Tải bản đầy đủ (.pdf) (103 trang)

Chính sách nhân lực theo định hướng nhu cầu nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin tỉnh Bình Phước

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.51 MB, 103 trang )


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN




TRẦN VĂN VÂN



CHÍNH SÁCH NHÂN LỰC THEO ĐỊNH HƯỚNG
NHU CẦU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TỈNH BÌNH PHƯỚC




LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ







Hà Nội, 2010






ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



TRẦN VĂN VÂN




CHÍNH SÁCH NHÂN LỰC THEO ĐỊNH HƯỚNG
NHU CẦU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TỈNH BÌNH PHƯỚC




LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: 60.34.72


Người hướng dẫn khoa học: TS. MAI HÀ





Hà Nội, 2010



1
MỤC LỤC


LỜI CẢM ƠN 3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, HÌNH 5
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1. Lý do chọn đề tài 6
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu 7
3. Mục tiêu nghiên cứu 7
4. Phạm vi nghiên cứu 8
5. Mẫu khảo sát 8
6. Câu hỏi nghiên cứu 8
7. Giả thuyết nghiên cứu 8
8. Phƣơng pháp nghiên cứu 9
9. Kết cấu của luận văn 9
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 10
1.1.Khái quát về CNTT 10
1.1.1. Định nghĩa 10
1.1.2. Các thành phần của CNTT 10
1.1.3. Vai trò của CNTT 10
1.2. Nhân lực CNTT 18
1.2.1. Quản trị nguồn nhân lực 18
1.2.2. Quản trị chất lượng NNL 20

1.2.3. Nhân lực theo định hướng nhu cầu: 21
1.2.4. Nhân lực CNTT 25
1.3. Chính sách nhân lực CNTT 26
1.3.1. Lý luận về chính sách 26
1.3.2. Chính sách CNTT và chính sách NLCNTT 27
1.3.3. Chính sách nhân lực CNTT theo định hướng nhu cầu 28
* Kết luận chƣơng 1: 31
CHƢƠNG 2. HIỆN TRẠNG NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN33
CỦA VIỆT NAM VÀ CỦA TỈNH BÌNH PHƢỚC 33
2.1. Thực trạng NLCNTT Việt Nam 33
2.1.1. NLCNTT Việt Nam chưa đạt chất lượng 33
2.1.2. Phân tích các nguyên nhân 35
2.2. Thực trạng nhân lực CNTT của tỉnh Bình phƣớc : 39
2.2.1. Điều kiện tự nhiên, dân số và KT - XH 39
2.2.2. Đánh giá chung 40
2.2.3. Những thành quả phát triển CNTT giai đoạn 2000-2010 41
2.2.4. Những vướng mắc và tồn đọng 50
*Kết luận chƣơng 2: 54
CHƢƠNG 3: CHÍNH SÁCH NHÂN LỰC CNTT TỈNH BÌNH PHƢỚC55
3.1.Chính sách NLCNTT ở Việt Nam 55
3.1.1.Quan điểm của các chính sách phát triển CNTT và NLCNTT 55

2
3.1.2.Hiệu quả thực thi các chính sách CNTT và NLCNTT 56
3.2. Chính sách NLCNTT của tỉnh Bình phƣớc : 65
3.2.1.Quan điểm, chính sách phát triển CNTT của tỉnh Bình Phước 65
3.2.2. Nhu cầu NLCNTT của tỉnh Bình phước 66
3.2.3.Phân tích kết quả khảo sát: 67
3.2.4.Nhận định và đề xuất : 80
*Kết luận chƣơng 3: 84

KẾT LUẬN 85
KHUYẾN NGHỊ 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 94
Phụ lục 1 94
Phụ lục 2 98












4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CBCC
Cán bộ công chức
CNH, HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNPM
Công nghiệp phần mềm
CNTT
Công nghệ thông tin

CNTT&TT
Công nghệ thông tin và truyền thông
CQNN
Cơ quan quản lý nhà nước
CSNN
Chính sách nhà nước
DN
Doanh nghiệp
GD&ĐT
Giáo dục và đào tạo
HCĐT
Hành chính điện tử
HCNN
Hành chính Nhà nước
HTTT
Hệ thống thông tin
KH&CN
Khoa học và công nghệ
KT-XH
Kinh tế - xã hội
LAN
Local Network Area (Mạng nội bộ)
NLCNTT
Nhân lực công nghệ thông tin
NNL
Nguồn nhân lực
NNLCNTT
Nguồn nhân lực công nghệ thông tin
NSNN
Ngân sách nhà nước

QLHCNN
Quản lý hành chánh nhà nước
QLNN
Quản lý nhà nước
TMĐT
Thương mại điện tử
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
TTĐT
Thông tin điện tử
TTLĐ
Thị trường lao động
TT&TT
Thông tin và truyền thông
UBNN
Ủy ban nhân dân
USD
Đô-la Mỹ
WAN
Wide Area Network (Mạng diện rộng)












5



DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, HÌNH
Hình 1.1: Tương tác giữa các thành phần của CPĐT trang 11
Hình 1.2: Quy trình quản trị NNL trang 19
Hình 1.3: Mô hình nhân lực theo định hướng nhu cầu trang 22
Hình 1.4: Mô hình nhân lực CNTT theo định hướng nhu cầu trang 29
Bảng 2.1: Sự phân bố các trường đào tạo CNTT ở các khu vực trang 36
Bảng 2.2: Cơ cấu lao động (theo dân số trung bình 2006-2010) trang 40
Biểu đồ 2.3: Số lượng máy vi tính trên địa bàn tỉnh Bình Phước trang 42
Biểu đồ 2.4: Số cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp có máy VT trang 42
Biểu đồ 2.5: Số máy vi tính có kết nối mạng LAN và Internet trang 43
Biểu đồ 2.6: Số cơ sở có kết nối mạng LAN và Internet trang43
Biểu đồ 2.7: Số lao động biết sử dụng máy vi tính trên địa bàn tỉnh trang 44
Biểu đồ 2.8: Số CBCC đã qua đào tạo CNTT trang 45
Bảng 2.9: Số lượng CBCC, viên chức đã qua đào tạo về CNTT trang 46
Bảng 3.1: Danh sách tổ chức gửi phiếu khảo sát………………… trang 67
Bảng 3.2: NLCNTT đảm bảo công việc trong CQNN trang 69
Bảng 3.3: NLCNTT chưa đảm bảo công việc trong CQNN trang 70
Bảng 3.4: NLCNTT đáp ứng công việc của doanh nghiệp trang 71
Bảng 3.5: Nhân lực CNTT không đáp ứng công việc của DN trang 72
Bảng 3.6: Chính sách NLCNTT còn hạn chế đối với CQNN trang 73
Bảng 3.7 : Khó khăn trong việc sử dụng NLCNTT ở DN trang trang74
Bảng 3.8: Nâng cao lượng và chất NLCNTT trang 74
Bảng 3.9: DN cần nâng cao lượng và chất NLCNTT trang 75
Bảng 3.10: Giải pháp để có NLCNTT theo nhu cầu CQNN trang 75
Bảng 3.11: Giải pháp để DN có NLCNTT theo nhu cầu trang 76

Bảng 3.12: Nhà nước cụ thể hóa chính sách NLCNTT trang 77
Bảng 3.13: Chính sách phát triển NLCNTT cho DN trang 77
Bảng 3.14: Ngành GD&ĐT cần cụ thể hóa chính sách NLCNTT trang 78
Bảng 3.15: Ngành GD&ĐT của tỉnh hỗ trợ doanh nghiệp trang 78
Bảng 3.16: Hợp tác với doanh nghiệp CNTT để phát triển nhân lực trang 79
Bảng 3.17: Hợp tác với DN CNTT để phát triển nhân lực trang 79



6
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
CNTT đã, đang và sẽ làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, xã hội của
nhiều quốc gia trên thế giới. Một số nước đã nhanh chóng xây dựng chính
sách, chiến lược phát triển CNTT theo điều kiện riêng của mình và đã đạt được
những thành tựu to lớn.
Tại Việt Nam, CNTT đã được xác định là một công cụ quan trọng hàng
đầu và là ngành kinh tế mũi nhọn để xây dựng xã hội thông tin, đẩy mạnh quá
trình CNH, HĐH đất nước. Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách, cơ chế
và tập trung nguồn lực để phát triển CNTT, phát triển NLCNTT để ứng dụng
CNTT phát triển KT-XH.
Từ năm 1997, tỉnh Bình Phước đã đầu tư cho việc ứng dụng CNTT trên
mọi lĩnh vực nhằm hỗ trợ đắc lực cho nhiệm vụ phát triển kinh tế với chủ
trương ứng dụng và phát triển CNTT trước tiên là phải gắn với những nhiệm
vụ phát triển KT - XH. Các chương trình phát triển CNTT của tỉnh tập trung
vào những vấn đề cụ thể mà nhiệm vụ phát triển KT - XH đã được xác định
nhằm tạo ra những nền tảng cơ bản cho sự phát triển dài hạn. Tuy nhiên, một
trong những vấn đề quan trọng nhất còn tồn đọng là NNLCNTT. Trong nhiều
năm qua, NLCNTT của tỉnh Bình Phước vừa thiếu lại vừa yếu. Tỉnh chưa xây
dựng được chính sách NLCNTT để đáp ứng nhu cầu ứng dụng CNTT. Vì

vậy, việc nghiên cứu để đề xuất chính sách nhân lực thích hợp nhằm nâng cao
hiệu quả ứng dụng CNTT trên địa bàn tỉnh là việc làm cần thiết hiện nay.
Xuất phát từ sự cần thiết trên, tác giả chọn đề tài: “Chính sách nhân lực
theo định hƣớng nhu cầu nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT tỉnh
Bình Phƣớc” nhằm phân tích, đánh giá thực trạng NLCNTT và đề xuất chính
sách phát triển NLCNTT phù hợp với điều kiện phát triển của tỉnh.
Kết quả của đề tài là cơ sở để Sở Khoa học và Công nghệ tham mưu cho
Ban Chỉ đạo CNTT đưa ra những chính sách, cơ chế phát triển NLCNTT để
nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT trên địa bàn tỉnh.

7
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Ở các nước phát triển, vấn đề NLCNTT theo định hướng nhu cầu không
phải là vấn đề mới trên phương diện lý luận lẫn thực tiễn.
Tại Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã quan tâm đến yêu cầu phát triển
CNTT từ rất sớm. Trong số các nghị quyết, văn kiện về vấn đề này có hai văn
bản định hướng chiến lược cho việc phát triển CNTT là: Nghị định 49/CP ngày
5/8/1993 vạch ra kế hoạch tổng thể phát triển CNTT trong thập niên 90 và
chuẩn bị cho những năm tiếp theo đầu thế kỷ 21; Chỉ thị số 58/CT-TW ngày
17/10/2000 của Bộ Chính trị (khoá 8) về “Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển
CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá”… Việc triển khai các
đề án xây dựng và ứng dụng CNTT trong lĩnh vực QLHCNN và các lĩnh vực
khác ít nhiều cũng đã đều nghiên cứu, đề cập đến vấn đề NNLCNTT nhưng
chưa thật sự tiếp cận theo định hướng nhu cầu.
Trong thời gian gần đây, đã có nhiều bài viết, bài báo, nghiên cứu, hội
thảo về vai trò, thực trạng, số lượng, chất lượng NLCNTT và bắt đầu đề cập
đến cách tiếp cận NLCNTT theo định hướng nhu cầu. Tuy nhiên, chưa có tài
liệu nào khái quát hóa và tổng luận về vấn đề này.
Đã có các chính sách, giải pháp chung để phát triển NNLCNTT, song
thực tiễn ứng dụng CNTT vẫn chưa đạt hiệu quả bởi mỗi địa phương đều có

đặc điểm riêng. Nghiên cứu chính sách NLCNTT theo định hướng nhu cầu
cho tỉnh Bình Phước là một việc làm có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở khảo sát ứng dụng CNTT vào thực tiễn quản lý và kinh doanh
tại tỉnh Bình Phước, nhận diện mối quan hệ giữa chính sách NLCNTT và hiệu
quả ứng dụng CNTT, đánh giá những kết quả đạt được và mặt hạn chế, đề
xuất những nội dung cơ bản của chính sách NLCNTT theo định hướng nhu
cầu nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT tỉnh Bình Phước.

8
4. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi khách thể: Các tài liệu như các báo cáo, bài viết, phỏng vấn, tài
liệu chuyên khảo,… liên quan đến nhân lực trong việc ứng dụng CNTT trên
các lĩnh vực QLHCNN; sản xuất, kinh doanh (doanh nghiệp)….
Phạm vi thời gian: nghiên cứu quá trình ứng dụng CNTT và các chính
sách, giải pháp pháp triển NLCNTT giai đoạn 2001-2005; giai đoạn 2006 -
2010 ở tỉnh Bình Phước.
Phạm vi nội dung nghiên cứu: Tìm hiểu và phát hiện những bất cập,
những vấn đề cần giải quyết về nhân lực trong quá trình ứng dụng CNTT
trong QLHCNN và hoạt động kinh doanh ở Bình Phước, trong đó chủ yếu sẽ
là giai đoạn triển khai dự án ứng dụng CNTT.
5. Mẫu khảo sát

Khảo sát 15 sở của tỉnh Bình Phước; 36 doanh nghiệp. Ngoài ra, tác giả
tiến hành phỏng vấn sâu 5 sở, ban ngành liên quan.
6. Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng sử dụng nhân lực CNTT trên địa bàn tỉnh Bình phước thời
gian qua diễn ra như thế nào ?
- Có những nguyên nhân và yếu tố nào ảnh hưởng đến hiệu quả ứng dụng
CNTT tỉnh Bình phước ?

- Chính sách NLCNTT nào có thể đáp ứng được theo định hướng nhu cầu
và phù hợp với yêu cầu thực tiễn để nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT
tỉnh Bình Phước?
7. Giả thuyết nghiên cứu
a. Chính sách, giải pháp NLCNTT áp dụng vào tỉnh Bình Phước trong
nhiều năm qua có nhiều bất cập nên hiệu quả ứng dụng CNTT thấp .
b. Chính sách thu hút, sử dụng và đãi ngộ; Chính sách đào tạo và phát
triển; biện pháp quản lý hiệu quả việc học tập nâng cao trình độ CNTT
của CBCC là những yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc ứng dụng

9
CNTT trên địa bàn tỉnh Bình Phước .
c. Chính sách NLCNTT của tỉnh Bình phước xây dựng theo định hướng
nhu cầu là giải pháp hữu hiệu để giải quyết những bất cập nhằm nâng
cao hiệu quả ứng dụng CNTT .
8. Phƣơng pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: nghiên cứu, sử dụng các báo cáo,
tài liệu liên quan đến việc ứng dụng CNTT trong QLHC và hoạt động
kinh tế, phân tích hệ thống để xem xét toàn bộ những vấn đề liên quan
và ảnh hưởng, tác động của chính sách nhân lực đến phát triển CNTT.
- Phương pháp thống kê: thống kê, phân tích những dữ liệu thu được.
- Nghiên cứu thực tiễn: điều tra, phỏng vấn, khảo sát thực tế:
 QLNN: 15 Sở thuộc UBND tỉnh Bình Phước;
 Kinh doanh: Khảo sát 30 doanh nghiệp trong tỉnh;
 Tham khảo ý kiến các chuyên gia, cán bộ quản lý về xây dựng chính
sách NLCNTT gồm: thực trạng, đào tạo, thu hút, quản lý NLCNTT;
 Phỏng vấn các chuyên gia tham gia xây dựng và triển khai các đề án
ứng dụng và phát triển CNTT ở tỉnh Bình Phước.
9. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, khuyến nghị, luận văn gồm 3 chương:
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
CHƢƠNG 2. HIỆN TRẠNG NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
CỦA VIỆT NAM VÀ CỦA TỈNH BÌNH PHƢỚC
CHƢƠNG 3. CHÍNH SÁCH NHÂN LỰC CNTT TỈNH BÌNH PHƢỚC


10
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1.Khái quát về CNTT
1.1.1. Định nghĩa
Có nhiều định nghĩa khác nhau về CNTT. Tuy nhiên, có thể hiểu: "CNTT
- tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật
hiện đại nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài
nguyên thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội”
1
.
1.1.2. Các thành phần của CNTT
Các thành phần chính của CNTT: Kết cấu hạ tầng CNTT, nhân lực
CNTT, tổ chức ứng dụng và phát triển CNTT.
1.1.3. Vai trò của CNTT
Có thể thấy vai trò quan trọng của CNTT trong các lĩnh vực sau:
QLHCNN, trong giáo dục, đào tạo, sản xuất và kinh doanh.
CNTT&TT nếu được ứng dụng hợp lý trong QLNN sẽ mang lại các lợi
ích: cắt giảm chi phí, cho phép nhiều dữ liệu hơn được chia sẻ giữa các HTTT
để có thể phản ứng nhanh, chính xác hơn đối với những yêu cầu; cho phép
người dân tiếp cận ở tất cả các bộ, ngành và các cấp chính quyền từ bất kỳ nơi
nào theo phương thức thuận tiện, linh hoạt hơn - điện tử một cửa. Các loại
dịch vụ này có thể ngăn ngừa quan liêu, sử dụng sai các dịch vụ và lợi ích
công, người dân ngày càng tin tưởng vào các dịch vụ thuế và phúc lợi xã hội.

2

CNTT có thể mang đến cho CPĐT (còn được gọi là chính phủ số, chính
phủ làm việc trên Internet, chính phủ trực tuyến ) các lợi ích: Tăng cường sự
điều hành có hiệu quả của chính phủ và sự tham gia của người dân; Nâng cao
năng suất và tính hiệu quả trong việc đề ra và thực thi các quyết định của các
cơ quan của chính phủ; Cung cấp các dịch vụ công cho các doanh nghiệp và

1
Theo Nghị quyết số 49/CP ngày 04/08/1993 của Chính phủ về phát triển CNTT, tr.1.
2
Theo Lê Ánh Hồng, Vai trò của CNTT&TT trong khu vực công,
/>ruyen_thong_trong_khu_vuc_cong.html#, ngày cập nhật 12.6.2009.

11
người dân; tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh; nâng cao
chất lượng cuộc sống và giảm bất bình đẳng giữa các nhóm xã hội.
Trong thực tế, các quốc gia đã triển khai 4 mô hình CPĐT: (1) Mô hình
CPĐT hai thành phần: Mô hình này để giải quyết các vấn đề giữa chính phủ
với người dân (Government to Citizent – G2C) và các vấn đề giữa chính phủ
và doanh nghiệp (Government to Business – G2B). (2) Mô hình CPĐT ba
thành phần: Internet là công cụ hữu ích để tổ chức các mối quan hệ giữa các
cơ quan chính phủ (Government to Government – G2G) và giữa các cơ quan
hành chính với công dân (Government to Citizent – G2C) và với các doanh
nghiệp (Government to Business – G2B). (3) Mô hình CPĐT bốn thành phần:
Với những quốc gia có trình độ CNTT thấp thì để xây dựng CPĐT phải qua
giai đoạn đưa CNTT, chủ yếu là máy tính điện tử và mạng máy tính vào các
hoạt động hành chính của từng cơ quan. Đây chính là quá trình điện tử hóa
các nghiệp vụ và cách thức giải quyết công việc hành chính của từng nhân
viên trong bộ máy công quyền được gọi là TMĐT giữa các cơ quan chính phủ

và nhân viên của chính các cơ quan đó (Government to Employee – G2E).
Hình 1.1: Tƣơng tác giữa các thành phần CPĐT trong môi trƣờng số hóa

(Nguồn: Trần Văn Hòe (2010), Giáo trình TMĐT căn bản, tr. 314)

12
Theo chúng tôi, khi ứng dụng CNTT, yếu tố quan trọng nhất cần xem xét
là nhân lực CNTT chứ không phải các nhân tố thuần kĩ thuật. Hình 1.1 cho
thấy mối quan hệ tương tác thống nhất giữa các thành phần của CPĐT trong
môi trường số hóa. Sự tương tác thống nhất và hiệu quả chỉ có được khi nhân
lực ứng dụng CNTT (nhân viên chính phủ, người dân, doanh nghiệp…) am
hiểu lĩnh vực chuyên môn (công việc) của mình và phải có khả năng sử dụng,
ứng dụng được CNTT. Ví dụ, nếu triển khai cơ sở tầng CNTT tốt (đường
truyền mạng tốt, máy tính, phần mềm tiên tiến…) nhưng nhân viên chính phủ,
người dân không ứng dụng được thì chỉ làm lãng phí nguồn lực xã hội.
Cần lưu ý là: “CPĐT không phải là một thực thể mà chỉ là một công cụ,
một phương thức làm việc mới để hoạt động của các CQNN đạt hiệu quả cao
hơn, minh bạch hơn, phục vụ người dân tốt hơn”
3
.
Việc xây dựng và phát triển các dịch vụ của CPĐT ở Việt Nam đã đạt
được một số kết quả. Ví dụ, “Mô hình một cửa cấp huyện” được ứng dụng
đầu tiên tại Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2005, sau đó triển khai rộng trên
toàn quốc đã mang lại những hiệu quả: giúp cán bộ thụ lý hồ sơ nâng cao
năng suất, giảm khối lượng công việc thủ công từ 20% đến 30%; cung cấp
thông tin chính xác kịp thời, bất cứ lúc nào, đồng thời giúp việc tra cứu, thống
kê báo cáo dễ dàng hơn
4
.
Tuy nhiên, Hội thảo “Chia sẻ kinh nghiệm triển khai mô hình một cửa

điện tử cấp huyện khu vực miền Bắc” đã chỉ ra hạn chế của “một cửa điện tử”.
Quy trình xử lý hồ sơ đã bộc lộ yếu tố tiêu cực khi các doanh nghiệp, cá nhân
nắm được ai là người đang giải quyết hồ sơ (cán bộ gây khó khăn) sẽ tranh
thủ tìm mọi cách để tiếp xúc, nhờ cậy. Vì vậy, chưa thể giảm thiểu tiêu cực
phát sinh so với chuyện tiếp xúc trực tiếp trong giải quyết thủ tục hành chính
công như trước kia. Đầu tư cho một cửa điện tử rất tốn kém, lãng phí (nhất là

3

Trích trả lời của ông Nguyễn Minh Hồng, Thứ trưởng Bộ Thông tin & Truyền thông, tại buổi đối thoại trực
tuyến về chủ đề "Chính phủ điện tử", cập nhật 23.11.2009.
4
Theo Quỳnh Anh, Hiệu quả từ Mô hình một cửa, />nuoc/2010/05/1219012/hieu-qua-tu-mo-hinh-mot-cua/, ngày cập nhật 10.5.2010.

13
các địa phương miền núi, địa phương KT - XH còn phát triển chậm…). Một
số thiết bị, phần mềm còn chưa hiệu quả do chưa phù hợp với trình độ dân trí.
Đa phần người dân chưa biết sử dụng CNTT, không biết cách tra cứu tài liệu
trong hệ thống màn hình cảm ứng, không biết xếp hàng điện tử và dùng mã
vạch tra cứu kết quả.“…các địa phương cần đẩy mạnh công tác truyền thông,
tuyên truyền để người dân hiểu và dần ứng dụng một cửa điện tử”.
5

Vì vậy, có thể khẳng định lại là NLCNTT là yếu tố quan trọng nhất
quyết định sự thành công của việc ứng dụng CNTT.
Có thể thấy rõ hơn các luận điểm này khi phân tích vai trò của CNTT
trong GD&ĐT; trong sản xuất và kinh doanh.
Đối với các nước đang phát triển, CNTT&TT mang lại triển vọng nâng
cao chất lượng giáo dục, đào tạo NNL. CNTT&TT hỗ trợ cho việc thu nhận
kiến thức, tạo ra những cơ hội để đẩy mạnh hệ thống giáo dục, nâng cao năng

lực học tập và tạo lập, mở rộng cơ hội cho người nghèo.
6

Học mở và học từ xa cung cấp cơ hội học tập khi người học và người
dạy cách biệt về thời gian hoặc không gian với sự ứng dụng CNTT&TT dưới
các hình thức: (1) Radio và tivi; (2) Hội nghị truyền hình; (3) Máy tính và
Internet: E-learning dành cho việc học ở tất cả các cấp độ, chính quy và
không quy thông qua hình thức sử dụng Internet, mạng LAN hoặc WAN cho
toàn bộ hay chỉ một phần của khóa học. Học kết hợp (Blended Learning) là sự
kết hợp giữa hình thức học truyền thống và E-learning.
CNTT&TT cho phép tiếp cận những tài nguyên đào tạo từ xa, với những
nguồn tài nguyên con người - những chuyên gia, nhà nghiên cứu trên thế giới.
CNTT&TT giúp người học trở thành lực lượng lao động phù hợp trong tương
lai, có lợi thế cạnh tranh trong TTLĐ toàn cầu hóa.
7
CNTT&TT nâng cao

5
/>cuc/2010/09/2SVMC7432070/View: Lê Minh, Một cửa điện tử không giảm được tiêu cực, ngày cập nhật
29.9.2010.
6
Theo Victoria L. Tinio (2003), Công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục, Tr.5,
www.unapcCNTT&TT.org/ecohub/resources/CNTT&TT-in /at /attachment2, 12.6.2008
7
Những kĩ năng của thế kỷ 21 bao gồm: kiến thức cơ bản về kĩ thuật số (kiến thức về tính năng, nhìn, khoa

14
động lực và sự tham gia của người học trên cơ sở lấy người học làm trung
tâm. CNTT&TT giúp học tập mang tính đánh giá vì nó cung cấp những công
cụ chuẩn xác để đánh giá kết quả học tập một cách khách quan và chặc chẽ

hơn để có phương thức điều chỉnh hiệu quả.
Tuy nhiên, tính hiệu quả, chi phí, tính công bằng và bền vững là bốn vấn
đề lớn cần xem xét khi sử dụng CNTT&TT trong giáo dục. “Việc ứng dụng
CNTT&TT trong giáo dục, khi được thực hiện mà không có sự cân nhắc kĩ
càng, có thể để lại hậu quả hơn nữa cho những người kém thuận lợi”
8
.
CNTT&TT có lúc thay thế được giáo viên, song không phải lúc nào cũng
thay thế được. Nhiều giáo viên không muốn ứng dụng CNTT&TT do thiết kế
phần mềm nghèo nàn, hoài nghi về tính hiệu quả của CNTT&TT, thiếu sự hỗ
trợ quản lý, tăng thời gian và nỗ lực cần thiết để học CNTT và sử dụng nó,
cảm giác mất quyền lực trên lớp học.
9

Tại Việt Nam, Bộ GD&ĐT đã có chỉ thị về tăng cường "đẩy mạnh ứng
dụng CNTT trong GD&ĐT". Tuy nhiên, việc ứng dụng CNTT vẫn còn nhiều
bất cập, chưa đồng bộ. Ngành GD&ĐT đã triển khai các phần mềm điều
hành, quản lý nhưng những ứng dụng này mang tính tự phát, chưa có phần
mềm thống nhất về quản lý và hệ thống cơ sở dữ liệu chung cho toàn ngành.
Nhân lực ứng dụng CNTT trong các cơ quan quản lý giáo dục và tại các
trường vừa thiếu, vừa nhận thức không đồng đều. Tâm lý ngại thay đổi, trì trệ
trong nếp nghĩ của một số giáo viên, lãnh đạo cũng là rào cản lớn. Nhiều
trường học có trang bị phòng máy vi tính nhưng thường xuyên đóng cửa. Ở
các thành phố, chưa thực hiện được 100% việc dạy và học với giáo án điện
tử; con số này còn rất thấp ở các vùng sâu, vùng xa.
10


học, công nghệ, thông tin, văn hóa và nhận biết toàn cầu), tư duy sáng tạo, giao tiếp hiệu quả…
8

www.unapcCNTT&TT.org/ecohub/resources/CNTT&TT-in /at /attachment2: Victoria L. Tinio (2003),
Công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục, Tr.28, 12.6.2008
9
Theo Victoria L. Tinio (2003), Công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục, Tr.34
www.unapcCNTT&TT.org/ecohub/resources/CNTT&TT-in /at /attachment2, 12.6.2008
10
Nhật Dương, Ứng dụng CNTT trong giáo dục: đi tìm ẩn số bài toán kinh phí,
ngày cập nhật 26.6.2010

15
Theo kế hoạch, việc kết nối Internet toàn ngành giáo dục sẽ hoàn tất vào
tháng 12 năm 2010 và dự kiến, tháng 9 năm 2010 sẽ chính thức khánh thành
mạng Internet giáo dục để thu hẹp khoảng cách số giữa các vùng, miền.
11
Như
vậy, Việt Nam sẽ là một trong 50 nước trên thế giới đã nối mạng Internet
được tới 100% trường học và xây dựng nền giáo dục điện tử: quản lý giáo dục
hoàn toàn trực tuyến; mọi giáo viên biết tự ứng dụng CNTT vào việc giảng
dạy môn học của mình và có thể chia sẻ bài giảng trực tuyến.
Theo chúng tôi, để “số hóa” ngành giáo dục thì nhận thức của nhân lực
ứng dụng CNTT, đội ngũ lãnh đạo, các cơ quan quản lý, giáo viên và sau đó
đến người học là quan trọng. “Tiêu biểu như, huyện Đông Triều (Quảng Ninh)
có 14/21 xã miền núi nhưng hiện nay địa phương này là một trong những
điểm sáng về ứng dụng CNTT giáo dục: có thể tổ chức họp trực tuyến với tất
cả các trường học, thi giáo viên dạy giỏi trực tuyến qua mạng Internet Làm
được điều này chính là nhờ Đông Triều có đội ngũ lãnh đạo am hiểu và quan
tâm đến CNTT; biết tận dụng sự hỗ trợ của các doanh nghiệp”.
12

Vì vậy, vấn đề chính không phải là công nghệ mà là việc con người sử

dụng công nghệ đó như thế nào.
Vai trò của CNTT trong sản xuất nông nghiệp và trong kinh doanh:
Việc ứng dụng CNTT trong sản xuất và kinh doanh sẽ giúp giảm chi phí
sản xuất, tăng chất lượng sản phẩm, mức sử dụng nguyên vật liệu, lao động
giảm và sản phẩm ngày càng tinh xảo, hoàn thiện hơn.
Ví dụ, Công ty cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) đã khánh thành trại
chăn nuôi bò sữa hiện đại ở xã Đông Hiếu, huyện Nghĩa Đàn, Nghệ An. “Tất
cả bò nuôi đều thuộc giống bò chất lượng cao, có gia phả rõ ràng và mỗi con
bò đều được gắn chip điện tử nhận dạng và chip điện tử phát hiện động

11
Vân Anh, Xóa khoảng cách số trong giáo dục cần nhận thức, />thoai-Rut-ngan-khoang-cach-so-trong-giao-duc/2010/06/2SVCM7128849/View.htm, ngày cập nhật
28.6.2010.
12
Vân Anh, Xóa khoảng cách số trong giáo dục cần nhận thức, />thoai-Rut-ngan-khoang-cach-so-trong-giao-duc/2010/06/2SVCM7128849/View.htm, ngày cập nhật
28.6.2010.

16
dục…người nuôi sẽ kiểm tra thường xuyên sức khỏe của bò hay thời điểm cần
phối giống để thụ tinh theo công nghệ của Canada, bảo đảm 99% bò sinh ra
bê cái, vốn có lợi cho chăn nuôi bò sữa hơn là bê đực.Các chip điện tử này
được quản lý qua hệ thống máy vi tính mà qua đó, cán bộ kỹ thuật có thể biết
rõ sản lượng sữa của từng con bò vắt ra từng ngày được kết nối với hệ thống
vắt sữa tự động, xem xét sức khỏe của bò, thời điểm động dục…”
13

Tuy nhiên, việc ứng dụng CNTT vào nông nghiệp ở việt Nam còn nhiều
bất cập, chưa đồng đều. Báo cáo chỉ số sẵn sàng ứng dụng và phát triển
CNTT của Bộ Nông nghiệp - Phát triển nông thôn năm 2009 cho thấy nơi nào
có ban lãnh đạo quan tâm tới CNTT thì sẽ đầu tư mạnh cho khâu này, chứ

không phải do nhu cầu bức thiết từ công việc thực tế. Việc ứng dụng CNTT
trong các sở Nông nghiệp - Phát triển nông thôn cũng không đồng đều, còn
phụ thuộc nhiều vào sự quan tâm và mức độ đầu tư của UBND các tỉnh thành.
Sự hỗ trợ từ bộ đối với các sở theo cấp quản lý ngành dọc còn hạn chế.
14

Kết quả trên phản ánh một thực tế là nhân lực ứng dụng CNTT trong lĩnh
vực QLHCNN về nông nghiệp còn yếu; và chắc chắn, việc ứng dụng CNTT
để phát triển nông nghiệp của nông dân chưa đạt kết quả cao.
CNTT thúc đẩy phát triển nhiều ngành kinh doanh mới. Hoạt động
CNTT đã tạo ra những ngành nghề, liên doanh kinh tế có giá trị cao, tạo
nguồn thu lớn. Thu thập của Microsoft năm 2001 từ thiết bị máy tính, phần
mềm đảm bảo chương trình và dịch vụ lên tới 200 tỷ USD, tương ứng với 1
USD thu nhập của Microsoft là 8 USD thu nhập của các đối tác.
15
.
Trong những năm gần đây, ngành công nghiệp CNTT đã có những đóng
góp đáng kể cho kinh tế Việt Nam.“Công nghiệp công nghệ thông tin nói

13
Hồng Văn, Gắn chíp cho bò, ngày cập nhật 09.10.2010.
14
Theo Vân Oanh, Ứng dụng CNTT trong nông nghiệp: còn những khoảng cách,
/>cach/76/4069763.epi, ngày cập nhật 01.4.2010.
15
Theo Sở Khoa học và Công Nghệ Bình Định, Vai trò của CNTT và tập đoàn Microsoft đối với sự phát
triển của các nền kinh tế,
15.9.2010.

17

chung và phần mềm nói chung có bước phát triển vượt bậc với doanh số năm
2010 ước khoảng 2 tỷ USD, tăng gấp 40 lần trong 10 năm”.
16

CNTT được ứng dụng mạnh mẽ trong quản trị kinh doanh. CNTT là
phương tiện và giải pháp giúp hoạt động sản xuất và kinh doanh hiệu quả
hơn. Các nhà quản trị có thể điều hành và kiểm soát mọi hoạt động kinh
doanh bằng các phần mềm quản lý doanh nghiệp. Sự kết hợp giữa tự động
hóa và mạng thông tin toàn cầu cho phép các doanh nghiệp thực hiện các giao
dịch kinh doanh quốc tế, mở rộng hoạt động và phạm vi kinh doanh.
Sự phát triển của TMĐT đã khai sinh thế hệ doanh nhân thứ tư. Trong
lịch sử, các doanh nhân thế hệ thứ nhất xây dựng cơ sở hạ tầng của một xã
hội công nghiệp: xăng dầu, sắt thép, ô tô, vận tải, điện năng Các doanh
nhân thế hệ thứ hai sử dụng cơ sở hạ tầng của một xã hội công nghiệp đã
được hoàn thành để triển khai các hoạt động kinh doanh: bán lẻ, vận tải, ngân
hàng, bảo hiểm, dịch vụ. Các doanh nhân thế hệ thứ ba xây dựng cơ sở hạ
tầng của một xã hội mạng. Mạng băng rộng ra đời, trở thành siêu lộ đa
phương tiện, và đang mở ra nhiều cơ hội kinh doanh. Các doanh nhân thế hệ
thứ tư sử dụng cơ sở hạ tầng của một xã hội mạng để tham gia vào TMĐT.
17

Hiện tại, số người kết nối Internet trên thế giới đã vượt hơn 1.7 tỉ. Trong
đó, riêng khu vực châu Á đã có 700 triệu người nối mạng. Việt Nam là một
trong những quốc gia có sự tăng trưởng lượng truy cập web mạnh nhất so với
cùng kỳ năm 2009, lên tới 347,8%.
18

Tháng 7 năm 2007, Việt Nam có 22.620.540 triệu người online, chiếm
hơn 20,1 % dân số. Tháng 6 năm 2010, số người này tăng đến 25 triệu người
và dự báo số người tham gia TMĐT (TMĐT) sẽ tăng đến 40 triệu người (hơn

40% dân số). TMĐT tại việt Nam tăng liên tiếp 20% tháng trong vòng 3 năm

16
/>nam/201011/47825.vgp: Từ Lương, Doanh thu phần mềm Việt Nam tăng 40 lần trong 10 năm, ngày cập nhật
13.11. 2010.
17
Theo Sayling Wen (2001),“Tương lai của Thương mại Điện tử”,
ngày
cập nhật 18.3.2004.
18
Theo Việt Nam là quốc gia
có tăng trưởng web mạnh, ngày cập nhật 04.10.2010, ,

18
trở lại đây. Dự báo TMĐT ở Việt Nam sẽ chiếm từ 2 - 4% tổng tiêu dùng
quốc nội trong 5 năm tới
19
.
Tuy nhiên, tại Việt Nam, những lợi ích của việc ứng dụng CNTT trong
kinh doanh vẫn chưa được khai thác mạnh mẽ. Kết quả điều tra 1.060 doanh
nghiệp cho thấy chỉ có 2/3 số doanh nghiệp thường xuyên sử dụng các phần
mềm soạn thảo văn bản, kế toán để hỗ trợ hoạt động kinh doanh; 58% số
doanh nghiệp có kết nối mạng LAN; 90% doanh nghiệp có sử dụng Internet
và hơn 50% doanh nghiệp có ban lãnh đạo sử dụng email hàng ngày. Việc sử
dụng các dịch vụ CNTT&TT và ứng dụng TMĐT còn rất hạn chế. Chỉ
khoảng 15% doanh nghiệp có sử dụng dịch vụ tư vấn CNTT&TT, 85% không
có nhu cầu hoặc sẽ đầu tư trong tương lai. Hơn 50% số doanh nghiệp chưa sử
dụng các dịch vụ tư vấn CNTT&TT. Chỉ có 19,4% doanh nghiệp đã có
website riêng, trong đó 91% số doanh nghiệp này chỉ sử dụng website để giới
thiệu hình ảnh, sản phẩm mà chưa tận dụng được những lợi ích của

CNTT&TT vào các hoạt động có lợi khác.
20

Các phân tích trên cho thấy vai trò tích cực của CNTT trong việc phát
triển đời sống kinh tế, văn hóa- xã hội ở nhiều quốc gia, và qua đó cũng cho
thấy NLCNTT là nhân tố quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại
của việc ứng dụng CNTT. Bản chất của ngành CNTT là luôn phát triển
nhanh, đặc biệt ở góc độ đổi mới công nghệ (ước tính kiến thức CNTT thay
đổi 50% trong vòng hai năm), khiến nhu cầu NLCNTT luôn luôn cao. Sự
khan hiếm NLCNTT lại đặt ra câu hỏi lớn về tính hiệu quả đối với các tổ
chức, các quốc gia trong việc sử dụng nhân lực CNTT.
1.2. Nhân lực CNTT
1.2.1. Quản trị nguồn nhân lực

19
/>df:“Thương mại điện tử Việt Nam - Bí quyết bán hàng Online hiệu quả & Phát triển doanh nghiệp trong thời
đại CNTT”.

20
Theo Lê Hiếu, Thực trạng ứng dụng CNTT trong doanh nghiệp, />dung-CNTTTT-trong-doanh-nghiep/20105/143565.vov, ngày 12.5.2010.

19
Có nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực. Tổng quan nhất, có
thể hiểu đó là nguồn lực con người của những tổ chức có khả năng và tiềm
năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển KT-
XH của quốc gia, khu vực và thế giới.
NNL là tổng thể các tiềm năng lao động của một tổ chức, địa phương hay
một nước sẵn sàng tham gia một công việc lao động của một ngành nghề. Khi
phân tích NNL, phải xem xét trình độ, cơ cấu, sự đáp ứng với yêu cầu của
TTLĐ hiện tại và tương lai.

Quản trị NNL là quá trình tác động thường xuyên, liên tục và có tổ chức
của chủ thể quản trị đến đối tượng quản trị nhằm phối hợp các hoạt động giữa
các bộ phận, các cá nhân, các nguồn lực lại với nhau để đạt đến mục tiêu của
tổ chức với hiệu quả cao nhất.
Hình 1.2: Quy trình quản trị NNL


Từ chính sách, chiến lược phát triển của tổ chức, nhà quản trị sẽ hoạch
định nhân sự thông qua việc điều tra, dự báo nhu cầu công việc. Nhà quản trị
sẽ lên kế hoạch tuyển dụng và bổ nhiệm nhân sự. Sau khi tuyển dụng, nhà
quản trị sẽ thực hiện việc xã hội hóa cho nhân sự mới (thông đạt rõ mục tiêu
công việc, văn hóa tổ chức…). Lãnh đạo và hỗ trợ là hướng dẫn thực hiện
Kế họach
Nhân sự
Tuyển dụng
Tuyển chọn và
bổ nhiệm
Lãnh đạo
và hỗ trợ
Xử lý
Kiểm tra, Đánh giá

Thông đạt
mục tiêu
Đào tạo &
phát triển
Quản trị
nhân sự
Chiến lược
Chính sách



20
công việc với những thiết chế tổ chức, quy trình làm việc (trao quyền, trách
nhiệm). Việc kiểm tra, đánh giá thường xuyên là cần thiết để kịp thời có biện
pháp xử lý, điều chỉnh những phát để đảm bảo đạt mục tiêu của công việc.
Các phương pháp đánh giá nhân lực đều sử dụng các chỉ số công cụ sau:
(1) Chỉ số mục tiêu: Mục tiêu công việc, mức độ đạt được mục tiêu của tổ
chức cũng như các cá nhân thành viên và các biện pháp, cách thức thực hiện
để đạt mục tiêu đề ra. (2) Chỉ số công việc: chỉ số này được hình thành trên cơ
sở phân tích công việc (bảng mô tả công việc với các chỉ số căn bản như
nhiệm vụ, trách nhiệm, yêu cầu của công việc…). (3) Chỉ số bổ sung: tinh
thần trách nhiệm, phong cách, tính tương thích với văn hóa tổ chức…Tính
tương thích với văn hóa tổ chức là một chỉ số quan trọng. Thực tế cho thấy có
nhiều tổ chức không giữ được nhân sự giỏi không phải do lương thấp, mà do
nhân sự không tương thích với văn hóa tổ chức.
Theo chúng tôi, đối với mỗi ngành nghề cụ thể, tất cả những tiêu chí trên
phải được tổng hợp thành chuẩn kĩ năng để làm cơ sở đánh giá NNL của lĩnh
vực đó. Ở Việt Nam, một số ngành nghề còn thiếu chuẩn kĩ năng. Đây là vấn
đề cần xem xét trong việc xây dựng và phát triển NNL, đặc biệt đối nhân lực
CNTT trong tình hình hiện nay.
Ở tầm vi mô, các mục tiêu và chiến lược quản trị NNL phải dựa trên các
chính sách của tổ chức. Ở tầm vĩ mô, quản trị NNL để phát triển một ngành,
một lĩnh vực phải tuân thủ các CSNN để phát triển lĩnh vực, ngành nghề đó.
Vì vậy, CSNN tác động đối với việc phát triển nhân lực của một ngành, lĩnh
vực đó trên phạm vi toàn xã hội.
1.2.2. Quản trị chất lượng NNL
Theo chúng tôi, nếu xem việc cung ứng nhân lực là một dịch vụ, có thể
vận dụng các nguyên tắc quản lý chất lượng theo ISO (International
Organization Standard) để làm cơ sở cho việc quản trị chất lượng NNL:


21
Chất lượng được định hướng bởi khách hàng. Cần hiểu các nhu cầu
(hiện tại và tương lai) của khách hàng, để đáp ứng các kì vọng của họ.
Sự lãnh đạo. Lãnh đạo thiết lập sự thống nhất đồng bộ giữa mục tiêu và
đường hướng, cách thức đạt đến các mục tiêu của tổ chức.
Sự tham gia của mọi người. Sự cam kết, dấn thân tham gia của nguồn
nhân lực mới đảm bảo thành công của tổ chức.
Giải quyết vấn đề theo quan điểm quá trình. Kết quả mong muốn sẽ đạt
được một cách hiệu quả khi các nguồn và các hoạt động có liên quan được
quản lý như một quá trình.
Tính hệ thống. Quản lý một hệ thống các quá trình tương tác có liên quan
lẫn nhau đối với mục tiêu đề ra sẽ đem lại hiệu quả cao cho tổ chức.
Cải tiến liên tục. Cải tiến liên tục là mục tiêu, đồng thời cũng là phương
pháp của mọi tổ chức để có thể đạt chất lượng cao nhất và khả năng cạnh
tranh của tổ chức.
Quyết định dựa trên sự kiện. Mọi hành vi tổ chức của hệ thống quản trị
kinh doanh phải được xây dựng dựa trên việc phân tích dữ liệu và thông tin
được cập nhật (về thị trường, về nhu cầu xã hội…)
Quan hệ hợp tác cùng có lợi với người cung ứng. Tổ chức và người cung
ứng phụ thuộc lẫn nhau trong việc tạo ra giá trị gia tăng của chuỗi cung ứng.
Mở rộng ra ngoài phạm vi một tổ chức, các nguyên tắc trên cũng là cơ sở
cho cách tiếp cận nguồn nhân lực theo định hướng nhu cầu.
1.2.3. Nhân lực theo định hướng nhu cầu:
Nhân lực theo định hướng nhu cầu (demand-oriented) là nhân lực cần có
để đáp ứng các yêu cầu của một công việc, một ngành nghề, một lĩnh vực
hiện tại và tương lai của một tổ chức, một địa phương hoặc một quốc gia một
cách hiệu quả trong một khoảng thời gian nhất định với một chi phí hợp lý.




22
Hình 1.3: Mô hình nhân lực theo định hƣớng nhu cầu


Mô hình trên cho thấy nhân lực theo định hướng nhu cầu vận hành theo
các nguyên lý của cơ chế thị trường nhưng có sự kết nối hợp lý giữa Nhà
nước - Nhà trường - Nhà doanh nghiệp.
Nhân lực của một lĩnh vực ngành nghề cụ thể sẽ tuân thủ quy luật cung
cầu của TTLĐ (doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân sử dụng lao động đưa ra yêu
cầu nhân lực dựa trên dự báo công việc và khả năng chi trả để có thể sử
dụng nhân lực như mong muốn).
Nhu cầu nhân lực của mỗi tổ chức, mỗi địa phương trong cùng một giai
đoạn rất khác nhau. Nhân lực theo định hướng nhu cầu về nguyên tắc phải
theo cơ chế thị trường. Tuy nhiên, phải có sự định hướng và hỗ trợ của nhà
nước theo nguyên tắc “ba nhà”: Nhà trường - Nhà nước - Nhà doanh nghiệp
(trong phạm vi luận văn chúng tôi sử dụng “nhà doanh nghiệp” với nghĩa là
người hoặc tổ chức, doanh nghiệp sử dụng lao động).
Vì vậy, theo chúng tôi, đào tạo nhân lực theo định hướng nhu cầu phải
thỏa mãn ba tiêu chí: Thực tiễn, chuyên nghiệp và hiện đại. Tính thực tiễn
cho thấy tầm quan trọng của việc dự báo, hoạch định nhân lực của người sử
dụng lao động, của tổ chức nhằm đảm bảo thu hút và sử dụng hợp lý NNL để
đáp ứng được yêu cầu công việc và đảm bảo yếu tố kinh tế, tránh lãng phí (sử

Nhà nước
Chính sách phát triển nhân lực
Doanh nghiệp,
Tổ chức sử dụng
nhân lực
Giáo dục - Đào tạo


Nhân lực
theo
định hướng
nhu cầu
Thực tiễn
Hiện đại
Chuyên nghiệp

23
dụng theo nhu cầu công việc thực tiễn của tổ chức, và khả năng cung ứng của
TTLĐ). Nhân lực theo định hướng nhu cầu phải được đào tạo và đáp ứng
được yêu cầu của công việc hiện tại và phát triển trong tương lai (tính thực
tiễn), chứ không phải đào tạo để cấp chứng chỉ, bằng cấp. Vì vậy, NNL theo
định hướng nhu cầu phải chuyên nghiệp và hiện đại mới có thể làm việc trong
tư thế của chuyên gia lĩnh vực mình đảm trách và luôn trong tâm thế sáng tạo
và đổi mới không ngừng để bắt kịp những thay đổi của yêu cầu công việc.
Tuy nhiên, trên thực tế, luôn có một độ lệch nhất định giữa GD&ĐT với
tổ chức sử dụng lao động, cho dù giáo dục được vận hành theo cơ chế thị
trường. Có ý kiến cho rằng khi doanh nghiệp cần gì thì cơ sở GD&ĐT sẽ dạy
những thứ đó; hoặc cơ sở đào tạo chỉ cần đáp ứng nhu cầu của người học là
đáp ứng nhu cầu của TTLĐ. Theo chúng tôi, đây là tầm nhìn ngắn hạn, bởi
nhu cầu nhân lực của nhiều ngành nghề thay đổi nhanh chóng, ví dụ như
ngành CNTT. Do việc đào tạo thường mất thời gian, nên người học sau khi đã
học được ngành học theo nhu cầu TTLĐ lúc trước lại không xin được việc
bởi nhu cầu lao động làm hiện tại và tương lai sẽ khác. Việc để người học tự
định hướng ngành nghề mà không có thông tin dự báo nhu cầu công việc dài
hạn của nhà nước thì người học sau khi tốt nghiệp sẽ thất nghiệp.
Vì thế, để đảm bảo đáp ứng tốt nhu cầu, nhà nước phải nghiên cứu, dự
báo và có chính sách đào tạo “nhân lực đi trước”. Đối với một ngành nghề,

lĩnh vực cần nhân lực để phát triển thì Nhà nước phải điều tra, dự báo nhu cầu
trước nhiều năm và có những chính sách thúc đẩy GD&ĐT, thu hút và sử
dụng NNL này hợp lý để đảm bảo cho phát triển chung, dài hạn.
TS. Nguyễn Văn Ngãi cho rằng thị trường giáo dục tồn tại một số thất
bại như: thông tin không hoàn hảo, tính cạnh tranh không cao, hàng hoá
không đồng nhất, hạn chế trong lựa chọn của người đi học, ngoại tác tích cực
trong giáo dục, và khó khăn trong tiếp cận giáo dục của người nghèo. Vì vậy,
tất yếu sẽ dẫn đến không hiệu quả cao cho xã hội bởi các trường chủ quan,
không đầu tư nhiều để nâng cao chất lượng dịch vụ và cạnh tranh về học phí.

24
Lợi ích xã hội của giáo dục bao gồm lợi ích tư nhân (của người đi học) và lợi
ích ngoại tác (người đi học đem lợi ích cho người khác và xã hội bởi việc học
sẽ giảm bớt tệ nạn xã hội, dễ dàng hơn trong việc phổ biến và thực hiện các
CSNN). Doanh nghiệp trả lương cho người lao động được đào tạo với mức
bao giờ cũng thấp hơn năng suất mà người lao động đem lại cho doanh
nghiệp và sự chênh lệch đó là lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Vai trò của Nhà nước là cần thiết nhằm hạn chế những thất bại của thị
trường giáo dục. Đối với vấn đề thông tin không cân xứng, nhà nước cần có
những quy định cho nhà trường cung cấp đầy đủ thông tin cho người đi học.
Đối vấn đề cạnh tranh không hoàn hảo, nhà nước cần thiết có chế để tăng tính
cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ giáo dục: cho phép các trường tự do mở
các ngành khác nhau để cạnh tranh lẫn nhau, mở cửa cho các trường đại học
quốc tế vào Việt Nam để thúc đẩy sự cạnh tranh của các trường trong nước.
“Vì tồn tại lợi ích ngoại tác nên doanh nghiệp và nhà nước cần phải đầu tư
cho giáo dục, không thể để 100% chi phí cho người đi học phải gánh chịu.
Doanh nghiệp không cần thiết phải đóng góp trực tiếp cho giáo dục, mà
doanh nghiệp đóng góp qua việc đóng thuế vào NSNN và như vậy nhà nước
phải đầu tư lại cho giáo dục”.
21


Tuy nhiên, chúng tôi cũng đồng ý với các quan điểm cho rằng đối với
một số ngành nghề quan trọng, Chính phủ phải có cơ chế yêu cầu doanh
nghiệp khi nhận lao động thì phải trả tiền đào tạo cho nhà nước, và nhà nước
sẽ chi trả lại cho cơ sở GD&ĐT.
Vì vậy, trong một số lĩnh vực ngành nghề chiến lược, việc kết hợp đào
tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp phải dựa trên các CSNN. Nhà nước phải
lên kế hoạch nghiên cứu, phân tích và dự báo nhu cầu lao động trong lĩnh vực
cần phát triển ở cấp quốc gia, cấp vùng và địa phương để đảm bảo có chiến
lược, kế hoạch phát triển nhân lực bài bản để phát triển KT-XH.

21
Nguyễn Văn Ngãi, Đặc điểm giáo dục
và đào tạo theo nhu cầu thị trường, ngày cập nhật 20.3.2008.

×