Tải bản đầy đủ (.pdf) (110 trang)

giải quyết việc làm cho lao động nữ ở tình hà nam hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.72 MB, 110 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ






LÂM THỊ PHƯỢNG






GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NỮ Ở
TỈNH HÀ NAM HIỆN NAY






LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ








Hà Nội – 2012


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ




LÂM THỊ PHƯỢNG




GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NỮ Ở
TỈNH HÀ NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành : Kinh tế chính trị
Mã số : 60 31 01



LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ




NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. ĐINH VĂN THÔNG






Hà Nội - 2012

iii
MỤC LỤC
Danh mục các chữ viết tắt i
Danh mục các bảng ii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VIỆC LÀM
VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NỮ 8
1.1. Những vấn đề cơ bản về lao động, việc làm; lao động nữ và giải
quyết việc làm cho lao động nữ 8
1.1.1. Lao động, việc làm và giải quyết việc làm 8
1.1.2. Lao động nữ, việc làm của lao động nữ và giải quyết việc làm
cho lao động nữ 11
1.2. Sự cần thiết phải giải quyết việc làm cho lao động nữ 14
1.3. Đặc điểm việc làm của lao động nữ và các nhân tố ảnh hưởng đến
việc làm của lao động nữ 16
1.3.1. Đặc điểm lao động nữ và việc làm của lao động nữ 16
1.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm của lao động nữ 24
1.4. Một số phương thức giải quyết việc làm cho lao động nữ 30
1.4.1. Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển mạng lưới doanh
nghiệp vừa và nhỏ, đa dạng hóa các ngành nghề sử dụng nhiều lao
động nữ 30
1.4.2. Giải quyết việc làm cho lao động nữ thông qua các chương
trình mục tiêu quốc gia 32
1.4.3. Mở rộng, phát triển và nâng cao chất lượng của các cơ sở đào
tạo nghề, các trung tâm giới thiệu việc làm tại địa phương 33

1.4.4. Giải quyết việc làm cho lao động nữ thông qua xuất khẩu lao động 34
1.4.5. Giải quyết việc làm cho lao động nữ thông qua hoạt động của
các tổ chức chính trị - xã hội 35
1.5. Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động nữ ở một số địa phương 37

iv
1.5.1. Kinh nghiệm của Hưng Yên 37
1.5.2. Kinh nghiệm của Hải Dương 39
Chương 2: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO
ĐỘNG NỮ Ở TỈNH HÀ NAM GIAI ĐOẠN 2005-2011 44
2.1. Khái quát về đặc điểm tự nhiên và đặc điểm kinh tế-xã hội tỉnh Hà
Nam ảnh hưởng đến công tác giải quyết việc làm cho lao động nữ 44
2.2. Thực trạng giải quyết việc làm cho lao động nữ ở tỉnh Hà Nam 49
2.2.1.Thực trạng việc làm của lao động nữ tỉnh Hà Nam 49
2.2.2. Thực trạng giải quyết việc làm cho lao động nữ ở tỉnh Hà Nam
giai đoạn 2005 - 2011 55
2.3. Những vấn đề đặt ra trong quá trình giải quyết việc làm cho lao
động nữ ở tỉnh Hà Nam 70
2.3.1. Trình độ của lao động nữ còn hạn chế, chưa thích ứng với quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH 70
2.3.2. Chất lượng của các cơ sở dạy nghề và các trung tâm giới thiệu
việc làm còn nhiều bất cập 72
2.3.3. Điều kiện làm việc và thu nhập của phần lớn lao động nữ
không bảo đảm; việc tổ chức thực hiện các chính sách và việc giám
sát đảm bảo quyền bình đẳng của lao động nữ chưa được quan tâm
đầy đủ 73
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NỮ Ở TỈNH
HÀ NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 76
3.1. Quan điểm giải quyết việc làm cho lao động nữ ở tỉnh Hà Nam

trong thời gian tới 76
3.1.1. Phải coi vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nữ là một bộ
phận quan trọng trong nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh 76

v
3.1.2. Giải quyết việc làm cho lao động nữ gắn với công tác đào tạo
nghề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh. 78
3.1.3. Giải quyết việc làm cho lao động nữ gắn với thực hiện chính sách
bình đẳng giới, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của lao động nữ 80
3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm cho
lao động nữ ở tỉnh Hà Nam trong thời gian tới 81
3.2.1. Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách 81
3.2.2. Nhóm giải pháp về tổ chức, quản lý 87
3.2.3. Khuyến nghị hỗ trợ cải thiện điều kiện làm việc và thu nhập
cho lao động nữ 94
KẾT LUẬN 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101





















i


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT



STT
Ký hiệu
Nguyên nghĩa
1
CNH, HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
2
LĐ,TB&XH
Lao động, Thương binh & Xã hội
3
LHPN
Liên hiệp phụ nữ
4
ILO
Tổ chức Lao động quốc tế
5

WTO
Tổ chức Thương mại thế giới
6
UBND
Uỷ ban nhân dân
















ii


DANH MỤC CÁC BẢNG


Bảng
Nội dung
Trang

Bảng 2.1
Dân số trung bình phân theo giới tính
50
Bảng 2.2
Cơ cấu lao động nữ theo trình độ học vấn giai đoạn
2005-2010
50
Bảng 2.3
Cơ cấu lao động nữ theo chuyên môn kỹ thuật
52
Bảng 2.4
Lao động nữ đang làm việc trong các doanh nghiệp
theo loại hình doanh nghiệp giai đoạn 2005-2010
63
Bảng 2.5
Kết quả hoạt động của hệ thống dịch vụ việc làm của
Hà Nam
66






1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lao động, việc làm là một trong những vấn đề được quan tâm trong
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trên thế giới, đặc biệt
là các nước đang phát triển với dân số đông và lực lượng lao động lớn như

Việt Nam. Theo cuộc Tổng điều tra dân số năm 2009, dân số nước ta là 85,7
triệu người, trong đó dân số nữ là 43,3 triệu người, chiếm 50,5%. Với đặc
điểm đó một mặt là thế mạnh trong phát triển kinh tế - xã hội của chúng ta,
nhưng mặt khác nó lại tạo ra sức ép về việc làm cho toàn xã hội. Do đó, giải
quyết việc làm, ổn định việc làm cho người lao động nói chung và lao động
nữ nói riêng luôn là một trong những vấn đề được Đảng và Nhà nước ta hết
sức quan tâm. Vì vậy, trong “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam
giai đoạn 2001 - 2010” đã được thông qua tại Đại hội đại biểu Toàn quốc lần
thứ IX của Đảng, nêu rõ: Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy
nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp
ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân. Nghị quyết
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X xác định rõ: Phát triển thị trường lao động
trong mọi khu vực kinh tế, tạo sự gắn kết cung cầu lao động, phát huy tính
tích cực của người lao động trong học nghề, tự tạo và tìm việc làm. Tuy
nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được trong giải quyết việc làm thì vẫn
còn những hạn chế, những vấn đề “ nóng” rất cần được quan tâm giải quyết
như chất lượng việc làm chưa cao, tính ổn định, bền vững trong việc làm và
hiệu quả tạo việc làm còn thấp; tình trạng mất cân đối cung - cầu lao động cục
bộ đang diễn biến phức tạp; điều kiện làm việc và thu nhập của một bộ phận
lớn lao động còn thấp
Ở nước ta hiện nay, lực lượng lao động nữ chiếm gần một nửa lực lượng
lao động của cả nước. Năm 2009, dân số nữ chiếm tới 50,57% với lực lượng

2
lao động từ 15 tuổi trở lên chiếm 48%; năm 2010 là 50,54% với lực lượng lao
động từ 15 tuổi trở lên chiếm 48,6%; năm 2011, lao động nữ chiếm tới 48,4%
lực lượng lao động cả nước . Thực tế chứng minh rằng phụ nữ có vai trò quan
trọng và có nhiều đóng góp cho sự phát triển của đất nước, Đảng Cộng sản
Việt Nam luôn đánh giá cao những nỗ lực và sự đóng góp to lớn của phụ nữ.
Do đó, Đảng và Nhà nước ta đã tăng cường sự quan tâm, tạo mọi điều kiện để

phụ nữ phát huy khả năng của mình. Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn tồn tại
nhiều vấn đề cần giải quyết, trong đó có vấn đề giải quyết việc làm cho lao
động nữ, tình trạng bất bình đẳng giới, sự bất bình đẳng trong lao động - việc
làm như cơ hội tìm kiếm và tự tạo việc làm của lao động nữ còn nhiều hạn
chế; lao động nữ chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế; trình độ học vấn, chuyên
môn, nghề nghiệp còn thấp, thu nhập thực tế của nữ thấp hơn nam giới; vẫn
còn sự phân biệt đối xử nam - nữ trong tuyển dụng lao động ( nhất là khu vực
ngoài nhà nước); trong nhiều doanh nghiệp, trong các khu công nghiệp tập
trung, việc làm của lao động nữ thiếu ổn định, điều kiện lao động, điều kiện
sống không được bảo đảm; chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao
động chưa được thực hiện đầy đủ. Số phụ nữ nông thôn thiếu việc làm, di cư
tự phát ra thành phố ngày càng tăng
Hơn nữa, lao động nữ thuộc nhóm lao động yếu thế. Điều này không chỉ
xuất phát từ đặc điểm tự nhiên về sức khoẻ, giới tính, mà nó còn xuất phát từ
thiên chức, trách nhiệm và gánh nặng gia đình, con cái Việc làm của phần
lớn lao động nữ thiếu ổn định, thu nhập thấp; phụ nữ dễ bị tổn thương trong
công việc và ít nhận được các thỏa thuận việc làm chính thức; số lao động nữ
hoạt động trong khu vực phi chính thức tăng; lượng lao động nữ di cư tự phát
ra thành phố do thiếu việc làm gia tăng nhanh Điều đó chứng minh rõ nét
vấn đề việc làm của lao động nữ luôn là một vấn đề bức xúc và thiếu các yếu
tố liên quan đến việc làm bền vững.

3
Hà Nam là một tỉnh thuần nông, lực lượng lao động nữ chiếm hơn 51%
dân số toàn tỉnh, phụ nữ Hà Nam có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế
- xã hội, có nhiều đóng góp trong chương trình xoá đói, giảm nghèo ở địa
phương. Trong khi quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh với tốc độ
công nghiệp hoá diễn ra khá nhanh; các khu, cụm công nghiệp phát triển
mạnh, xây dựng tuyến đường cao tốc, khu đô thị và nhiều dự án khác đã làm

cho diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi nhanh chóng; lao động nữ của tỉnh phần
lớn là lao động nông nghiệp; tỷ lệ lớn lao động chưa qua đào tạo nên khó thích
ứng và tự tìm kiếm việc làm trong các khu công nghiệp. Số lượng lao động nữ tự
tạo việc làm rất hạn chế, chủ yếu là các công việc tạm thời với thu nhập thấp và
điều kiện lao động không bảo đảm, tỷ lệ thiếu việc làm và tỷ lệ thất nghiệp của
lao động nữ còn cao và có xu hướng gia tăng (năm 2010, toàn tỉnh có gần 7.000
lao động nữ thiếu việc làm; tỷ lệ thiếu việc làm của lao động nữ là 3,81%; tỷ lệ
thất nghiệp là 1,33%). Từ đó nhu cầu việc làm và việc làm bền vững cho lao
động nữ dôi dư ngay tại địa phương trở nên hết sức bức thiết. Qua khảo sát, mỗi
năm có khoảng gần 12.000 lao động có nhu cầu học nghề và chuyển gần 7.000
lao động từ khu vực nông nghiệp, nông thôn sang các lĩnh vực ngành nghề, dịch
vụ khác. Do vậy, tỉnh xác định công tác giải quyết việc làm cho lao động nữ là
nhiệm vụ chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Xuất phát từ nhu cầu bức xúc của công tác giải quyết việc làm cho lực
lượng lao động nữ ở Hà Nam hiện nay, đồng thời mong muốn xây dựng một
số giải pháp góp phần tích cực trong việc tạo việc làm cho lao động nữ ở Hà
Nam, tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Giải quyết việc làm cho lao động nữ
ở tỉnh Hà Nam hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Việc làm là một trong những vấn đề được quan tâm đặc biệt của mỗi
quốc gia, trong đó có Việt Nam - một nước có dân số đông với lực lượng lao

4
động dồi dào. Do đó, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học liên quan
đến việc làm, giải quyết việc làm cho lao động nói chung và lao động nữ nói
riêng đã được công bố dưới nhiều hình thức khác nhau (sách tham khảo, đề
tài, luận văn, luận án, bài tạp chí, báo ). Trong đó có thể kể đến:
- Sử dụng nguồn lao động và giải quyết việc làm ở Việt Nam của tác giả
Trần Đình Hoan và Lê Mạnh Khoa, Nxb Sự Thật, 1991. Các tác giả nghiên
cứu về tiềm năng và vai trò của nguồn lao động trong phát triển kinh tế - xã

hội; hiện trạng lao động và việc làm, phương hướng chủ yếu sử dụng nguồn
lao động và giải quyết việc làm có hiệu quả ở Việt Nam.
- Trần Thị Thu: “Tạo việc làm cho lao động nữ trong thời kỳ CNH,
HĐH” - Nhà xuất bản Lao động xã hội Hà Nội (2003), đã phân tích tình hình
này tại Hà Nội, đã làm rõ cơ sở khoa học của tạo việc làm cho lao động nữ Hà
Nội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá; những nhân tố ảnh hưởng
đến tạo việc làm và thực trạng tạo việc làm cho lao động nữ Hà Nội trong giai
đoạn trước năm 2003, những quan điểm, giải pháp tạo việc làm cho lao động
nữ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
- Trần Thị Minh Đức: “Nghiên cứu một vài đặc điểm tâm lý xã hội của
lao động nữ ngoài tỉnh bán hàng rong trên đường phố Hà Nội” - Tạp chí tâm
lý học số 6/2002 đã đề cập, phân tích đặc điểm của lao động nữ; thực trạng
đời sống và việc làm của họ, nguyên nhân tác động đến việc người phụ nữ
phải ra thành phố bán hàng rong, trách nhiệm của nhà nước, chính quyền địa
phương cần có giải pháp gì giúp đỡ nhóm phụ nữ đang bị tổn thương.
- Giải quyết việc làm ở nông thôn và những vấn đề đặt ra, PGS. TS
Nguyễn Sinh Cúc, Tạp chí con số và sự kiện, số 8/2003.
- Thực trạng lao động - việc làm ở nông thôn và một số giải pháp cho
giai đoạn phát triển 2001 - 2005, Bùi Văn Quán, Tạp chí lao động và xã hội,
số chuyên đề 3, 2001.

5
- Trần Thị Bích Hồng: “Vấn đề dân số, lao động, việc làm đồng bằng
Sông Hồng” - Luận án tiến sĩ (2000) đã làm rõ cơ sở lý luận, thực trạng của
mối quan hệ dân số - lao động - việc làm ở đồng bằng Sông Hồng và đề xuất
một số kinh nghiệm nhằm giải quyết mối quan hệ giữa dân số, lao động và
việc làm trong chiến lược phát triển.
- Phạm Mạnh Hà: “Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn tỉnh
Ninh Bình trong quá trình CNH, HĐH”- Luận án tiến sĩ (2011). Luận án đã đi
sâu phân tích làm rõ tầm quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho lao

động nông thôn tỉnh Ninh Bình; thực trạng và đề xuất các phương hướng chủ
yếu và các giải pháp cơ bản để giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
trong quá trình CNH, HĐH.
Nhìn chung các công trình khoa học nói trên đã đề cập đến nhiều khía
cạnh khác nhau của vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động nói chung
và người lao động nữ nói riêng. Tuy nhiên chưa có một công trình nào nghiên
cứu về vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nữ trong quá trình phát triển
kinh tế - xã hội ở tỉnh Hà Nam một cách cơ bản, toàn diện và có hệ thống.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác giải quyết việc làm cho
lao động nữ. Từ đó phân tích thực trạng của công tác giải quyết việc làm cho
lao động nữ trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Hà Nam, trên cơ
sở đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác giải quyết
việc làm cho lao động nữ trên địa bàn tỉnh.
- Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Hệ thống hoá các vấn đề lý luận và thực tiễn về lao động nữ và tạo việc
làm cho lao động nữ.
+ Phân tích, đánh giá thực trạng công tác giải quyết việc làm cho lao
động nữ ở tỉnh Hà Nam giai đoạn 2005 - 2011.

6
+ Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết có hiệu quả vấn đề
giải quyết việc làm cho người lao động nữ ở tỉnh Hà Nam trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề giải quyết việc làm cho lao
động nữ ở tỉnh Hà Nam dưới góc độ kinh tế chính trị.
- Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề việc làm cho lao

động nữ trên địa bàn tỉnh Hà Nam ( 5 huyện, 1 thành phố).
Về thời gian: luận văn nghiên cứu, đánh giá thực trạng vấn đề việc làm
cho lao động nữ ở tỉnh Hà Nam giai đoạn 2005 - 2011 và đề xuất giải pháp
nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm cho lao động nữ trong thời gian tới.
5. Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận: luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
trong các văn kiện Đại hội Đảng về công tác giải quyết việc làm cho lao động
nói chung và lao động nữ nói riêng.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể: luận văn sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu cụ thể như: phương pháp hệ thống, phương pháp tổng hợp,
phương pháp thống kê và so sánh để phân tích làm sáng tỏ vấn đề.
6. Dự kiến đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về việc làm và giải quyết việc làm cho lao
động nữ.
- Phân tích, đánh giá thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho lao
động nữ tỉnh Hà Nam hiện nay.

7
- Đề xuất những giải pháp có tính khả thi nhằm từng bước nâng cao hiệu
quả giải quyết việc làm cho lao động nữ trên địa bàn tỉnh Hà Nam hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về việc làm và giải quyết việc
làm cho lao động nữ.
Chương 2: Thực trạng giải quyết việc làm cho lao động nữ ở tỉnh Hà
Nam giai đoạn 2005-2011.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết

việc làm cho lao động nữ ở tỉnh Hà Nam trong thời gian tới.

















8
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI
QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NỮ
1.1. Những vấn đề cơ bản về lao động, việc làm; lao động nữ và giải quyết
việc làm cho lao động nữ
1.1.1. Lao động, việc làm và giải quyết việc làm
 Lao động:
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm lao động. Nhưng suy
đến cùng, lao động là hoạt động có mục đích và có ý thức của con người tác
động vào thế giới tự nhiên nhằm cải biến những vật tự nhiên thành các sản
phẩm phục vụ cho nhu cầu đời sống con người. Vì vậy, lao động là một hoạt

động đặc thù riêng có của con người, là ranh giới để phân biệt giữa con người
với các loài động vật; trong quá trình lao động sản xuất, con người không
những tạo ra của cải, mà còn phát triển cả về thể lực và trí lực của bản thân
con người. Theo Các Mác: “Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa
con người và tự nhiên, một quá trình trong đó, bằng hoạt động của chính
mình, con người làm trung gian điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ
và tự nhiên”[5, tr.61]. Từ khái niệm lao động, có thể thấy lao động là quá
trình con người sử dụng sức lực tiềm tàng trong bản thân mình, kết hợp sử
dụng công cụ lao động tác động vào đối tượng lao động để biến đổi nó phục
vụ cho mục đích của mình. Do đó, lao động là điều kiện để tồn tại và phát
triển của xã hội; là nguồn gốc để tạo ra mọi của cải trong xã hội.
 Việc làm:
Việc làm và thu nhập của người lao động luôn là mối quan tâm hàng
đầu của người lao động và của mỗi quốc gia, tạo nền tảng cho sự phát triển
bền vững của xã hội. Việc làm là vấn đề được nghiên cứu và đề cập dưới
nhiều khía cạnh khác nhau. Cùng với sự phát triển của xã hội, quan niệm về

9
việc làm cũng được nhìn nhận một cách khoa học, đầy đủ và đúng đắn hơn.
Việc làm đã được tổ chức lao động quốc tế (ILO) quan tâm ngay từ khi được
thành lập năm 1919. Hội nghị đầu tiên của tổ chức này đã thông qua công ước
về thất nghiệp và yêu cầu các quốc gia hội viên phải báo cáo những biện pháp thi
hành chế độ chống thất nghiệp. Hội nghị của ILO năm 1944 đã tán thành tuyên
bố Phi - la - đen - phia kêu gọi đảm bảo việc làm đầy đủ và nâng cao tiêu chuẩn
sinh hoạt mà mục tiêu của nó đến nay vẫn còn giá trị. Theo ILO, việc làm là
những hoạt động lao động được trả công bằng tiền hoặc bằng hiện vật. Tại
Hội nghị quốc tế lần thứ 13 năm 1983, ILO đã đưa ra quan niệm: “Người có việc
làm là những người làm một việc gì đó, có được trả tiền công, lợi nhuận hoặc
những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích
hay vì thu nhập gia đình, không nhận được tiền công hay hiện vật” [4, tr.47].

Ở Việt Nam, quan niệm về việc làm cũng được thể hiện rõ nét trong Bộ
Luật Lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi bổ
sung năm 2007. Điều 13, Chương II chỉ rõ: "Mọi hoạt động lao động tạo ra
nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm" [18].
Từ đó có thể hiểu, việc làm là các hoạt động thuộc tất cả các lĩnh vực sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ do người lao động tiến hành mà không bị pháp luật
ngăn cấm để nhận tiền công, tiền lương hoặc thù lao lao động cho công việc
đó, hoặc những công việc tự làm mang lại lợi ích cho bản thân, tạo ra thu
nhập hợp pháp cho gia đình, cho cộng đồng, kể cả những công việc được trả
công bằng hiện vật.
Như vậy, việc làm không bao gồm mọi hoạt động lao động, chỉ có
những hoạt động lao động thỏa mãn cả hai điều kiện là: hoạt động đó không
bị pháp luật ngăn cấm ( tính pháp lý của việc làm) và hoạt động đó mang lại
lợi ích và thu nhập cho người lao động, gia đình và xã hội ( tính mục đích của
việc làm).

10
 Giải quyết việc làm
Giải quyết việc làm cho người lao động là một trong những nội dung cơ
bản của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội được toàn thế giới cam kết trong
tuyên bố về chương trình hành động toàn cầu tại thủ đô Côpenhaghen ( Đan
Mạch) vào tháng 3/1995. Có thể hiểu, giải quyết việc làm cho người lao động
là tạo ra các cơ hội cho người lao động chưa có việc làm được làm việc để có
thu nhập nhằm đảm bảo cho cuộc sống của bản thân, gia đình và góp phần
thúc đẩy đảm bảo an sinh xã hội. Mục đích của việc giải quyết việc làm là
nhằm khai thác và phát huy mọi tiềm năng lao động dồi dào trong mỗi con
người để đạt được mức việc làm hợp lý và có hiệu quả; tạo cho con người
thực hiện được quyền và nghĩa vụ lao động của mình.
Giải quyết việc làm cho người lao động không chỉ dừng lại ở việc tạo ra
việc làm mà phải hướng tới nâng cao chất lượng lao động và chất lượng việc

làm nhằm tạo ra việc làm bền vững, đem lại điều kiện lao động tốt và thu
nhập đảm bảo cho người lao động. Đó cũng chính là tiêu chí đánh giá hiệu
quả của công tác giải quyết việc làm. Quá trình giải quyết việc làm là sự tác
động giữa chủ thể xã hội và người lao động nhằm khai thác có hiệu quả tiềm
năng lao động, đem lại việc làm đầy đủ và thu nhập ổn định nhằm nâng cao
đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động.
Quán triệt sâu sắc tầm quan trọng của công tác giải quyết việc làm, Đảng
và Nhà nước ta đã khẳng định “Giải quyết việc làm là một trong những chính
sách cơ bản của quốc gia” [13, tr.201]. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ X (2006) của Đảng tiếp tục khẳng định sự cần thiết phải huy động mọi
nguồn lực để thực hiện một cách hiệu quả công tác giải quyết việc làm cho
người lao động “Ưu tiên dành vốn đầu tư của Nhà nước và huy động vốn của
toàn xã hội để giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Khuyến khích
người lao động tự tạo việc làm, phát triển nhanh các loại hình doanh nghiệp
để thu hút nhiều lao động” [13, tr.213].

11
Như vậy, giải quyết việc làm cho người lao động là tổng thể các giải
pháp, chính sách kinh tế, xã hội tác động đến người lao động nhằm tạo ra
điều kiện và môi trường bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động có cơ
hội làm việc với chất lượng việc làm và thu nhập ngày càng cao.
1.1.2. Lao động nữ, việc làm của lao động nữ và giải quyết việc làm cho lao
động nữ
 Lao động nữ
Lao động nữ là một bộ phận quan trọng của lực lượng lao động quốc
gia, bao gồm một bộ phận dân cư là nữ trong độ tuổi lao động có khả năng
làm việc, đang có việc làm hoặc không có việc làm, mong muốn có việc làm.
Bộ Luật Lao động Việt Nam quy định: lao động nữ là những phụ nữ từ 18 -
55 tuổi có khả năng lao động, hiện đang có việc làm hoặc bị thất nghiệp. Như
vậy trong nội hàm của lao động nữ không bao gồm bộ phận nữ sinh ở các trường

phổ thông trung học, trung học chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, cao đẳng, đại
học, phụ nữ làm việc nội trợ, chăm sóc gia đình, không tham gia hoạt động kinh
tế, những phụ nữ ốm đau, dị tật bẩm sinh, không có khả năng lao động hoặc bị
mất khả năng lao động, những phụ nữ không có nhu cầu làm việc
Do đó, lực lượng lao động nữ bao gồm những phụ nữ trong độ tuổi lao
động, có khả năng lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và những
phụ nữ thất nghiệp nhưng đang có nhu cầu và mong muốn tìm kiếm việc làm.
 Việc làm của lao động nữ
Là một lực lượng lao động chủ yếu của xã hội, lao động nữ có những
đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế - xã hội nên vấn đề việc làm cho
lao động nữ là một vấn đề được quan tâm đặc biệt. Vấn đề việc làm cho lao
động nữ đã được đặt ra rất sớm và có nhiều quan điểm khác nhau:
Các Mác đã đề cập đến việc làm cho lao động nữ trong quá trình
nghiên cứu nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Theo Mác, khi nền sản xuất tư bản

12
chủ nghĩa hình thành và phát triển, máy móc dần thay thế cho con người trong
một số công việc nặng nhọc mà trước kia chỉ có lao động nam mới có thể đảm
nhận. Người lao động chuyển từ chỗ lao động trực tiếp, nay trở thành người
điều khiển sự vận hành của nó mà không cần thiết phải sử dụng nhiều sức lực
nên đã tạo điều kiện cho lao động nữ tham gia vào các hoạt động sản xuất với
những công việc mà phụ nữ có thể đảm đương được phù hợp với sức khỏe
của mình “ Vì máy móc làm cho lao động sức bắp thịt trở thành thừa, cho nên
nó trở thành một công cụ để sử dụng những người lao động không có sức bắp
thịt hoặc cơ thể chưa phát triển đầy đủ nhưng chân tay lại mềm mại hơn. Vì
vậy, khi tư bản sử dụng máy móc thì tiếng nói đầu tiên của nó là Lao động
phụ nữ và trẻ em” [ 6, tr.499].
Tổ chức Lao động quốc tế đã bàn về việc làm cho lao động nữ trong
Điều 8 Công ước xúc tiến việc làm năm 1988. Họ cho rằng mỗi quốc gia cần
căn cứ vào đặc điểm thực tiễn của mình để tạo mọi điều kiện giúp đỡ những

bộ phận yếu thế, khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm như lao động nữ
“Tuỳ theo thực tiễn và pháp luật hoặc quy định quốc gia mỗi nước thành viên
sẽ cố gắng thiết lập chương trình đặc biệt để khuyến khích những cơ hội có
việc làm thêm và sự trợ giúp việc làm và khuyến khích tự do lựa chọn việc
làm có hiệu quả những loại người bị bất lợi đã được xác định có thể bị khó
khăn trong việc tìm kiếm việc làm lâu dài như phụ nữ, thiếu niên, người bị
khuyết tật, người thất nghiệp vĩnh viễn, người lao động di trú hợp pháp tại
nước thành viên và những người lao động dôi ra do thay đổi cơ cấu” [10].
Bộ Luật Lao động (1994) của nước ta đã dành riêng một chương cho
lao động nữ ( Chương X- Những quy định riêng đối với lao động nữ). Ngoài
ra, những nội dung khác về việc làm của lao động nữ cũng được lồng ghép
trong một số chương và điều khác trong bộ Luật. Trong Khoản 1, Điều 109
của Bộ Luật Lao động đã chỉ rõ “ Nhà nước bảo đảm quyền làm việc của phụ

13
nữ bình đẳng về mọi mặt với nam giới, có chính sách khuyến khích người sử
dụng lao động tạo điều kiện để người lao động nữ có việc làm thường xuyên,
áp dụng rộng rãi chế độ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt, làm việc không
trọn ngày, không trọn tuần, giao việc làm tại nhà” [3].
Như vậy, việc làm của lao động nữ là những công việc mà pháp luật
thừa nhận mang lại thu nhập cho lao động nữ, tạo điều kiện cho họ độc lập về
kinh tế và phát triển các mối quan hệ xã hội.
 Giải quyết việc làm cho lao động nữ
Giải quyết việc làm cho lao động nữ là vấn đề được Đảng và Nhà nước
ta rất quan tâm. Khoản 2, Điều 109 của Bộ Luật Lao động khẳng định “Có
chính sách và biện pháp từng bước mở mang việc làm, cải thiện điều kiện lao
động, nâng cao trình độ nghề nghiệp, chăm sóc sức khoẻ, tăng cường phúc lợi
về vật chất và tinh thần của lao động nữ”. Lao động nữ được xếp vào nhóm
lao động yếu thế, do đó quan tâm tạo mọi điều kiện giải quyết việc làm cho họ
là nhiệm vụ của toàn xã hội để cải thiện tình trạng bất bình đẳng giới trên

nhiều phương diện, trong đó có phương diện lao động - việc làm. Xã hội càng
phát triển, vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nữ càng cần được quan
tâm để từng bước rút ngắn sự bất bình đẳng giữa nam và nữ; sử dụng có hiệu
quả tiềm năng to lớn về sức lao động của phụ nữ; giải phóng hoàn toàn người
phụ nữ, giúp phụ nữ khẳng định vai trò và vị thế của mình trong gia đình và
ngoài xã hội, từ đó nâng cao chỉ số phát triển con người và thúc đẩy xã hội
ngày càng tiến bộ, văn minh.
Từ khái niệm giải quyết việc làm, chúng ta có thể hiểu: giải quyết việc
làm cho lao động nữ là tổng thể những chính sách, biện pháp, những hoạt
động tác động vào tất cả các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản
lý kinh tế - xã hội để tạo ra việc làm phù hợp với lao động nữ nhằm mang lại
thu nhập cho họ mà không bị pháp luật ngăn cấm.

14
1.2. Sự cần thiết phải giải quyết việc làm cho lao động nữ
Cùng với sự phát triển của đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản Việt Nam, sự quan tâm của toàn xã hội trong công tác giải quyết việc làm
và sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của phụ nữ Việt Nam đã giúp phụ nữ
khẳng định vai trò, vị thế và sự tiến bộ của giới mình trên mọi lĩnh vực, góp
phần không nhỏ vào những thành quả trong công cuộc đổi mới đất nước. Tuy
nhiên, mặc dù tư tưởng “ trọng nam, khinh nữ” đã dần được xóa bỏ nhưng
quan niệm gắn phụ nữ với thiên chức làm vợ, làm mẹ và đảm nhận vai trò
người nội trợ trong gia đình là công việc chính vẫn còn phổ biến. Điều này đã
trở thành rào cản đối với người phụ nữ trong việc tham gia vào các công việc
ngoài xã hội. Trong điều kiện đất nước còn chậm phát triển, những vấn đề xã
hội căn bản như thất nghiệp, thiếu việc làm, đói nghèo, tệ nạn xã hội còn chưa
được giải quyết triệt để thì nhìn chung người phụ nữ đang phải chịu thiệt thòi
và tiềm năng to lớn của phụ nữ chưa được sử dụng và phát huy một cách đầy
đủ. Ngay cả khi chưa chịu sức ép của những vấn đề xã hội trên, chỉ với công
việc gia đình trong một chừng mực nào đó, người phụ nữ phải đảm nhận là

chính cũng đã tác động không nhỏ tới việc phát huy tiềm năng lao động của
người phụ nữ. Đề cập đến vấn đề này, Lênin cho rằng: "Phụ nữ phải còn bận
công việc gia đình, nên địa vị của họ không tránh khỏi bị hạn chế. Muốn triệt
để giải phóng phụ nữ, muốn làm cho họ thật bình đẳng với nam giới, thì cần
phải có kinh tế cộng đồng, cần phải để phụ nữ tham gia lao động sản xuất
chung. Như vậy, phụ nữ mới sẽ ngang hàng với nam giới" [17]. Lênin cho
rằng vấn đề việc làm là một trong những vấn đề cơ bản, đảm bảo cho lao
động nữ có cơ hội vươn lên để khẳng định vị trí của họ trong xã hội. Như vậy,
vị thế của người phụ nữ chỉ có thể được khẳng định khi được xã hội quan tâm
giải quyết việc làm và tạo điều kiện cho họ tham gia vào hệ thống phân công
lao động xã hội để sử dụng khả năng lao động, tạo ra sự độc lập về kinh tế và
sự bình đẳng so với nam giới trên mọi phương diện.

15
Vai trò và sự đóng góp của phụ nữ rất to lớn nhưng sự đánh giá lại
chưa xứng đáng, điều này biểu hiện ở chỗ phụ nữ ít khi có được công việc trả
lương cao, ít khi có được vị trí cao trong trong công việc và dễ bị gạt ra khỏi
guồng máy hoạt động của cơ quan khi có sự thay đổi trong cơ cấu, tổ chức.
Người phụ nữ ít có cơ hội tiếp cận các cơ hội việc làm, tính ổn định của công
việc không cao, một bộ phận không nhỏ lao động nữ tìm được việc làm nhưng
chủ yếu là các thỏa thuận việc làm không chính thức. Có thể thấy, tiềm năng
lao động của lao động nữ là rất lớn nhưng họ lại gặp phải quá nhiều rào cản
trong điều kiện thị trường lao động vẫn còn đang bị phân loại theo giới tính.
Do đó, công tác giải quyết việc làm cho lao động nữ cần được đặc biệt quan
tâm để giúp người lao động nữ phát huy được hết khả năng lao động của mình
nhằm tránh sự lãng phí về nguồn nhân lực và nâng cao vị thế của phụ nữ
trong xã hội.
Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
(CNH, HĐH) đất nước. CNH, HĐH là quá trình xây dựng một cơ cấu kinh tế
hợp lý, quá trình này tất yếu sẽ mang lại những thay đổi sâu sắc cho toàn bộ

nền kinh tế Việt Nam nói chung và đời sống kinh tế của người dân Việt Nam
nói riêng. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ kéo theo quá trình chuyển
dịch cơ cấu lao động. Trong quá trình CNH, HĐH, các khu công nghiệp lớn
sẽ hình thành và phát triển, thu hút lao động có chất lượng cao. Người lao
động nữ muốn có việc làm ổn định cần phải đáp ứng đòi hỏi về mặt trình độ,
nắm bắt nhanh công nghệ mới được ứng dụng trong sản xuất. Đây vừa là
thách thức, yêu cầu mới; vừa là cơ hội để lao động nữ tiếp cận với đào tạo và
phát triển nâng cao trình độ của mình.
Lao động nữ có việc làm, có thu nhập, một mặt góp phần xây dựng
kinh tế gia đình, một mặt tham gia vào quá trình phát triển kinh tế, xã hội của
đất nước. Thực tế cho thấy, ở một số lĩnh vực mà lực lượng lao động nữ là

16
chủ yếu đã đem lại giá trị sản phẩm và giá trị xuất khẩu lớn trong nền kinh tế
nước ta hiện nay như dệt may, giầy dép, các ngành nghề thủ công mỹ nghệ,
Lao động nữ có việc làm ổn định sẽ tạo điều kiện cho họ ổn định cuộc
sống của gia đình, tạo điều kiện phát huy tốt vai trò của họ trong việc quản lý
gia đình và nuôi dạy con cái, tránh được các yếu tố rủi ro xảy ra trong quá
trình tìm kiếm việc làm. Tạo việc làm cho lao động nữ sẽ giúp cho lao động
nữ được tiếp cận với cơ hội đào tạo, phát triển, nâng cao trình độ, từ đó, trang
bị thêm cho lao động nữ sự tự tin, bản lĩnh vững vàng trong cuộc sống, giúp
cho lao động nữ hiểu rõ hơn quyền lợi và trách nhiệm của mình trong xã hội
để họ tự hoàn thiện mình.
Như vậy, giải quyết tốt vấn đề việc làm cho lao động nữ là vấn đề cấp
thiết, nó tạo cho lao động nữ cơ hội được độc lập về kinh tế và phát triển các
mối quan hệ xã hội, đáp ứng được các yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế
- xã hội và thúc đẩy sự tiến bộ của phụ nữ ở nước ta hiện nay.
1.3. Đặc điểm việc làm của lao động nữ và các nhân tố ảnh hưởng đến
việc làm của lao động nữ
1.3.1. Đặc điểm lao động nữ và việc làm của lao động nữ

 Đặc điểm của lao động nữ
- Tính đặc trưng về sức khỏe, tính cách, tâm lý xã hội và chức năng
sinh học của lao động nữ
Lao động nữ được xếp vào nhóm lao động đặc thù bởi những đặc điểm
riêng biệt về thể chất, tinh thần, chức năng sinh học Lao động nữ là người
lao động có giới tính là nữ, ngoài việc thực hiện nghĩa vụ lao động như nam
giới, họ còn đảm nhận thiên chức làm vợ, làm mẹ và chăm sóc gia đình. Họ bị
chi phối nhiều bởi yếu tố gia đình, vừa là người lao động, vừa là người nội
trợ, trong khi công việc gia đình đã chiếm rất nhiều thời gian và công sức của
họ. Chức năng thiên bẩm của phụ nữ là mang thai, sinh con và nuôi con bằng

17
sữa mẹ. Từ thiên chức này của lao động nữ nên đối với từng quốc gia đã có
chính sách riêng phù hợp với lao động nữ. Chẳng hạn, ở Việt Nam Bộ Luật
Lao động đã quy định rõ thời gian nghỉ thai sản cho lao động nữ từ 4-6 tháng
tuỳ theo điều kiện lao động, tính chất công việc nặng nhọc, độc hại và nơi xa
xôi hẻo lánh ( Điều 114) hay thời gian nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi, lao
động nữ được nghỉ sớm mỗi ngày 60 phút mà vẫn được hưởng đủ lương
( Điều 115); chủ sử dụng lao động không được chấm dứt hợp đồng với lao
động nữ trong thời gian họ nghỉ sinh con Tuy nhiên, không ít doanh nghiệp
chưa thực sự tuân thủ các quy định của Bộ Luật Lao động hay họ không
muốn tuyển dụng lao động nữ do lao động nữ phải mất nhiều thời gian nghỉ
sinh con và nuôi con, đồng thời phải thực hiện các chế độ mà lao động nữ
được hưởng do pháp luật quy định nên ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp. Không riêng gì các doanh nghiệp, ngay cả một số cơ quan
nhà nước cũng ưu tiên hơn trong tuyển dụng nam giới (dù không công khai),
hoặc ngầm đưa ra một số điều khoản khi tuyển dụng nữ giới như yêu cầu một thời
gian nhất định mới được lập gia đình và sinh con… Điều này đã tạo nên những rào
cản không nhỏ đến bình đẳng giới và cơ hội việc làm cho lao động nữ.
Lao động nữ có những đặc trưng riêng biệt về thể chất, sức khỏe, tính

cách, tâm lý và đặc điểm xã hội, từ đó tác động đến việc làm của họ. Do tạo
hoá, phụ nữ nhìn chung có thể hình nhỏ bé hơn, sức mạnh và độ dẻo dai kém
hơn lao động nam. Tuy nhiên, phụ nữ lại có những thế mạnh nổi trội mà
nam giới không có được. Đó là đức tính chăm chỉ, chịu khó, kiên trì, nhẫn
nại, khéo léo, thận trọng, cần cù, chịu đựng, bền bỉ, miệt mài và tận tụy với
công việc nên trong một số lĩnh vực đòi hỏi các đức tính trên thì những
việc làm do lao động nữ đảm nhận thường mang lại hiệu quả cao hơn so
với nam giới, ví dụ như ngành tài chính, giáo dục, viễn thông, thương mại,
may mặc, làm nghề truyền thống …

18
- Bất bình đẳng giới và bất bình đẳng thu nhập còn tồn tại phổ biến
Lao động nữ thuộc nhóm lao động yếu thế, phải chịu nhiều thiệt thòi
vì định kiến giới, đặc biệt là trong lĩnh vực lao động. Họ dễ rơi vào tình
trạng bị bóc lột sức lao động, dễ bị tổn thương và bất bình đẳng trong việc
làm so với nam giới do thị trường lao động vẫn đang được phân loại theo
giới tính. Qua khảo sát cho thấy, các công việc đòi hỏi kỹ thuật cao thì có đến
50% số quảng cáo yêu cầu ứng viên phải là nam giới, chỉ có 17% yêu cầu ứng
viên là nữ. Một phát hiện nữa là sự phân biệt đối xử giới trực tiếp không
nhiều, nhưng sự bất bình đẳng giới lại được ẩn đi, thông qua các yêu cầu về
đào tạo, trình độ học vấn, lứa tuổi hoặc hình thức. Những yêu cầu này nhiều
khi không thực sự cần thiết cho công việc. Thực tế hiện nay, lao động nữ chưa
được đối xử bình đẳng trong tuyển dụng bởi trách nhiệm lớn lao của họ khi
sinh đẻ và nuôi con nhỏ. Một số doanh nghiệp chỉ kí hợp đồng ngắn hạn hoặc
áp đặt quy định trong một thời gian nhất định lao động nữ không được lập gia
đình hoặc sinh con; thậm chí một số doanh nghiệp còn buộc lao động nữ thôi
việc khi họ sinh con. Hơn nữa còn do thiên chức làm mẹ và làm vợ nên họ
phải dành một khoảng thời gian không nhỏ cho gia đình nên thời gian để dành
cho công việc, cống hiến cho xã hội cũng như cơ hội để thăng tiến trong công
việc của phụ nữ bị hạn chế hơn nam giới.

Thực tế cho thấy, lao động nữ không chỉ bất bình đẳng với nam giới
trên phương diện cơ hội việc làm mà họ còn phải chịu sự bất bình đẳng so với
lao động nam cả về phương diện thu nhập. Mặc dù về mặt lý thuyết, trong các
doanh nghiệp, tiền lương tối thiểu phụ thuộc vào kết quả lao động và hiệu quả
kinh tế, do đó tiền lương, tiền công trả cho người lao động bảo đảm được tính
công bằng, không có sự phân biệt về giới. Tuy nhiên, trong thực tế, thu nhập
bình quân của lao động nữ luôn thấp hơn mức thu nhập chung và thu nhập của
nam giới ở mọi cấp so sánh. Theo Bộ LĐ,TB&XH, thu nhập thực tế của lao

×