Tải bản đầy đủ (.pdf) (132 trang)

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Malaysia giai đoạn 2000 - 2010 và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.13 MB, 132 trang )




ĐẠI HỌC
QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ




PHẠM XUÂN HUY





ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI)
VÀO MALAYSIA GIAI ĐOẠN 2000 - 2010
VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM








LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI















Hà Nội - 2012




ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ




PHẠM XUÂN HUY





ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI)
VÀO MALAYSIA GIAI ĐOẠN 2000 - 2010

VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM



Chuyên ngành: KTTG & QHKTQT
Mã số : 60 31 07



LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI







NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. PHẠM THỊ THANH BÌNH







Hà Nội - 2012



MỤC LỤC


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT i

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ iii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) 6

1.1. Khái quát về FDI 6

1.1.1. Khái niệm và đặc điểm 6

1.1.2. Phân loại dự án FDI 9

1.2. Vai trò của FDI 19

1.2.1. Tác động tích cực 21

1.2.2. Tác động tiêu cực 28

1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI 31

1.3.1. Môi trường chính trị - xã hội 31

1.3.2. Chính sách kinh tế vĩ mô 32

1.3.3. Chất lượng cơ sở hạ tầng 33

1.3.4. Chất lượng nguồn nhân lực 34


1.3.5. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 35

1.3.6. Đặc điểm phát triển văn hoá - xã hội 35

Chương 2: THỰC TRẠNG THU HÚT FDI VÀO MALAYSIA
GIAI ĐOẠN 2000 - 2010 38

2.1. Các chính sách thu hút FDI của Malaysia 38

2.1.1. Chính sách tài chính - tiền tệ 38

2.1.2. Chính sách sở hữu và bảo đảm vốn đầu tư 40

2.1.3. Chính sách khuyến khích ưu đãi đầu tư 42

2.1.4. Điều chỉnh chính sách định hướng thu hút FDI. 46

2.1.5. Hiện đại hóa cơ sở hạ tầng 49

2.1.6. Tạo nguồn nhân lực chất lượng cao 51

2.1.7. Thúc đẩy hoạt động nghiên cứu và chuyển giao công nghệ 54

2.1.8. Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về FDI 56



2.2. Tình hình thu hút FDI của Malaysia giai đoạn 2000 - 2010 58


2.3. Đánh giá việc thu hút FDI của Malaysia 62

2.3.1. Những kết quả đạt được 62

2.3.2. Những hạn chế tồn tại và nguyên nhân 68

Chương 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM THU HÚT FDI CỦA MALAYSIA
CHO VIỆT NAM 74

3.1. Những điểm tương đồng và khác biệt giữa Malaysia và Việt Nam 74

3.1.1 Những điểm tương đồng 74

3.1.2 Những điểm khác biệt 78

3.2. Một số quan điểm và định hướng thu hút FDI 84

3.2.1. Vài nét về tình hình thu hút FDI của Việt Nam hiện nay 84

3.2.2. Quan điểm, định hướng thu hút FDI 93

3.3. Một số bài học kinh nghiệm thu hút FDI cho Việt Nam 103

3.3.1. Xây dựng hệ thống chính trị ổn định và đoàn kết dân tộc 103

3.3.2. Xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại 105

3.3.3. Khuyến khích đầu tư tích cực 106

3.3.4. Kế hoạch và mục tiêu phát triển kinh tế rõ ràng, cụ thể 107


3.3.5. Giảm bớt các thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp 108

3.3.6. Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực 111

KẾT LUẬN 113

TÀI LIỆU THAM KHẢO 115

PHỤ LỤC



i
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

STT

Chữ
viết tắt
Tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt
1.

AFTA ASEAN Free Trade Area Khu vực Thương mại tự do ASEAN
2.

APEC ASIA Pacific Economy
Cooperation
Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á -
Thái Bình Dương

3.

ARF ASEAN Regional Forum Diễn đàn khu vực ASEAN
4.

BOT Build - Operation - Transfer Xây dựng - Vận hành - Chuyển giao
5.

BT Build - Transfer Xây dựng - Chuyển giao
6.

BTO Build - Transfer - Operation Xây dựng - Chuyển giao - Vận hành
7.

CNH Công nghiệp hóa
8.

EU European Union Liên minh Châu Âu
9.

FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
10.

FIC Foreign Investment
Committee
Ủy ban Đầu tư nước ngoài
11.

GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
12.


HĐH Hiện đại hóa
13.

IGA Investment Guarantee
Agreements
Hiệp định bảo đảm đầu tư
14.

IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ Quốc tế
15.

IMP Industrial Master Plan Kế hoạch tổng thể các ngành công
nghiệp


ii
STT

Chữ
viết tắt
Tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt
16.

MIDA Malaysian Investment
Development Authority
Tổ chức phát triển công nghiệp
Malaysia
17.


MITI Ministry of International
Trade and Industry
Bộ Công thương Malaysia
18.

MOA Ministry of Agriculture Bộ Nông nghiệp Malaysia
19.

M&A Mergers and Acquisitions Mua lại và sáp nhập
20.

NEP New Economic Policy Chính sách kinh tế mới
21.

NERP National Economic
Recovery Plan
Kế hoạch phục hồi kinh tế quốc gia
22.

OECD Organization for Economic
Cooperation and
Development
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
23.

PSDC Penang Skills Development
Centre
Trung tâm Phát triển kỹ năng Penang

24.


RM Ringgit Malaysia Đơn vị tiền tệ của Malaysia
25.

R&D Research and Development Nghiên cứu và phát triển
26.

TNCs Transnational Corporations Công ty xuyên quốc gia
27.

UNCTAD

United Nations Conference
on Trade and Development
Hội nghị Liên Hợp quốc về Thương
mại và Phát triển
28.

USD United States Dollar Đô la Mỹ
29.

WTO Worrld Trade Organnization Tổ chức thương mại Thế giới
30.

XHCN Xã hội chủ nghĩa


iii
DANH MỤC CÁC BẢNG


STT

Số hiệu Nội dung Trang

1 Bảng 2.1

Tỷ trọng vốn FDI trong ngành chế tạo ở Malaysia 59
2 Bảng 2.2

Dòng vốn FDI vào Malaysia giai đoạn 2000 – 2010 60
3 Bảng 2.3

Cơ cấu sản lượng các ngành kinh tế của Malaysia 64
4 Bảng 2.4

Cơ cấu việc làm, xuất nhập khẩu của Malaysia 65
5 Bảng 3.1

FDI tại Việt Nam giai đoạn 2000 - 2011 84
6 Bảng 3.2

FDI phân theo ngành 88




DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

STT


Số hiệu Nội dung Trang

1 Hình 3.1

Cơ cấu vốn FDI theo hình thức đầu tư 86


1
MỞ ĐẦU

l. Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình toàn cầu hóa đang thúc đẩy mạnh mẽ sự hội nhập của các
nước vào nền kinh tế thế giới và khu vực, trong đó đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI) là một hoạt động chiếm vị trí ngày càng quan trọng đối với cả nước đầu
tư và nước tiếp nhận đầu tư. Việc thu hút, khai thác và sử dụng FDI một cách
có hiệu quả đang là mục tiêu hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới, nhất
là các nước đang phát triển, trong đó có Malaysia và Việt Nam.
Việc gia nhập WTO (1995) đưa đến nhiều cơ hội nhưng cũng đem lại
những thách thức cho Malaysia trong quá trình phát triển kinh tế nói chung và
trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nói riêng. Hiện nay, trên
thế giới, nhiều quốc gia, nhiều tổ chức tài chính quốc tế và các công ty xuyên
quốc gia có nhu cầu đầu tư ra nước ngoài. Do vậy, việc cạnh tranh để thu hút
được nhiều FDI càng trở thành vấn đề quan trọng đối với Malaysia. Nguồn
vốn FDI đem lại những lợi ích to lớn, có vai trò là chìa khóa thành công trong
phát triển kinh tế ở nhiều nước trên thế giới. Malaysia được đánh giá là một
trong những quốc gia thành công trong thu hút FDI trong quá trình công
nghiệp hóa. Gia nhập WTO đã tạo ra những điều kiện thuận lợi hơn cho
Malaysia trong thu hút nguồn vốn FDI, thể hiện ở những bước tăng trưởng
mạnh mẽ cả về số lượng, chất lượng, loại hình và quy mô đầu tư.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động FDI của

Malaysia cũng có những mặt hạn chế, làm suy giảm dòng vốn FDI vào nước
này. Đồng thời bối cảnh bên ngoài và điều kiện bên trong nền kinh tế đang đặt
ra những thách thức mới cho việc thu hút FDI của Malaysia. Để nâng cao hơn
nữa hiệu quả thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, phục vụ chiến lược phát

2
triển kinh tế trong thời kỳ toàn cầu hóa thì việc nghiên cứu, tìm hiểu những cơ
hội, thách thức đặt ra trong thu hút FDI của Malaysia là vấn đề cấp thiết có ý
nghĩa thực tiễn không chỉ đối với Malaysia mà còn được xem như là những
kinh nghiệm tham khảo quý báu cho Việt Nam.
Do vậy, tác giả chọn đề tài: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào
Malaysia giai đoạn 2000 - 2010 và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam”
làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Ở trong nước:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là đề tài thu hút được nhiều sự quan
tâm của các nhà kinh tế và các chuyên gia, các học giả, đặc biệt là FDI ở
Malaysia, một quốc gia thành công trong việc thu hút và sử dụng nguồn vốn
FDI cho phát triển kinh tế. Nhờ có chiến lược thu hút FDI hiệu quả, dòng vốn
FDI vào Malaysia ngày càng tăng và góp phần to lớn tạo ra sự tăng trưởng
"thần kỳ" của nền kinh tế. Malaysia cũng rất thành công trong phát triển công
nghiệp hóa hướng về xuất khẩu. Trong số những bài viết, bài báo, công trình
chuyên sâu về FDI tại Malaysia, nổi bật nhất là luận án tiến sĩ của tác giả
Phùng Xuân Nhạ: "Đầu tư trực tiếp nước ngoài phục vụ công nghiệp hóa ở
Malaysia: Kinh nghiệm đối với Việt Nam" của NXB Thế giới, xuất bản năm
2000. Trong luận án của mình, tác giả phân tích khái quát các chính sách và
động thái thu hút FDI ở Malaysia và đề cập đến những tác động của FDI đối
với tiến trình công nghiệp hóa của Malaysia, qua đó rút ra được một số bài
học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc thu hút FDI.
Một công trình nghiên cứu đáng chú ý khác là: "Điều chỉnh cơ cấu kinh

tế ở Hàn Quốc, Malaysia và Thái Lan" của TS. Hoàng Thị Thanh Nhàn được
xuất bản năm 2003 bởi NXB chính trị quốc gia. Trong công trình này, TS.
Hoàng Thị Thanh Nhàn cùng các chuyên gia kinh tế của Viện Kinh tế Thế

3
giới đã phân tích rõ nét vai trò của FDI đối với tiến trình chuyển đổi chiến
lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu sang công nghiệp hóa hướng về
xuất khẩu của Malaysia, những nhân tố đóng góp vào sự chuyển đổi thành
công của chiến lược đó.
Gần đây là công trình nghiên cứu của tác giả Đặng Đức Long: "Chính
sách thu hút FDI ở các nước ASEAN 5 từ sau khủng hoảng tài chính Châu Á
1997". Đây là luận án tiến sĩ kinh tế năm 2007, trong công trình của mình, tác
giả phân tích một cách tổng quan tác động của khủng hoảng tài chính Châu Á
đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của các nước ASEAN 5, trong đó có
Malaysia. Tác giả rút ra được những bài học kinh nghiệm cho Malaysia nói
riêng cũng như các nước ASEAN 5 nói chung trong việc điều chỉnh chính
sách thu hút FDI. Đây cũng được xem là bài học tham khảo cho Việt Nam.
Ở nước ngoài:
Một số nhà kinh tế và các chuyên gia nước ngoài cũng có những bài
viết, bài nghiên cứu về FDI tại Malaysia. Điển hình là bài nghiên cứu:
"Malaysia: An Overview of the Legal Framework for Foreign Direct
Investment", của nhà kinh tế Malaysia, Arumugam Rajen, đăng trên tạp chí
Economics and Finance, số 5 (Oct/2002). Trong bài nghiên cứu của mình, tác
giả đã đề cập đến hệ thống luật pháp nhằm thu hút FDI của Malaysia.
Cuốn sách "Invest in Malaysia: Investor’s Guide" của Ủy ban phát
triển công nghiệp Malaysia được xuất bản năm 2007 được xem là cuốn cẩm
nang chỉ dẫn rất có ích cho các nhà đầu tư nước ngoài có mong muốn, ý định
đầu tư vào Malaysia. Cuốn sách này đã đưa ra cụ thể những chỉ dẫn cơ sở,
luật pháp, chính sách thu hút FDI của chính phủ Malaysia.
Công trình "Competitiveness, FDI and Technological Activity in East

Asia" của chuyên gia kinh tế Sanjaya Lall, đăng trên tạp chí Edward Elgar
Express năm 2002. Trong công trình này, tác giả nghiên cứu tác động của FDI

4
đối với việc nâng cao trình độ công nghệ và năng lực cạnh tranh của một số
nước Đông Á, trong đó có Malaysia.
Ngoài ra còn có một số bài viết đáng chú ý như "Malaysia Needs to
Attract New Avenues of FDI" của nhà kinh tế Angie Ng, xuất bản trên tạp chí
Star Publications năm 2011 và "Malaysia’s FDI Plunge: Who’s talking it
seriously" của tác giả Ding Jo-Ann, đăng trên tạp chí Báo cáo đầu tư thế giới
(World Investment Report), năm 2010. Trước thực trạng FDI tại Malaysia đang
suy giảm, các tác giả nhấn mạnh sự cần thiết phải thu hút nhiều FDI vào
Malaysia và phân tích đưa ra những phương hướng, chính sách ưu tiên thu hút
FDI của chính phủ, đặc biệt sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã phần
nào đề cập và đánh giá được hiệu quả của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
Malaysia. Tuy nhiên, số liệu phân tích còn chưa cập nhật, cho đến nay vẫn
chưa có đề tài nào nghiên cứu khái quát và tổng hợp các nguồn vốn FDI vào
Malaysia từ năm 2000 đến nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Luận văn tập trung phân tích thực trạng và
những thay đổi trong chính sách thu hút FDI của Malaysia, rút ra một số bài
học kinh nghiệm thu hút FDI của Malaysia cho Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận văn tập trung hệ thống hoá một số vấn đề
lý luận cơ bản về FDI.
Phân tích thực trạng, những cơ hội và thách thức của đầu tư trực tiếp
nước ngoài vào Malaysia.
Xác định các quan điểm, phương hướng qua đó đề xuất một số hàm ý
chính sách cho Việt Nam.


5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại
Malaysia giai đoạn 2000 - 2010 và trên cơ sở phân tích, đánh giá triển vọng
thu hút FDI của Malaysia giai đoạn 2011 – 2020, qua đó rút ra một số bài học
kinh nghiệm cho Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khác nhau:
Phương pháp duy vật biện chứng; Phương pháp duy vật lịch sử; Phương pháp
thống kê, phân tích, nghiên cứu so sánh và có tham khảo ý kiến của các
chuyên gia kinh tế.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Bước đầu, luận văn đã làm rõ được các cơ hội, thách thức cũng như
những tác động trong thu hút FDI của Malaysia.
Đánh giá những thuận lợi, khó khăn của việc thu hút FDI vào
Malaysia, qua đó đưa ra một số gợi ý giải pháp nhằm tăng cường thu hút và
nâng cao hiệu quả của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1. Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Chương 2. Thực trạng thu hút FDI vào Malaysia giai đoạn 2000 - 2010
Chương 3. Bài học kinh nghiệm thu hút FDI của Malaysia cho Việt Nam

6
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI)
1.1. Khái quát về FDI
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm
Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Đầu tư trực tiếp nước
ngoài (Foreign Direct Investment - FDI) là một hình thức của đầu tư nước

ngoài. Sự ra đời và phát triển của FDI là kết quả tất yếu của quá trình toàn cầu
hoá và phân công lao động quốc tế. Trên thực từ có rất nhiều cách nhìn nhận
khác nhau về đầu tư trực tiếp nước ngoài, do đó cũng có khá nhiều khái niệm
khác nhau về đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund - IMF) định nghĩa
FDI là: "Một khoản đầu tư với những quan hệ lâu dài, theo đó, một tổ chức
trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một
doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác. Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp
là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh
tế khác đó". [52, tr.31]
Hội nghị Liên Hợp quốc về Thương mại và Phát triển (United Nations
Conference on Trade and Development - UNCTAD) cũng đưa ra khái niệm về
FDI: "Theo đó, luồng vốn FDI bao gồm vốn được cung cấp (trực tiếp hoặc
thông qua các công ty liên quan khác) bởi nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài cho
các doanh nghiệp FDI, hoặc vốn mà nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài nhận được
từ doanh nghiệp FDI. FDI gồm có ba bộ phận: vốn cổ phần, thu nhập tái đầu tư
và các khoản vay trong nội bộ công ty". [58, tr.31]
Các nhà kinh tế quốc tế định nghĩa: đầu tư trực tiếp nước ngoài là
khoản đầu tư mà chủ sở hữu tại nước này mua hoặc kiểm soát một thực thể
kinh tế của nước khác. Đó là một khoản tiền mà nhà đầu tư trả cho một thực
thể kinh tế của nước ngoài để có ảnh hưởng quyết định đổi với thực thể kinh
tế ấy hoặc tăng thêm quyền kiểm soát trong thực thể kinh tế ấy.

7
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (Organization for Economic
Cooperation and Development - OECD) cũng đưa ra khái niệm : "Một doanh
nghiệp đầu tư trực tiếp là một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoặc không
có tư cách pháp nhân, trong đó nhà đầu tư trực tiếp sở hữu ít nhất 10% cổ
phiếu thường hoặc có quyền biểu quyết. Điểm mấu chốt của đầu tư trực tiếp
là chủ định thực hiện quyền kiểm soát công ty". [52, tr.31]

Luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam năm 2007 đưa ra khái niệm: "Đầu
tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn
bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy
định của luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam". [16, tr.8]
Mặc dù hiện nay tồn tại rất nhiều khái niệm khác nhau về FDI, nhưng
có thể thấy được rằng các khái niệm này vẫn có những nét chung nhất là:
- Có sự di chuyển tư bản trong phạm vi quốc tế.
- Chủ đầu tư (có tư cách pháp nhân hoặc thể nhân) trực tiếp tham gia
vào hoạt động sử dụng vốn và quản lý đối tượng đầu tư.
Tóm lại, từ những định nghĩa nêu trên cùng một số quan niệm và khái
niệm khác nhau, chúng ta có thể hiểu một cách khái quát về FDI như sau:
"Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một nước
khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào vào quốc gia đó để có được
quyền sơ sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại
quốc gia đó, với mục tiêu tối đa hoá lợi ích của mình".
Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Thứ nhất, FDI chủ yếu được đầu tư với mục đích đầu tiên là tìm kiếm
lợi nhuận. Do vậy, các nước nhận đầu tư, nhất là các nước đang phát triển cần
chú ý điều này khi tiến hành thu hút FDI, phải xây dựng cho mình một hành
lang pháp lý đủ mạnh và các chính sách thu hút FDI hợp lý để hướng FDI vào
phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của nước mình, tránh tình
trạng FDI chỉ phục vụ cho mục đích tìm kiếm lợi nhuận của các chủ đầu tư.

8
FDI thường được thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp
mới, mua lại toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp đang hoạt động, hoặc mua
cổ phiếu để thôn tính, hoặc sát nhập các doanh nghiệp với nhau.
Thứ hai, các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối
thiểu trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ tùy theo quy định của luật pháp
từng nước để giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp

nhận đầu tư. Tỷ lệ đóng góp của các bên trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ
sẽ quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, đồng thời lợi nhuận và rủi ro
cũng được phân chia dựa vào tỷ lệ này. Thu nhập mà chủ đầu tư thu được phụ
thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư, nó
mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ không phải lợi tức.
Thứ ba, chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh
và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi. Nhà đầu tư nước ngoài được quyền lựa chọn
lĩnh vực đầu tư, hình thức đầu tư, thị trường đầu tư, quy mô đầu tư cũng như
công nghệ cho mình, do đó sẽ tự đưa ra những quyết định có lợi nhất cho họ.
Thứ tư, FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp
nhận đầu tư. Thông qua hoạt động FDI, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được
công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý
Thứ năm, FDI không có những ràng buộc về chính trị, không để lại
gánh nặng nợ nần cho các nước nhận đầu tư mà ngược lại, FDI tạo điều kiện
thuận lợi để khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nước. FDI
thường gắn liền với các hoạt động kinh doanh quốc tế của các công ty xuyên
quốc gia (Transnational Corporations - TNCs), chịu sự chi phối của nhiều hệ
thống luật pháp (bao gồm luật pháp của các nước đầu tư, nước tiếp nhận đầu
tư và luật pháp quốc tế). Hiện nay, các công ty xuyên quốc gia đang nắm giữ
khoảng 90% lượng vốn FDI trên thế giới. Do đó, FDI có mục tiêu, nhiệm vụ
rõ ràng nhằm mở rộng, chiếm lĩnh thị trường của các công ty xuyên quốc gia
(TNCs) và thu về lợi nhuận tối đa cho nhà đầu tư. [60, tr.275]

9
Thứ sáu, hoạt động FDI gắn liền với sự phát triển của thị trường tài
chính quốc tế và thương mại quốc tế. Trong hình thức FDI. Các công ty mẹ
thường chuyển giao vốn của mình qua các công ty chi nhánh. Do vậy, FDI có
liên quan mật thiết với dòng lưu chuyển vốn quốc tế, trong đó có một công ty
ở một nước tạo ra hoặc mở rộng chi nhánh ở nước khác.
1.1.2. Phân loại dự án FDI

1.1.2.1. Doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài (gọi tắt là liên doanh) là hình
thức được sử dụng rộng rãi nhất của đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới
từ trước đến nay. Nó là công cụ để thâm nhập vào thị trường nước ngoài một
cách hợp pháp và có hiệu quả thông qua hoạt động hợp tác.
Khái niệm liên doanh là một hình thức tổ chức kinh doanh có tính chất
quốc tế, hình thành từ những sự khác biệt giữa các bên về quốc tịch, quản lý,
hệ thống tài chính, luật pháp và bản sắc văn hóa; hoạt động trên cơ sở sự đóng
góp của các bên về vốn, quản lí lao động và cùng chịu trách nhiệm về lợi
nhuận cũng như rủi ro có thể xảy ra; hoạt động của liên doanh rất rộng, gồm
cả hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng dịch vụ, hoạt động nghiên cứu cơ
bản và nghiên cứu triển khai.
Đối với nước tiếp nhận đầu tư:
Ưu điểm: giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn, giúp đa dạng hoá sản
phẩm, đổi mới công nghệ, tạo ra thị trường mới và tạo cơ hội cho người lao
động làm việc và học tập kinh nghiệm quản lý của nước ngoài.
Nhược điểm: mất nhiều thời gian thương thảo các vấn đề liên quan đến
dự án đầu tư, thường xuất hiện mẫu thuẫn trong quản lý điều hành doanh
nghiệp; đối tác nước ngoài thường quan tâm đến lợi ích toàn cầu, vì vậy đôi
lúc liên doanh phải chịu thua thiệt vì lợi ích ở nơi khác; thay đổi nhân sự ở
công ty mẹ có ảnh hưởng tới tương lai phát triển của liên doanh.

10
Đối với nước đầu tư:
Ưu điểm: tận dụng được hệ thống phân phối có sẵn của đối tác nước sở
tại; được đầu tư vào những lĩnh vực kinh doanh dễ thu lời, lĩnh vực bị hạn chế
đối với hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài; thâm nhập được
những thị trường truyền thống của nước chủ nhà. Không mất thời gian và chi
phí cho việc nghiên cứu thị trường mới và xây dựng được các mối quan hệ.
Chia sẻ được chi phí và rủi ro đầu tư.

Nhược điểm: khác biệt về nhìn nhận chi phí đầu tư giữa hai bên đối tác;
mất nhiều thời gian thương thảo mọi vấn đề liên quan đến dự án đầu tư, định
giá tài sản góp vốn, giải quyết việc làm cho người lao động của đối tác trong
nước; không chủ động trong quản lý điều hành doanh nghiệp, dễ bị mất cơ hội
kinh doanh, khó giải quyết khác biệt về tập quán, văn hoá.
1.1.2.2. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài cũng là một hình thức doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhưng ít phổ biến hơn hình thức liên doanh
trong hoạt động đầu tư quốc tế. Khái niệm doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài là một thực thể kinh doanh có tư cách pháp nhân, được thành lập dựa
trên các mục đích của chủ đầu tư và nước sở tại.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoạt động theo sự điều hành quản
lý của chủ đầu tư nước ngoài nhưng vẫn phải tuỳ thuộc vào các điều kiện về
môi trường kinh doanh của nước sở tại, đó là các điều kiện về chính trị, kinh
tế, luật pháp, văn hoá, mức độ cạnh tranh …
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài có tư cách pháp nhân là một thực
thể pháp lý độc lập hoạt động theo luật pháp nước sở tại. Thành lập dưới dạng
công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần.

11
Đối với nước tiếp nhận đầu tư:
Ưu điểm: Nhà nước thu được ngay tiền thuê đất, tiền thuế cho dù doanh
nghiệp bị lỗ; giải quyết được công ăn việc làm mà không cần bỏ vốn đầu tư;
tập trung thu hút vốn và công nghệ của nước ngoài vào những linh vực
khuyến khích xuất khẩu; tiếp cận được thị trường nước ngoài.
Nhược điểm: khó tiếp thu kinh nghiệm quản lý và công nghệ nước
ngoài để nâng cao trình độ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật ở các doanh
nghiệp trong nước.
Đối với nước đầu tư:
Ưu điểm: chủ động trong quản lý điều hành doanh nghiệp, thực hiện

được chiến lược toàn cầu của tập đoàn; triển khai nhanh dự án đầu tư; được
quyền chủ động tuyển chọn và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát
triển chung của tập đoàn.
Nhược điểm: chủ đầu tư phải chịu toàn bộ rủi ro trong đầu tư; phải chi
phí nhiều hơn cho nghiên cứu tiếp cận thị trường mới; không xâm nhập được
vào những lĩnh vực có nhiều lợi nhuận thị trường trong nước lớn, khó quan hệ
với các cơ quan quản lý Nhà nước nước sở tại.
1.1.2.3. Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh
Hình thức này là hình thức đầu tư trong đó các bên quy trách nhiệm và
phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh mà
không thành lập pháp nhân mới.
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản được ký kết giữa đại diện có
thẩm quyền của các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh, quy định rõ
việc thực hiện, phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên.
Đặc điểm là các bên ký kết hợp đồng hợp tác kinh doanh, trong quá
trình kinh doanh các bên hợp doanh có thể thành lập ban điều phối để theo
dõi, giám sát việc thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh. Phân chia kết quả

12
kinh doanh: hình thức hợp doanh không phân phối lợi nhuận và chia sẻ rủi ro
mà phân chia kết quả kinh doanh chung theo tỷ lệ góp vốn hoặc theo thỏa
thuận giữa các bên. Các bên hợp doanh thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với
nhà nước sở tại một cách riêng rẽ. Pháp lý hợp doanh là một thực thể kinh
doanh hoạt động theo luật pháp nước sở tại chịu sự điều chỉnh của pháp luật
nước sở tại, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên hợp doanh được ghi trong hợp
đồng hợp tác kinh doanh.
Đối với nước tiếp nhận đầu tư:
Ưu điểm: giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn, thiếu công nghệ, tạo ra
thị trường mới nhưng vẫn đảm bảo được an ninh quốc gia và nắm được quyền
điều hành dự án.

Nhược điểm: Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh
khó thu hút đầu tư, chỉ thực hiện được đối với một số lĩnh vực dễ sinh lời.
Đối với nước đầu tư:
Ưu điểm: tận dụng được hệ thống phân phối có sẵn của đối tác nước sở
tại, thâm nhập được những lĩnh vực hạn chế đầu tư, những thị trường truyền
thống của nước chủ nhà; không mất thời gian và chi phí cho việc nghiên cứu
thị trường mới và xây dựng các mối quan hệ; không bị tác động lớn do khác
biệt về văn hoá; chia sẻ được chi phí và rủi ro đầu tư.
Nhược điểm: không được trực tiếp quản lý điều hành dự án, quan hệ
hợp tác với đối tác nước sở tại thiếu tính chắc chắn làm các nhà đầu tư e ngại.
1.1.2.4. Đầu tư theo hợp đồng BOT (Build - Operation - Transfer)
BOT (Build - Operation - Transfer: Xây dựng - Vận hành - Chuyển
giao) là một thuật ngữ để chỉ một số mô hình hay một cấu trúc sử dụng đầu tư
tư nhân để thực hiện xây dựng cơ sở hạ tầng vẫn được dành riêng cho khu vực
Nhà nước. Trong một dự án xây dựng BOT, một doanh nhân tư nhân được
đặc quyền xây dựng và vận hành một công trình mà thường do chính phủ thực

13
hiện. Công trình này có thể là nhà máy điện, sân bay, cầu, cầu đường … Vào
cuối giai đoạn vận hành doanh nghiệp tư nhân sẽ chuyển quyền sở hữu dự án
về cho Chính phủ. Ngoài hợp đồng BOT còn có BTO (Build - Transfer -
Operation: Xây dựng - Chuyển giao - Vận hành) và BT (Build - Transfer: Xây
dựng - Chuyển giao).
Hợp đồng BOT là văn bản ký kết giữa các nhà đầu tư nước ngoài với
cơ quan có thẩm quyền của nước chủ nhà để đầu tư xây dựng công trình kết
cấu hạ tầng (kể cả mở rộng, nâng cấp, hiện đại hoá công trình) và kinh doanh
trong một thời gian nhất định để thu hồi vốn và có lợi nhuận hợp lý, sau đó
chuyển giao không bồi hoàn toàn bộ công trình cho nước chủ nhà.
Hợp đồng xây dựng chuyển giao kinh doanh BTO và hợp đồng xây
dựng chuyển giao BT, được hình thành tương tự như hợp đồng BOT nhưng

có điểm khác là: đối với hợp đồng BTO sau khi xây dựng xong công trình nhà
đầu tư nước ngoài chuyển giao lại cho nước chủ nhà và được Chính phủ nước
chủ nhà dành cho quyền kinh doanh công trình đó hoặc công trình khác trong
một thời gian đủ để hoàn lại toàn bộ vốn đầu tư và có lợi nhuận thỏa đáng về
công trình đã xây dựng và chuyển giao. Đối với hợp đồng BT, sau khi xây
dựng xong công trình nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao lại cho nước chủ
nhà và được chính phủ nước chủ nhà thanh toán bằng tiền hoặc bằng tài sản
nào đó tương xứng với vốn đầu tư đã bỏ ra và một tỷ lệ lợi nhuận hợp lý.
Doanh nghiệp được thành lập thực hiện hợp đồng BOT, BTO, BT mặc
dù hợp đồng dưới hình thức doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp
100% vốn nước ngoài nhưng đối tác cùng thực hiện hợp đồng là các cơ quan
quản lý nhà nước ở nước sở tại. Lĩnh vực hợp đồng hẹp hơn các doanh nghiệp
FDI khác, chủ yếu áp dụng cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng; được
hưởng các ưu đãi đầu tư cao hơn so với các hình thức đầu tư khác và điểm
đặc biệt là khi hết hạn hoạt động, phải chuyển giao không bồi hoàn công trình
cơ sở hạ tầng đã được xây dựng và khai thác cho nước sở tại.

14
Đối với nước tiếp nhận đầu tư:
Ưu điểm: thu hút được vốn đầu tư vào những dự án cơ sở hạ tầng đòi
hỏi vốn đầu tư lớn, do đó giảm được sức ép cho ngân sách Nhà nước, đồng
thời nhanh chóng có được công trình kết cấu hạ tầng hoàn chỉnh giúp khơi
dậy các nguồn lực trong nước và thu hút thêm FDI để phát triển kinh tế.
Nhược điểm: khó tiếp nhận kinh nghiệm quản lý và khó kiểm soát công
trình. Mặt khác, Nhà nước phải chịu mọi rủi ro ngoài khả năng kiểm soát của
nhà đầu tư.
Đối với nước đầu tư:
Ưu điểm: hiệu quả sử dụng vốn được bảo đảm; chủ động quản lý, điều
hành và tự chủ kinh doanh lợi nhuận, không bị chia sẻ và được Nhà nước sở
tại đảm bảo, tránh những rủi ro bất thường ngoài khả năng kiểm soát.

Nhược điểm: việc đàm phán và thực thi hợp đồng BOT thường gặp khó
khăn, tốn kém nhiều thời gian và công sức.
1.1.2.5. Đầu tư thông qua mô hình công ty mẹ và con (Holding
company)
Holding company là một trong những mô hình tổ chức quản lý được
thừa nhận rộng rãi ở hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường phát triển.
Holding company là một công ty sở hữu vốn trong một công ty khác ở mức
đủ để kiểm soát hoạt động quản lý và điều hành công ty đó thông qua việc
gây ảnh hưởng hoặc lựa chọn thành viên hợp đồng quản trị.
Holding company được thành lập dưới dạng công ty cổ phần và chỉ
giới hạn hoạt động của mình trong việc sở hữu vốn, quyết định chiến lược và
giám sát hoạt động quản lý của các công ty con, các công ty con vẫn duy trì
quyền kiểm soát hoạt động kinh doanh của mình một cách độc lập, tạo rất
nhiều thuận lợi, đó là:

15
- Cho phép các nhà đầu tư huy động vốn để triển khai nhiều dự án đầu
tư khác nhau, tạo điểu kiện thuận lợi cho họ điều phối hoạt động và hỗ trợ các
công ty trực thuộc trong việc tiếp thị, tiêu thụ hàng hoá, điều tiết chi phí thu
nhập và các nghiệp vụ tài chính.
- Quản lý các khoản vốn góp của mình trong công ty khác như một thể
thống nhất và chịu trách nhiệm về việc ra quyết định và lập kế hoạch chiến
lược điều phối các hoạt động và tài chính của cả nhóm công ty.
- Lập kế hoạch, chỉ đạo, kiểm soát các luồng lưu chuyển vốn trong danh
mục đầu tư. Holding company có thể thực hiện cả hoạt động tài trợ đầu tư cho
các công ty con và cung cấp dịch vụ tài chính nội bộ cho các công ty này.
- Cung cấp cho các công ty con các dịch vụ như kiểm toán nội bộ, quan
hệ đối ngoại, phát triển thị trường, lập kế hoạch, nghiên cứu và phát triển
(R&D) …
1.1.2.6. Hình thức công ty cổ phần

Công ty cổ phần (công ty cổ phần trách nhiệm hữu hạn) là doanh
nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ
phần, các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của
doanh nghiệp trong phạm vi vốn đã góp vào doanh nghiệp, cổ đông có thể là
tổ chức cá nhân với số lượng tối đa không hạn chế, nhưng phải đáp ứng yêu
cầu về số cổ đông tối thiểu. Đặc trưng của công ty cổ phần là nó có quyền
phát hành chứng khoán ra công chúng và các cổ đông có quyền tự do chuyển
nhượng cổ phần của mình cho người khác.
Trong cơ cấu tổ chức, công ty cổ phần phải có đại hội cổ đông, hội đồng
quản trị và giám đốc. Thông thường ở nhiều nước trên thế giới, cổ đông hoặc
nhóm cổ đông sở hữu trên 10% số cổ phiếu thường có quyền tham gia giám sát
quản lý hoạt động của công ty cổ phần. Đại hội cổ đông gồm tất cả cổ đông có
quyền biểu quyết là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần.

16
Ở một số nước khác, công ty cổ phần hữu hạn có vốn đầu nước ngoài
được thành lập theo cách: thành lập mới, cổ phần hoá doanh nghiệp FDI
(doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài) đang hoạt
động, mua lại cổ phần của doanh nghiệp trong nước cổ phần hoá.
1.1.2.7. Hình thức chi nhánh công ty nước ngoài
Hình thức chi nhánh công ty nước ngoài được phân biệt với hình thức
công ty con 100% vốn nước ngoài ở chỗ chi nhánh công ty nước ngoài không
được coi là một pháp nhân độc lập trong khi hình thức công ty con 100% vốn
nước ngoài thường là một pháp nhân độc lập. Trách nhiệm của công ty con
thường giới hạn trong phạm vi tài sản ở nước sở tại, trong khi trách nhiệm của
chi nhánh công ty nước ngoài theo quy định của một số nước, không chỉ giới
hạn trong phạm vi tài sản của chi nhánh, mà còn được mở rộng đến cả phần
tài sản của công ty mẹ ở nước ngoài.
Chi nhánh công ty nước ngoài được phép khấu trừ các khoản lỗ ở nước
sở tại và các khoản chi phí thành lập ban đầu vào các khoản thu nhập của

công ty mẹ tại nước ngoài. Hơn nữa, chi nhánh công ty nước ngoài còn được
khấu trừ một phần các chi phí quản lý của công ty mẹ ở nước ngoài vào phần
thu nhập chịu thuế ở nước sở tại.
Việc thành lập chi nhánh công ty nước ngoài thường đơn giản hơn so
với việc thành lập công ty con. Do không thành lập một pháp nhân độc lập,
việc thành lập chi nhánh công ty nước ngoài không phải tuân thủ theo các quy
định về thành lập công ty, thường chỉ thông qua việc đăng ký tại các cơ quan
có thẩm quyền của nước chủ nhà.
1.1.2.8. Hình thức công ty hợp danh
Công ty hợp danh là doanh nghiệp phải có ít nhất hai thành viên hợp
danh, ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn. Thành
viên hợp danh phải là cá nhân có trình độ chuyên môn, có uy tín nghề nghiệp

17
và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về nghĩa vụ của công
ty; thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty
trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Công ty hợp danh không được phát
hành bất kỳ loại chứng khoán nào. Các thành viên hợp danh có quyền ngang
nhau khi quyết định các vấn đề quản lý công ty, còn thành viên góp vốn có
quyền được chia lợi nhuận theo tỷ lệ quy định tại điều lệ công ty nhưng không
được tham gia quản lý công ty và hoạt động kinh doanh nhân danh công ty.
Khác với doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài, hình thức đầu tư này mang đặc trưng là có cơ cấu tổ chức gọn nhẹ.
Hình thức đầu tư này trước hết rất phù hợp với các doanh nghiệp nhỏ, nhưng
vì có những ưu điểm rõ rệt nên cũng được các doanh nghiệp lớn quan tâm.
Việc cho ra đời hình thức công ty hợp danh ở các nước nhằm tạo thêm cơ
hội cho nhà đầu tư lựa chọn hình thức đầu tư cho phù hợp với yều cầu, lợi ích
của họ. Thực tế cho thấy một số loại hình dịch vụ như tư vấn pháp luật, khám
chữa bệnh, thiết kế kiến trúc đã và đang phát triển nhanh chóng. Đó là những
dịch vụ mà người tiêu dùng không thể kiểm tra được chất lượng cung ứng trước

khi sử dụng, nhưng lại có ảnh hưởng đến sức khởe tính mạng và tài sản của
người tiêu dùng khi sử dụng. Việc thành lập công ty hợp danh là hình thức thức
đầu tư phù hợp trong việc phát triển và cung cấp các dịch vụ nêu trên. Trong đó
những người có vốn đóng vai trò là thành viên góp vốn và chịu trách nhiệm hữu
hạn còn các nhà chuyên môn là thành viên hợp danh tổ chức điều hành, cung
ứng dịch vụ và chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của họ.
1.1.2.9. Hình thức đầu tư mua lại và sáp nhập (Mergers and
Acquisitions - M&A)
Phần lớn các vụ M&A được thực hiện giữa các TNCs lớn và tập trung
vào các lĩnh vự công nghiệp ô tô, dược phẩm, viễn thông và tài chính ở các
nước phát triển.

18
Mục đích chủ yếu: Hình thức đầu tư mua lại và sát nhập tập trung vào
bốn mục đích sau:
Thứ nhất, khai thác lợi thế của thị trường mới mà hoạt động thương
mại quốc tế hay đầu tư mới theo kênh truyền thống không mang lại hiệu quả
mong đợi. Hoạt động M&A tạo cho các công ty cơ hội mở rộng nhanh chóng
hoạt động ra thị trường nước ngoài.
Thứ hai, bằng con đường M&A, các TNCs có thể sáp nhập các công ty
của mình với nhau hình thành một công ty khổng lồ hoạt động trong nhiều
lĩnh vự hay các công ty khác nhau cùng hoạt động trong một lĩnh vực có thể
sáp nhập lại nhằm tăng khả năng cạnh tranh toàn cầu của tập đoàn.
Thứ ba, các công ty vì mục đích quốc tế hoá sản phẩm muốn lấp chỗ
trống trong hệ thống phân phối của họ trên thị trường thế giới. Thông qua con
đường M&A các công ty có thể giảm chi phí từng lĩnh vực nghiên cứu và
phát triển sản xuất, phân phối và lưu thông.
Thứ tư, M&A tạo điều kiện thuận lợi cho việc tái cấu trúc các ngành
công nghiệp và cơ cấu ngành công nghiệp ở các quốc gia, do đó, hình thức
này đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển công nghiệp ở mọi quốc gia.

Hoạt động M&A thường được phân chia ra làm ba loại:
Một là, M&A theo chiều ngang xảy ra khi hai công ty hoạt động trong
cùng một lĩnh vực sản xuất kinh doanh muốn hình thành một công ty lớn hơn
để tăng khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường của cùng một loại mặt hàng
mà trước đó hai công ty cùng sản xuất.
Hai là, M&A theo chiều dọc diễn ra khi hai công ty hoạt động ở hai
lĩnh vự khác nhau nhưng cùng chịu sự chi phối của một công ty mẹ, loại hình
M&A này thường xảy ra ở các công ty xuyên quốc gia
Ba là, M&A theo hướng đa dạng hóa hay kết hợp thường xảy ra khi
các công ty lớn tiến hành sáp nhập với nhau với mục tiêu tối thiểu hóa rủi ro
và tránh thiệt hại khi một công ty tự thâm nhập thị trường.

×