MỞ ĐẦU
Trong nửa cuối thế kỷ XX người ta đã chứng kiến sự ra đời và phát
triển mạnh mẽ của một ngành công nghệ mới. Đó là lĩnh vực
nghiên cứu và ứng dụng các Zeolít, đặc biệt là trong công nghệ Lọc-
Hoá Dầu. Zeolít được sử dụng làm chất xúc tác có hoạt tính và độ
chọn lọc cao, dễ tách khỏi sản phẩm và không gây ô nhiễm môi
trường. Với những ưu điểm như vậy nó đã thúc đẩy nhiều nhà khoa
học đi sâu vào biến tính và tìm kiếm những Zeolít mới nhằm mục
đích đưa vào ứng dụng xúc tác trong công nghiệp [8].
Xúc tác Cracking hiện đang đối đầu với hai thách thức lớn:
1. Yêu cầu nghiêm ngặt về môi trường đòi hỏi xăng Cracking vẫn
đảm bảo chỉ số octan cao nhưng không chứa hợp chất của chì và
giảm tối thiểu hàm lượng hydrocacbon thơm.
2. Công nghiệp hoá dầu phát triển mạnh đòi hỏi một nguồn nguyên
liệu dồi dào mà quan trọng là các olefin.
Ngày nay, hầu hết các chất xúc tác Cracking dầu mỏ đều chứa hai
hợp phần chính là Zeolít và chất nền (matrix). Sự nổi trội của Zeolít
với vai trò là một chất thêm định hướng cho việc tăng chỉ số octan
và tăng hiệu suất tạo olefin. Đặc tính của Zeolít là diện tích bề mặt
riêng khá lớn, hệ thống mao quản đồng đều, độ axit và độ đồng đều
cao, khả năng chọn lọc hình dạng rất tốt [2]. Đây là một trong
những vật liệu vô cơ mao quản lý tưởng trong tương lai.
ở Việt Nam, ngành công nghiệp lọc hoá dầu đang bắt đầu xây
dựng. Các quy định về sử dụng xăng không pha chì trong toàn quốc
cũng đang được thực thi. Tình hình này đòi hỏi một nhu cầu rất cao
cả về số lượng và chất lượng của xúc tác Cracking. Việt Nam là
nước có tiềm năng lớn về nguyên liệu chế tạo xúc tác Cracking (các
mỏ khoáng sét, đất hiếm…với trữ lượng dồi dào). Trong khi đó số
lượng nghiên cứu về xúc tác Zeolít cũng như hoạt tính của Zeolít
còn hạn chế. Do vậy, điều chế và nghiên cứu xúc tác cho phản ứng
là một trong những vấn đề quan trọng và có ý nghĩa rất lớn về mặt
khoa học, thực tiễn và mang tính thời sự.
Do đó, trong khuôn khổ bản đồ án này em điều chế và nghiên cứu
hoạt tính của các xúc tác ZeolítX, ZeolítY, ZeolítP trên phản ứng
Cracking hydrocacbon (n-Hecxan).
Hy vọng rằng, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật cùng với việc
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, việc ứng dụng xúc tác
Zeolít sẽ làm góp phần đáng kể trong công cuộc xây dựng đất nước.
PHẦN I:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
I. Tổng quan về Zeolít
I.1. Sơ lược lịch sử và sự phát triển của Zeolít .
30
Zeolít bắt đầu được phát hiện vào năm 1756 đến nay đã hơn 3 thế
kỷ. Năm 1756, Le Bron Bronstedt [13] là một nhà khoáng học
người Thụy Điển đã phát hiện ra một loại khoáng mới với tên gọi là
Zeolít, theo tiếng Hy Lạp “Zeo”: sôi, “Lithot”: đá, vì vậy Zeolít còn
có nghĩa là đá sôi.
Ông đã phát hiện được Zeolít nhờ hơi nước thoát ra khi nung
khoáng này. Tuy nhiên mãi đến thế kỷ sau Zeolít mới bắt đầu được
nghiên cứu kỹ ở phòng thí nghiệm.
Vào năm 1932, Mac Bai [14] đã làm rõ hiệu ứng “Rây phân tử”, sau
đó vào năm 1944, Barrer và Ibbitson đã chỉ ra rằng hiệu ứng này
cho phép tách các n và iso parafin.
Bắt đầu từ thời điểm đó các loại Zeolít được phục vụ cho công
nghiệp. Đến năm 1956 người ta mới tổng hợp được các loại Zeolit
đầu tiên.
Vào những năm cuối thế kỷ XX này sự hiểu rõ về Zeolít tương đối
sâu rộng. Đến nay đã có hơn 35 loại Zeolít tự nhiên được tìm thấy
và rất nhiều Zeolít tổng hợp được ra đời [5].
Việc nghiên cứu các mặt Zeolít ngày càng tăng. Hiện nay đã có
khoảng hơn 15.000 công trình đã công bố và hơn 10.000 phát
minh sáng kiến về tổng hợp Zeolít cả về cấu trúc và ứng dụng nó.
Đặc biệt riêng trong năm 2000 đến nay đã có hơn 1060 loại Zeolít
tổng hợp mới ra đời.
Như vậy, Zeolít có tầm quan trọng lớn lao trong khoa học và kỹ
thuật. Trong tất cả các loại Zeolít hiện có, người ta đã biết rõ thành
phần, tính chất ứng dụng, cấu trúc mạng tinh thể của nhiều loại
30
Zeolít tự nhiên và Zeolít tổng hợp như: Zeolít A, Zeolít Y, Zeolít X,
Zeolít ZSM-5, Zeolít ZSM-11,…
I.2. Giới thiệu về Zeolít
I.2.1. Khái niệm và phân loại.
I.2.1.1. Khái niệm.
Zeolít là hợp chất vô cơ dạng aluminosilicat tinh thể có cấu
trúc không gian ba chiều, lỗ xốp đặc biệt và trật tự cho phép chúng
phân chia (Rây) phân tử theo hình dạng và kích thước. Vì vậy,
Zeolít còn được gọi là hợp chất rây phân tử.
Thành phần chủ yếu của Zeolít là Si, Al, Oxi và một số kim loại
kiềm, kiềm thổ khác.
Công thức chung của Zeolít là:
M
2/n
O . Al
2
O
3
. x SiO
2
. y H
2
O
Trong đó: M: Cation có khả năng trao đổi.
n: Hoá trị của cacbon.
x: Tỉ số mol SiO
2
/Al
2
O
3
.
y: Số phân tử nước trong đơn vị cơ sở ( khoảng từ 1 ÷12 ).
Tỷ số x≥ 2 là sự thay đổi đối với từng loại Zeolít cho phép xác
định thành phần và cấu trúc của từng loại.
Ví dụ: Zeolít A có x = 2.
Zeolít X có x = 2,3÷ 3.
Zeolít Y có x = 3,1÷ 6.
Mordenit tổng hợp có x ≈ 10. Đặc biệt các Zeolít họ pentasit có
x=20÷1000. Riêng đối với Zeolít ZSM-5 được tổng hợp dùng chất
cấu trúc có 7≤x≤200.[16]
30
Gần đây người ta đã tổng hợp được các loại Zeolít có thành
phần đa dạng có tỷ lệ mol SiO
2
/Al
2
O
3
cao thậm chí có những loại
cấu trúc tương tự Zeolít mà hoàn toàn không chứa các nguyên tử
nhôm như các silicatic…
I.2.1.2. Phân loại Zeolit.
Có nhiều cách phân loại Zeolít nhưng thông thường người ta
phân loại theo nguồn gốc, kích thước mao quản và theo thành phần
hóa học.
Theo cách này có 5 nhóm:
Zeolít nghèo Silic hoặc nhôm.
Zeolít trung bình Silic.
Zeolít giàu Silic.
Rây phân tử Silic.
Zeolít biến tính.
+ Phân loại theo nguồn gốc:
Có 2 loại: Zeolít tự nhiên và Zeolít tổng hợp.
- Zeolít tự nhiên thường kém bền và do thành phần hoá học biến
đổi đáng kể nên chỉ có một vài loại Zeolít tự nhiên có khả năng ứng
dụng thực tế như: Analcime, chabazite, hurdenite, clinoptilonit và
chúng chỉ phù hợp với những ứng dụng mà không yêu cầu tinh khiết
cao. [4]
- Zeolít tổng hợp như: ZeolítA, ZeolítX, ZeolítY,ZeolítZSM-
5,ZSM-11 Zeolít tổng hợp có thành phần đồng nhất và tinh khiết,
đa dạng về chủng loại nên được ứng dụng rất rộng rãi trong công
nghiệp cũng như trong nghiên cứu.
30
+ Phân loại Zeolít theo kích thước mao quản:
Việc phân loại Zeolít theo kích thước mao quản rất thuận tiện
cho việc nghiên cứu ứng dụng Zeolít, theo cách này ta chia Zeolít ra
làm 3 loại:
Zeolít có mao quản rộng: đường kính mao quản từ 7A
0
đến 8A
0
.
Zeolít mao quản trung bình: từ 5A
0
đến 6A
0
.
Zeolít mao quản hẹp: dưới 5A
0
+ Phân loại Zeolít theo thành phần hoá học:
Zeolít giàu Al: là loại Zeolít có tỉ số SiO
2
/Al
2
O
3
≥ 2.
Theo quy luật Lowenstein xác định rằng: Trong cấu trúc Zeolít
hai nguyên tử Al không thể tồn tại lân cận nhau. Nghĩa là trong cấu
trúc Zeolít không thể tồn tại các liên kết Al-O-Al, mà chỉ tồn tại các
liên kết -Si-O-Si- và -Si-O-Al Do vậy, tỷ số SiO
2
/Al
2
O
3
là giới hạn
dưới không có tỷ số SiO
2
/Al
2
O
3
< 2 [4]. Khi tỷ số này gần 2 thì
Zeolít được coi là giàu nhôm.
Zeolít silic trung bình:
Với Zeolít loại này tỉ lệ SiO
2
/Al
2
O
3
= 4÷ 5 và có thể tới 10.
Zeolít thuộc họ này là ZeolítX, ZeolítY, Sabazit ( 2,15 )
Zeolít giàu silic:
Loại này tương đối bền nhiệt nên được sử dụng trong nhiều quá
trình xúc tác có điều kiện khắc nghiệt, đó là các Zeolít thuộc họ
ZSM, được tìm ra bởi hãng Mobil, tỉ lệ (SiO
2
/Al
2
O
3
)
= 20÷ 200,
đường kính mao quản từ 5,1 A
0
đến 5,7 A
0
, cấu trúc khung của ZSM
thường có khoảng 10 nguyên tử Al tương ứng với 1000 nguyên tố
Si trong mạng. Ngoài ra có rất nhiều Zeolít tổng hợp khác có tỉ số
30
Si/Al cao được tổng hợp nhờ sự có mặt của chất tạo cấu trúc
(Template ) họ amin bậc 4: R
4
N
+
.
Rây phân tử Silic.
Là loại vật liệu có cấu trúc tinh thể hoặc tương ứng như
aluminosilicat tinh thể nhưng hoàn toàn không chứa nhôm. Vật liệu
này kị nước và không chứa các cation bù trừ điện tích (hoàn toàn
không có tính chất trao đổi ion).
Zeolit biến tính.
Là Zeolít sau khi tổng hợp được người ta có thể dùng các
phương pháp biến tính để biến đổi thành phần hoá học của Zeolít.
Ví dụ như phương pháp tách nhôm ra khỏi mạng lưới tinh thể và
thay thế vào đó là Silic hoặc nguyên tố có hoá trị 3 hoặc hoá trị 4
gọi là phương pháp tách nhôm.
Theo tác giả [17] sự phân loại Zeolít tổng hợp theo thành phần
hoá học được thống kê trong bảng 1.
Việc phân chia Zeolít theo tỷ số SiO
2
/Al
2
O
3
được coi là một đặc
trưng quan trọng ảnh hưởng đến cấu trúc, tính chất lý hoá học của
Zeolít.
Bảng 1: sự biến đổi tính chất của Zeolit khi tỷ số SiO
2
/Al
2
O
3
.
tỷ số SiO
2
/Al
2
O
3
1. Tính chất bền nhiệt tăng từ (700÷1300)
0
C
2. Cấu trúc thay đổi từ vòng 4,6,8 đến vòng
30
h
g
-1
5.
3. Tính chất bề mặt từ ưa nước đến kị nước .
4. Lực axít trên từng tâm axít tăng.
5.Dung lượng trao đổi ion giảm.
I.2.2. Cấu trúc của Zeolít .
I.2.2.1. Đặc điểm cấu trúc của Zeolít .
Zeolít có cấu trúc tinh thể, các Zeolít tự nhiên cũng như Zeolít
tổng hợp có bộ khung được tạo thành bởi mạng lưới không gian 3
chiều của các tứ diện TO
4
( T là Si hoặc Al ).
Mỗi tứ diện TO
4
có 4 ion O
2-
bao quanh một cation T(Si, Al).
Mỗi tứ diên liên kết với 4 tứ diện bên cạnh bằng cách góp chung các
nguyên tử oxy ở đỉnh [18]. Trong tứ diện AlO
4
có hoá trị 3 nhưng số
phối trí là 4 nên tứ diện AlO
4
mang một điện tích âm.
Điện tích âm này được bù trừ bằng cation kim loại, còn gọi là
cation bù trừ điện tích khung và thường là cation kim loại kiềm. Vì
vậy, số cation kim loại hoá trị 1 trong thành phần hoá học của Zeolit
chính bằng số nguyên tử nhôm (Al).
Đơn vị cấu trúc cơ bản của Zeolit là các tứ diện TO
4
chúng
được biểu diễn ở hình 1:
Tứ diện SiO
4
Tứ diện
AlO
4
Hình 1: Đơn vị cấu trúc cơ bản của Zeolít.
30
O
-2
-
Các SBU (Secondary Building Unit) và các khối đa diện trong
Zeolít được trình bày ở các hình 2 và 3.
Các đơn vị cấu trúc thứ cấp SBU, được tạo ra do sự liên kết các tứ
diện TO
4
theo một trật tự xác định và tuân theo quy tắc thực
nghiệm-Lowenstein.
Hình 2: Các đơn vị cấu trúc cơ thứ cấp (SBU) trong cấu trúc Zeolit
Hình 3:Một số đa diện có trong zeolít
30
S
4
R S
6
R
D
4
R
(4-1) (5-1) (4-1-1)
Các đơn vị cấu trúc thứ cấp SBU có thể là các vòng oxy gồm các
vòng 4, 6, 8, 10, 12…cạnh hoặc các vòng kép 4x2, 6x2, 8x2, vv…
Tuỳ theo cách ghép nối các SBU theo kiểu này hay kiểu kia mà sẽ
tạo ra các loại Zeolít khác nhau [32]. Hình 4 chỉ ra cách ghép nối
các đơn vị cấu trúc tạo ra Zeolít.
Hình 4: các đơn vị cấu trúc và cách ghép nối tạo ra Zeolit.
I.2.2.2. Phân loại cấu trúc Zeolit [12]
Dựa trên cơ sở hình học của khung cấu trúc Zeolít, Smith, Fisher và
Meier, Breck đã phân loại Zeolít thành 7 nhóm đơn vị SBU. Mỗi
SBU đặc trưng cho một cách sắp xếp của tứ diện TO
4
. 7 nhóm phân
loại đó là:
Bảng 2: Nhóm đơn vị cấu trúc sơ cấp.
Nhóm Đơn vị cấu trúc sơ cấp (SBU)
1 Vòng 4 cạnh đơn, S
4
R
2 Vòng 6 cạnh đơn, S
6
R
3 Vòng 4 cạnh kép, D
4
R
4 Vòng 6 cạnh kép, D
6
R
5 Tổ hợp 4-1, đơn vị T
5
O
10
6 Tổ hợp 5-1, đơn vị T
8
O
16
7 Tổ hợp 4-4-1, đơn vị T
10
O
20
Phương pháp phân loại này cho phép dễ dàng mô tả cấu trúc Zeolít
bằng các đơn vị cấu trúc đa diện.
I.3.3. Cấu trúc kênh trong Zeolít .
Các sodalit ghép nối với nhau tạo thành một khoang rỗng các cửa sổ
to, nhỏ khác nhau, nhờ đó mà Zeolít có cấu trúc “xốp”. Tập hợp
không gian rỗng tuân theo một quy luật nhất định sẽ cấu tạo cấu trúc
kênh của Zeolít. Bản chất của hệ mao quản trong Zeolít dehydrat
30
hoá là rất quan trọng, nó xác định tính chất vật lý và hoá học của
Zeolít Trong các Zeolít có 3 loại hệ thống mao quản như sau:
* Hệ thống mao quản một chiều: Các mao quản không giao nhau
thuộc loại này có họ Analeim (hình 5).
Hình 5: Hệ thống mao quản 1 chiều không giao nhau trong Zeolit.
Hình 6: Hệ thống mao quản 2 chiều trong khung Zeolít.
* Hệ thống mao quản 3 chiều, có các mao quản cùng chiều, đường
kính của các mao quản bằng nhau và không phụ thuộc vào hướng…
Ví dụ faujasit (X,Y,A) (hình 7,8)
Hình 7 :Hệ thống mao quản 3 chiều trong khung zeolít X(a) và
Y(b).
Hình 8: Hệ thống mao quản 3 chiều trong zeolít.
I .3 Cấu trúc một số zeolit cần nghiên cứu.
I.3.1 Cấu trúc Zeolít X và Zeolít Y.
Zeolít Y được Breck ( hảng carbide) phát minh vào năm 1964
[20].
30
o
o
o
o
Trong cấu trúc zeolít X, zeolít Y,các lồng sodalit có dạng bác diện
cụt được sắp xếp theo kiểu kim cương Hình 8 .Mỗi nút mạng của
zeolít X, zeolít Y đều là các bát diện cụt và mỗi bát diện cụt đó liên
kiết một bác diện cụt khác ở 6 cạnh thông qua liên kết cầu oxy số
mặt 6 cạnh của bác diện cụt là 10 .Do vậy, tồn tại 4 mặt 6 cạnh còn
trống của mổi bát diện cụt trong zeolit X, Zeolít Y.
Hình 9: cấu trúc tinh thê của Zeolít X và Zeolít Y
Số tứ diện Si0
4
và Al0
4
-
trong một ô mạng cơ sở của zeolítX,
ZeolítY là 192, số nguyên tử oxy là 384.Sự phân biệt giữ zeolitX và
zeolítY dựa vào tỷ
số Si0
2
/Al
2
0
3
. Nếu tỷ số này bằng 2 ÷ 3 thì ta có zeolít X , cao hơn
ta sẽ có zeolít Y.
Công thức hoá học của một số ô mạng cơ sở của zeolít X và zeolit
Y như sau.
Zeolit X : Na
86
[(Al0
2
)
86
.(Si0
2
)
106
].260 H
2
0 .
Zeolit Y : Na
86
[(Al0
2
)
56
.(Si0
2
)
136
].260 H
2
0 .
Như vậy, zeolít X giàu nhôm hơn zeolítY mặt dù tổng các cation
Si
4+
và Al
3+
đều bằng 192 và bằng số đỉnh của một ô mạng cơ sở
( mỗi đỉnh của một bát dịên cụt là Si hoặc Al ).
30
Vì tỷ số SiO
2
/Al
2
O
3
zeolít Y lớn hơn zeolít X nên dộ bền cơ nhiệt
của zeolít Y cao hơn zeolít X ,do sự tạo thành liên kết giữa các mặt
zeolít X và zeolít Y khác với zeolít A nên cấu trúc cũng khác
.Đường kính của zeolít X và zeolít Y khoảng 12,7 A
0
.
Do liên kết ở các mặt 6 cạnh nên tồng tại ba dạng cữa sổ tương ứng
với các mặt thông nhau với các hốc . Khi hai hốc thông nhau cữa sổ
trong trường hợp này là lớn nhất với vòng 12 oxy kích thước 7,8 A
0
.
Khi các hốc thông với nhau qua cữa sổ , trong trường hợp này có
vòng 6 oxy vớ kích thước 2,2A
0
[1]
I.3.2 cấu trúc zeolít P .
Zeolít P là loại zeolít có kích thước mao quản bé có khả nảng hấp
phụ khí . Xúc tác zeolít P có công thức hoá học là .
Na
2
0.Al
2
0
3
.2,5.Si0
2
.5H
2
0 .
Bảng 3 : Một số thông số cơ bản của zeolít [ 9 ] .
Stt Thông số Giá trị
1
Tỉ lệ χ = Si0
2
/ Al
2
0
3
1,1 ÷ 2,5
2 đơn vị
S4R (Vòng 4 cạnh song
song)
3 Kích thước mao quản
Theo hai hướng a và b là :
(3,4 × 4,4)A
0
và (2,8 ×
4,9)A
0
4
hấp phụ phân tử có kích
thước max
H
2
0
30
Hình 10 : các cấu trúc của zeolít P.
I.4. Giới thiệu các hướng tổng hợp zeolít .
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu công bố về các phương pháp
tổng hợp zeolít .Việc tổng hợp zeolít đi từ nguồn nguyên liệu ban
đầu gồm hai nguồn Si và Al riêng lẻ,hoặc có thể đi từ khoáng sét tự
nhiên . Zeolít được hình thành trong quá trình thuỷ nhiệt ở nhiệt độ
từ (50 ÷ 300)
0
C [4].
Dưới đây sẽ giới thiệu về quá trình tổng hợp zeolít từ hai hướng kể
trên
I.4.1 Tổng hợp zeolít đi từ nguồn Si và Al riêng lẻ .
Từ nguồn Si và Al ban đầu trong hai dung dịch riêng lẻ, sau khi trộn
lẫn chúng với nhau trong môi trường có nhiệt độ và PH nhất định ,
gen aluminosilicat sẽ được hình thành . Sự hình thành gen là do quá
trình ngưng tụ các liên kết ≡ Si -0H và = Al - 0H để tạo ra các liên
kết mới Si - 0–Si,Si–0 – Al dưói dạng vô định hình. Sau đó gen
được hoà tan nhờ các tác nhân khoáng hoá (0H
-
,F
-
) tạo nên cá đơn
30
v cu trỳc th cp (SPU).Trong cỏc Iu kin thớch hp (nh cht
to cu trỳ , nhit , ỏp xut ) . Cỏc SPU s liờn kt vi nhau
to nờn cỏc mm tinh th ri cỏc mm ny ln dn lờn thnh cỏc
tinh th hon chnh ca zeolớt Hỡnh 11.
Chất khoáng hoá
Đơn vị cấu trúc (Si hoặc Al)
Tác nhân tạo
cấu trúc
Na, K
TMA,TPA
N#ớc
Gel vô định
hình
T, C
50 - 300
H2O
Tinh thể Zeolit
Hòa
tan gel
Quá trình
tạo mầm
lớn lên
của tinh
thể
Quá
trình
gel
hóa
Nguyên liệu
Nguồn Si, Al (P, Ga, Fe, Ge,B )
Các ion khác
Hỡnh 11:S quỏ trỡnh tng hp zeolớt t hai ngun Si v Al riờng
l .
Tu thuc vo cỏc kt ni ca cỏc SBU chỳng ta s thu c cỏc kt
ni cú cu trỳc tinh th khỏc nhau .Hỡnh 10 mụ t cỏch ghộp ni
giu cỏc SBU v quỏ trỡnh to mm ln lờn ca tinh th . Nu bỏc
din ct c ni vi nhau qua mt t din ta s c zeolớt cú cu
trỳc tinh th loi zeolớt A , cũn ni qua mt 6 cnh s c loi
Zeolớt Y [ 7] .
30
Nguồn chứa zeolít ban đầu thường được sử dụng Na
2
Si0
3
, Si0
2
gel
hoặc Si0
2
sol , (R0)
4
Si …và nguồn Al thưòng là NaAl0
2
, Al
2
(S0
4
)
3
…Thành phần hỗn hợp tổng hợp thường biểu diễn thông qua các tỷ
lệ 0H
-
/ Si0
2
; Na
+
/ Si0
2
,R
4
N
+
/ Si0
2 ,
,Si0
4
/ Al
2
0
3
.
Bảng 4 : Trình bày các đIều kiện tổng hợp zeolít X ,zeolít Y
mordenit .
( Tính theo mol chất phản ứng Al
2
0
3
)
Zeolít Na
2
0 Si0
2
H
2
0 T ,
0
C T(h) Si0
2
/Al
2
0
3
X 3,6 3,0 144 100 7 2,5
Y 8,0 20 320 100 7 5,0
Mordenit 6,3 27 61 100 168 12
I.4.2 Tổng hợp zeolít từ khoáng sét tự nhiên .
Ngoài hướng tổng hợp zeolít đi từ nguồn Si và Al riêng lẻ đã trở
thành phổ biến, một hướng nghiên cứu mới đã đượcc một số nhà
khoa học quan tâm , đó là tổng hợp zeolít từ khoáng sét tự nhiên
.Đặt biệt là khoáng sét mà ở đây là cao lanh .
• Thành phần hoá học của cao lanh .
Đây là một khoáng sét tự nhiên ngậm nước mà thành phần chính là
kaolinít , có công thức hoá học đơn giản là .
Al
2
0
3
.2.Si0
2
.2H
2
0 .
Công thức lí tưởng là : Al
4
(Si
4
0
10
).(0H)
8
.
Với hàm lượng : Si0
2
= 46,54% .
Al
2
0
3
= 39,5%.
và H
2
0 = 13,96% .
30
Tuy nhiên trong thiên thành phần lý tưởng này rất hiếm [ 4 ].trong
cao lanh ngoài 3 thành phần chính kể trên thường xuyên có mặt
Fe
2
0
3
, Ti0
2
, Mg0 , và Ca0 ,ngoài ra còn có K
2
0 , Na
2
0 với hàm
lượng nhỏ và các khoáng khác nhau : feldspar , limonit , quartz ,
anatase .
So với các khoáng khác , lượng Al
2
0
3
trong caolinite thường lớn hơn
từ
(36,83 ÷ 40,32),% còn lượng nước hấp phụ trên bề mặt , lượng
K
2
0
3
và Mg0 thường rất nhỏ , tương ứng không vượt quá 2% ,1% và
1,2% [4] .
Thành phần hoá học của kaolinit có ảnh hưởng tới cầu trúc tính chất
và khả năng sử dụng chúng . Do đó , việc xác địng chính xác thành
phần hoá học của kaolinit là rất cần thiết, nhằm định hướng biến
tính chúng theo các mục đích sử dụng khác nhau sao cho đem đến
hiệu quả nhất .
•Phương pháp tổng hợp zeolít đi từ khoáng sét .
Qua nhiều công trình đã nghiên cứu thì khoáng sét tự nhiên được sử
dụng làm nguyên liệu ban đầu có nguồn ngốc xuất sứ và thành phần
hoá học rất khác nhau . Quy trình tổng hợp từ mỗi loại có khác biệt
đáng kể . Tuy nhiên, đều đáng chú ý của phương pháp này là các
khoáng sét đều được nung ở nhiệt độ cao ( 650÷ 700)
0
C nhằm loại
nước cấu trúc trước khi tạo thành các aluminosilicat tinh thể .
I.5 Tính chất xúc tác của zeolít .
Các zeolít được ứng dụng rộng rãi làm xúc tác cho nhiều quá trình
chuyển hoá học nhờ có 4 tính chất đặc trưng sau [ 21 ] .
30
• Zeolít có khả năng trao đổi ion : nhờ tính chất này mà người ta cá
thể đưa vào trong cấu trúc của zeolit các cation có tíng chất xúc tác
như : Cu ,Co,Fe,Mn, cho phản ứng oxy hoá … hay trao đổi với các
cation chuyển sang dạng H
+
cho các phản ứng cần xúc tác axít….
• Các zeolít sau khi trao đổi với ion H
+
trở thành axít rắn và chứa
nhiều tâm axít và lượng axít tương ứng , có khả năng xúc tác khá
lớn cho quá trình chuyển hoá học .
• Thể tích xốp trong các zeolít rất lớn , cho phép chúng hấp phụ
một lượng lớn các chất phản ứng . Nhờ vậy , nồng độ các phân tử ở
xung quanh tâm hoạt tính sẽ lớn hơn ở bề mặt ngoài ,khả năng
tương tác ở phản ứng cao hơn , đặc biệt cho phản ứng lưỡng phân tử
như Craking, Olygome hoá , chuyển dịch hyderua .
•Với hệ cấu trúc mao quản đồng nhất, đường kính nhỏ hơn 10A
0
,
các zeolít thể hiện tính chọn lọc rất cao .Quá trình khuếch tán các
tác nhân phản ứng và các sản phẩm trong lỗ xốp của zeolít đóng vai
trò quan trọng trong phản ứng xúc tác và như vậy sẽ ảnh hưởng đến
tốc độ phản ứng cũng như việc phân bố sản phẩm .
Trong 4 tính chất này ,2 yếu tố chiếm vị trí quan trọng nhất , ảnh
hưỏng chính đến hoạt tính xúc tác chính là tính chất axít bề mặt và
khả năng chọn lọc hình học của zeolít . Đây cũng chính là điều kiện
cơ bản trong lựa chon xúc tác thích hợp cho từng quá trình phản ứng
nhằm đạt hiệu quả cao nhất.
I.5.1Tính chất xúc tác bề mặt .
I.5.1.1.Khái niệm và sự hình thành các tâm axít trong xúc tác .
30
Khái niệm về độ axít bề mặt của xúc tác rắn xác phát từ quá trình
quan xác thực nghiệm từ các công trình trước . Một số phản ứng
được xúc tác bỡi chất rắn cho các sản phẩm gần giống quá trình sử
dụng các axít thông thường .Các nhà khoa học thừa nhận rằng các
tính chất của nhiều xúc tác chủ yếu là các zeolít chính là nguồn gốc
hoạt tính xúc tác của chúng trong các phản ứng gây ra theo cơ chế
cacbocation như cracking , polyme hoá , izome hoá , alkyl hoá …
[33].
Tính chất của zeolít thực hiện bắt nguồn từ đặc điểm cấu trúc đặc
biệt và thành phần hoá học của nó . Mỗi tứ diện Al0
4
hoặc Fe0
4
mang một điện tích âm được trung hòa bằng một cation kim loạ hoá
trị 1 ,thường là Na hoặc cao hơn . khi thay thế ion Na bằng các
cation khác sẽ làm xuát hiền proton trong zeolít
Trong zeolít có hai loại tâm axít : Một có khả năng cho proton (tâm
axít Bronsted). Một loại có khả năng nhận cặp electron ( tâm axít
Lewis) .các tâm này được hình thành từ nhiều kiểu khác nhau .
• Sự hình thành tâm axit Bronsted:
- Các nhóm (– OH) tồn tại trong cấu trúc zeolite là do sau khi
trao đổi cation và phân huỷ nhiệt hoặc do phân ly các phân tử H
2
O
bởi trường tĩnh điện của các cation trao đổi đa hoá trị [ 7 ] .
30
A l
O
O
O
O
Si
H
3
R N
O
O
+
O
O
O
Si
O
O
O
A l
-
O
H
+
R
N H
2
-
A l
O
O
O
Si
O
O
O
O
O
O
Si
O
A l
M (H
2
O)
n
m
+
-
-
-
-
+
m
n
M (H
2
O)
A l
O
Si
O
O
O
O
O
O
Si
O
O
O
A l
H
2
O
-
-1
-1
- Tâm axit Bronsted hình thành từ quá trình xử lý zeolite trong môi
trường axit, đối với các zeolite có tỉ số SiO
2
/Al
2
O
3
cao, có nồng độ
thấp ( ≤ 0,05 N)
Na
+
-Z + HCl ↔ H-Z + NaCl
- Sự trao đổi cation của zeolite với các cation đa hoá trị (như các
kim loại kiềm thổ, đất hiếm, kim loại quý) cũng làm xuất hiện dạng
proton hoá M
n+
HZ. Các cation này được trao đổi dưới dạng phân tử
ngậm nước Me
m+
(H
2
O)
x
. Nhờ tác dụng ion hoá của cấu trúc zeolite,
dạng phân tử ngậm nước sẽ chuyển thành dạng [Me
m-1
(OH)
2
]H
+
làm
xuất hiện proton. Sự biến đổi này có thể được biểu diễn như sau:
[7]
30
Lực axit của tâm axit Bronsted phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:
thành phần hoá học (đặc biệt là tỷ số SiO
2
/Al
2
O
3
), cấu trúc của tinh
thể zeolite…. Lực axit tăng khi tỷ số SiO
2
/Al
2
O
3
tăng. Lực axit cũng
thay đổi khi thay đổi các cation bù trừ điện tích. Lực axit của các
tâm axit là khác nhau phụ thuộc vào sự phân bố các tâm Al giữa các
tâm Si.
• Sự hình thành các tâm axit Lewis .
Ngoài tâm axit Bronsted, zeolite còn có các tâm axit Lewis. Sự hình
thành tâm axit Lewis là do tồn tại Al trong mạng cấu trúc. Khi
nguyên tử oxy bị tách ra, ở nhiệt độ cao, khỏi liên kết với Al thì sẽ
xuất hiện tâm axit Lewis.[4]
30
-
-
A l
O
Si
O
O
O
O
O
O
Si
O
O
O
A l
O
O
O
Si
O
O
O
O
O
O
Si
O
A l
-
-
-
A l
O
Si
O
O
O
O
O
O
Si
O
O
O
A l
A l
O
O
O
Si
O
O
O
A l
-
La (H
2
O)
x
3
+
2
+
La (O H )
O
O
H
OH /A l =
1 3
/
O
O
Si
La (O H )
2
+
La La
O
H
5
2
H
O
O
A l
Si
HH
(a)
(b )
(c )
Trong mạng cấu trúc của zeolite luôn tồn tại tâm axit Bronsted,
nhưng đối
với loại tâm axit Lewis thì chỉ xuất hiện sau khi xử lý nhiệt. Đối với
một số loại zeolite, mạng cấu trúc không phải hoàn toàn chứa tâm
axit Lewis sau khi xử lý nhiệt. Bởi vì, sau khi tách H
2
O hoàn toàn
khỏi mạng cấu trúc, mạng cấu trúc sẽ bị sập hoàn toàn, đặc biệt
càng dễ sập mạng đối với các zeolite có tỷ số SiO
2
/Al
2
O
3
càng thấp.
I.5.12 Sự chọn lọc hình dạng của Zeolít.
Về nguyên tắc, một phần tử muốn phản ứng trong các Zeolít
X,Y,P…)cần phải trải qua các giai đoạn sau .[21]
Hấp phụ trên bề mặt xúc tác.
Khuếch tán qua các cửa sổ vào mao quản và tiến về phía tâm hoạt
tính.p
Hấp thụ trên các tâm hoạt tính bên trong mao và tạo hợp chất trung
gian của phản ứng .
Phản ứng
Giải hấp phụ và khuếch tán ra khỏi mao quản. Qua các giao đoạn
này có thể nhận thấy khả năng khuếch tán phân tử có ảnh hưởng rất
lớn đến toàn bộ tiến trình phản ứng. Mà khả năng khuếch tán vừa
30
OO
O
OO
O
O
Al
Si
Si
A l
O
O
OO
O
O
O
Si
A l
O
O
OO
O
O
+
H
2
O
H
+
+ +
-
Tâm Lewis
Tâm Bronsted
phụ thuộc vào bản chất phân tử lại vừa phụ thuộc vào kích thước
của hệ mao quản trong Zeolít, do tính chọn lọc hình học của Zeolít
quyết định. Với cấu trúc các mao quản đặc biệt và rất đồng đều,
Zeolít chỉ cho phép các phân tử có kích thước nhỏ hơn cửa sổ vào
và thoát ra khỏi các mao quản của nó. Chính vì vậy các hiện ứng
chọn lọc hình dạng trong mao quản đóng vai trò quan trọng hơn bề
mặt ngoài hạt. Nguời ta đã phân biệt ba loạI chọn lọc hình dạng
khác nhau.
1. Chọn lọc hình dạng đối với các chất tham gia phản ứng.
2. Chọn lọc các trạng thái trung gian.
3. Chọn lọc các sản phẩm tạo thành .
*Chọn lọc các chất phản ứng.
Các tâm xúc tác nằm trong các khoang hoặc mao quản có đường
vào bị giới hạn bởi kích thước cửa sổ. Như vậy chỉ có các chất phản
ứng có kích thước nhỏ hơn hoặc gần bằng đường kính các cửa sổ
này mới có thể khuyếch tán trong các mao quản để đến các tâm hoạt
động và tham gia phản ứng.
Ví dụ : Phản ứng Cracking n-Ocxan.
30
Hình12: Chọn lọc các chất phản ứng.
* Chọn lọc các trạng thái trung gian của phản ứng lớn so với
đường kính các mao quản thì phản ứng không thể xẩy ra ngay cả
khí các chất phản ứng và sản phẩm mong muốn có thể khuyếch tán
dễ dàng ra ngoài cáI lỗ xốp có thể lấy phản ứng phân bố lại
hydrocacbon của toluen làm ví dụ sau.
Hình 12 chọn lọc sản phẩm tạo thành
Chỉ có các sản phẩm phản ứng có kích thước nhỏ hơn các
mao quản mới có thể khuyếch tán ra ngoài các lỗ xốp dưới dạng các
sản phẩm cuối cùng. Các sản phẩm cồng kềnh khác, nếu có tạo
thành trong quá trình phản ứng, sẽ biến đổi thành các phân tử nhỏ
hơn hoặc ngưng tụ lại bám chặt vào các mao quản làm mất hoạt tính
xúc tác.
Loại chọn lọc này rất thích hợp cho những phản ứng cần chọn sản
phẩm mong muốn trong số đồng phân của nó.Ví dụ chọn lọc dạng
Para trong phản ứng alkyl hoá toluen. Sự tạo thành ba đồng phân
octo,meta, para do khả năng khuếch tán ra ngoài mao quản quyết
định. Trong số 3 đồng phân này dạng para khuếch tán gần 1000 lần
30
so với hai dạng kia. Do đó sự hình thành dạng para trong mao quản
cũng lớn hơn octo và meta nhiều lần.
I.5.2 Vị trí của các Cation trong Zeolít. [30]
Các tính chất hoá lý của zeolít kể cả tính chất xúc tác phụ
thuộc rất nhiều vào bản chất và vị trí của các cation .
Quá trình trao đổi cation ban đầu như Na
+
, K
+
… bằng các cation
đơn hoá trị, đa hoá trị, hoặc bằng ion H
+
. Tốc độ trao đổi khoảng từ
0% đến 80% lượng cation xảy ra đIều kiện bình thường và tốc độ
trao đổi tương đối nhanh vị trí những cation đó ở vị trí rất khó và
thường phải qua quá trình xử lý nhiệt và thời gian, nguyên nhân là
do sự phân bố các cation còn lại nằm sâu trong các mao quản nhỏ .
Đối với Zeolít X, Zeolít Y, Vị trị cation được xác định như
trên hình sau:
Hình 14 Vị trí cation: S
1
, S
I
, S
II
, S
II’
, S
III
trong Zeolít X, Zeolít Y.
Vị trí S
I
nằm tại tâm của lăng trụ 6 cạnh bởi 6 cầu nồi oxy, có
6 ô mạng cơ sở.
Vị trí S
I’
nằm trong Sodalít trên một bên khác của mặt 6 cạnh
so với vị trí S’
I
Vị trí S
II
được bố trí không nằm trên mặt 6 cạnh trong lồng
Sodalít mà nằm bên ngoài mặt 6 cạnh trong lỗ xốp lớn. Có 32 vị trí
S
II
trên một cơ sở. Các cation ở tất cả vị trí này đều là Na
+
. Vị trí S’
II
nằm trên mặt bên của khung Zeolít, không ở trên mặt 6 cạnh, và nó
được xem nằm trong khoảng của Zeolít.
30