Tải bản đầy đủ (.pdf) (89 trang)

100 Huy động nguồn lực tài chính tài trợ cho hoạt động dầu tư phát triển KTXH theo hướng bền vững nói chung và trên địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu nói riêng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (933.13 KB, 89 trang )


Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU
1- Tính cấp thiết của đề tài
Vốn theo nghóa rộng được hiểu là toàn bộ những yếu tố đầu vào của
sản xuất xã hội (con người, của cải, tài nguyên, …). Theo nghóa hẹp là
khoản tiền, của cải tích luỹ của xã hội được sử dụng trong quá trình tái sản
xuất xã hội, duy trì tiềm lực và tạo ra tiềm lực mới cho sản xuất xã hội.
Như vậy, theo nghóa rộng hay nghóa hẹp vốn luôn đóng vai trò quyết đònh
đối với sự phát triển của nền KTXH, là cơ sở quan trọng để đầu tư hình
thành lên cơ sở hạ tầng, tài sản, máy móc thiết bò, công nghệ … Cũng như
cả nước, nguồn VĐT phát triển trên đòa bàn tỉnh BR-VT luôn trong tình
trạng thiếu hụt, hiệu quả sử dụng vẫn còn hạn chế. Với mục tiêu phát triển
nhanh, hiệu quả, bền vững, phù hợp với những lợi thế và tiềm năng của
tỉnh, trong những năm tới đòi hỏi tỉnh cần phải huy động và sử dụng có
hiệu quả nguồn vốn lớn với chất lượng cao. Việc tìm giải pháp không chỉ
quan trọng đối với những nhà lãnh đạo, nhà hoạch đònh chính sách, mà còn
quan trọng đối với những cá nhân quan tâm nghiên cứu. Trong đó, tác giả
cũng sẽ cố gắng tìm câu trả lời trong luận văn này.
2- Mục đích, ý nghóa và đối tượng nghiên cứu
Luận văn cố gắng tìm một số giải pháp để có thể huy động và sử
dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính tài trợ cho các mục tiêu đầu tư phát
triển KTXH trên đòa bàn tỉnh theo hướng bền vững. Với những giải pháp
này hy vọng sẽ có những đóng góp nhỏ vào sự hoàn thành những mục tiêu
mà Đảng bộ, HĐND, UBND và nhân dân tỉnh đã đề ra trong những năm
tới. Đối tượng nghiên cứu là các nguồn vốn tài chính, sự tác động của nó
đối với sự phát triển KTXH trên đòa bàn tỉnh chủ yếu trong giai đoạn 2001-
2005, và những năm tới.
3- Giới hạn đề tài nghiên cứu
Như ở trên, phạm trù tài chính nói chung và vốn nói riêng rất rộng


lớn. Nó bao gồm toàn bộ các yếu tố vật chất và phi vật chất được đưa vào
sản xuất như : Lao động, tài nguyên, tiền vốn … trong phạm vi nghiên cứu

Trang 2

của đề tài tác giả chủ yếu đi vào phân tích các yếu tố vốn bằng tiền của
các nguồn vốn trong nước và nước ngoài trên đòa bàn tỉnh.
4- Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong luận văn là
phương pháp thống kê. Trên cơ sở số liệu thu thập từ nhiều nguồn tin cậy,
sau đó được tổng hợp, tính toán, phân tích, đánh giá, so sánh … Đồng thời,
trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến khả
năng huy động vốn từ các kênh trong và ngoài nước trên đòa bàn tỉnh
những năm qua. Từ đó đưa ra một số giải pháp cơ bản để huy động các
nguồn vốn phục vụ cho đầu tư phát triển KTXH trên đòa bàn tỉnh trong
những năm tới.
5- Kết cấu luận văn
Kết cấu của luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận gồm 3 chương
Chương I : Nguồn lực tài chính – Vai trò của vốn đầu tư đối với sự
phát triển KTXH theo hướng bền vững.
Chương II : Thực trạng huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính
tài trợ cho đầu tư phát triển KTXH trên đòa bàn tỉnh BR-VT từ năm 2001
đến nay.
Chương III : Huy động và sử dụng nguồn lực tài chính tài trợ cho
đầu tư phát triển KTXH trên đòa bàn tỉnh BR-VT giai đoạn 2006-2015 và
2020 theo hướng bền vững.
Do khả năng, tài liệu và thời gian còn hạn chế nên luận văn không
tránh khỏi sai sót. Nhiều vấn đề đặt ra trong luận văn nhưng chưa được
nghiên cứu và giải quyết thật thấu đáo. Kính mong các Thầy, Cô, các đồng
nghiệp và các bạn quan tâm cho những ý kiến để luận văn được hoàn

thành và mang ý nghóa thiết thực hơn.




Trang 3

Chương I :
NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH - VAI TRÒ CỦA VỐN
ĐẦU TƯ VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
THEO HƯỚNG BỀN VỮNG

1.1- NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH - PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG -
VAI TRÒ CỦA VỐN ĐẦU TƯ VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1.1.1- Tổng quan về nguồn lực tài chính
1.1.1.1- Lý luận chung về tài chính :
Tài chính ra đời cùng với sự xuất hiện của nền sản xuất hàng hoá.
Trong nền kinh tế hàng hoá, việc trao đổi, mua bán được diễn ra một cách
dễ dàng thông qua tiền tệ làm vật trung gian trao đổi. Tiền tệ đóng vai trò
đặc biệt quan trọng kích thích sự phát triển của kinh tế hàng hoá, tiền tệ
làm cho quá trình phân phối, trao đổi diễn ra dễ dàng. Trong quá trình đóù
các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế được tạo lập, sử dụng cho đầu tư phát
triển KTXH và làm nảy sinh phạm trù tài chính. Sản xuất hàng hoá càng
phát triển, các quan hệ tài chính càng mở rộng, và có ảnh hưởng ngày
càng sâu sắc hơn đối với sự phát triển của nền kinh tế.
Theo K.Marx : Tài chính là phạm trù phân phối, phản ánh các quan
hệ kinh tế phát sinh trong phân phối các quỹ tiền tệ nhằm thoả mãn các
nhu cầu của các chủ thể trong nền kinh tế. Các chủ thể trong nền kinh tế
gồm Nhà nước, các DN, và dân cư, trong quan hệ kinh tế quốc tế làm xuất
hiện các chủ thể kinh tế nước ngoài tham gia, hình thành các dòng vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài (Foreign direction investment, FDI) và gián tiếp
(Foreign portfolio investment, FPI). Sự phát triển mạnh mẽ đa dạng của
các quan hệ kinh tế cũng làm xuất hiện quan hệ tài chính phong phú cùng
với những quỹ tiền tệ rất đa dạng.
Nhà nước xuất hiện gắn liền với sự hình thành quỹ NSNN nhằm thực
hiện chức năng và quyền lực của mình đảm bảo an ninh, quản lý, duy trì
ổn đònh xã hội … Trong nền kinh tế hàng hoá giản đơn và kinh tế thò trường
tự do cạnh tranh, Nhà nước chỉ thuần tuý thực hiện chức năng cai trò, không

Trang 4

can thiệp vào kinh tế (A.Smith). Khi đó NSNN chủ yếu phục vụ cho các
hoạt động quản lý hành chính, trật tự xã hội, an ninh quốc phòng. Tuy
nhiên, tình trạng sản xuất vô chính phủ, lạm phát, thất nghiệp, khủng
hoảng kinh tế có tính chu kỳ (đặc biệt 1929-1933) dẫn đến sự cần thiết can
thiệp của Nhà nước vào kinh tế. Các chính sách kinh tế của Nhà nước tác
động trực tiếp đến quan hệ kinh tế, sự hình thành các quỹ tiền tệ trong nền
kinh tế.
Phạm trù tài chính rất rộng, bao gồm nhiều lónh vực như : NSNN;
Tín dụng ngân hàng; Bảo hiểm; Tài chính DN; Tài chính khu vực dân cư;
Tài chính quốc tế … Tất cả các lónh vực đó hình thành nên nguồn lực tài
chính tài trợ cho đầu tư của Nhà nước, DN, dân cư và các chủ thể kinh tế
quốc tế.
1.1.1.2- Các nguồn lực tài chính tài trợ cho đầu tư phát triển :
1.1.1.2.1- Ngân sách Nhà nước :
NSNN là khâu tài chính tập trung lớn nhất trong hệ thống tài chính.
NSNN bao gồm toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán
được Quốc hội quyết đònh và thực hiện trong một năm, để đảm bảo việc
thực hiện các chức năng của Nhà nước. NSNN bao gồm ngân sách Trung
ương và ngân sách đòa phương. NSNN được hình thành từ việc huy động

các khoản thu của Nhà nước từ thuế, phí, lệ phí, các khoản viện trợ, vay
nợ, các khoản đóng góp của các tổ chức, cá nhân và các khoản thu khác.
Đồng thời NSNN được sử dụng để chi tiêu cho hoạt động của bộ máy Nhà
nước, chi cho an ninh quốc phòng, y tế, văn hoá, giáo dục, chi trả nợ, các
khoản khác theo quy đònh và quan trọng hơn đó là chi cho đầu tư phát
triển. Nguồn NSNN hình thành lên quỹ dự trữ quốc gia, điều tiết kinh tế vó
mô của Nhà nước.
1.1.1.2.2- Vay nợ trong nước và vay nợ nước ngoài :
Vay nợ trong nước và vay nợ nước ngoài được Chính phủ, các DN
thực hiện dưới các hình thức như : Vay tín dụng thương mại; phát hành
giấy nợ (trái phiếu) trên thò trường vốn. Đây là nguồn vốn bổ sung quan
trọng nhằm thực hiện các nhiệm vụ chi tiêu của Chính phủ, đặc biệt là chi

Trang 5

đầu tư phát triển. Với DN, nguồn vốn này quan trọng hơn rất nhiều, vì nhu
cầu đầu tư phát triển SXKD rất lớn và vốn tự có không đủ để đáp ứng.
Nhất là hiện nay, cạnh tranh ngày càng gay gắt và có tính toàn cầu, các
DN bắt buộc phải đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản
phẩm, dòch vụ … mới có thể đứng vững trong cạnh tranh.
1.1.1.2.3- Huy động thông qua đònh chế tài chính :
Các đònh chế tài chính là những tổ chức huy động những nguồn vốn
tương đối nhỏ, phân tán, tập trung thành nguồn vốn lớn tài trợ cho các nhu
cầu đầu tư phát triển của Nhà nước, của DN, các chủ thể trong nền kinh tế
và những nhu cầu chi tiêu khác của xã hội.
Các đònh chế tài chính gồm các đònh chế tài chính NH và đònh chế
phi NH (i) Các đònh chế NH là khâu tài chính quan trọng, thực hiện các
quan hệ vay trả trong nền kinh tế với các chức năng : Huy động những
nguồn vốn nhỏ lẻ, phân tán, tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế thành
nguồn vốn tập trung rất lớn, đáp ứng nhu cầu cho đầu tư phát triển SXKD,

lưu thông hàng hoá và dòch vụ, tạo điều kiện thực hiện các mục tiêu
KTXH, tham gia vào thò trường tài chính, góp phần ổn đònh hệ thống tiền
tệ. (ii) Đònh chế tài chính phi NH là những đònh chế tài chính trung gian
không nhận tiền gửi, như các công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí, quỹ đầu tư…
được hình thành từ những khoản đóng góp dưới nhiều hình thức, bắt buộc,
tự nguyện và được bù đắp khi rủi ro ốm đau, thất nghiệp, mất sức … Các
quỹ đầu tư được hình thành từ việc phát hành cổ phần ra công chúng, cung
cấp cho công chúng sản phẩm đầu tư đã được đa dạng hoá, giảm rủi ro và
có khả năng thu hút khoản tiết nhỏ từ dân cư.
1.1.1.2.4- Huy động vốn thông qua thò trường tài chính :
Thò trường tài chính gồm thò trường tiền tệ và thò trường vốn. TTCK
là một bộ phận quan trọng nhất của thò trường vốn, là nơi các chứng khoán
được phát hành và trao đổi. Hàng hoá giao dòch trên TTCK là các loại
chứng khoán dài hạn, như các loại trái phiếu, cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu
tư, công cụ phái sinh - các hợp đồng tương lai, quyền chọn … Qua TTCK
các công ty có thể dễ dàng huy động vốn trực tiếp bằng cách phát hành
chứng khoán ra thò trường. Chính phủ và chính quyền các đòa phương cũng

Trang 6

có thể huy động vốn trên thò trường này bằng cách phát hành các loại trái
phiếu, công trái.
1.1.2.5- Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) :
Nguồn vốn FDI là nguồn vốn đầu tư của tư bản nước ngoài trực tiếp
đầu tư cho SXKD ở nước nhận vốn. Đây là nguồn vốn lớn, có ý nghóa quan
trọng trong phát triển kinh tế, đặc biệt đối với những nước đang phát triển,
ở những nước này nhu cầu đầu tư cao, nguồn vốn tích luỹ từ nội bộ nền
kinh tế lại hạn hẹp. Ngày nay, FDI trở thành một tất yếu kinh tế trong điều
kiện hội nhập kinh tế và toàn cầu hóa. Không một quốc gia nào lại không
cần đến nguồn vốn đầu tư này và tất cả đều coi đó là nguồn vốn quan

trọng cần khai thác để từng bước hoà nhập vào cộng đồng quốc tế. Ngay
cả những quốc gia có tiềm lực kinh tế như Mỹ, Nhật bản, dưới tác động
của KHCN hiện đại ngày nay cũng không tự mình giải quyết được những
vấn đề KTXH đã, đang và tiếp tục đặt ra. Chỉ có hợp tác, trong đó FDI là
loại hình đầu tư, hợp tác có hiệu quả.
1
1.1.1.2.6- Nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA) :
Nguồn vốn ODA là nguồn tài chính do các cơ quan chính thức của
một nước , một tổ chức quốc tế viện trợ cho các nước đang phát triển nhằm
thúc đẩy sự phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội của các nước này. ODA
được thực hiện trên cơ sở song phương hoặc đa phương với các nội dung :
Viện trợ không hoàn lại; Viện trợ hỗn hợp; Viện trợ có hoàn lại, thực chất
là vay tín dụng ưu đãi.
ODA là nguồn vốn cực kỳ quan trọng cho công cuộc phát triển kinh
tế của các nước đang phát triển. Thông qua dự án ODA, cơ sở hạ tầng kinh
tế của nước tiếp nhận được nâng lên một bứơc. Nếu sử dụng có hiệu quả
nguồn vốn ODA sẽ là nhân tố tích cực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
1.1.2- Phát triển bền vững
Ngày nay, trong đầu tư phát triển người ta không chỉ quan tâm đến
vấn đề tăng trưởng kinh tế cao mà quan trọng hơn là đầu tư để phát triển
kinh tế có tính bền vững, nhân văn, thân thiện với thiên nhiên, môi trường

1
Giáo trình Kinh tế Phát triển – GS.TS Vũ Thò Ngọc Phùng - Chủ biên – NXB Lao động Xã hội - 2005

Trang 7

… Trong quá trình phát triển kinh tế, người ta đã nhận thấy mặt trái của sự
tăng trưởng nhanh, đó là sự cạn kiệt nguồn tài nguyên, ô nhiễm môi
trường, những vấn nạn xã hội, bất bình đẳng, nghèo đói và bệnh tật …

những điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến tương lai phát triển của nhân loại
và vấn đề “Phát triển bền vững” được đặt ra. Theo y ban môi trường và
phát triển thế giới (WCED) : Phát triển bền vững là sự phát triển để đáp
ứng những nhu cầu của hôm nay mà không làm tổn hại đến khả năng đáp
ứng những nhu cầu của thế hệ tương lai.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện rõ quan điểm về phát triển
bền vững trong Chiến lược phát triển KTXH của đất nước đến năm 2010 là
“Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững”. Nghò quyết Đại hội X của Đảng
một lần nữa khẳng đònh : Việc đầu tư cho phát triển KTXH của chúng ta
phải nhằm tới mục tiêu (1) Tăng trưởng kinh tế cao, ổn đònh, đảm bảo
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. (2) Đảm bảo giải
quyết tốt vấn đề xã hội, công bằng xã hội, xoá đói giảm nghèo, phát triển
nguồn nhân lực, phát triển phải mang tính nhân văn, mọi người cùng tham
gia vào quá trình phát triển và cùng được hưởng lợi từ quá trình phát triển
đó. (3) Phát triển bền vững về môi trường, bảo vệ môi trường sống trong
lành, khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên. (4)
Đảm bảo ổn đònh chính trò, giữ vững an ninh – quốc phòng. Đây là yếu tố
đặc biệt quan trọng, là niền tin của các nhà đầu tư, là yếu tố đảm bảo cho
thành quả của phát triển không bò tàn phá bởi khủng bố, đảo chính, chiến
tranh …
1.1.3- Vai trò của vốn đầu tư với phát triển kinh tế – xã hội.
1.1.3.1- Vốn đầu tư :
Vốn đầu tư gồm : Tư bản, thể hiện dưới các hình thức như tiền, các
loại tài sản, nguyên vật liệu…; Tài nguyên thiên nhiên; Vốn con người.
Những yếu tố trên tác động với nhau tạo thành quá trình kinh tế vận động
không ngừng, nối tiếp nhau làm cho của cải ngày tăng lên và do đó tạo
dựng thêm vốn mới. Vốn mới lại tạo ra những yếu tố vật chất mới, công
nghệ mới, sức lao động và trí tuệ mới … của cải tạo ra ngày càng nhiều
hơn, vốn mới được tạo ra nhiều hơn. Theo nghóa rộng, vốn được hiểu là


Trang 8
những yếu tố đầu vào của sản xuất như : Tiền, lao động, tài nguyên, công
nghệ, vật tư hàng hoá … Theo nghóa hẹp, vốn là tiền tích luỹ của xã hội,
của các DN, của dân cư và huy động từ các nguồn khác được đưa vào sử
dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội. Tuy nhiên, khoản tích luỹ này
phải sử dụng cho mục đích đầu tư sinh lợi thì mới được gọi là vốn. Tiền
đem tiêu dùng hoặc đưa vào cất trữ thì không gọi là vốn.
1.1.3.2- Vai trò của vốn đầu tư đối với phát triển kinh tế – xã hội
:
Cơ sở hạ tầng tốt, thiết bò mới hiện đại cùng với nguồn nhân lực có
trình độ phù hợp là hai nhân tố có tác động mạnh mẽ, có tính quyết đònh
đến năng suất, chất lượng và hiệu quả SXKD. Vốn đầu tư tham gia vào
các hoạt động đầu tư đóng vai trò quan trọng hình thành lên cơ sở hạ tầng,
hình thành lên các tài sản, máy móc thiết bò, công nghệ, tác động đến chất
lượng nguồn nhân lực. Như vậy VĐT có vai trò quyết đònh đối với sự phát
triển nền KTXH, nó không chỉ tác động làm tăng năng suất, sản lượng mà
còn có tác động mạnh đến chất lượng nguồn lao động, yếu tố có vai trò
quyết đònh nhất trong nền kinh tế phát triển theo hướng bền vững.
Về vai trò của VĐT, hai nhà kinh tế học là Roy Harrod và Evsay
Domar cùng đưa ra mô hình giải thích mối quan hệ giữa VĐT và tăng
trưởng Harrod – Domar, nhấn mạnh vai trò của vốn đầu tư (từ tiết kiệm),
như sau :
k
s
g =

Trong đó : g là tốc độ tăng trưởng kinh tế, yếu tố đầu ra (GDP)
s = St/Y : là tỷ lệ tiết kiệm trong nền kinh tế.
Y : GDP; It : đầu tư; St : tiết kiệm
Với giả đònh, các khoản tiết kiệm trong nền kinh tế được các kênh

huy động và chuyển tải toàn bộ đến các hoạt động đầu tư. Khi đó, đầu tư
bằng tiết kiệm (It=St), như vậy s=It/Y.
k : Hệ số gia tăng giữa vốn và sản lượng (còn gọi là hệ số ICOR).


Trang 9

Mô hình này cho biết rằng, tăng trưởng có quan hệ thuận với tỷ lệ
vốn đầu tư (s). Với một hệ số ICOR nhất đònh, tỷ lệ vốn đầu tư tăng lên sẽ
tạo tạo ra tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ngược lại.
Nhưng chúng ta muốn đạt được mục tiêu tăng trưởng nhanh, ổn đònh
và có tính bền vững thì việc tăng VĐT chỉ là điều kiện cần, vấn đề còn lại
là hiệu quả đầu tư (ICOR) và đầu tư phải cân đối, hài hoà về cơ cấu
ngành, vùng kinh tế. Vì vậy, VĐT phải được phân bổ và sử dụng nhằm
khai thác tốt các nguồn lực tiềm năng, tài nguyên, vật lực, … đặc biệt là
nguồn vốn con người, tạo ra tổng lực, đẩy mạnh sự chuyển dòch cơ cấu
theo hướng hiện đại hoá và bền vững.
1.2- CÁC KÊNH CHỦ YẾU HUY ĐỘNG VỐN CHO HOẠT
ĐỘNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI
Để có vốn cho đầu tư phát triển KTXH, phải huy động các nguồn
tiết kiệm từ các chủ thể trong nền kinh tế. Trong hội nhập kinh tế quốc tế,
một nền kinh tế mở, ngoài những nguồn vốn huy động trong nước thì
nguồn vốn từ nước ngoài là nguồn bổ sung quan trọng, đặc biệt đối với các
nước đang phát triển.
1.2.1- Các kênh trong nước :
Nguồn vốn trong nước thể hiện sức mạnh nội lực của một quốc gia.
Nguồn vốn này có tính ổn đònh, bền vững, giảm thiểu được những rủi ro và
hậu quả xấu do những tác động từ bên ngoài. Nguồn vốn trong nước chủ
yếu được hình thành từ tiết kiệm của các chủ thể kinh tế trong nước, nghóa
là từ Chính phủ, các doanh nghiệp và hộ dân cư.

1.2.1.1- Tiết kiệm từ NSNN :
Tiết kiệm từ NSNN, là số chênh lệch dương giữa các khoản thu ngân
sách trừ đi phần chi tiêu thường xuyên của Chính phủ, phần tiết kiệm này
hình thành nên nguồn vốn đầu tư của Nhà nước. Nguồn tiết kiệm NSNN
hình thành trên cơ sở tăng thuế hoặc cắt giảm chi tiêu thường xuyên của
Chính phủ, nó phụ thuộc rất lớn vào điều kiện của nền kinh tế và thu nhập
bình quân đầu người. Tăng thuế, có thể làm cho tiết kiệm ngân sách tăng
trong điều kiện chi tiêu không thay đổi, nhưng lại tạo thêm gắng nặng cho

Trang 10

các doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư và có thể sẽ có những tác động
ngược như : không khuyến khích hoạt động đầu tư SXKD, hiệu quả SXKD
sụt giảm, hay tạo ra phản ứng tìm cách gian lận thuế … và như vậy nguồn
thu NSNN lại giảm xuống. Giảm chi tiêu thường xuyên cuả Chính phủ
cũng làm tăng tiết kiệm NSNN, tuy nhiên lại tác động làm tổng cầu xã hội
giảm và điều đó làm nhu cầu đầu tư, nhất là khu vực tư nhân giảm sút. Do
đó, để duy trì sự tăng trưởng kinh tế và mở rộng đầu tư đòi hỏi Nhà nước
phải gia tăng tiết kiệm NSNN, trên cơ sở chính sách thuế hợp lý để tăng
nguồn thu và có chính sách tiết kiệm chi tiêu một cách hợp lý. Nguồn tiết
kiệm từ NSNN phải được sử dụng đầu tư một cách hiệu quả nhằm tạo ra
những cơ hội đầu tư tốt hơn, như : nâng cao cơ sở hạ tầng giao thông, cảng
biển, viễn thông, cơ sở hạ tầng tài chính … khuyến khích tiết kiệm và đầu
tư đối với các chủ thể kinh tế khác trong nền kinh tế.
1.2.1.2- Tiết kiệm từ khu vực DN :
Nguồn vốn này được hình thành từ khâu tài chính DN. Đó là những
quan hệ tài chính phục vụ cho quá trình SXKD. Khoản tiết kiệm này chủ
yếu được hình thành từ lợi nhuận của DN, là nguồn vốn cơ bản để DN có
thể đầu tư mở rộng và phát triển, tái sản xuất mở rộng DN. Quy mô tiết
kiệm của DN phụ thuộc vào kết quả SXKD, chính sách phân phối lợi

nhuận của DN, chính sách thuế Nhà nước và các chính sách kinh tế vó mô
khác.
Tiết kiệm từ khu vực DN là nguồn lực tiềm năng rất lớn cung cấp
nguồn tài chính quốc gia. Một hệ thống DN đông đảo, lớn mạnh, vững
mạnh, những tập đoàn kinh tế kinh doanh có hiệu quả … ngoài việc tạo ra
nguồn vốn lớn để phát triển mở rộng DN, nâng cao sức cạnh tranh của nền
kinh tế, còn là cơ sở vững chắc tăng thu cho NSNN. Đó cũng là nền tảng
cho nền kinh tế có tốc độ phát triển cao, ổn đònh trong dài hạn.
1.2.1.3- Tiết kiệm từ khu vực dân cư :
Đây là phần thu nhập còn lại của các hộ gia đình sau khi đã phân
phối và sử dụng cho mục đích chi tiêu của họ. Quy mô của khoản tiết kiệm
này phụ thuộc vào trình độ phát triển của nền kinh tế và chòu ảnh hưởng
trực tiếp của các yếu tố như thu nhập bình quân đầu người; yếu tố lãi suất;

Trang 11

chính sách thuế; sự ổn đònh của kinh tế vó mô… Nguồn tiết kiệm trong khu
vực này thường rất lớn nhưng lại phân tán trong dân cư. Do vậy để chuyển
hoá tiết kiệm này thành vốn đầu tư cần phải phát triển hệ thống tài chính
và thò trường tài chính.
1.2.1.4- Các đònh chế tài chính :
Các đònh chế trung gian tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng trong
việc tích tụ và chuyển các quỹ tiền tệ tiết kiệm trong nền kinh tế đến các
nhà đầu tư. Trình độ phát triển của các đònh chế trung gian tài chính cũng
như tính đa dạng, hiệu quả của những sản phẩm mà các tổ chức này cung
cấp cho nền kinh tế có tác động mạnh mẽ đối với sự phát triển của nền
KTXH. Sự linh hoạt và hiệu quả của các đònh chế tài chính có thể tạo ra
nguồn vốn đủ lớn để tài trợ nhanh chóng cho những dự án lớn có hiệu quả
KTXH cao, đồng thời dòng vốn cũng được lưu chuyển một cách linh hoạt
trong nền kinh tế. Do đó, có tác động tích cực đối với sự phát triển KTXH.

Ngược lại, sự kém hiệu quả, thiếu linh hoạt của các đònh chế tài chính kéo
theo khó khăn cho hoạt động đầu tư vì những nguồn tiết kiệm từ những
người không có cơ hội đầu tư không đến được những người có nhu cầu đầu
tư, gây khó khăn cho phát triển KTXH.
1.2.1.5- Thò trường tài chính trong nước :
Đây là kênh huy động và tài trợ vốn quan trọng cho đầu tư phát
triển. Sự phát triển của thò trường tài chính sẽ có tác động mạnh đến việc
thu hút, huy động các nguồn lực tài chính nhàn rỗi trong xã hội để đầu tư
phát triển KTXH; khuyến khích tiết kiệm và đầu tư; thúc đẩy, nâng cao
hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính; và góp phần tạo môi trường thực
hiện các chính sách tài chính – tiền tệ của Chính phủ. Chính vì vậy, khai
thông thò trường tài chính, đặc biệt là TTCK sẽ tạo ra kênh huy động và tài
trợ vốn linh hoạt, hiệu quả cho đầu tư, từ đó có tác động tích cực đến sự
phát triển nền kinh tế.
1.2.2- Các kênh nước ngoài :
Nguồn vốn nước ngoài luôn là nguồn vốn quan trọng đối với sự phát
triển KTXH của một nước. Với các nước đang phát triển, nhu cầu VĐT

Trang 12

phát triển KTXH rất lớn, trong khi tiết kiệm trong nước không đủ đáp ứng,
thì nguồn VĐT nước ngoài có vai trò quan trọng hơn. Nguồn vốn này được
hình thành chủ yếu từ dòng vốn FDI, vốn FPI, vay nợ nước ngoài.
1.2.2.1- Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Nguồn VĐT trực tiếp nước ngoài (FDI) là vốn do các nhà đầu tư
nước ngoài đem vào trong nước để trực tiếp đầu tư bằng việc tạo ra những
DN, dưới dạng liên doanh, liên kết, hợp tác đầu tư, hoặc thành lập những
DN 100% vốn nước ngoài.
Trong xu thế hội nhập, toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, những rào
cản trong hoạt động đầu tư được dỡ bỏ. Ở các nước đang phát triển nhu cầu

vốn đầu tư cho phát triển KTXH là rất lớn, trong khi nguồn tiết kiệm nội
đòa lại rất hạn chế. Vì vậy, nguồn vốn FDI đối với những nước này lại trở
lên đặc biệt quan trọng. Vai trò của vốn FDI không chỉ đơn thuần nhằm bù
đắp những thiếu hụt vốn đầu tư phát triển kinh tế trong nước mà nó còn có
ý nghóa tích cực khác như (i) bên cạnh sự dòch chuyển các quỹ đầu tư, là
sự chuyển giao của hàng loạt các nhân tố khác như : chuyển giao vốn máy
móc, thiết bò làm tăng cường năng lực sản xuất, công nghệ, kỹ thuật,
phong cách, kỹ năng quản lý tiên tiến hơn, giúp nâng cao năng suất, chất
lượng sản phẩm, năng lực cạnh tranh ... (ii) FDI cũng góp phần trong các
đònh hướng phát triển KTXH và có tác động làm chuyển dòch cơ cấu kinh
tế theo hướng hiện đại và bền vững. (iii) Các DN FDI góp phần tăng xuất
khẩu, mở rộng thò trường, đẩy nhanh tiến trình hội nhập, tham gia vào phân
công lao động quốc tế, tăng nguồn thu ngoại tệ, cải thiện cán cân thanh
toán, tăng nguồn thu NSNN, góp phần giải quyết việc làm cho hàng vạn
lao động, tạo ra hiệu ứng lan toả, động lực làm gia tăng hiệu quả của đầu
tư trong nước … Kích thích chuyển giao công nghệ; cải thiện cơ sở hạ tầng;
gây áp lực cải thiện thể chế, môi trường pháp luật trong nước phù hợp với
luật pháp và thông lệ Quốc tế.
Ngoài những mặt tích cực của FDI, thì nguồn vốn này cũng có những
hạn chế, như : (i) FDI có khuynh hướng làm phát sinh sự tăng trưởng không
bình thường trong một số ngành của nền kinh tế, đưa đến sự mất công
bằng trong phân phối thu nhập, độc quyền sản xuất, thất nghiệp và thiểu

Trang 13

dụng việc làm theo cấu trúc, dẫn đến sự mất cân đối, kém linh hoạt … cản
trở phát triển cân đối, hài hoà nền kinh tế. (ii) FDI cũng có thể sử dụng
công nghệ lạc hậu, lỗi thời, sản xuất sản phẩm không phù hợp, gây ô
nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khoẻ, đến chất lượng cuộc sống con
người, cản trở mục tiêu phát triển hài hoà, bền vững, nhân văn. (iii) FDI

thường phân bố tập trung ở các đô thò lớn, nơi tập trung những tiện ích
cuộc sống, gần bến cảng, cơ sở hạ tầng tốt, gần nguồn lao động, gần nơi
tiêu thụ, làm tăng sự cách biệt giữa nông thôn và thành thò, gia tăng
khoảng cách giàu nghèo, tạo làn sóng di cư từ nông thôn ra thành thò, tạo
ra mất cân đối phát triển vùng. (iv) FDI có thể làm cán cân ngoại hối bò
thâm hụt. (v) Hoạt động chuyển giá cũng là một thách thức đối với nước
nhận FDI.
Trong những năm gần đây, với sự xuất hiện ngày càng rõ nét nền
kinh tế tri thức, với vai trò đặc biệt quan trọng của nguồn vốn con người
trong hoạt động sáng tạo và công nghệ. Sự khác biệt trong tăng trưởng của
các quốc gia không chỉ giải thích ở luận điểm “sự khác biệt về hiệu quả
đầu tư” mà được giải thích nhiều ở luận điểm sự khác biệt về “tri thức” và
“nguồn vốn con người”. FDI còn được hiểu là sự chuyển giao tri thức, và
tích tụ nguồn vốn con người. Do đó, những tác động tích cực hay tiêu cực
đến sự phát triển kinh tế xã hội của FDI còn tuỳ thuộc vào nguồn vốn con
người với tri thức của họ, nếu con người thấp, thì rất có thể FDI lại có tác
động ngược đối với phát triển kinh tế xã hội.
Như vậy, việc thu hút các dòng vốn đầu tư FDI cần đặc biệt quan
tâm thu hút những dòng vốn có chất lượng, nhằm phát huy những mặt tích
cực, đồng thời giảm tối đa những tác động cản trở đối với phát triển
KTXH. Để làm được điều đó, ngoài việc xây dựng môi trường đầu tư ổn
đònh, minh bạch; xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng tốt nhằm đònh hướng thu
hút FDI theo ngành, lónh vực, vùng kinh tế cần phát triển, nước tiếp nhận
FDI cần đặc biệt chú trọng phát triển nguồn vốn con người có đủ năng lực,
kỹ năng có thể tiếp cận tốt và phát huy nguồn FDI phục vụ cho phát triển
KTXH của đất nước.
1.2.2.2- Thò trường tài chính quốc tế :

Trang 14


Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, sự lới lỏng kiểm soát, giảm
bớt rào cản, mở cửa, tự do hoá thò trường tài chính. Thò trường tài chính mà
chủ yếu là thò trường chứng khoán đã trở thành kênh quan trọng thu hút
các dòng vốn đầu tư từ nước ngoài thông qua các giao dòch chứng khoán
(FPI). Từ kênh này, nhà đầu tư sẽ có thêm cơ hội để đa dạng hoá danh
mục đầu tư, giảm rủi ro, giảm chi phí vốn và kỳ vọng tỷ suất sinh lợi cao,
dòng vốn quốc tế lưu thông một cách dễ dàng, nhanh chóng theo lý thuyết
“nước chảy vào chỗ trũng”, tạo áp lực cải thiện chất lượng thông tin và
hiệu quả của TTCK. Tuy nhiên, dòng vốn này phải đối mặt với nhiều rủi
ro, đầu cơ, lũng đoạn, sự vào ra nhanh chóng, khó kiểm soát và rất có thể
dẫn đến sự “bay hơi” tài chính. Khủng hoảng tài chính Đông Nam năm
1997 là một điển hình.
1.2.2.3- Vay nợ nước ngoài :
Chính phủ cũng như các DN có thể lựa chọn nhiều hình thức huy
động vốn : gián tiếp (vay thương mại) thông qua các ngân hàng, quỹ tín
dụng nước ngoài, vay trực tiếp bằng cách phát hành giấy nợ (trái phiếu)
trên thò trường vốn quốc tế. Vay nước ngoài thường có lãi suất rất cao, việc
sử dụng kém hiệu quả khoản vay có thể dẫn đến mất khả năng chi trả, vỡ
nợ, ảnh hưởng đến uy tín quốc gia. Khoản vay này phụ thuộc vào mức độ
tín nhiệm quốc gia, nếu mức độ tín nhiệm cao, các khoản vay có thể được
hưởng lãi suất thấp hơn và ngược lại.
1.2.2.4- Nguồn vốn ODA :
Đây là dòng vốn viện trợ phát triển chính thức của các tổ chức quốc
tế, của Chính phủ hoặc phi chính phủ cho các nước đang phát triển, nhằm
thúc đẩy sự phát triển của các nước này, nâng cao phúc lợi xã hội … Dòng
vốn này có vai trò đặc biệt quan trọng đối với các nước đang phát triển, vì
ở các nước này cơ sở hạ tầng thường yếu kém, nhu cầu đầu tư cao nhưng
lại rất thiếu vốn, đặc biệt là vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng.
1.2.3- Mối quan hệ giữa các dòng vốn :
Một nền kinh tế muốn có sự phát triển với tốc độ cao, theo xu hướng

ổn đònh, bền vững cần phải có một cơ cấu huy động và sử dụng các nguồn

Trang 15

vốn đầu tư phù hợp. Nếu chỉ dựa vào nguồn vốn trong nước thì khó có thể
đạt được tốc độ phát triển cao, bền vững trong điều kiện tiết kiệm trong
nước không đủ để để tài trợ cho nhu cầu đầu tư của nền kinh tế. Ngược lại,
chỉ dựa vào nguồn vốn từ bên ngoài thì cũng khó chủ động thực hiện được
những mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước. Sự kết hợp hài hoà, bổ
sung lẫn nhau giữa các nguồn vốn trong nước và nước ngoài sẽ đảm bảo
cung cấp đủ vốn cho nhu cầu đầu tư của nền kinh tế.
1.3- NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÁC DÒNG VỐN ĐẦU TƯ
Nền kinh tế là một hệ thống nhất, trong đó các biến kinh tế vó mô
như : Lãi suất thò trường, thu nhập quốc dân, chính sách tài chính - tiền tệ,
tài khoá, xuất nhập khẩu … có mối quan hệ, tác động lẫn nhau. Những biến
số này có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến các dòng VĐT, đến cầu
cũng như nguồn cung VĐT của các chủ thể kinh tế, ảnh hưởng của các
nhân tố này được thể hiện như sau :
1.3.1- Lãi suất :
Lãi suất là một trong những biến số kinh tế vó mô quan trọng nhất
trong nền kinh tế. Nó tác động trực tiếp tới những quyết đònh như : chi tiêu,
tiết kiệm, mua tài sản hay đầu tư vào các tài sản tài chính … Lãi suất có thể
có những tác động tích cực đến tiết kiệm, đầu tư và ngược lại. Tiết kiệm
tăng, nguồn vốn đầu tư có cơ hội tăng lên và ngược lại.
Xét tổng thể nền kinh tế, với giả đònh là tất cả các khoản tiết kiệm
sẽ được chuyển thành vốn đầu tư thông qua các kênh tài chính và mỗi cá
nhân trong nền kinh tế hoạt động nhằm mục đích tối đa lợi ích kinh tế. Khi
đó, tiết kiệm có quan hệ thuận với lãi suất. Đầu tư lại có quan hệ nghòch
với lãi suất.
Lãi suất cao có mặt tích cực với đầu tư là có thể loại bỏ được những

dự án không thực sự mang lại tỷ suất sinh lợi cao. Nhưng lãi suất quá cao
so với lãi suất cân bằng trong nền kinh tế sẽ đẩy các nhà đầu tư vào các
hoạt động quá mạo hiểm với mức độ rủi ro cao của các khoản tín dụng và
phải đối mặt với nguy cơ mất khả năng thanh toán, phá sản ...

Trang 16

Lãi suất thấp không chỉ có tác động tích cực khuyến khích đầu tư mà
cũng có thể dẫn đến những tác động tiêu cực như : đầu tư tràn lan, không
tính đến hiệu quả vốn đầu tư và có thể dẫn đến nguy cơ thiếu vốn.
Như vậy, nhà nước cần có chính sách điều hành lãi suất một cách
linh hoạt theo nhu cầu của thò trường, phù hợp với từng giai đoạn phát triển
của nền kinh tế. Lãi suất không quá cao đẩy các nhà đầu tư vào các hoạt
động mạo hiểm, nhưng cũng không quá thấp dẫn đến giảm tiết kiệm, trong
khi lại đầu tư tràn lan, kém hiệu quả.
1.3.2- Chính sách thuế nhà nước :
Chính sách thuế của Chính phủ có tác động đến tiết kiệm và đầu tư
của các khu vực, từ Chính phủ, DN, đến những người dân. Thuế cao có
thể sẽ tác động làm tăng giá cả hàng hoá dòch vụ, người ta phải chi phí
nhiều hơn trong khi thu nhập chưa thay đổi, điều đó làm cho tiết kiệm
giảm xuống. Mặt khác, thuế tăng, đặc biệt là thuế thu nhập DN sẽ làm
cho khả năng tiết kiệm, tích luỹ vốn của DN giảm, hiệu quả đầu tư giảm
và làm nản lòng các nhà đầu tư, làm cho cả cung và cầu đầu tư giảm.
Ngược lại, thuế suất thấp hơn cũng có thể có tác động làm tăng tiết kiệm,
khuyến khích đầu tư, kích thích nền kinh tế phát triển. Đối với Chính phủ,
thuế suất cao có thể đảm bảo nguồn thu, đáp ứng tốt nhu cầu chi tiêu của
Chính phủ, nhưng nếu thuế quá cao sẽ không khuyến khích tiết kiệm và
đầu tư, không khuyến khích nền kinh tế phát triển. Ngược lại, giảm thuế
thì nguồn thu ngân sách có thể sẽ không đáp ứng đủ nhu cầu chi tiêu của
Chính phủ. Như vậy, chính sách thuế phải phù hợp, một mặt đảm bảo

nguồn thu cho nhu cầu chi tiêu của Chính phủ, mặt khác phải đảm bảo
khuyến khích tiết kiệm và đầu tư trong các khu vực còn lại của nền kinh
tế.
1.3.3- Sự phát triển của các đònh chế tài chính:
Sự phát triển của các đònh chế tài chính với những sản phẩm dòch vụ
đa dạng, linh hoạt tạo điều kiện thuận lợi cho những người tiết kiệm có thể
dễ dàng tiếp cận và sử dụng những sản phẩm này thì sẽ góp phần gia tăng
tiết kiệm. Đồng thời, cũng tập trung được nguồn lực tài chính to lớn sẵn
sàng tài trợ cho những dự án đầu tư và do đó có tác động làm tăng cả

Trang 17

nguồn cung và cầu về đầu tư. Ngược lại, sẽ rất khó huy động vốn từ nguồn
tiết kiệm của người dân, làm cho nguồn vốn giảm xuống, hơn nữa nhà đầu
tư cũng khó tiếp cận được các khoản vay. Như vậy, các đònh chế tài chính
kém phát triển một mặt không kích thích tiết kiệm, mặt khác làm giảm
khả năng tiếp cận vốn của những người có nhu cầu đầu tư. Do đó, cả
nguồn cung và cầu VĐT đều giảm, có tác động tiêu cực đối với sự phát
triển của nền kinh tế. Như vậy, để khuyến khích tiết kiệm, tăng nguồn
VĐT cũng như khả năng tiếp cận nguồn VĐT, đòi hỏi hệ thống đònh chế
tài chính phát triển, vận hành linh hoạt, hiệu quả.
1.3.4- Sự phát triển thò trường tài chính :
Sự phát triển của thò trường tài chính, trong đó thò trường chứng
khoán đóng vai trò quan trọng tạo ra tính thanh khoản cao cho các chứng
khoán, trái phiếu, các tài sản tài chính nói chung. Điều này có ý nghóa
quan trọng có tác động tích cực đến thu hút tiết kiệm cũng như hoạt động
đầu tư của các nhà đầu tư. Sự phát triển của TTCK cũng tác động làm tăng
mức tiết kiệm quốc gia và các nhà đầu tư cũng dễ dàng tiếp cận được
những nguồn vốn lớn phục vụ cho nhu cầu đầu tư của mình bằng việc phát
hành chứng khoán, trái phiếu …

Ngược lại, thò trường tài chính kém phát triển sẽ tạo lên rào cản
trong huy động nguồn tiết kiệm trong nền kinh tế cũng như, hạn chế khả
năng tiếp cận vốn của các nhà đầu tư cho nhu cầu đầu tư của mình.
1.3.5- Yếu tố môi trường đầu tư :
Đầu tư nói chung thường được hiểu là sự hy sinh, đánh đổi những
nguồn lực hiện tại (có thể là tiền, tài nguyên, sức lao động, trí tuệ …) nhằm
thu về những kết quả lớn hơn trong tương lai. Nói cách khác, nó cũng
giống như một canh bạc. Các nhà đầu tư đặt cược một số tiền lớn trong
hiện tại, chấp nhận những chi phí cơ hội và hy vọng sẽ thu được số tiền lớn
hơn trong tương lai. Do đó, những kết quả của đầu tư ở tương lại bò tác
động mạnh mẽ bởi môi trường, đặc biệt trong trong nền kinh tế toàn cầu,
cạnh tranh ngày càng gay gắt. Môi trường đầu tư bao gồm nhiều yếu tố,
tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hiệu quả của các dự án đầu tư. Đó là,
cơ sở hạ tầng; Tình hình chính trò – xã hội; Môi trường pháp lý, thủ tục

Trang 18

hành chính … Nếu những yếu tố này thuận lợi sẽ kích thích các nhà đầu tư,
thu hút được nhiều nguồn lực tài chính tài trợ cho đầu tư phát triển. Ngược
lại nó là những rào cản làm giảm niềm tin, động lực đầu tư.
Về môi trường chính trò xã hội : Sự ổn đònh chính trò – xã hội sẽ tạo
ra môi trường thuận lợi cho các hoạt động sản xuất kinh doanh. Một nhà
nước mạnh thực thi hữu hiệu các chính sách phát triển KTXH, đáp ứng nhu
cầu của người dân sẽ mang lại niềm tin và sức hấp dẫn đối với các nhà
đầu tư trong và ngoài nước. Thể chế ổn đònh, hệ thống pháp luật ổn đinh
và hiệu lực, các vấn đề xã hội được giải quyết theo hướng nhân văn như
xoá đói, giảm nghèo, giải quyết tệ nạn xã hội, đạo đức kinh doanh, y tế
chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, giáo dục, văn hoá, đảm bảo an toàn đầu tư,
quyền sở hữu tài sản … Tất cả những yếu tố đó sẽ tạo thêm động lực để
các nhà đầu tư yên tâm thực hiện dự án đầu tư lớn.

Ổn đònh kinh tế vó mô, tạo môi trường ổn đònh : Chính phủ các nước
đều sử dụng chính sách kinh tế, tiền tệ, tài khoá của mình nhằm duy trì sự
ổn đònh kinh tế vó mô. Sự ổn đònh tiền tệ, tỷ giá, kiềm chế lạm phát … là
những yếu tố làm giảm tính bất ổn, rủi ro trong hoạt động đầu tư và có tác
động tích cực làm tăng cả nguồn cung và cầu đầu tư của nền kinh tế. Ổn
đònh kinh tế vó mô là điều kiện tiên quyết để các nhà đầu tư có thể tính
toán và đưa ra các quyết đònh đầu tư, đồng thời, giúp tránh những cuộc
khủng hoảng, do đó tạo ra niềm tin cho các nhà đầu tư vào tương lai và tạo
cơ hội thu hút được nhiều VĐT hơn.
Cơ sở hạ tầng : Là tổng thể các cơ sở vật chất kỹ thuật, các công
trình, các phương tiện tồn tại trên một lãnh thổ nhất đònh, được dùng làm
điều kiện sản xuất và sinh hoạt nói chung, đảm bảo sự vận hành liên tục,
thông suốt các luồng của cải vật chất, thông tin và dòch vụ nhằm đáp ứng
nhu cầu có tính phổ biến của sản xuất và đời sống. Cơ sở hạ tầng kém sẽ
tạo ra những rào cản gây khó khăn trong việc thu hút những dòng VĐT,
nhất là những dự án có hàm lượng công nghệ cao từ nước ngoài. Ngược lại,
sự phát triển của hệ thống cơ sở hạ tầng sẽ là điều kiện thuận lợi thu hút
các nguồn VĐT trong và ngoài nước.

Trang 19

1.4- KINH NGHIỆM HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHẬT BẢN
VÀ TRUNG QUỐC
Vốn có vai trò quyết đònh trong chiến lược phát triển kinh tế của một
quốc gia. Tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của một nước, trong từng giai
đoạn khác nhau mà Chính phủ có các chính sách huy động và sử dụng các
nguồn lực tài chính phù hợp. Việc nghiên cứu, vận dụng những kinh
nghiệm thành công cũng như thất bại của các quốc gia đi trước là yếu tố
quan trọng giúp chúng ta có những chính sách huy động vốn hiệu quả hơn,
thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo hướng bền vững. Vì vậy, luận văn xin

đưa ra kinh nghiệm của Nhật Bản, nước có điểm khá tương đồng với chúng
ta, nền kinh tế rất khó khăn khi ra khỏi cuộc chiến thế giới thứ II. Trung
Quốc, nước láng giềng có thể chế chính trò gần giống với chúng ta và cũng
chuyển nền kinh tế tập trung sang phát triển kinh tế thò trường.
1.4.1- Kinh nghiệm từ Nhật Bản:
Sau chiến tranh thế giới thứ II, Nhật Bản phải gánh chòu những tổn
thất nặng nề sau cuộc chiến, gần như người Nhật phải xây dựng lại hoàn
toàn đất nước mình. Nhưng, sự phát triển kinh tế mạnh mẽ của Nhật bản
sau chiến tranh đã nhanh chóng đưa đất nước này thoát khỏi những khó
khăn, trở thành một cường quốc kinh tế. Ngày nay, Nhật bản đã trở thành
một trong ba trung tâm tài chính lớn nhất thế giới. Điều đó đã chứng tỏ
những chính sách của Chính phủ Nhật bản áp dụng trong việc huy động và
sử dụng vốn phục vụ cho phát triển kinh tế là rất thành công, cụ thể :
Nhật bản đã nâng cao tỷ lệ tiết kiệm trong một thời gian dài. Trong
các năm 1961-1967, tỷ lệ tiết kiệm trung bình của khu vực tư nhân ở Nhật
là 18,6% tổng thu nhập cá nhân, đây là một tỷ lệ tương đối cao so với các
nước phát triển khác, như Mỹ là 6,2%, Anh là 7,7%, Pháp là 8,7% … Đến
giai đoạn 1986-1989 tỷ lệ này còn lên đến 20%. Có được kết quả này là
nhờ Chính phủ Nhật bản đã áp dụng đồng thời các biện pháp, như : Sử
dụng mạnh mẽ các công cụ tín dụng Nhà nước để thu hút tiền nhàn rỗi
trong dân cư, thành lập các quỹ hỗ trợ để tài trợ vốn ưu đãi cho những lónh
vực cần ưu tiên phát triển, chính sách tiền lương thấp trong khi năng suất
lao động tăng mạnh. Chính nhờ các biện pháp trên đã giúp Nhật Bản tích

Trang 20

luỹ được nguồn vốn lớn góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và cất
cánh.
Tích luỹ trong nước được cải thiện còn nhờ vào tiết kiệm chi tiêu
của Chính phủ. Suốt hai thập kỷ 50 và 60, chi phí quân sự thấp, hạn chế

gắt gao phúc lợi xã hội và tinh giảm bộ máy hành chính, đã tạo điều kiện
cho Chính phủ Nhật tập trung đầu tư vào những lónh vực quan trọng. Chi
ngân sách đóng góp tới 20% tổng đầu tư vào các ngành công nghiệp và
chiếm 40% tổng đầu tư vào bốn ngành công nghiệp mũi nhọn, như : Công
nghiệp điện, đóng tàu, thép, khai thác than … Về đầu tư xây dựng cơ bản,
ngân sách nhà nước dành một tỷ lệ khá cao là 23% trong giai đoạn 1973-
1981 (ở các nước phát triển chỉ chiếm 6-9% tổng chi ngân sách). Trong
thời kỳ nền kinh tế Nhật rơi vào khủng hoảng, những năm đầu thập kỷ 80,
Chính phủ luôn luôn đảm bảo tốc độ tăng chi ngân sách không được vượt
quá tốc độ tăng trưởng kinh tế và tiến hành cải cách tài chính, các biện
pháp cân đối ngân sách đều gắn liền với hạn chế nhu cầu chi tiêu của
NSNN.
Ngoài ra, Nhật còn giữ mức thuế thấp để kích thích đầu tư và tạo
điều kiện cho các công ty tăng thêm nguồn lực cho tích luỹ. Tỷ lệ thuế
trong GDP ở Nhật thấp hơn so với các nước tư bản khác, bình quân năm
(1967-1969) là 24,3% trong khi ở Anh là 34,1%, Ý 30,2%, Đức 33,6%,
Pháp là 36,2%.
1.4.2- Kinh nghiệm từ Trung Quốc :
Trung Quốc (TQ) là quốc gia láng giềng khá tương đồng với Việt
Nam, cũng với xuất phát là nền kinh tế kém phát triển chủ yếu dựa vào
nông nghiệp, cũng có thời gian khá dài thực hiện cơ chế quản lý kinh tế
tập trung và hiện đang chuyển đổi sang nền kinh tế thò trường. Ngày nay
TQ được biết đến như quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế nhanh nhất thế
giới, với tốc độ phát triển bình quân hàng năm hơn 9% trong suốt hơn một
thập kỷ qua. Vậy làm thế nào mà TQ có thể huy động và sử dụng nguồn
vốn lớn, ổn đònh phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế của mình.
Cũng như các nước kém phát triển khác ở Châu á, với mức tích luỹ
từ nội tại nền kinh tế còn thấp, Chính phủ TQ đã ra sức kêu gọi những nhà

Trang 21


đầu tư nước ngoài đến nước mình, tạo những điều kiện thuận lợi để hấp
dẫn và thu hút đầu tư nước ngoài, cả nguồn FDI và FPI. Bằng những nỗ lực
trong xây dựng cơ sở hạ tầng, không gian đầu tư thông thoáng như cải cách
chính sách thuế, cơ chế tiền tệ tín dụng theo thò trường, cải cách ngân
hàng, nâng cao hiệu quả huy động vốn … phát triển mạnh mẽ các trung
gian tài chính. Theo thống kê từ năm 2000 đến 2006, TQ thu hút đến 144
tỷ USD đầu tư nước ngoài, trong khi đầu tư nội đòa chỉ đạt 43 tỷ USD. Năm
2006, FDI của TQ là 60 tỷ USD và FPI đạt 58 tỷ USD. TQ cũng đã huy
động vốn tư nước ngoài thông qua việc chào bán cổ phiếu lần đầu của DN
(IPO) trên thò trường vốn quốc tế, như sàn giao dòch ở Hồng Kông, Mỹ.
1.4.3- Những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam :
Từ những phân tích trên chúng ta có thể nhận thấy rằng, nền kinh tế
chỉ có thể phát triển được khi có đủ nguồn vốn đáp ứng những nhu cầu đầu
tư phát triển, tuy nhiên đây chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ, điều quan
trọng khác là hiệu quả việc sử dụng nguồn vốn này như thế nào. Là một
nước đi sau, chúng ta có thể nhận được những kinh nghiệm gì ?. Theo tác
giả, những bài học kinh nghiệm từ TQ và Nhật Bản gồm những điểm đáng
chú ý sau :
1.4.3.1- Đối với nguồn vốn trong nước :
Một là, nguồn lực tài chính trong nước luôn là yếu tố quyết đònh,
nhất là nguồn vốn từ khu vực tư nhân. Để kích thích tiết kiệm khu vực này,
Chính phủ phải tăng cường sử dụng mạnh mẽ các công cụ tín dụng Nhà
nước để thu hút tiền nhàn rỗi trong dân cư, thành lập các quỹ hỗ trợ để tài
trợ vốn ưu đãi cho những lónh vực cần ưu tiên phát triển.
Hai là, tiết kiệm trong chi tiêu NSNN, tập trung chi cho đầu tư phát
triển cơ sở hạ tầng, cho phát triển những ngành kinh tế mũi nhọn phù hợp
với lợi thế quốc gia và những công nghệ hiện đại.
Ba là, chính sách thuế phải được cải cách nhằm khuyến khích sự
phát triển SXKD của các DN, tạo điều kiện cho các DN tăng tích luỹ nội

bộ.

Trang 22

Bốn là, hệ thống các đònh chế tài chính bao gồm đònh chế NH và phi
NH phải được xậy dựng và phát triển theo hướng hiện đại, mở rộng thò
trường, đa dạng hoá sản phẩm để huy động tối đa những nguồn tài chính
nhàn rỗi từ các chủ thể kinh tế cũng như từ mọi người dân.
Năm là, hoàn thiện và phát triển thò trường tài chính, tạo kênh huy
động nguồn vốn lớn nhanh chóng, hiệu quả, phù hợp với tiến trình hội
nhập nền kinh tế thế giới.
1.4.3.2- Nguồn vốn nước ngoài :
Một là, nguồn vốn nước ngoài luôn là nguồn vốn quan trọng, nhất là
đối với những nước đang phát triển như nước ta. Vốn trong nước còn hạn
chế, nhất là vốn để phát triển cơ sở hạ tầng, vì thế phải tạo ra những điều
kiện thuận lợi để có thể thu hút nguồn vốn ODA, FDI, FPI cũng như các
khoản vay nước ngoài và phải sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này để đầu
phát triển SXKD, cơ sở hạ tầng …
Hai là, có kế hoạch xúc tiến đầu tư, gọi VĐT vào những lónh vực
kinh tế mũi nhọn mà chúng ta đã xác đònh phù hợp với từng thời kỳ.
Ba là, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng, phù hợp với trình độ
khoa học công nghệ tiên tiến của thế giới được chuyển giao theo các dòng
vốn từ nước ngoài, sẵn sàng đáp ứng nhân lực cho nền kinh tế tri thức
trong tương lai.
Bốn là, xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống luật pháp, tạo môi trường
pháp lý thuận lợi, ưu đãi, phù hợp với cam kết hội nhập và thông lệ quốc
tế giúp nhà đầu tư thực hiện tốt các dự án đầu tư.
Năm là, tăng cường cải cách hành chính, giảm quan liêu, gây phiền
hà, lãng phí thời gian và tiền bạc, làm nản lòng các nhà đầu tư.







Trang 23

Kết luận chương I :

Trong chương này, tác giả đã trình bày những lý luận cơ bản về
những vấn đề như : nhận dạng nền kinh tế tăng trưởng nhanh theo xu
hướng hiện đại, bền vững; Những vấn đề cơ bản về tài chính, các nguồn
lực tài chính, những kênh chủ yếu trong huy động và tài trợ vốn cho hoạt
động đầu tư phát triển trong nền kinh tế; Những vấn đề về VĐT, những
nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến sự vận hành của các dòng vốn, từ khâu huy
động đến hoạt động tài trợ cho đầu tư, cũng như những vấn đề về hiệu quả
sử dụng VĐT, tác động đối với sự phát triển KTXH theo xu hướng hiện
đại, bền vững.
Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra một số kinh nghiệm ở Nhật Bản,
Trung Quốc trong việc huy động và sử dụng vốn cho đầu tư phát triển
KTXH ở những nước này trong những giai đoạn khác nhau. Tác giả cũng
trình bày một số bài học đối với Việt Nam nói chung và tỉnh BR-VT nói
riêng. Từ đó làm cơ sở để phân tích những thực trạng về hoạt động huy
động và sử dụng vốn cho đầu tư phát triển KTXH trên đòa bàn tỉnh trong
những năm qua, đặc biệt là từ năm 2001 đến nay, sẽ được làm rõ hơn trong
Chương II của luận văn.












Trang 24

Chương II :
THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG CÁC
NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH TÀI TR CHO ĐẦU
TƯ PHÁT TRIỂN KTXH TỈNH BÀ RỊA –VŨNG
TÀU TỪ NĂM 2001 ĐẾN NAY

2.1- KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KTXH TỈNH BÀ RỊA-VŨNG
TÀU TỪ NĂM 2001 ĐẾN NAY
2.1.1- Đặc điểm đòa lý tự nhiên :
Tỉnh Bà Ròa - Vũng Tàu nằm trong khu vực miền Đông Nam Bộ và
vùng kinh tế (VKT) trọng điểm phía Nam, có nhiều lợi thế để phát triển
kinh tế, thương mại. Tỉnh có diện tích tự nhiên 1.975 km
2
với 8 đơn vò hành
chính, gồm một thành phố (đô thò loại II), một thò xã và 6 huyện. Tỉnh có
vò trí đòa lý thuận lợi cùng với nguồn tài nguyên dầu mỏ, là trung tâm phát
triển ngành công nghiệp dầu khí của cả nước. BR-VT có bờ biển dài 305,4
km, trong đó có khoảng 156 km bãi cát trắng, nước biển trong xanh quanh
năm có thể sử dụng làm bãi tắm và trên 100.000 km
2
thềm lục đòa, thuận

lợi cho phát triển du lòch và hải sản. Bên cạnh đó là tiềm năng lớn về phát
triển hệ thống cảng nước sâu trong khu vực vònh Giành Rái (rộng 50 km
2
),
hệ thống sông trên đòa bàn tỉnh cũng rất thuận lợi phát triển hệ thống cảng
quy mô hiện đại, có thể tiếp nhận tàu trọng tải lớn (3 vạn đến 8 vạn tấn),
đây là lợi thế độc nhất ở nước ta. Vì vậy, có thể nói tỉnh BR-VT là cửa ngõ
của VKT trọng điểm phía Nam, rất thuận lợi để trở thành trung tâm trung
chuyển hàng hoá của vùng Đông Nam Bộ và VKT trọng điểm phía Nam
với bên ngoài. Dân số của tỉnh tính đến cuối năm 2006 khoảng gần 1 triệu
người (956.089), trong đó, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động lên đến
61,9%, đây nguồn lao động khá lớn có thể cung cấp cho nhu cầu phát triển
KTXH của tỉnh trong tương lai.
2.1.2- Tình hình KTXH tỉnh Bà Ròa-Vũng Tàu từ năm 2001 đến nay :
Nền kinh tế nước ta sau 20 năm đổi mới đã đạt được những thành
quả ấn tượng, đặc biệt là những thành tựu phát triển KTXH những năm

Trang 25

vừa qua, tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2001-2005 đạt 7,5% (riêng năm
2005 đạt 8,4%); tăng trưởng xuất khẩu bình quân năm đạt 17,4%/năm.
Năm 2005 nguồn VĐT trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 6,3 tỷ USD, cuối
năm 2005 Chính phủ đã phát hành thành công trái phiếu trên thò trường
vốn quốc tế, thu về 750 triệu USD là những tín hiệu khả quan về dòng
VĐT gián tiếp nước ngoài (FPI). Năm 2006 đánh dấu một sự kiện quan
trọng, chúng ta trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế
giới (WTO), tổ chức thành công Hội nghò cấp cao APEC với sự tham gia
của nguyên thủ các nền kinh tế hàng đầu thế giới, như Mỹ, Nga, Trung
quốc, c, Nhật bản … Cũng năm này, tốc độ tăng trưởng GDP đạt gần
8,2%; nguồn vốn FDI đạt mức ấn tượng đạt 10,2 tỷ USD.

Tỉnh BR-VT những năm qua, tốc độ tăng trưởng GDP luôn đạt ở
mức cao, giai đoạn 1996-2000 tốc độ tăng trưởng bình quân đạt
15,7%/năm, nếu không kể dầu khí đạt 15%/năm; thu ngân sách đạt
79.081,41 tỷ đồng; xuất khẩu đạt 10,04 tỷ USD, sau 5 năm giá trò kim
ngạch xuất khẩu tăng 2,46 lần (năm 1996 là 1,46 tỷ USD; năm 2000 là
3,57 tỷ USD); tổng VĐT phát triển toàn xã hội đạt 12.951,39 tỷ đồng,
trong đó vốn FDI đạt 4.962,85
2
tỷ đồng ….
Giai đoạn 2001-2005, tốc tộ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm
đạt 12,6%/năm, không tính dầu khí tăng 23,88%. GDP bình quân đầu
người năm 2005 đạt 7.050 USD, không kể dầu khí là 2.274 USD. Thu ngân
sách 5 năm đạt 203.221 tỷ đồng, chiếm gần 27% ngân sách quốc gia, tốc
độ tăng thu ngân sách bình quân đạt 15,43%/năm; tổng giá trò xuất khẩu
đạt 24,03 tỷ USD; tổng VĐT phát triển toàn xã hội đạt 55.764 tỷ đồng,
trong đó vốn FDI đạt 28.389 tỷ đồng (khoảng 2,3 tỷ USD), chiếm 50,91%
tổng VĐT phát triển toàn xã hội.
Năm 2006, GDP theo giá thực tế ước đạt 154.688 tỷ đồng, GDP bình
quân đầu người đạt 162,35 triệu đồng/năm. Nếu không kể dầu khí, GDP
ước đạt 33.753 tỷ đồng, GDP bình quân đầu người là 35,43 triệu
đồng/năm. Tốc độ tăng trưởng GDP (theo giá 1994) ước đạt 9,1%, không
kể dầu khí đạt khoảng 14,6 %. Xuất khẩu đạt 8.798,67 triệu USD, trong đó

2
Nguốn số liệu : Tổng hợp từ Niên giám thống kê tỉnh BR-VT các năm 1999 và 2002

×