nội dung trên mạng Internet ngày càng hoàn thiện
với sự ra đời của các văn bản sau:
- Quyết định số 246/2005/QĐ-TTg ngày 06 tháng 10 năm 2005 của Thủ
tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển công nghệ
thông tin và truyền thông đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020;
- Luật Công nghệ thông tin ban hành ngày 29 tháng 6 năm 2006;
Internet ngày càng được phổ cập rộng rãi tới các vùng sâu, vùng xa.
Tốc độ đường truyền Internet cũng không ngừng tăng lên góp phần đáng kể

thúc đẩy sự phát triển của ĐTTT. ĐTTT cũng chỉ mới chỉ thực sự phát triển
trong một số năm gần đây sau khi các công nghệ đường truyền Internet tốc
độ cao như Lease Line, ADSL, ra đời.
Dưới góc độ quản lý, có thể phân loại các cơ sở ĐTTT thành hai hệ
thống: Hệ thống các cơ sở đào tạo phi chính quy và hệ thống các cơ sở đào
tạo chính quy có cấp bằng theo hệ thống giáo dục quốc dân.
Nhiều cơ sở đào tạo phi chính quy đã thành công với các mô hình đào
tạo ngoại ngữ qua mạng Internet, luyện thi đại học qua mạng Internet, đào
tạo bồi dưỡng kiến thức,v.v Một số trang web đào tạo ngoại ngữ khá
thành công như: ;
; nganhonline ;

ĐTTT có cấp bằng theo hệ thống giáo dục quốc dân phải kể đến
Trường Đại học CNTT - ĐHQG TP. Hồ Chí Minh. Trường Đại học Công
nghệ Thông tin, ĐHQG-HCM là trường Đại học công lập chuyên ngành
CNTT được thành lập theo quyết định số 134/2006/QĐ-TTg ngày
08/06/2006 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở Trung tâm Phát triển Công
nghệ Thông tin. Mặc dù mới được thành lập nhưng Trường đã định hướng
xây dựng theo mô hình đại học nghiên cứu trên nền tảng của đại học số


10
hóa [41]. Hiện nay, nhà trường đang tổ chức ĐTTT và cấp bằng theo quy
định của Bộ GD&ĐT đối với hệ Cử nhân và Sau đại học (Thạc sỹ).
Viện CNTT - ĐHQG Hà Nội cũng là một đơn vị triển khai và ứng
dụng E-Learning khá hiệu quả. Viện đã xây dựng hệ thống sát hạch trực
tuyến CmTest sử dụng sát hạch cho mọi hình thức đào tạo. Viện đã thu
được một số quả triển khai của CmTest như sau: Tính đến 06/2006, CmTest
đã sát hạch được hơn 60.000 học viên và sát hạch chuẩn hóa hơn 700 giảng
viên của Đề án 112; Hơn 1.000 lượt sát hạch chứng chỉ Tin học văn phòng

quốc tế; Sát hạch hơn 1.500 kỹ thuật viên Tin học; Sát hạch co 120 công
chức Bộ Thủy sản và 40 giảng viên tại trường ĐHSP Đà Nẵng;
1

Một số cổng đào tạo trực tuyến trong nước:
1.

Diễn đàn E-Learning Việt Nam
2.

Cổng ĐTTT của Cục CNTT -
Bộ GD&ĐTT
3.

Cộng đồng Moodle Việt Nam
4.

Thư viện giáo trình điện tử - Bộ
GD&ĐT
5.

Website học liệu mở của Việt
Nam, có liên kết đến nhiều hệ
thống học liệu mở toàn cầu
6.

Cổng ĐTTT Việt Nam
Nhiều hệ thống ĐTTT tại Việt Nam được xây dựng dựa trên phần
mềm Moodle. Theo Website cộng đồng Moodle Việt Nam [34], Moodle là
một hệ thống quản lý học tập (Learning Management System - LMS hoặc

người ta còn gọi là Course Management System hoặc VLE - Virtual
Learning Environment) mã nguồn mở (do đó miễn phí và có thể chỉnh sửa

1
Hội thảo E-Learning, TP. Hồ Chí Minh, 12/2006


11
được mã nguồn), cho phép tạo các khóa học trên mạng Internet hay các
Website học tập trực tuyến.
Cộng đồng Moodle Việt Nam được thành lập tháng 3 năm 2005 với
mục đích xây dựng phiên bản tiếng Việt và hỗ trợ các trường triển khai
Moodle. Từ đó đến nay, nhiều trường đại học, tổ chức và cá nhân ở Việt
Nam đã dùng Moodle. Có thể nói Moodle là một trong các hệ thống quản
lý học tập thông dụng nhất tại Việt Nam. Cộng đồng Moodle Việt Nam
giúp ngưởi sử dụng giải quyết các khó khăn về cài đặt, cách dùng các tính
năng, cũng như cách chỉnh sửa và phát triển. Cộng đồng Moodle Việt Nam
được xây dựng cũng bằng chính phần mềm Moodle [34].
Cũng theo Website của cộng đồng Moodle Việt Nam [34], hiện nay đã
có 40 các tổ chức và cá nhân Việt Nam dùng phần mềm mã nguồn mở
Moodle.
Theo Website E-Learning của cục CNTT - Bộ GD & ĐT, Trung tâm
Tin học của Cục đã hợp tác cùng công ty HP nghiên cứu giải pháp E-
Learning áp dụng tại Việt nam. Trung tâm đã từng thử nghiệm và đánh giá
nhiều hệ thống khác nhau. Trung tâm cũng đã tìm hiểu các sản phẩm
thương mại như BlackBoard, WebCT, Docent… đồ sộ và đắt tiền. Tuy
nhiên, Trung tâm ý thức là các phần mềm khi thiết kế và phát triển phải
hướng tới giáo viên đầu tiên, dựa trên tính sư phạm cao, công nghệ không
phải là yếu tố quyết định tất cả. Trong số các phần mềm đó, cần lựa chọn
hệ thống nào cho phù hợp, có cơ hội phát triển tiếp theo và Trung tâm đã

chọn hệ thống quản lý học tập mã nguồn mở Moodle. Trung tâm Tin học là
đối tác chính thức của Moodle, tham gia Việt hóa và phát triển Moddle
[36].
Các cổng ĐTTT có cấp chứng chỉ sau khóa học đều đã chú trọng đến
vấn đề ĐGKQHT. Công cụ ĐGKQHT tích hợp sẵn trong các hệ thống
ĐTTT đã được Việt hóa và phát triển phù hợp với yêu cầu sử dụng khác
nhau của các cơ sở đào tạo. Các cơ sở đào tạo ngoại ngữ trực tuyến thường


12
có lợi thế trong việc kế thừa sẵn ngân hàng câu hỏi của nước ngoài nên có
nhiều thuận lợi đối với công tác ĐGKQHT của học viên và hình thức
ĐGKQHT thường được sử dụng là đánh giá trực tuyến.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Quản lý
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, từ khi có sự phân công
lao động đã xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù, đó là tổ chức,
điều khiển các hoạt động lao động theo những yêu cầu nhất định. Dạng lao
động mang tính đặc thù đó được gọi là hoạt động quản lý.
Khái niệm “Quản lý” được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau dựa
trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau, vừa là khoa học vừa là nghệ
thuật đang là vấn đề thu hút nhiều sự quan tâm. Sau đây là một số định
nghĩa về “quản lý ”:
- Theo F.W.Tay Lor (Nhà quản lý người Mỹ 1856 - 1915) người có học
thuyết chú trọng vào nhiệm vụ cho rằng “Quản lý là nghệ thuật biết rõ
ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó bằng phương pháp tốt nhất và
rẻ nhất”.
- Theo H.Fayol (1841-1925), kỹ sư người Pháp - Ông quan niệm: “Quản lý
hành chính là kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”.
Trong học thuyết quản lý của mình H.Fayol đưa ra 5 chức năng cần thiết

của một nhà quản lý là: Dự báo và lập kế hoạch; Tổ chức; Điều khiển;
Phối hợp; Kiểm tra.
- Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ trong “Những vấn đề cốt yếu
trong quản lý”: Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục
tiêu quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.
Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà
người quản lý mong muốn.


13
Sau khi xem xét phân tích các khái niệm quản lý trên có thể đưa ra
khái niệm về quản lý dưới đây:
Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc
của các thành viên của một tổ chức nhằm sử dụng các nguồn lực hợp lý để đạt
được các mục đích đã định.
Với khái niệm này, về bản chất quá trình quản lý có thể được biểu
diễn dưới dạng sơ đồ sau:
Môi trường bên ngoài


Hình 2: Bản chất quá trình quản lý

Như vậy, đối với mỗi hệ thống hoạt động, quản lý có thể chia ra 3 nội
dung lớn: Lập kế hoạch; Tổ chức và lãnh đạo việc thực hiện kế hoạch;
Kiểm tra, đánh giá các hoạt động và việc thực hiện các mục tiêu đề ra.
Trong những điều kiện cần thiết có thể điều chỉnh lại kế hoạch, hoặc mục
tiêu, hoặc các hoạt động cụ thể hoặc đồng thời có thể điều chỉnh cả 2 hoặc
3 thành tố cho phù hợp.
Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý
nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường.

Với khái niệm trên, quản lý bao gồm các điều kiện sau:
- Phải có một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động, và một đối
tượng bị quản lý phải tiếp nhận các tác động của chủ thể quản lý tạo ra.
Tác động có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần.
- Phải có một mục tiêu đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể, mục tiêu này là
căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động.
Lập kế hoạch
Tổ chức
Kiểm tra
Lãnh đạo


14
- Chủ thể có thể là một người, nhiều người, một thiết bị. Còn đối tượng
có thể là con người (một hoặc nhiều người) hoặc giới vô sinh (máy móc,
thiết bị, đất đai, thông tin, hầm mỏ v.v…) hoặc giới sinh vật (vật nuôi,
cây trồng).


Hình 3: Mô hình quản lý

Cơ sở khoa học quản lý:
Bất cứ một tổ chức nào, cho dù cơ cấu và qui mô hoạt động ra sao đều
phải có sự quản lý và có người quản lý thì mới đạt được mục đích tồn tại và
phát triển của tổ chức đó. Vậy hoạt động quản lý (Management) là gì ?
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc trong tài liệu bài
giảng cao học Cơ sở khoa học quản lý thì: Đó là tác động có định hướng,
có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý
(người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt
được mục đích của tổ chức [14].

Nói cách khác hoạt động quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ
chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức,
chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra. Người quản lý (Manager) là nhân vật có
trách nhiệm phân bố nhân lực và các nguồn lực khác, chỉ dẫn sự vận hành
của một bộ phận hay toàn bộ tổ chức để tổ chức hoạt động có hiệu quả và
đạt đến mục đích.

Chủ thể
quản lý
Đối
tượng bị
quản lý


Mục
tiêu


15
Cũng theo tác giả Nguyễn Quốc Chí- Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì quản lý
có bốn chức năng chủ yếu, cơ bản: Kế hoạch hóa (Planning), Tổ chức
(Organizing), Chỉ đạo - Lãnh đạo (Leading) và Kiểm tra (Controlling).
Kế hoạch hóa (Planning): Đó là xác định mục tiêu, mục đích cho
những hoạt động trong tương lai của tổ chức và xác định các biện pháp,
cách thức để đạt được mục đích đó.
Tổ chức (Organizing): Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ
cần phải chuyển hóa những ý tưởng ấy thành những hoạt động hiện thực.Tổ
chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên,
giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công
các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Người quản lý

phải phối hợp, điều phối tốt các nguồn nhân lực của tổ chức.
Lãnh đạo (Chỉ đạo) - (Leading) : Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ
cấu bộ máy đã hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có người
đứng ra lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức. Đó là quá trình liên kết, liên hệ với
người khác, hướng dẫn và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất
định để đạt được mục tiêu của tổ chức. Tất nhiên việc lãnh đạo không chỉ
bắt đầu sau khi việc lập kế hoạch và thiết kế bộ máy đã hoàn tất, mà nó
xuyên suốt trong hoạt động quản lý.
Kiểm tra (Controlling): Đây là hoạt động theo dõi, giám sát các thành
quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần
thiết.
Ở mỗi cấp quản lý khác nhau, sự phân phối về thời gian và công sức
cho các chức năng quản trị của các cấp được thể hiện trong bảng sau:
Stt
Cấp quản lý
Kế hoạch
Tổ chức
Điều
khiển
Kiểm tra
Ghi chú
1
Cao cấp
28%
36%
22%
14%

2
Trung gian

18%
33%
36%
13%

3
Cơ sở
15%
24%
51%
10%

Bảng 1. Phân phối thời gian và công sức cho các chức năng quản trị
của các cấp [12]


16
1.2.2. Quản lý hoạt động dạy học trong nhà trƣờng
Mục tiêu quản lý trường học là quản lý chất lượng sản phẩm giáo dục.
Muốn có sản phẩm giáo dục đạt chất lượng, đáp ứng yêu cầu của sự phát
triển kinh tế - xã hội thì trước hết nhà trường phải tổ chức, điều khiển và
kiểm soát tốt quá trình tổ chức hoạt động dạy và học, vì hoạt động dạy và
học là hoạt động trung tâm của nhà trường nhằm hình thành và phát triển
nhân cách của học sinh - sản phẩm giáo dục của nhà trường.
Hoạt động dạy là hoạt động đặc trưng cho bất kỳ loại hình hoạt động
nhà trường nào, vì vậy nó là con đường giáo dục tiêu biểu nhất. Với nội
dung và tính chất của nó dạy học là con đường tốt nhất giúp cho người học
với tư cách là chủ thể nhận thức có thể lĩnh hội mọi hệ thống tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo chuyển thành phẩm chất và năng lực của bản thân”. “Các tổ
chức xã hội cần đảm bảo cho mọi người học nhận thức sự nuôi dưỡng, bảo

vệ sức khỏe, sự hỗ trợ chung cho thể chất và tình cảm mà người học cần để
có thể tham gia một cách tích cực vào quá trình giáo dục và tận hưởng
được lợi ích của giáo dục”, tuyên bố thế giới về giáo dục cho mọi người,
Hội nghị Jomtien, Thái Lan 1990.
Quản lý hoạt động dạy học là quản lý quá trình truyền thụ kiến thức
của đội ngũ giáo viên và quá trình lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của
học sinh và quản lý các điều kiện vật chất, kỹ thuật, phương tiện phục vụ
hoạt động dạy học. Quản lý hoạt động dạy học là quản lý việc thực hiện
chương trình, nội dung dạy học, quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá quá
trình lĩnh hội kiến thức của học sinh.
1.2.3. Quản lý hoạt động dạy học trong ĐTTT
Quy chế ĐTTX qua mạng hiện đang được Bộ Giáo dục và Đào tạo
soạn thảo. Mặc dù chưa có quy chế chính thức nhưng nội dung dự thảo đã
đề cập đến các vấn đề cơ bản sau:
1. Mục tiêu và đối tượng ĐTTX qua mạng


17
2. Quy trình ĐTTX qua mạng:
- Chuẩn bị cơ sở vật chất, trang thiết bị và học liệu đa phương tiện;
- Tuyển sinh (đăng ký nhập học tại cơ sở giáo dục hoặc qua mạng);
- Tổ chức quá trình đào tạo (triển khai hệ thống E-Learning) và quản lý
học viên (LMS: Learning Management System);
- Thi, kiểm tra kết thúc môn học, khoá học và cấp văn bằng, chứng chỉ.
3. Văn bằng chứng chỉ ĐTTX qua mạng
4. Các chương trình ĐTTX qua mạng:
- Chương trình đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ.
- Chương trình đào tạo cấp bằng của hệ thống giáo dục quốc dân
5. Điều kiện tổ chức thực hiện ĐTTX qua mạng:

- Điều kiện về trang thiết bị
- Điều kiện về học liệu
- Điều kiện về đội ngũ giảng viên, đội ngũ cố vấn học tập: đã được bồi
dưỡng về nghiệp vụ ĐTTX và có khả năng, điều kiện tham gia giảng
dạy, hướng dẫn học tập qua mạng tin học - viễn thông.
- Kế hoạch về tuyển sinh, quy mô đào tạo hàng năm của cơ sở đào tạo
- Cấp phép hoặc phê duyệt chỉ tiêu đào tạo hàng năm đối với cơ sở đào
tạo
6. Hồ sơ và thủ tục xin phép tổ chức đào tạo
7. Quy trình học tập qua mạng:
- Đăng ký học tập
- Hướng dẫn học tập: Cơ sở đào tạo phải tổ chức hướng dẫn nội quy học
tập, quy trình đào tạo, kế hoạch học tập, thi, kiểm tra đối với mỗi
chương trình, học phần, học trình, tín chỉ hoặc môn học.
- Tự học có hướng dẫn, bao gồm 2 quá trình: Học viên tự nghiên cứu, tự
học thông qua hệ thống E-Learning; Học viên học phụ đạo, tham gia các


18
diễn đàn học tập và làm bài tập dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giảng
viên và cố vấn học tập trên hệ thống E-Learning
- Thực hành và thực tập đối với các học phần đã được ban hành trong
chương trình đào tạo
- Thi, kiểm tra kết thúc học phần: Khi kết thúc học phần, tín chỉ, môn
học, học viên phải tham dự các kỳ thi, kiểm tra kết thúc học phần, tín
chỉ, môn học do cơ sở ĐTTX qua mạng tổ chức.
- Thi và công nhận tốt nghiệp
8. Thời gian đào tạo:
Đối với chương trình bồi dưỡng cấp chứng chỉ, căn cứ yêu cầu, nội
dung học tập, các cơ sở giáo dục quyết định thời gian cho phù hợp.

Chương trình đào tạo cấp bằng tốt nghiệp được tổ chức theo từng
khoá học. Khoá học của một ngành học theo hình thức ĐTTX qua mạng
không giới hạn số năm học bắt buộc đối với tất cả số học viên cùng nhập
học. Tuỳ theo học chế (đào tạo theo hệ thống tín chỉ hoặc học phần kết hợp
niên chế); khối lượng kiến thức; tính chất của từng ngành học và thời gian
quy định đối với hệ chính quy tương ứng, thời gian đào tạo của mỗi khoá
học ĐTTX qua mạng được quy định như sau:
- Học theo tín chỉ
- Học theo học phần kết hợp niên chế: a) Đối với đào tạo đại học: Từ 4
năm đến 8 năm cho người có bằng tốt nghiệp THPT, THCN hoặc tương
đương; từ 2 năm đến 4 năm cho người đã có bằng cao đẳng cùng
chuyên ngành hoặc bằng tốt nghiệp đại học cùng nhóm ngành tương
ứng. b) Đối với đào tạo cao đẳng: Từ 3 năm đến 5 năm cho người có
bằng tốt nghiệp THPT, THCN hoặc tương đương. c) Đối với đào tạo
THCN: Từ 4 đến 6 năm cho người tốt nghiệp THCS, từ 2 đến 4 năm cho
người có bằng tốt nghiệp THPT.


19
9. Những điều Cơ sở đào tạo phải công bố công khai trước khi khai giảng
như:
- Các Quy chế có liên quan đến ngành học, cấp học và chương trình đào
tạo do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành; các văn bản liên quan đến việc
cơ sở được phép mở ngành đào tạo và các quy định riêng của cơ sở giáo
dục.
- Chương trình chi tiết và kế hoạch đào tạo hàng năm, kế hoạch đào tạo
toàn khóa, lịch phân phối học liệu, lịch phát thanh, truyền hình (nếu có),
lịch tập trung nghe hướng dẫn phụ đạo, lịch thi.
- Các địa chỉ Website chứa đựng các phần mềm, chương trình liên quan
đến quá trình giảng dạy, học tập của ngành học

- Danh sách giáo viên hướng dẫn, phụ đạo các học phần.
- Thể thức đăng ký tài khoản, cách học qua mạng, mức thu học phí, lệ
phí.
- Nội dung sách điện tử, bài giảng điện tử.
- Danh mục các tài liệu học tập (tên giáo trình, tài liệu hướng dẫn, hệ
thống bài tập, câu hỏi kiểm tra…).
- Danh mục phương tiện hệ thống tin học cá nhân tối thiểu đảm bảo cho
người học có đủ điều kiện tham gia vào quá trình đào tạo.
10. Học phí, học bổng
11. Kiểm tra, thi kết thúc môn học
12. Tổ chức kiểm tra, thi
13. Thi tốt nghiệp và công nhận tốt nghiệp
14. Liên kết ĐTTX qua mạng với cơ sở giáo dục nước ngoài:
- Điều kiện liên kết ĐTTX qua mạng với cơ sở giáo dục nước ngoài
- Nhiệm vụ và quyền của học viên
- Quản lý học viên
- Điều kiện để công nhận văn bằng do các cơ sở giáo dục nước ngoài cấp

×