Tải bản đầy đủ (.pdf) (117 trang)

Thực trạng và một số giải pháp phát triển công nghệ thông tin ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.96 MB, 117 trang )



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ



ĐOÀN THỊ KIM MAI




THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở VIỆT NAM TRONG GIAI
ĐOẠN HIỆN NAY





LUẬN VĂN TH.S KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ



Ngưới hướng dẫn:.TS Tạ Đức Khánh




Hà Nội 2006



113
CÁC TỪ VIẾT TẮT
1. CNTT : Công nghệ thông tin.
2. CNPM : Công nghiệp phần mềm.
3. CNPC : Công nghiệp phần cứng.
4. CNTT & TT : công nghệ thông tin và truyền thông.
5. DNPM : Doanh nghiệp phần mềm.
6. R & D : Nghiên cứu và triển khai.
7. HCA : Hội Tin học Thành phố Hồ Chí Minh.
8. ICT : CNTT và truyền thông.
9. OECD : Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển.
10. ODA : Hỗ trợ phát triển chính thức.
11. GDP : Tổng sản phẩm quốc nội.
12. ASEAN : Hiệp hội các nước Đông Nam Á.
13. UNPAN : mạng lưới trực tuyến về hành chính công và tài chính của
Liên Hợp Quốc.
14. CPĐT : Chính phủ Điện tử.
15. MTĐT : Máy tính điện tử.
16. TMĐT : Thương mại Điện tử.
17. VNPT : Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam.
18. VDC : Công ty Điện toán và Truyền số liệu.
19. ISP : Nhà cung cấp dịch vụ internet.
20. ITU : Liên minh Viễn thông quốc tế.
21. SXKD : Sản xuất kinh doanh.
22. EDI : trao đổi dữ liệu điện tử.
23. XNK : Xuất nhập khẩu.












1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công nghệ thông tin ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phát triển
kinh tế, xã hội, văn hoá, chính trị và góp phần hình thành con người mới.
Hiến chương Okinawa (tháng 7 năm 2000) khẳng định: "Công nghệ thông tin
và truyền thông là một trong các động lực chính tạo nên bộ mặt thế kỷ 21. Nó
tác động sâu sắc đến cách thức chúng ta đang sống, học tập, và làm việc; đến
cách thức Nhà nước giao tiếp với dân chúng. Công nghệ thông tin đã và đang
nhanh chóng trở thành một bộ phận sống còn, quyết định sự phát triển của
nền kinh tế thế giới. Nó cũng tạo ra những thách thức kinh tế, xã hội trước các
cá nhân, doanh nghiệp, cộng đồng ở mọi nơi trên trái đất nhằm đạt hiệu quả
và tính sáng tạo cao hơn. Tất cả chúng ta cần nắm bắt cơ hội này "
Việt Nam cũng đã nhận thức được vai trò quan trọng của Công nghệ
thông tin coi : " Công nghệ thông tin là một trong các động lực quan trọng
nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm
biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của thế giới hiện đại" (Chỉ
thị số 58-CT/TW ngày 17-10-2000 của Bộ Chính trị)
Trong vòng vài năm gần đây, nhiều chính sách, biện pháp đã được ban
hành nhằm hướng tới mục tiêu : " Công nghiệp công nghệ thông tin trở thành
ngành kinh tế mũi nhọn, có tốc độ và chất lượng cao nhất so với các khu vực
khác, có tỷ lệ đóng góp cho tăng trưởng GDP của cả nước ngày càng tăng"(

Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17-10-2000 của Bộ Chính trị).
Tuy nhiên, công nghệ thông tin Việt Nam hiện nay vẫn đang trong tình
trạng chậm phát triển so với các nước trên thế giới và trong khu vực. Ứng
dụng công nghệ thông tin cũng chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và yêu cầu hội nhập khu vực và quốc
tế.
Nhằm thúc đẩy phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin ở Việt
Nam, đề tài này chủ yếu đưa ra cái nhìn tổng quan tình hình phát triển công
nghệ thông tin ở Việt Nam, trên cơ sở thực trạng hiện có, nghiên cứu đề xuất
một số giải pháp, chính sách đầu tư để phát triển và ứng dụng công nghệ
thông tin ở Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu.


2
Việt Nam hầu như chưa triển khai hoạt động nghiên cứu một cách tổng
thể về CNTT. Mặc dù chưa có báo cáo đánh giá chính thức về việc triển khai
một loạt chính sách và giải pháp lớn về CNTT nhưng có thể nhận thấy việc
triển khai các quyết định của Thủ tướng Chính phủ liên quan tới CNTT chưa
đúng tiến độ. Trong khi việc triển khai Đề án 112 về tin học hoá quản lý nhà
nước đã góp phần nhất định tới việc hình thành và phát triển chính phủ điện
tử (eGovernment) thì nhiều ý kiến cho rằng hiệu quả triển khai chưa cao. Việc
triển khai kế hoạch tổng thể ứng dụng và phát triển CNTT tới 2005 theo
Quyết định số 95/2002/QĐ-TTg hầu như không tiến triển. Tình hình triển
khai các hoạt động về phần mềm nguồn mở của Dự án tổng thể “ ứng dụng và
phát triển phần mềm nguồn mở ở Việt Nam giai đoạn 2004- 2008 theo Quyết
định số 235/2004/QĐ-TTg cũng khá chậm chạp.
Các Quyết định số 81/2001/QĐ-TTg và số 95/2002/QĐ-TTg của Thủ
tướng Chính phủ đã chỉ rõ cấn phải đẩy mạnh hoạt động thống kê về CNTT
và truyền thông, nhưng cho tới cuối năm 2005 Việt Nam vẫn chưa có tiến bộ

đáng kể nào trong việc triển khai hoạt động này (Theo báo cáo của Bộ
Thương Mại năm 2005)
Ngoài ra, trong thời gian qua cũng có nhiều bài báo, bài viết đăng trên
tạp chí như tạp chí Bưu chính Viễn thông, tạp chí thông tin Khoa học kỹ thuật
và Kinh tế Bưu Điện cũng như các buổi hội thảo khoa học bàn về vấn đề này.
Vì vậy, sau những đánh giá về hiện trạng CNTT Việt Nam, cũng như
sau khi đã khai thác, kế thừa có chọn lọc những đóng góp của các nghiên cứu
lý luận trước đó, luận văn sẽ cố gắng đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm
phát triển và ứng dụng CNTT ở Việt Nam.
3. Đối tƣợng, phạm vi và mục đích nghiên cứu.
Dưới góc độ kinh tế, đề tài của em nghiên cứu CNTT Việt Nam như là
một ngành quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội Việt Nam đặc biệt là
trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Ở nước ta, CNTT còn là một ngành rất mới mẻ, phạm vi tác động lớn,
tốc độ thay đổi công nghệ rất nhanh, nên luận văn không đề cập đến vấn đề
kỹ thuật mà chỉ xem xét tác động của nó dưới góc độ kinh tế, xã hội, để qua
đó cố gắng đưa ra một cái nhìn tổng quan và đầy đủ hơn về CNTT Việt Nam.
Luận văn tập trung nghiên cứu tiến trình phát triển và ứng dụng CNTT
trong vòng 10 năm qua nhằm đưa ra một số giải pháp thích hợp để thực hiện


3
các mục tiêu phát triển của Ngành nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói
chung.
Mục tiêu chính của đề tài là đánh giá thực trạng công nghệ thông tin
trên cơ sở các số liệu thống kê, phân tích số liệu nhằm đánh giá sự phát triển
của công nghệ thông tin trên từng lĩnh vực. Qua việc đánh giá và phân tích
này, chúng ta có cái nhìn tổng quan về công nghệ thông tin, khả năng năm
bắt, vận dụng công nghệ hiện tại, các cơ hội, thách thức đặt ra đối với các
doanh nghiệp.

4. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Để đánh giá thực trạng tình hình phát triển công nghệ thông tin một
cách toàn diện thì cần phải có những số liệu thông kê về CNTT đầy đủ. Với
đặc thù là một ngành công nghệ mới, mới được phát triển trong một số năm
trở lại đây, mặt khác lại có sự thay đổi công nghệ liên tục, vòng đời công
nghệ ngắn, có khi chỉ vài tháng ; hơn nữa Việt Nam hầu như chưa triển khai
hoạt động thống kê về CNTT. Vì vậy, việc đánh giá sự phát triển của công
nghệ thông tin tương đối là khó khăn. Đề tài chủ yếu sẽ căn cứ vào một số
báo cáo, thống kê, đánh giá toàn cảnh CNTT của Hội Tin học Thành phố Hồ
Chí Minh, và các tạp chí, báo cáo đánh giá của Bộ Thương Mại và của các tổ
chức nước ngoài như Ngân hàng thế giới (World Bank Group), của Liên
minh Viên thông quốc tế (ITU),
Từ các số liệu thu thập được, các phương pháp phân tích, tổng hợp và
đặc biệt là phương pháp so sánh sẽ được sử dụng để đưa ra các kết luận, đánh
giá của đề tài.
5. Dự kiến những đóng góp mới của luận văn.
Luận văn tập trung vào các khía cạnh sau:
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển CNTT ở Việt Nam.
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển và ứng dụng CNTT Việt Nam và
chỉ ra những cơ hội, thách thức của nó đồng thời đưa ra các vấn đề cần giải
quyết nhằm thúc đẩy sự phát triển CNTT.
- Đưa ra một số giải pháp cơ bản để thực hiện.
6.Bố cục của luận văn :
Phần mở đầu.
Chương 1. Công nghệ thông tin và vai trò của nó trong sự phát triển kinh tế,
xã hội.


4
Chương 2. Thực trạng phát triển CNTT ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Chương 3. Cơ hội ,thách thức và một số giải pháp phát triển CNTT tại Việt
nam.
Kết luận.

CHƢƠNG 1.
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ
TRONG SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI .
1.1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của Công nghệ thông tin
1.1.1.1 Một số khái niệm về CNTT.
Công nghệ thông tin (CNTT) là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa
học và công nghệ liên quan đến thông tin và các quá trình xử lý thông tin
gồm tri thức, sự kiện, số liệu âm thanh, hình ảnh. Vì vậy, CNTT là hệ thống
các phương pháp khoa học, công nghệ, phương tiện, công cụ, bao gồm chủ
yếu là các máy tính, mạng truyền thông và hệ thống các kho dữ liệu nhằm tổ
chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn thông
tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa,… của con người.
Tuy khái niệm thông tin rất phổ biến trong đời sống con người nhưng
những nội dung khoa học chung nhất về thông tin và quá trình thông tin mới
chỉ được bắt đầu được nghiên cứu từ giữa thế kỷ 20, khi nhu cầu truyền tin
của con người tăng rất nhanh. Một trong những thành tựu đặc sắc của lý
thuyết truyền tin là việc đưa ra khái niệm lượng thông tin. Lý thuyết về lượng
thông tin ra đời đã tạo nền móng cho con người phát hiện ra thêm nhiều quy
luật của thông tin và quá trình truyền tin . Thông tin có nhiều loại khác nhau
có thông tin là các số liệu, dữ liệu thu thập, điều tra, khảo sát . Từ đó qua phân
tích, tổng hợp sẽ thu được những thông tin có giá trị cao hơn.
CNTT và truyền thông (ICT) bao gồm 4 trụ cột cấu thành: ứng dụng
ICT, nguồn nhân lực ICT, công nghiệp ICT và cơ sở hạ tầng ICT.
Lĩnh vực ứng dụng ICT gồm: kinh tế, xã hội, quản lý và những kết quả
ứng dụng như : chính phủ điện tử , giáo dục điện tử, truyền thông và giải trí

điện tử …


5
Công nghiệp ICT gồm Công nghiệp phần mềm (CNPM), Công nghiệp
phần cứng( CNPC), Công nghiệp điện tử cùng các nhân tố hỗ trợ như trí thức,
thông tin, dữ liệu….
CNPC bao gồm: máy tính, công nghiệp điện tử, công nghiệp sản xuất
thiết bị viễn thông.
CNPM là một ngành kinh tế nhằm nghiên cứu, xây dựng phát triển ,
sản xuất và phân phối các sản phẩm phần mềm, cung cấp các dịch vụ đào tạo,
huấn luyện, tư vấn các giải pháp, hỗ trợ kỹ thuật, bảo trì cho người tiêu
dùng…
Nguồn nhân lực ICT gồm : người lãnh đạo, người sử dụng, Doanh nghiệp và
chuyên gia.
Cơ sở hạ tầng ICT gồm: điện thoại di động, cố định, internet, băng thông,
cước. Bốn thành phần này có mối quan hệ tương hỗ chặt chẽ tạo nên sức
mạnh ICT, được thúc đẩy và phát triển bởi 3 chủ thể là người sử dụng, Doanh
nghiệp và Chính phủ.
Máy tính điện tử và việc xử lý thông tin bằng máy tín điện tử là thành phần
cốt lõi của CNTT.
Máy tính điện tử (MTĐT) .
Để chế tạo ra MTĐT người ta phải tìm được cách biểu diễn thông tin
bằng các tín hiệu kỹ thuật và cách thực hiện các hoạt động lưu trữ, xử lý
thông tin bằng các biện pháp xử lý kỹ thuật trên các tín hiệu tương ứng.
MTĐT đã trở thành thiết bị xử lý thông tin thống nhất và đa năng. Trên
nguyên tắc mọi quá trình xử lý thông tin đều có thể quy về một trình tự thực
hiện liên tiếp của các phép toán sơ cấp đơn giản, cấu trúc một MTĐT gồm: bộ
lôgic số học thực hiện các phép toán sơ cấp theo trình tự quy định, bộ nhớ để
ghi các chương trình tính toán và dữ liệu, các thiết bị đưa dữ liệu vào và đưa

kết quả ra. Kết cấu này được gọi là phần cứng của máy tính, nó là bộ khung
vật chất cơ bản cho quá trình xử lý thông tin. Phần lôgic của quá trình xử lý
thông tin được người dùng đưa vào để điều khiển thông qua các lệnh. Tập hợp
các lệnh đó tạo nên một chương trình xử lý thông tin và đó gọi là phần mềm
của máy tính. Tuỳ theo mục đích của người sử dụng mà chọn phần mềm
tương ứng, đây là phần linh hoạt nhất của máy tính và mang nhiều dấu ấn đặc
trưng của con người . Cuối những năm 80, đầu những năm 90 là thời kỳ bùng
nổ của Cách mạng Viễn thông truyền dữ liệu trên cơ sở kỹ thuật cáp quang,


6
vệ tinh và vi ba số tạo khả năng thiết lập hệ thống siêu xa lộ thông tin, góp
phần xây dựng kết cấu hạ tầng thông tin làm nền móng cho một xã hội thông
tin.
Internet.
Internet là một danh từ riêng dùng để chỉ hệ thống các mạng máy tính
toàn cầu, mạng của các mạng, giúp cho người sử dụng ở bất kỳ máy tính nào
cũng có thể truy cập tới thông tin tại các máy tính khác và có thể đối thoại
trực tiếp với người sử dụng trên đó.
Có thể nói, internet đã và đang làm thay đổi rất nhiều trong hoạt động
thường nhật của người dân cũng như các công tác của các tổ chức lớn, nhỏ.
Internet giờ đây là một phương tiện phổ biến giúp hàng trăm triệu người trên
toàn thế giới có thể kết nối với nhau. Về cơ sở vật chất, internet sử dụng một
phần hệ thống mạng thông tin viễn thông công cộng. Về mặt công nghệ,
internet sử dụng giao thức có tên là TCP/IP là giao thức điều khiển truyền
thông. Để thích ứng, các mạng nội bộ và mạng bên ngoài cũng sử dụng giao
thức này.
Lúc mới bắt đầu có 4 dịch vụ internet gồm : thư điện tử, truy cập cơ sở
dữ liệu, truyền tệp dữ liệu, truy nhập từ xa. Đến nay internet Việt Nam trở nên
đa dạng hình thức và số lượng. ADSL,VoIP,Wifi, Internet công cộng và các

dịch vụ gia tăng trên mạng khác như : video, forum, chat, game online…
Internet có tính hấp dẫn ở mức độ nhất định khiến đầu tư vào lĩnh vực này
được nhiều thành phần kinh tế trong và ngoài nước đã tham gia ở những hình
thức, phương pháp khác nhau như : khai thác dịch vụ đầu cuối, dịch vụ ứng
dụng trên mạng, dịch vụ truy nhập internet tốc độ cao.
Đối với người sử dụng internet, thư điện tử (email) đã thực sự thay đổi
dịch vụ thư tín truyền thống. Đó là ứng dụng rất phổ biến trên mạng hiện nay.
Người dùng có thể đối thoại với người sử dụng khác trên mạng và đối thoại
có âm thanh và hình ảnh thông qua những thiết bị ngoại vi tân tiến.
Dịch vụ được sử dụng phổ biến và rộng rãi nhất trên internet là World
Wide Web viết tắt là WWW, đây là kỹ thuật truyền tin siêu văn bản và là một
phương thức tham khảo chéo được sử dụng rộng rãi để truyền tin trên mạng.
Khi vào trang Web ta có thể tìm kiếm được thông tin khác nhau và khối lượng
thông tin rất lớn, bao gồm tất cả các thể loại tin từ tin tức kinh tế, xã hội, đến
các lĩnh vực y tế, âm nhạc, thể thao, phim truyện,….


7
Thương mại điện tử (TMĐT)
Thuật ngữ TMĐT đã được khá nhiều học giả và các tổ chức nghiên cứu
xây dựng. Hiểu theo nghĩa rộng là việc tiến hành kinh doanh thông qua
internet, bán hàng hoá và dịch vụ với phương thức giao nhận sử dụng nhân
công cũng sử dụng phương thức trực tuyến bằng các công nghệ số hóa như
phần mềm máy tính. Một định nghĩa mô tả Thương mại điện tử là “ Sử dụng
các phương pháp và thủ tục điện tử để tiến hành toàn bộ các hoạt động kinh
doanh bao gồm cả các hoạt động quản lý điều hành”. Uỷ ban Liên Hiệp quốc
về Luật Thương mại Quốc tế định nghĩa TMĐT là “ Các hoạt động thương
mại sử dụng một thông điệp số liệu để tiến hành, giao chuyển, nhận hoặc lưu
chứa bằng các công cụ điện tử, quang hoặc các công cụ tương tự bao gồm
song không giới hạn như trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), thư điện tử, điện tín,

telex hoặc telecopy”.
TMĐT có thể được phân thành ba loại quan hệ: Quan hệ giữa thành
phần kinh doanh với thành phần kinh doanh (B2B), quan hệ giữa thành phần
kinh doanh với người tiêu dùng (B2C) và quan hệ giữa người tiêu dùng với
người tiêu dùng(C2C). Internet cũng chứa đựng những băng tần rộng hơn của
các hoạt động thương mại tiềm năng và các hoạt động trao đổi thông tin. Nó
tạo ra cho các công ty, các cá nhân và các chính phủ một cơ sở hạ tầng điện
tử, cho phép thiết lập các thị trường bán đấu giá ảo về hàng hoá và dịch vụ.
Các chính phủ ở một số quốc gia phát triển và đang phát triển đã tiến
hành tái tổ chức lại việc quản lý điều hành các hệ thống mua bán công cộng,
tương đương với mức 10% tổng GDP trên internet, mở ra một triển vọng mới
các quan hệ giao dịch có quy mô lớn trong quan hệ giữa thành phần kinh
doanh với Chính phủ(B2C). Công nghệ cũng đang được các chính phủ sử
dụng để chuyển tải hoặc nhận các thông tin (G2B,G2C) nhằm nâng cao tính
chất thuận tiện và giảm bớt chi phí của các hệ thống thanh toán và nộp
thuế(C2G). Các nhà kinh doanh sử dụng công nghệ để quản trị các dịch vụ
sau bán hàng và phát triển các thị trường tiêu dùng trực tiếp.
Cơ sở hạ tầng mạng lưới như viễn thông, vô tuyến, truyền hình cáp ,
internet và các mạng dùng riêng intranet được sử dụng để thực hiện các giao
dịch thương mại điện tử. Mối quan tâm tập trung hiện thời là thương mại điện
tử trên nền internet. Một hoạt động thương mại điện tử, thường liên quan đến
các bước liệt kê dưới đây tạo ra một dải đa dạng lớn về các dịch vụ cung cấp :


8
- Khách hàng ngồi trước màn hình máy tính cá nhân hoặc các phương
tiện truy cập khác.
- Tiến hành truy cập vào trang web với các thông tin quang bá (dịch
vụ quảng cáo).
- Truy cập vào internet (dịch vụ thông tin).

- Đặt hàng một sản phẩm (dịch vụ phân phối) và thanh toán cho sản
phẩm đó(dịch vụ tài chính).
- Tải về các sản phẩm, nếu nó có thể sử dụng công nghệ số, hoặc sẽ
được gửi qua đường thư (dịch vụ giao nhận).
Thương mại điện tử mang lại lợi ích to lớn là thời gian giao dịch nhanh
với chi phí thấp . Thương mại điện tử cho phép các nhà kinh doanh gia
tăng mức độ nhận biết toàn cầu về các sản phẩm và dịch vụ của mình,
đồng thời mở rộng hơn sự tham gia của họ vào thương mại quốc tế.
Nền kinh tế có thể sử dụng tốt hơn các nguồn vốn và lao động hiện thời
và cũng có thể hấp dẫn hơn được những khoản đầu tư tư bản mới. Các
cơ hội kinh doanh và việc làm sẽ được khai thác.
Tóm lại CNTT là thuật ngữ rất rộng dùng để chỉ các ngành khoa
học và công nghệ liên quan đến thông tin và các quá trình xử lý thông
tin gồm tri thức, sự kiện, số liệu âm thanh, hình ảnh. CNTT là công cụ
quan trọng hàng đầu để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của
đất nước, hình thành xã hội thông tin, rút ngắn quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.
1.1.1.2 Một số đặc điểm chính của CNTT.
 CNTT được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực.
CNTT là ngành kinh tế mũi nhọn được Nhà nước ưu tiên, quan tâm
hỗ trợ và khuyến khích phát triển. Phát triển công nghiệp công nghệ
thông tin và truyền thông góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế,
thúc đẩy các ngành, linh vực cùng phát triển, tăng cường năng lực công
nghệ quốc gia trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước. Phát triển công nghiệp nội dung thông tin và công nghiệp
phần mềm, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình hình thành và phát triển xã hội
thông tin là hướng ưu tiên quan trọng được Nhà nước đặc biệt quan
tâm.



9
CNTT và truyền thông là công cụ quan trọng hàng đầu để thực hiện
mục tiêu thiên niên kỷ, hình thành xã hội thông tin, rút ngắn quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Ứng dụng rộng rãi công nghệ
thông tin và truyền thông là yếu tố có ý nghĩa chiến lược, góp phần
tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và tăng năng suất, hiệu suất lao
động.
Ngày nay, CNTT càng được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh
vực, trong nhiều ngành , cụ thể như : từ ngành Nông nghiệp và Lâm
nghiệp, Thuỷ sản, công nghiệp khai thác mỏ, công nghiệp chế biến, sản
xuất và phân phối điện, khí đốt và nước, xây dựng, tài chính, tín dụng,
giáo dục và đào tạo, hoạt động văn hoá, thể thao, Trong năm 2005,
Văn phòng Ban chỉ đạo Quốc gia về CNTT đã phối hợp với Hiệp hội
phần mềm Việt Nam (VINASA) và Công ty Cổ phần Phát triển Đầu tư
công nghệ FPT tiến hành điều tra, khảo sát về ứng dụng CNTT trong
các doanh nghiệp . Theo kết quả công bố thì nhìn chung các doanh
nghiệp Việt Nam đã nhận thức được tầm quan trọng của CNTT trong
việc hỗ trợ các hoạt động quản lý, sản xuất và kinh doanh. Đối với các
ngành kinh tế khác nhau thì mức độ sử dụng CNTT cũng khác nhau.
Có thể thấy CNTT được ứng dụng mạnh mẽ nhất là trong các hoạt
động sản xuất kinh doanh, nhất là các doanh nghiệp hoạt động trong
lĩnh vực công nghiệp như Tổng công ty dệt may, công ty Cao su Đà
Nẵng. công ty dệt may Phong Phú. Với những doanh nghiệp này các hệ
thống máy tính hỗ trợ thiết kế, hỗ trợ sản xuất , các dây chuyền sản
xuất trên cơ sở công nghệ mạng đã trở thành nhân tố sống còn đối với
hoạt động sản xuất. Trong các doanh nghiệp phục vụ như Ngân hàng
Ngoại thương, Tổng Cục Hải quan hay Tổng Công ty đường sắt ,
CNTT cũng được chú trọng đầu tư và phát huy hiệu quả với các hệ
thống ngân hàng trực tuyến, hệ thống khai hải quan điện tử, hệ thống
bán vé điện toán.

Ứng dụng CNTT không những nâng cao hiệu quả của bản thân
doanh nghiệp mà còn thúc đẩy các doanh nghiệp liên quan phải có sự
đầu tư thích đáng hơn vào CNTT để có thể cùng nhau tham gia trao đổi
dữ liệu điện tử . Từ đó nâng cao mặt bằng chung về ứng dụng CNTT
trong toàn bộ nền kinh tế.


10
Ứng dụng CNTT trong các doanh nghiệp là một hoạt động rất
cần thiết, CNTT đã trở thành phương tiện sản xuất quan trọng, không
có nó thì doanh nghiệp hoạt động sẽ kém hiệu quả, thậm chí có thể dẫn
đến phá sản. Đi đầu ứng dụng CNTT là 76 Tổng công ty 90 và 18 Tổng
công ty 91. Mức độ và hiệu quả ứng dụng CNTT ở các Tổng Công ty
hoặc các đơn vị thành viên là rất khác nhau.
Một cuộc khảo sát cho thấy trong số 444 doanh nghiệp đầu tư
khoa học, hình thức ứng dụng CNTT phổ biến nhất là kết nối internet
và mạng LAN, sử dụng trang web và thư điện tử còn rất thấp. Đối với
các ngành, về mặt ứng dụng CNTT cũng không đều nhau, ngành sản
xuất radio- TV- phương tiện truyền thông , sản xuất phương tiện vận tải
khác, sản xuất sản phẩm máy móc thiết bị điện, sản xuất sản phẩm từ
quặng phi kim loại, sản xuất thực phẩm, đồ uống và ngành sản xuất hoá
chất, ứng dụng CNTT còn phụ thuộc vào ý chỉ chủ quan của chủ
doanh nghiệp, vào nguồn kinh phí của doanh nghiệp.
Việc triển khai ứng dụng CNTT phục vụ hiện đại hoá các ngành đã
được đẩy mạnh ở hầu hết các lĩnh vực quản lý và ngày càng được nâng
lên tầm cao mới. Tổ chức triển khai ứng dụng CNTT phục vụ công tác
hiện đại hoá trên phạm vi ngày càng rộng, đa ngành , đa lĩnh vực trong
phạm vi toàn quốc.
Tuy nhiên mức độ triển khai ứng dụng chưa cao. Các ứng dụng
này mới chỉ dừng ở mức hỗ trợ tác nghiệp thay thế một phần lao động

thủ công, chưa giúp tái cơ cấu lại quy trình nghiệp vụ. Dù đã có ứng
dụng hỗ trợ nhưng hầu hết phần lớn mới chỉ dừng lại ở mức hỗ trợ tính
toán, xử lý trực tiếp , các lĩnh vực khác như kiểm tra, đối chiếu, phân
tích, thống kê ứng dụng còn thấp. Do việc triển khai các hệ thống
CNTT phụ thuộc nhiều vào cải tiến các quy trình ghiệp vụ, trong khi đó
các quy trình nghiệp vụ chưa được chuẩn hoá và thiếu sự liên kết giữa
các linh vực khác nhau, do đó việc ứng dụng CNTT phải phân nhỏ theo
lĩnh vực nên mức độ đáp ứng yêu cầu quản lý của ứng dụng chưa cao.
Với đà phát triển rộng rãi CNTT trong những năm tới, cộng với
chi phí lắp dặt, nối mạng ngày càng hạ, tỷ lệ ứng dụng CNTT sẽ được
nâng lên đáng kể. Để ứng dụng CNTT có hiệu quả, các doanh nghiệp
cần chú trọng đến phát triển nguồn nhân lực CNTT.


11
* CNTT là một công nghệ có nhiều tầng lớp.
Chữ “ tầng lớp” để nói một cách tổng quát nhất về các khâu, đoạn sản
xuất trong CNTT, cả phần cứng lẫn phần mềm và về sự liên hệ giữa
chúng với nhau, cũng như các chuẩn mực trong sự liên hệ ấy. Chữ “
tầng” (layers) thường được dùng trong phân tích hệ thống, và chữ “
tầng giao thức” ( protocol layers) có ý nghĩa hẹp và chính xác hơn.
Có thể phân chia những tầng lớp sau trong CNTT:
Tầng thứ nhất: các chương trình ứng dụng riêng cho từng cơ quan, xí
nghiệp đó có thể được thành lập từ một ngôn ngữ lập trình ít hay nhiều
cao cấp, dựa trên những hệ quản trị cơ sở dữ liệu. Tầng lớp trên cùng
này thường được viết tại chỗ hoặc thiết kế tại chỗ và đặt gia công bên
ngoài.
Tầng thứ hai: phần ở giữa các chương trình ứng dụng và hệ mềm cơ
bản. Phần này là chỗ phức tạp nhất và giàu có nhất. Có thể tạm chia
làm 4 lĩnh vực khác nhau:

+ Các chương trình ứng dụng tổng quát, chuyên cho quản lý, xử lý văn
bản, tính toán công nghiệp hay tính toán khoa học( ngôn ngữ lập trình
cao cấp như Mathematica, hệ quản trị cơ sở dữ liệu, ) Người dùng
cuối cùng có thể viết những ứng dụng dễ dàng hay cũng có thể sử dụng
thẳng mà không cần viết chương trình gì thêm.
+ Các chương trình gọi là “ middleware”, cho phép các chương trình
ứng dụng phân tán (có thể tổng quát hay không) sử dụng tới mạng
thông tin ở mức dễ dàng và trừu tượng thông qua hệ điều hành mạng.
+ Các chương trình gắn liền với một sản phẩm đặc biệt nào đó (
embedded systems) với những giao diện sử dụng đặc biệt thẳng với
người dùng như ở trong máy hát, máy bay, trò chơi Thật ra loại
chương trình này có thể thấy ở khắp các lĩnh vực, chỗ nào có bộ vi xử
lý mà không phải là một máy tính đều có nó. Nhưng đặc điểm của
chúng là tự giấu kín. Các chương trình này thường do những hãng làm
sản phẩm tự viết ra hoặc đặt gia công tại các công ty chuyên phát triển
hệ mềm.
+ Chương trình được làm ra để phục vụ bản thân việc nghiên cứu và
phát triển ngành CNTT và ứng dụng trong quản lý, tính toán và điều
khiển. Ngoài các ngôn ngữ lập trình ra, phải kể đến các chương trình


12
phụ giúp việc phát triển và quản lý phát triển phần mềm cũng như các
chương trình để làm mạch tổng hợp ASIC ( Application Specific
Integrated Circuit) hay để sử dụng các FPGA(Field Programmable Gate
Array), là các mạch tổng hợp có chức năng nhất định, còn lại là bộ nhớ
và các linh kiện có thể được biến đổi để làm các mạch điện tử khác
nhau, trong đó đặc biệt có FPGA là các linh kiện có thể được thay đổi
chức năng trước khi hoạt động, khi linh kiện đã nằm trong bìa điện tử.
Một FPGA hiện nay có thể tương đương 1 triệu transistors. Những

chương trình loại sau này thường rất đắt, hàng chục hoặc hàng trăm
ngàn đô lavà thường chạy trên các trạm làm việc mạnh.
Tầng thứ ba : gồm những “ khả dụng (facilities) về phần mềm khiến
cho các chương trình ứng dụng tổng quát hay đặc biệt hoạt động được.
Tầng này chủ yếu là hệ điều hành và hệ điều hạnh mạng. Sự phân cấp
của hai loại khả dụng này tương đối phức tạp vì chúng chồng chéo lên
nhau và tuỳ thuộc các nhà sản xuất cũng như tuỳ thuộc các loại mạng.
Có thể gộp vào trong tầng này tất cả các chương trình rất lớn nằm trong
các “ trạm chuyển tiếp”(router) và các trạm đảo mạch( switch) thuộc
nhiều loại khác nhau vì chúng có dung lượng khác nhau.
Tầng thứ tư : bao gồm tất cả các hệ máy và mạng đang hoạt động trên
thế giới. Việc sản xuất các máy này bắt đầu từ : làm ra các bìa in trong
đó có gắn các linh kiện điện tử , lắp ráp với phần điện, các thiết bị
ngoại vi, cơ khí, và trở thành một máy tính hoàn hảo, hay một bộ phận
của một thiết bị công nghiệp hay một sản phẩm tiều dùng. Khâu đoạn
này chủ yếu là dùng nhân công rẻ nên đó là thế mạnh của Châu Á đặc
biệt là Hồng Kông, Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore. Đài Loan sản
xuất được các „bìa mẹ” (mother board) cho PC và các máy PC hoàn
chỉnh, hiện 80% bìa mẹ dùng cho PC trên thế giới được sản xuất tại Đài
Loan, Singaporelại chuyên về các thiết bị ngoại vi.
Tầng lớp thứ năm, cũng là tầng lớp cuối cùng sản xuất các linh kiện
điện tử. Hiện nay chỉ có Mỹ, Nhật và châu Âu là có công nghệ hoàn
chỉnh làm các mạch tổng hợp. Sau giai đoạn sản xuất wafers và in
mạch tổng hợp trên wafers cần các nhà máy siêu sạch và siêu chính xác
rất tối tân, công việc còn lại là đặt và hàn những mạch in trần đó vào
hộp thành linh kiện, cần nhiều nhân công rẻ, thường được các công ty


13
quốc tế làm tại các chi nhánh ở châu á như Malaysia, Singapore,

nhưng những linh kiện sản xuất đại trà mà bộ nhớ là chủ yếu đã được
sản xuất tại hàn Quốc, Đài Loan và Singapore, kể cả giai đoạn làm
wafers trong các nhà máy mua của Mỹ hay Nhật.
Nền công nghệ có nhiều tầng lớp như trên, trải khắp hoàn cầu
vẫn tiến bộ nhịp nhàng. Vì không phải mỗi lúc có thể thay đổi tất cả các
công đoạn để thành một bước nhảy vọt mới trong CNPC và CNPM. Đó
là khía cạnh chuẩn trong giao diện của những tầng lớp nói trên. Sức
tiến luỹ thừa của công nghệ vẫn cho phép tăng khá cao chức năng, hiệu
suất các hệ mềm nhìn từ phía người sử dụng.
*CNTT là một công nghệ chuyển biến rất nhanh.
Sự thay đổi hàng ngày của các máy tính PC và ngoại vi ngày càng
hiện đại và tinh vi hơn. Những chuyển biến này chạy theo kịp đà phát
triển của công nghiệp điện tử cơ bản theo quy luật Moore, với giá cố
định thì khả năng linh kiện mỗi 18 tháng lại tăng gấp đôi, và quy luật
thực nghiệm này còn có điều kiện kéo dài trên 10 năm nữa trước khi
gặp phải hàng rào của những quy luật vật lý cơ bản.
Trong những năm gần đây, công nghệ mạng và các dịch vụ viễn
thông phát triển hết sức nhanh chóng, trong đó lưu lượng các dịch vụ
dữ liệu đã vượt qua lưu lượng thoại. Hiện nay lưu lượng dữ liệu có tốc
độ tăng trưởng rất cao, hàng năm thường vượt 100% trong khi đó lưu
lượng thoại chỉ tăng khoảng 10%. Xu thế này sẽ tiếp tục được duy trì
trong thời gian sắp tới. Sự phát triển nhanh của các dịch vụ dữ liệu đòi
hỏi có một sự chuyển biến trong việc xây dựng, quản lý và khai thác
mạng. Sự ra đời của mạng thế hệ sau NGN( Next Generation Network)
thoả mãn được yêu cầu tăng trưởng nhanh của lưu lượng dữ liệu và cả
lưu lượng thoại trong thời gian tới. NGN cũng sẽ là cơ sở hạ tầng đáp
ứng xu thế hội tụ viễn thông, tin học đang diễn ra trên các phương diện
khác nhau về loại hình dịch vụ, ứng dụng, phương thức truy nhập mạng
hay chủng loại thiết bị đầu cuối
NGN là mạng đa dịch vụ, tổng hợp các ưu điểm của cả hai mạng

PSTN và Internet và là mạng hội tụ của các dịch vụ IP và dịch vụ điện
thoại. Mạng NGN mang lại cho nhà cung cấp và khai thác dịch vụ rất
nhiều thuận lợi như xây dựng, thiết lập mạng dễ dàng hơn do các thành


14
phần mạng có giá thành thấp hơn so với các thiết bị chuyển mạch kênh.
Công nghệ chuyển mạch gói phát triển rất nhanh, năng lực xử lý tăng
gấp đôi sau 18 tháng , vì vậy tỷ lệ giá thành/năng lực xử lý giảm rất
nhanh. Tạo điều kiện giảm chi phí quản lý khai thác, khả năng cung cấp
dịch vụ nhanh chóng và rẻ hơn do điều khiển dịch vụ tập trung, sử dụng
ngôn ngữ lập trình ứng dụng ( Application Programing Interface - API)
tập trung và sử dụng ngôn ngữ lập trình chung sẽ làm cho việc tạo ra
các dịch vụ nhanh hơn và rẻ hơn.
Sự đổi mới diễn ra ngày càng mạnh mẽ trong các hệ thống thông tin
di động. Thế hệ thứ nhất(1G) trong những năm 1970 và hệ thống tế bào
2G trong những năm 1980 được sử dụng với mục đích chính là cho các
ứng dụng thoại và hỗ trợ các dịch vụ chuyển mạch kênh. Những hệ
thống này là các hệ thống chính hiện nay. Tốc độ số liệu cho người sử
dụng trong các kết nối vô tuyến của các hệ thống này bị hạn chế dưới
một vài chục kbit/s. IMT-2000 được đưa ra tại thời điểm bắt đầu thế kỷ
21, là hệ thống 3G, có thể cung cấp tốc độ 2 Mbit/s và 144kbit/s. Dung
lượng hệ thống tế bào 3G sẽ không đủ xử lý lưu lượng đa phương tiện
đang tăng trưởng một cách bùng nổ vào những năm 2010. Dung lượng
theo đơn vị vùng cho các hệ thống tế bào 4G sẽ gấp ít nhất 10 lần hệ
thống 3G. Giá thành tính theo bit sẽ giảm mạnh do vậy mọi người có
thể sử dụng nó mà không phải lo lắng về cước thông tin.
Trong thế kỷ 21 này xã hội và nền kinh tế sẽ dựa phần lớn vào thông
tin máy tính ở dạng số. Các thế hệ tương lai bao gồm 4G và 5G được
sử dụng, bao gồm nhiều hệ thống, không chỉ là hệ thống thoại tế bào

mà còn là một số các hệ thống thông tin mới như hệ thống truy nhập vô
tuyến băng rộng , mạng LAN sóng mm, . Khi hệ thống 4G được sử
dụng trong một khả năng hẹp như hệ thống tế bào, chúng sẽ được miêu
tả là tế bào 4G. Nếu hệ thống này được tích hợp với các hệ thống khác,
sẽ có thể đạt được cả tốc độ số liệu cao và tính di động cao.
Các hệ thống thông tin di động thế hệ tương lai và các công nghệ
then chốt sẽ cung cấp một dải rộng các dịch vụ chất lượng cao từ hình
ảnh rõ nét thông qua các kênh vô tuyến tốc độ cao.
Hệ thống truyền dẫn thông minh (ITS) là hệ thống truyền dẫn
mới bao gồm một mạng thông tin tiến tiến và mạng viễn thông cho


15
người sử dụng, đường xá và xe cộ. ITS được dự đoán sẽ tập trung giải
quyết nhiều vấn đề như tai nạn giao thông và tắc nghẽn. Ngoài ra nó
còn cung cấp các dịch vụ đa phương tiện cho tài xế và hành khách .
Trong các ITS, vô tuyến quang là một trong những công nghệ then chốt
quan trọng nhất.
Có thể thấy CNTT là công nghệ biến chuyển rất nhanh, phát triển
mạnh mẽ các dịch vụ công nghệ với chất lượng tốt hơn, chi phí thấp
hơn giá thành rẻ hơn và khả năng phục vụ cao hơn mang lại lợi ích cho
người tiêu dùng và cho cả xã hội loài người.
* Sở hữu trí tuệ đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của
CNTT.
Hầu hết các sản phẩm của CNTT đều cần phải sử dụng đến tri
thức. Hàm lượng tri thức cao do vậy vấn đề bảo vệ tri thức đóng vai trò
rất quan trọng trong chính sách phát triển của CNTT của các quốc gia.
Sản phẩm phần mềm và các dịch vụ giá trị gia tăng cao , việc sao chép
hết sức đơn giản và nhanh chóng . Việc chuyển giao cũng hết sức đơn
giản có thể chỉ là vài công thức hoặc ăn cắp mật khẩu là có thể sao

chép được.
Tình trạng vi phạm bản quyền phần mềm ở Việt nam luôn ở mức
cao và chưa thực sự có tiến bộ trong những năm gần đây. Nguyên nhân
chính của việc vi phạm bản quyền là do giá thành chi cho một công
trình nghiên cứu phần mềm quá lớn trong các sản phẩm được sao chép
bán ở thị trường lại rẻ mạt. Ví dụ hãng Microsoft trung bình mỗi năm
phải chi 3 tỷ USD để đầu tư nghiên cứu phát triển phần mềm, vậy mà
khi thành phẩm của họ bị sao chép, in lậu và bán ra thị trường, giá chỉ
khoảng 10.000đồng/đĩa tại thị trường Việt Nam. Ngoài lý do trên, sự
thiếu hiểu biết về pháp luật, sự kém rành mạch, cụ thể trong hệ thống
hành lang pháp lý cộng với việc kém gương mẫu của ngay chính các cơ
quan nhà nước cũng dẫn đến tình trạng vi phạm quyền bảo hộ phần
mềm nói trên. Nếu tình trạng cứ tái diễn như hiện nay thì ngành công
nghiệp phần mềm của Việt Nam rất khó phát triển. Các nhà đầu tư
nước ngoài cũng giảm bớt nhiệt tình đầu tư vào lĩnh vực này ở Việt
Nam. Chính vì vậy, việc bảo hộ sở hữu trí tuệ là điều kiện then chốt để
phát triển CNTT.


16
Chính phủ Việt Nam cùng với việc sửa đổi bổ sung Bộ luật Dân
sự, Luật Sở hữu trí tuệ vừa được Quốc hội thông qua tháng 12/2005 sẽ
tạo ra cơ sở tăng cường cơ chế quản lý đối với lĩnh vực sở hữu trí tuệ,
giúp giảm tỷ lệ vi phạm các quyền về sở hữu trí tuệ như hiện nay.
1.1.2 Vai trò chính của CNTT .
Trong nhiều năm qua, nhờ có chính sách đổi mới, ngành CNTT
Việt Nam đã gặt hái được nhiều thành quả từ hợp tác khu vực và quốc
tế trong việc nghiên cứu phát triển CNTT. Các công nghệ và ứng dụng
tiên tiến đã được triển khai áp dụng và giới thiệu ở nước ta. CNTT có
khả năng đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thông tin đang tăng nhanh.

Kết quả là ngành CNTT đã có những đóng góp quan trọng vào sự phát
triển kinh tế và xã hội ở Việt Nam .
Sự phát triển của CNTT là một trong những biểu hiện rõ nhất của sự
phát triển trí tuệ con người, đồng thời nó cũng là phương tiện quan
trọng hàng đầu cho sự phát triển trí tuệ. Việc phát triển CNTT và ứng
dụng rộng rãi chúng vào trong đời sống kinh tế, xã hội dẫn tới việc thiết
lập mạng thông tin đa phương tiện phủ khắp nước và được kết nối toàn
cầu. Trong điều kiện đó, mỗi cá nhân, mỗi hộ gia đình, mỗi doanh
nghiệp và tổ chức ở mỗi quốc gia có nhu cầu thông tin đều có thể truy
cập để khai thác những thông tin cần thiết cho mình.Mọi lĩnh vực trong
đời sống kinh tế, xã hội đều khai thác tác dụng tích cực của mạng thông
tin nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả hoạt động của
mình.
1.1.2.1 Làm giảm chi phí sản xuất và tạo giá trị gia tăng cao.
CNTT là một ngành có hàm lượng tri thức kỹ thuật cao nên có vai trò
vô cùng quan trọng đối với việc nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí,
hạ giá thành sản phẩm mang lại hiệu quả cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
CNTT phát triển đã cung cấp những biện pháp nhanh nhạy cho việc khai
thác và sử dụng đẩy đủ tài nguyên thông tin. Năng lực xử lý và tốc độ tính
toán nhanh của máy làm cho chu kỳ nghiên cứu triển khai sản xuất ngày
càng ngắn lại. Nhịp độ sản xuất được đẩy nhanh, giảm hao phí về tài
nguyên, năng lượng, sản xuất đạt hiệu quả hơn.
Lượng thông tin ngày một gia tăng mạnh mẽ, trong vòng 5 năm lượng
thông tin của thế giới có thể tăng gấp đôi. Nhờ có CNTT, đặc biệt là nhờ có


17
internet thế giới ngày càng trở nên nhỏ bé, thông tin không biên giới đã hỗ
trợ cho các hoạt động kinh tế vượt ra khỏi phạm vi quốc gia và mang tính
toàn cầu. Vốn, sản xuất, hàng hóa, sức lao động, thông tin và công nghệ

được trao đổi, sử dụng và điều phối xuyên quốc gia đã là phổ biến. Quan hệ
hợp tác và cạnh tranh trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại, công nghệ
giữa các quốc gia, giữa các doanh nghiệp ngày càng sôi động hơn. Việc
chuyển tải nhanh chóng thông tin làm cho nhịp độ sản xuất kinh doanh ngày
càng nhanh hơn, chu kỳ tồn tại của kỹ thuật và sản phẩm ngày càng ngắn lại.
Các khâu sản xuất, cung ứng và tiêu thụ đều phải thay đổi cho phù hợp với
điều kiện thông tin nhanh chóng, chuyển từ sản xuất quy mô lớn sang sản
xuất theo đơn “đặt hàng” qua internet, làm cho khoảng cách giữa người sản
xuất và người tiêu dùng ngày càng thu hẹp lại. Người sản sản xuất có thể
hiểu được nhu cầu của khách hàng, nắm bắt được thông tin thị trường một
cách nhanh nhất, có thể xây dựng được chiến lược sản xuất kinh doanh
thích hợp với xu thế phát triển của thị trường trong nước, khu vực và quốc
tế. Người tiêu dùng có thể tham gia quá trình sản xuất: lựa chọn, thiết kế
những sản phẩm thích hợp nhất cho mình.
Sự phát triển của CNTT góp phần làm cho năng suất lao động tăng lên
đáng kể ( ở Mỹ tăng từ 20 đến 40%, ước tính đến năm 2007, GDP sẽ tăng
327 tỷ USD do phát triển xa lộ cao tốc thông tin. Giá trị sản xuất của ngành
thông tin chiếm tỷ trọng ngày càng lớn, trở thành lớn số 1 thế giới.
Sự phát triển của CNTT sẽ giúp các doanh nghiệp nắm bắt được một
cách nhanh nhất các công nghệ mới và có thể mua các công nghệ đó với giá
rẻ nhất không qua khâu trung gian. Việt Nam đang trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế, ứng dụng CNTT tốt sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh, nắm
bắt thông tin tiếp cận thị trường, mở rộng quan hệ với khu vực và thế giới.
Điều này sẽ vô cùng có ích cho hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao
năng suất lao động lên gấp nhều lần, nâng cao khả năng cạnh tranh. Phát
triển CNTT sẽ đem lại nhiều sự thuận tiện, tiết kiệm thời gian, tăng khả
năng lựa chọn cho người tiêu dùng, chỉ cần ở nhà mà có thể truy cập vào các
trang web siêu thị hay chỉ cần gọi điện thoại là người tiêu dùng có thể đặt
hàng lựa chọn hàng theo ý muốn và được giao hàng đến tận nhà một cách
nhanh chóng và thuận tiện .



18
Sự phát triển của CNTT cũng làm thay đổi cung cách trong lao động.
Ví dụ ở Mỹ, mô hình lao động đã biến dạng rất nhiều so với mô hình cổ
điển. Công nhân làm việc từ 09 giờ sáng đến 17 giờ tại các xí nghiệp, văn
phòng. Và hiện nay khoảng 10% lực lượng lao động là người hành nghề độc
lập, giờ giấc làm việc linh động qua mạng hay internet ngày càng tăng, con
số tăng từ 15% lực lượng lao động năm 1991 tới 30% hiện nay. Các doanh
nghiệp tổ chức gọn nhẹ hơn, ít cấp quản lý vì vậy giảm thiểu được chi phí
cho doanh nghiệp, nâng cao năng suất lao động,
Ứng dụng dụng của CNTT trong nhiều lĩnh vực như nông nghiệp, tài
chính, ngân hàng, hải quan, y học đặc biệt là giáo dục, đào tạo đều đem lại
hiệu quả cao, giúp tăng năng suất lao động lên hàng ngàn lần, đảm bảo
thông tin nhanh chóng, an toàn, tiện lợi và giảm chi phí để hạ giá thành.
1.1.2.2 Tạo sự phát triển bền vững.
Phát triển kinh tế xã hội qua việc sử dụng ngày càng nhiều các
phương tiện công nghệ thông tin và truyền thông sẽ ngày càng làm cho thế
giới thịnh vượng và công bằng hơn. Viễn thông thông tin hiện có và đáng tin
cậy có thể được sử dụng một cách hiệu quả như là một trong những công cụ
để chỉ ra những vấn đề mang tính toàn cầu. CNTT là chất xúc tác ngày càng
quan trọng thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. CNTT làm
cho sản xuất nông nghiệp đa dạng hoá và phân phối sản phẩm nông nghiệp
hiệu quả hơn. CNTT tạo ra khả năng cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ
cho những người sống ở những vùng xa xôi không có khả năng tiếp cận
được với trung tấm y tế. Đối với doanh nghiệp, CNTT đem lại rất nhiều lợi
ích cho khách hàng và doanh nghiệp khi tiến hành giao dịch điện tử như cho
phép thực hiện nhiều dịch vụ mới và làm giảm đáng kể giá thành của nhiều
dịch vụ đã có sẵn , đồng thời lại tăng chất lượng của dịch vụ. Ví dụ một dịch
vụ ngân hàng trung bình tốn 1,14 USD nếu thực hiện tại chi nhánh và chỉ

mất 0,3 USD nếu thực hiện bằng internet mà chỉ cần ngồi tại nhà.
CNTT ảnh hưởng trực tiếp đến việc thay đổi cách thức làm việc và tổ
chức kinh doanh trong toàn xã hội
Trong nền kinh tế mới có sự hội tụ của nhiều ngành công nghiệp,
không những để hình thành những công nghiệp mới mà còn thay đổi cách tổ
chức, hoạt động của cả nền kinh tế, cũng như cách sinh hoạt, giải trí của xã
hội. Rõ ràng nhất là sự hội tụ giữa công nghiệp tính toán( máy tính điện tử,


19
máy vi tính, bộ vi xử lý), công nghiệp điện thoại và viễn thông ( hệ thống và
dịch vụ điện thoại viễn thônghữu tuyến và vô tuyến0 và công nghiệp thông
tin, phát hành ( sách, báo, âm nhạc, truyền thanh và truyền hình). Sự hội tụ
này tạo ra nhiều hướng, cơ hội và điều kiện nghiên cứu, phát minh trong
nhiều ngành khoa học kỹ thuật khác nhau, hứa hẹn sẽ tiếp tục thay đổi đời
sống nhân loại. Nó cũng làm tăng tốc độ phổ biến và khả năng truyền bá các
phát minh khoa học kỹ thuật lên các mặt hoạt động của xã hội tiến tới nền
kinh tế nối mạng toàn cầu. Việc trao đổi thông tin về khả năng cung cấp,
nhu cầu, xảy ra nhanh chóng và hiệu quả. Hệ thống nối mạng ngày càng
mở, càng có nhiều thành viên trên khắp thế giới thì nó càng hữu ích và có
giá trị đối với mỗi thành viên, mở ra nhiều cơ hội kinh doanh có hiệu năng
kinh tế cao nhưng cũng làm cho sự cạnh tranh càng sâu sắc thêm , đem lại
hiệu quả cho nền kinh tế của toàn xã hội.
CNTT với thông tin mau lẹ và tự động cho phép tối ưu hoá dây
chuyền cung ứng vật liệu cho mọi ngành nghề . Đón trước thời cơ, giai đoạn
2001-2010, chiến lược phát triển của Ngành là “ Hội nhập và phát triển”
nhằm phát huy tối đa nội lực, tạo môi trường cạnh tranh sâu hơn, rộng hơn
trong nước để tiếp tục đổi mới công nghệ, mở rộng năng lực mạng lưới, đa
dạng hoá các loại hình dịch vụ, đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT, hạ
giá thành và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Một mốc đáng nhớ là ngày

29/4/2003, thị trường Viễn thông Việt Nam đã xoá bỏ độc quyền doanh
nghiệp và chuyển sang cạnh tranh trên tất cả các loại hình dịch vụ, tạo lập
một thị trường viễn thông sôi động, tăng trưởng vượt bậc ( tốc độ tăng
trưởng đều đạt trên 20% năm), giá cước giảm ( tới cuối năm 2005, theo
đánh giá của Ngân hàng Thế giới , giá cước viễn thông Việt Nam đã giảm
tương đồng với giá cước viễn thông trong khu vực. Đến nay, mật độ điện
thoại trên toàn quốc đạt trên 20%( vượt 2,5 lần chỉ tiêu Đại hội IX), người
sử dụng internet đạt trên 14%( vượt chỉ tiêu đặt ra vào năm 2010). Viễn
thông và internet ngày càng sát với nông thôn, nông dân theo đúng tinh thần
Nghị quyết TW5 khoá IX về “ đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2001-2010”. Dự kiến từ 2011 đến 2020 sẽ
thực thi “ chiến lược cất cánh” của công nghệ thông tin và truyền thông
Việt Nam. Vào năm 2020, mức độ sử dụng dịch vụ viễn thông và internet


20
Việt Nam sẽ đạt mức phát triển tương đương với mức trung bình của các
nước G7.
Nhiều quốc gia trên thế giới , không chỉ những nước công nghiệp phát
triển mà cả một số nước đang phát triển đã coi CNTT là ngành kinh tế mũi
nhọn thúc đẩy sự phát triển. CNTT đã , đang và sẽ mang lại những biến đổi
kỳ diệu trong cả đời sống kinh tế và đời sống xã hội. Có thể nói CNTT mà
biểu hiện trực tiếp hiện nay là truyền thông qua e mail, internet, thương mại
điện tử, Chính phủ điện tử, đã thay đổi một cách sâu rộng và trực diện
nhất thông tin về mọi vấn đề, tạo sự phát triển bền vững làm tiền đề cho sự
phát triển toàn diện nền kinh tế xã hội.
1.1.2.3 CNTT tạo điều kiện để hình thành và phát triển nền kinh tế tri
thức.
Sự phát triển công nghệ thông tin là một trong những biểu hiện rõ nhất
của sự phát triển trí tuệ con người, đồng thời nó cũng là phương tiện quan

trọng hàng đầu cho sự phát triển trí tuệ.
Trong kinh tế tri thức, tri thức và công nghệ nhanh chóng trở thành lạc
hậu do tốc độ biến đổi diễn ra hết sức nhanh chóng. Sự đổi mới và sáng tạo
luôn đòi hỏi phải có thông tin. Thông tin trở thành cơ sở quan trọng hàng
đầu cho sự đổi mới và sáng tạo. Ngày nay, trên nền tảng của những tiến bộ
thực sự có ý nghĩa về CNTT và phát triển cơ cấu thông tin quốc gia, loài
người đang tiến tới ngưỡng cửa của xã hội thông tin toàn cầu. Đặc điểm nổi
bật của xã hội thông tin là sự phát triển không dựa chủ yếu vào các nguồn
dự trữ tự nhiên như trong xã hội công nghiệp mà chủ yếu dựa vào nguồn tri
thức về khoa học và công nghệ, tức các nguồn nhân lực tri thức có khả năng
tái tạo, tự sản sinh và không bao giờ cạn.
Mục tiêu của xã hội thông tin toàn cầu là : xây dựng một cộng đồng thế
giới trong đó nhân dân các nước láng giềng không coi nhau như kẻ thù tiềm
tàng mà là người đối tác, đồng minh tiềm tàng, là thành viên trong cùng một
gia đình, trong đại gia đình ngày càng có liên hệ với nhau của nhân loại.
Ngày nay, các nước đang phát triển đang có những nỗ lực cao trong
việc khai thác cơ hội do hệ thống thông tin toàn cầu đem lại nhằm phát triển
toàn diện kinh tế xã hội và thu hẹp dần khoảng cách giữa họ với các nước
khác. Sự lớn mạnh nhanh chóng của CNTT sẽ là một trong những yếu tố
thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế tri thức. Nền kinh tế tri thức là nền


21
kinh tế mà trong đó các yếu tố sản xuất, quá trình sản xuất, sản phẩm hàng
hoá, quá trình điều khiển sản xuất và quản lý kinh tế đều chứa hàm lượng tri
thức tương đối cao và ngày càng cao. Như vậy, quá trình thu nhận, lưu giữ,
xử lý, khai thác và tạo tri thức là thành phần chủ đạo, là yếu tố cốt lõi trong
nền kinh tế tri thức.
Xu thế hướng tới xã hội thông tin và hướng tới sự phát triển của nền
kinh tế tri thức mở ra cho các nước đang phát triển những cơ hội tiếp cận và

tiếp nhận những thành quả của tiến bộ khoa họcvà công nghệ để xây dựng
những ngành nghề mới có hàm lượng kỹ thuật và tri thức cao, đồng thời lại
đặt ra những thách thức về đào tạo nguồn nhân lực có trình độ và tay nghề
cao, về vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin.
Không có lĩnh vực nào đổi mới nhanh, phát triển nhanh mà không sử
dụng CNTT. Đẩy mạnh ứng dụng CNTT, không ngừng phát triển CNTT là
một trong những giải pháp quan trọng cho sự ra đời và phát triển của nền
kinh tế tri thức, hướng tới hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước.
1.2 PHÁT TRIỂN CNTT THÔNG QUA KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ
NƢỚC.
1.2.1 Tình hình phát triển và chính sách đầu tƣ hiện tại cho CNTT trên
thế giới.
1.2.1.1 Sự phát triển của CNTT trên thế giới.
Vào những năm 50,60 máy tính chủ yếu được dùng chỉ để tính toán thì
ngày nay còn được dùng để xử lý mọi hoạt động thông tin và là phương tiện
cho hầu hết các lọai hình hoạt động của con người. Xã hội ngày càng phát
triển và vai trò của công nghệ tin học và viễn thông, internet ngày càng tăng.
Trong các thập kỷ trước, CNTT chủ yếu chú trọng phát triển phần
cứng, trong giai đoạn hiện nay, CNTT chuyển dần sang chú trọng phát triển
phần mềm ở mọi lĩnh vực. Công nghiệp phần mềm đã đóng góp một phần
quan trọng vào phục vụ đời sống và kinh doanh. Công nghệ phần mềm đã
giúp các côngty đa quốc gia cải tiến rất nhiều khả năng quản lý toàn cầu, bằng
cách làm hữu hiệu hơn quá trình báo cáo, xử lý, ra quyết định và kiểm soát
các dữ kiện kinh tế, tài chính, sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp và tình hình
cạnh tranh trên thị trường. Các công ty cung cấp dịch vụ áp dụng (Application
Service Provider) đang xuất hiện nhằm mục đích cung cấp các dịch vụ phần
mềm hay cho thuê các chương trình phần mềm qua internet, người dùng


22

không cần phải mua và cài đặt vào PC của mình nhiều chương trình như trước
đây, mà có thể thuê chương trình mình cần. Dịch vụ này giúp cho các doanh
nghiệp nhỏ cũng có thể dùng hệ thống ERP hay KM; và người dùng có cơ hội
sử dụng nhiều chương trình khác nhau.
Với sự phát triển không ngừng của CNTT và viễn thông, các yêu cầu
ngày càng gia tăng cả về số lượng, chất lượng và loại hình dịch vụ, sự ra đời
của các sản phẩm thiết bị mới đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến kiến trúc mạng,
ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phá triển của các hãng sản xuất cung cấp
thiết bị, các nhà khai thác viễn thông. Nhằm hướng tới một mô hình kiến trúc
mạng mới trên nền tảng công nghệ hiện đại, đầu tư hiệu quả đáp ứng các yêu
cầu phá triển phong phú đa dạng các dịch vụ, các tổ chức quốc tế về viễn
thông với sự tham gia cả về kỹ thuật và kinh tế của nhiều hãng cung cấp thiết
bị và nhiều nhà khai thác đã cố gắng nghiên cứu để đưa ra mô hình cho cấu
trúc hạ tầng thông tin toàn cầu GII ( Global Infomation Infrastructure) và
mạng thế hệ sau NGN, trong đó có thể kể đến hoạt động nghiên cứu và thử
nghiệm của các tổ chức viễn thông sau đây : ITU, IETF, MSF, ATM Forum,
TINA, AMF,
Các mô hình mạng viễn thông sau đây được các tổ chức quốc tế sử
dụng:
+ Mô hình cấu trúc hạ tầng thông tin toàn cầu(GII) của Liên minh Viễn thông
quốc tế (ITU)
+ Mô hình mạng thế hệ sau của Diễn đàn chuyển mạch đa dịch vụ MSF (
Multiservice Switchinh Forum).
+ Mô hình mạng thế hệ sau của Viện Tiêu chuẩn Châu Âu (ETSI).
Xu hướng phát triển mạng viễn thông theo cấu trúc mạng thế hệ sau là
xu hướng chung của thế giới. Mỗi quốc gia, mỗi nhà khai thác chọn một cách
đi, một lộ trình phù hợp với tình hình thực tế mạng hiện tại của mình. Ví dụ ở
Australia, do chính sách mở rộng thị trường viễn thông nên hiện nay đã có
nhiều nhà khai thác tham gia cung cấp các dịch vụ viễn thông, trong đó
Telstra vẫn là nhà khai thác lớn nhất ở Australia hiện nay. Mạng thế hệ sau và

đặc biệt là các phương thức khai thác mạng mới là những vấn đề luôn được
các nhà khai thác quan tâm. Ở Ấn Độ có kế hoạch phát triển viễn thông 10
năm từ 1997 đến 2007 bao gồm những quy định và định hướng tổng thể như
sau:


23
- Đáp ứng các yêu cầu kết nối dịch vụ điện thoại trên phạm vi toàn
quốc.
- Cung cấp dịch vụ ISDN và các dịch vụ giá trị gia tăng tại các trung
tâm khu vực đến cấp huyện.
- Hoàn thành số hoá 100% mạng chuyển mạch và truyền dẫn vào năm
2001.
- Mở rộng việc sử dụng các hệ thống cáp quang đối với mạng đường
dài và mạng nội hạt, phát triển các tuyến truyền dẫn SDH.
- Triển khai các mạch vòng thuê bao vô tuyến WLL(wireless local
loop) và cáp quang FTTC(fibre to the building).
- Các loại hình dịch vụ được quan tâm phát triển mở rộng là : các dịch
vụ ISDN đến các trung tâm cấp huyện, các dịch vụ IN tại các thành phố
lớn, các dịch vụ internet, cácdịch vụ thông tin di động, các dịch vụ đa
phương tiện như dịch vụ thoại di động, dịch vụ nhắn tin trên mạng vô
tuyến, email, voice mail, hội nghị truyền hình, dịch vụ truyền số liệu
thiết bị đầu cuối VSAT.
Ở Inđônesia có kế hoạch hoàn thành việc số hoá các thiết bị viễn thông
trên mạng vào năm 2004 và đạt tỷ lệ 15 máy/100 dân vào năm 2020.
Hiện nay ở Inđônesia việc khai thác cung cấp các dịch vụ viễn thông
được phân chia như sau:
- Các dịch vụ viễn thông trong nước do PT Telekomunikasi
Indonesia (PT Telkom) vàPT radio Telepon Indonesia (PT Ratelindo)
cung cấp.

Các dịch vụ viễn thông quốc tế do PT Indonesia Satellite(PT Indosat)
và PT Satellit Palapa Indonesia(PT Sateindo) cung cấp .
- Về truyền dẫn, công nghệ SDH đã được áp dụng triển khai vào
Indonesia từ năm 1993. Về chuyển mạch, hiện nay PT Indosat đóng vai
trò chủ yếu trong quản lý và khai thác các chuyển mạch quốc tế.
Indonesia đã triển khai dịch vụ truyền số liệu, thoại ở một số vùng đô
thị, với VoDSL, thoại và số liệu được truyền ở dạng các gói hoặc tế bào
ATM. Tại Indonesia đã có tới 45 ISP ( Internet Service Provider) hoạt
động cung cấp dịch vụ Internet.
Tại Singapore đã số hoá 100% mạng truyền dẫn và chuyển mạch, hiện
nay mạng viễn thông Singapore được đánh giá là mạng viễn thông h

×