Tải bản đầy đủ (.pdf) (90 trang)

Vấn đề di cư trong quan hệ quốc tế sau chiến tranh lạnh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.14 MB, 90 trang )


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN





NGHIÊM TUẤN HÙNG







VẤN ĐỀ DI CƯ TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ
SAU CHIẾN TRANH LẠNH







LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC
Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế













Hà Nội-2010


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN




NGHIÊM TUẤN HÙNG





VẤN ĐỀ DI CƯ TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ
SAU CHIẾN TRANH LẠNH






Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quan hệ quốc tế
Mã số: 60 31 40






Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Hoàng Khắc Nam












Hà Nội-2010
MỤC LỤC


MỞ ĐẦU

1.
Mục đích và ý nghĩa của đề tài
Tr. 1

2.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Tr. 3
3.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tr. 3
4.
Nguồn tài liệu
Tr. 4
5.
Phƣơng pháp nghiên cứu
Tr. 7
6.
Cấu trúc của luận văn
Tr. 8



CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ VẤN ĐỀ DI CƢ QUỐC TẾ
1.1.
Khái niệm và phân loại


1.1.1. Khái niệm
Tr. 9

1.1.2. Phân loại
Tr. 10
1.2.
Đôi nét về hiện tƣợng di cƣ quốc tế trong lịch sử

Tr. 16
1.3.
Những nguyên nhân cơ bản của hiện tƣợng di cƣ quốc tế


1.3.1. Nhóm những nguyên nhân liên quan đến kinh tế
Tr. 19

1.3.2. Di cư để đoàn tụ gia đình
Tr. 23

1.3.3. Di cư vì vấn đề môi trường
Tr. 25

1.3.4. Nguyên nhân liên quan đến sắc tộc và văn hóa
Tr. 26



CHƢƠNG 2: TÌNH HÌNH DI CƢ QUỐC TẾ SAU CHIẾN TRANH LẠNH
2.1.
Những điều kiện mới thúc đẩy di cƣ quốc tế
Tr. 27
2.2.
Tình hình di cƣ quốc tế sau Chiến tranh Lạnh


2.2.1. Trên phạm vi quốc tế
Tr. 32


2.2.2. Trên bình diện khu vực
Tr. 36
2.3.
Một số đặc điểm nổi bật của hiện tƣợng di cƣ quốc tế
Tr. 44
CHƢƠNG 3: NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA VẤN ĐỀ DI CƢ
TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ
3.1.
Những tác động tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế, quan hệ chính trị và
hợp tác quốc tế

3.1.1. Trong phát triển kinh tế
Tr. 50

3.1.2. Trong quan hệ chính trị
Tr. 56

3.1.3. Trong hợp tác quốc tế
Tr. 60
3.2.
Những tác động tiêu cực trong kinh tế và an ninh – chính trị


3.2.1. Trong vấn đề kinh tế
Tr. 63

3.2.2. Trong vấn đề an ninh – chính trị
Tr. 65




KẾT LUẬN
Tr. 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tr. 80
















DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

GCIM
Global Commission on International Migration
Ủy ban toàn cầu về Di cư quốc tế
ILO
International Labour Organization
Tổ chức Lao động quốc tế

IOM
International Organization on Migration
Tổ chức Di cư quốc tế
OECD
Organization for Economic Cooperation and Development
Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển
UNHCR
United Nations High Commissioner for Refugees
Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tị nạn
WB
World Bank
Ngân hàng thế giới

















DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, BẢN ĐỒ


Biểu đồ 1.1: Tỉ lệ người muốn di cư vĩnh viễn theo điều tra của Gallup
Tr. 24
Bảng 2.1: Số người nhập cư (ước tính) vào năm 2010 (theo khu vực)
Tr. 33
Bảng 2.2: 20 nước có tổng số người nhập cư cao nhất thế giới
Tr. 35
Bản đồ 2.1: Những luồng di cư nổi bật những năm đầu thế kỷ XXI
Tr. 47
Biểu đồ 3.1: Top 20 nước nhận nhiều kiều hối nhất
Tr. 52
Biểu đồ 3.2: Top 20 nền kinh tế có tỉ lệ kiều hối trong GDP cao nhất
Tr. 52



1
MỞ ĐẦU
1. Mục đích và ý nghĩa của đề tài
Kể từ những thập niên cuối của thế kỷ XX, những vấn đề toàn cầu bắt đầu nổi
lên và thu hút được nhiều sự quan tâm chú ý. Thực tế, các vấn đề toàn cầu đã xuất
hiện từ lâu, chúng tích tụ và phát triển cùng những bước tiến của nhân loại. Do
những tác động mang tính toàn cầu, các vấn đề này đã dần nhận được sự quan tâm
đáng kể không chỉ của chính giới hay giới nghiên cứu mà của toàn nhân loại. Hội
nghị Stockholm về vấn đề môi trường năm 1972 đã đánh dấu một bước ngoặt trong
nhận thức chung của con người về vấn đề toàn cầu. Từ thái độ không quan tâm, con
người đã quan sát và thực sự chú ý về những vấn đề toàn cầu cùng các nguy cơ do
chúng mang lại. Hiện nay, các vấn đề toàn cầu vẫn đang tiếp tục phát triển, mang
thêm những nét mới, đặc trưng mới. Trong những năm tới, không loại trừ khả năng
những vấn đề mới sẽ nảy sinh hoặc những vấn đề còn mờ nhạt trong quá khứ sẽ bộc

lộ tính chất gay gắt. Đồng thời, các vấn đề toàn cầu không chỉ tồn tại riêng rẽ mà
giữa chúng có sự tương tác lẫn nhau, vấn đề này có thể là nguyên nhân và điều kiện
gây ra vấn đề khác, hậu quả của vấn đề này có tương tác với hậu quả của những vấn
đề khác làm tình hình thế giới phức tạp thêm. Điều đó cũng khiến cho nỗ lực giải
quyết các vấn đề chung của nhân loại gặp nhiều trở ngại.
Di cư quốc tế vốn là vấn đề mang tính lịch sử và đã diễn ra trong suốt quá trình
xuất hiện, tồn tại và phát triển của con người. Di cư quốc tế là kết quả của quá trình
tương tác chính trị – kinh tế – văn hóa – xã hội phức tạp. Hiện nay, di cư quốc tế
được coi là một trong những vấn đề toàn cầu có ảnh hưởng cùng thách thức lớn tới
quan hệ quốc tế cũng như sự phát triển của từng cá nhân, từng quốc gia. Những nỗ
lực trong việc tìm hiểu nguyên nhân, bản chất, tác động của hiện tượng di cư quốc
tế đã được nghiên cứu, bàn thảo rất nhiều. Từ đó, những nỗ lực phát huy các mặt
tích cực, giảm thiểu tác động tiêu cực hay những hậu quả phát sinh của vấn đề di cư
đã được áp dụng vào thực tiễn. Tuy vậy, còn rất nhiều tranh luận liên quan đến hiện
tượng di cư nói chung và người di cư quốc tế nói riêng. Vì thế việc nghiên cứu vấn
đề di cư trong quan hệ quốc tế hiện nay mang cả ý nghĩa khoa học lẫn thực tiễn.

2
Về ý nghĩa khoa học
Thứ nhất, luận văn này tổng hợp lại một cách có hệ thống những tư liệu liên
quan tới lịch sử vấn đề, tình hình di cư trên thế giới trong lịch sử chú trọng vào giai
đoạn khoảng 20 năm trở lại đây.
Thứ hai, luận văn này cố gắng kết hợp và áp dụng những kiến thức liên ngành,
đa ngành trong nghiên cứu quốc tế vào một đề tài cụ thể đó là việc phân tích hiện
tượng di cư quốc tế cùng những tác động cũng như nỗ lực hợp tác ở nhiều cấp độ
khác nhau như toàn cầu, khu vực, quốc gia và con người.
Thứ ba, thông qua việc phân tích những tác động trong quan hệ quốc tế nói
chung và những nỗ lực hợp tác quốc tế nhằm giải quyết vấn đề, luận văn này sẽ bổ
sung một cách nhìn mới về hiện tượng di cư quốc tế – cách nhìn dưới góc độ quan
hệ quốc tế.

Về ý nghĩa thực tiễn
Chiến tranh Lạnh kết thúc được tiếp nối bằng sự mở ra một giai đoạn mới
trong lịch sử nhân loại. Nghiên cứu về vấn đề di cư và tác động của nó trong quan
hệ quốc tế sẽ cho thấy sự tương tác giữa hiện tượng này với những vấn đề toàn cầu
khác như phát triển, dân số, đói nghèo, tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố, môi
trường… Từ đó, chúng ta có thể nhận thức rõ để đẩy mạnh khai thác các tác động
tích cực đồng thời tìm ra và hạn chế tối đa những tác động tiêu cực.
Thực tiễn lịch sử chỉ ra rằng Việt Nam là một trong nước chịu tác động lớn của
vấn đề di cư quốc tế. Nghiên cứu vấn đề này dưới góc độ khu vực và quốc tế có thể
mang lại những hiểu biết sâu hơn về xu hướng cũng như tác động của nó tới Việt
Nam. Qua đó, chúng ta có thể khai thác những yếu tố tích cực nhằm phục vụ cho
công cuộc phát triển đất nước.
Rõ ràng, nghiên cứu vấn đề di cư quốc tế mang nhiều ý nghĩa và cần nhận
được nhiều hơn sự quan tâm chú ý. Xuất phát từ những lý do trên, tôi quyết định
chọn “Vấn đề di cư trong quan hệ quốc tế sau Chiến tranh Lạnh” làm đề tài luận
văn tốt nghiệp.

3
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung đề cập tới tình hình di cư quốc tế và những tác động của nó
trong quan hệ quốc tế. Về chủ thể chính thực hiện hoạt động di cư, có một số quan
niệm khác nhau. Quan niệm thứ nhất cho rằng chỉ nghiên cứu đối tượng là những
người di cư vĩnh viễn. Quan niệm thứ hai rộng hơn, cho rằng di cư quốc tế bao gồm
cả những cá nhân và nhóm người di cư vĩnh viễn và di cư tạm thời như xuất khẩu
lao động, du học (nhưng thời gian không quá ngắn) Đối tượng nghiên cứu trong
luận văn là những người di cư theo quan niệm rộng.
Tuy vậy, một câu hỏi được đặt ra ở đây là liệu người tị nạn có được coi là một
dạng của người di cư quốc tế hay không? Có nhiều khái niệm và tiêu chuẩn về
người tị nạn được đưa ra ở hai cấp độ thế giới và khu vực nhưng với những biến đổi
không ngừng của thực tiễn, các khái niệm, bộ tiêu chuẩn đó đã trở nên lỗi thời. Mỗi

quốc gia trên thế giới đều có những chính sách, quy định riêng về tị nạn và chúng
được điều chỉnh theo thực tình hình thực tế. Ngay trong giới nghiên cứu cũng chưa
có sự thống nhất quan điểm người tị nạn. Nếu xem xét vấn đề tị nạn một cách kỹ
lưỡng thì chúng ta vẫn có thể phân chia người tị nạn ra nhiều những dạng nhỏ. Như
vậy, dù người tị nạn có thể cũng di chuyển qua biên giới quốc tế nhưng vì tính phức
tạp của mình, tị nạn nên được coi là vấn đề nghiên cứu có vị trí tương đối độc lập
nên sẽ không được đề cập đến trong luận văn này.
Dựa trên quan điểm đó, luận văn cố gắng cung cấp những thông tin cơ bản
nhất, mô tả thực trạng hiện tượng di cư quốc tế (không bao gồm người tị nạn) một
cách cụ thể trên phạm vi thế giới và các khu vực cùng những tác động của vấn đề
này trong quan hệ quốc tế thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh.
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trên bình diện quốc tế, vấn đề di cư quốc tế đã giành được sự quan tâm chú ý
của các học giả phương Tây kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ 2. Nguyên nhân là do
sự thay đổi mạnh mẽ về chính trị thời kỳ hậu chiến gây ra làn sóng di cư lớn, đồng
thời quá trình mở cửa hợp tác của các quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa và khu

4
vực hóa khiến cho hoạt động di chuyển của con người trở nên dễ dàng hơn. Tuy
nhiên, đề tài nghiên cứu về di cư quốc tế cũng mới chỉ được thực sự chú ý trong
khoảng gần 30 năm trở lại đây do những tác động to lớn và sự tương tác với các vấn
đề kinh tế, chính trị, xã hội.
Ở Việt Nam hiện nay, di cư quốc tế vẫn là đề tài tương đối mới mẻ. Điều này
có vẻ như mâu thuẫn với tình hình thực tế khi những con số thống kê chỉ ra rằng có
ít nhất 3 triệu người Việt đang sinh sống ở nước ngoài. Đó là một con số đáng kể,
chứng tỏ hiện tượng di cư của Việt Nam tương đối phổ biến. Nhìn chung, nghiên
cứu di cư quốc tế còn chưa được chú ý khi ngay trong giới học thuật cũng chưa mặn
mà với đề tài này. Trong chương trình đào tạo của một số trường đại học và học
viện, vấn đề di cư quốc tế đã được đưa vào giảng dạy nhưng cũng chỉ là một bức
tranh tổng quát với những kiến thức cơ bản ban đầu.

4. Nguồn tài liệu
Nguồn tài liệu được sử dụng trong quá trình nghiên cứu luận văn này chủ yếu
là tiếng Anh, bên cạnh một số tài liệu tiếng Việt.
Các nhà nghiên cứu, viện nghiên cứu, trường đại học và các tổ chức quốc tế đã
công bố nhiều tài liệu bằng tiếng Anh. Đối với các tổ chức quốc tế như IOM,
UNHRC và các tổ chức khác thuộc Liên Hợp Quốc, việc công bố tài liệu nghiên
cứu, báo cáo diễn ra hàng năm liên quan đến tình hình di cư trên toàn thế giới.
Những công trình nổi bật mới được công bố gần đây có thể kể ra là:
- “World migration 2005: Costs and benefits of international migration”: Báo
cáo này nêu lên tình hình di cư các khu vực, lý do tại sao con người di cư. Đồng
thời, báo cáo cũng phân tích những thách thức mà các nhà hoạch định chính sách
của cả nước di cư, nhập cư và quá cảnh phải đối mặt. “World Migration Report
2005” phân tích những tác động của toàn cầu hóa, tự do hóa thương mại, hội nhập
kinh tế và chênh lệch phát triển giàu nghèo đối với những dòng di cư quốc tế.
- “Migration in an interconnected world: New directions for action”: Trong
báo cáo dài 90 trang trình bày trước Tổng thư ký và Đại hội đồng Liên Hợp Quốc,

5
GCIM đưa ra nhận định rằng cộng đồng quốc tế đã không thể nhận ra tiềm năng của
hoạt động di cư nên không ứng phó và khai thác được những thách thức cũng như
cơ hội mà di cư mang lại. GCIM nhấn mạnh yêu cầu hợp tác tích cực, sâu rộng hơn
nhằm đạt được kết quả quản trị hiệu quả hơn trong vấn đề di cư quốc tế. Bản báo
cáo phân tích ngắn gọn tình hình di cư quốc tế, đưa ra những nguyên tắc hành động
kèm 33 khuyến nghị giúp hoạch định chính sách quản trị di cư hợp lý trên 3 cấp độ
là quốc gia, khu vực và toàn cầu. GCIM cũng đưa ra những bằng chứng cho các kết
luận và khuyến nghị của mình, bao gồm một loạt các báo cáo theo chủ đề di cư
quốc tế tại các khu vực khác nhau trên thế giới trong khoảng thời gian 2 năm, từ
2003 đến 2005.
- “World Migration report 2008: Managing Labour Mobility in the Evolving
Global Economy”: Báo cáo năm 2008 của IOM về di cư quốc tế mô tả những xu thế

và tập hợp số liệu nhằm giúp các quốc gia quản lý, ứng phó hiệu quả hơn với di cư
quốc tế trong một thế giới toàn cầu hóa. Báo cáo phân tích những vấn đề các nước
cần tiếp cận để quản trị di cư toàn diện, trong đó có những nguyên tắc cần thiết phải
được thông qua. Báo cáo cũng xem xét xem liệu bản chất của hoạt động di cư quốc
tế là tự nhiên, là một hành vi thuộc bản chất của con người đã diễn ra trong suốt thời
kỳ lịch sử hay phi tự nhiên do những khác biệt giữa nơi đi và nơi đến; Di cư quốc tế
chỉ là sự tương tác giữa các nhân tố kéo-đẩy thuộc kinh tế hay còn bị tác động bởi
những nhóm xã hội khác. Liệu quản trị di cư có thực sự hiệu quả khi các nước vẫn
đặt lợi ích và chủ quyền lên trước. Trong những vấn đề đặt ra, có ý kiến cho rằng
liệu có đáng khai thác những dòng di cư tạm thời – vốn trái ngược với di cư vĩnh
viễn luôn diễn ra mạnh mẽ trong lịch sử - liên quan tới những quá trình hội nhập
kinh tế - xã hội thường được gọi chung là toàn cầu hóa. World Migration Report
2008 gợi ý những chính sách có thể đóng góp cho chiến lược phát triển, đối phó với
nhu cầu lao động nhập cư cùng nguồn cung an toàn, nhân đạo và trật tự.
- “Human Development Report 2009: Overcoming Barriers: Human Mobility and
Development”. Báo cáo phát triển con người 2009 của UNDP xem xét những chính
sách tốt hơn đối với di cư có thể thúc đẩy phát triển con người như thế nào. Báo cáo

6
trước hết nhìn lại quá trình di cư của con người – ai đi đâu, khi nào và tại sao - rồi
phân tích những tác động lớn của việc di cư đối với người di cư, gia đình của họ,
nơi họ ra đi và nơi họ đến. Từ đó, báo cáo đưa ra tình huống chính phủ giảm bớt sự
hạn chế đối với di cư ra ngoài biên giới quốc gia nhằm mở rộng sự lựa chọn và tự
do cho con người. Lập luận rằng các biện pháp cải thiện cơ hội thành công cho
người di cư sẽ đem lại những lợi ích to lớn cho cả cộng đồng nơi họ đi và đến. Báo
cáo đưa ra những đề xuất với chính phủ cả nước đi, nước đến, và cả các khu vực
khác - đặc biệt là khu vực tư nhân, các nghiệp đoàn và các tổ chức phi chính phủ -
và cá nhân những người di cư với mong muốn tối đa hóa những lợi ích mà di cư
mang lại trong một thế giới ngày càng phức tạp.
- Một số tài liệu khác như “International Migration Outlook” hàng năm đưa ra

những thống kê và ước lượng về số lượng người di cư quốc tế. Các báo cáo của
Tổng thư ký Liên Hợp Quốc đọc tại phiên họp toàn thể Đại hội đồng thường niên
cũng thường nhắc tới di cư quốc tế . Các báo cáo này tuy tập trung nhiều vào vấn đề
di cư và lao động nhưng cũng có nhắc tới những tác động về mặt an ninh chính trị.
Ngoài ra, trong kho dữ liệu tại các website của những tổ chức quốc tế lớn kể trên
như www.un.org, www.unhcr.org, www.wb.org, www.iom.int, www.gcim.org
cũng lưu trữ một số lượng lớn những tài liệu và báo cáo liên quan đến vấn đề di cư
quốc tế.
Một số công trình nghiên cứu về du cư quốc tế đã được thực hiện bằng tiếng
Việt. Vấn đề di cư và tị nạn mới chỉ được đề cập trong hai công trình đã xuất bản
thành sách là “Những vấn đề toàn cầu trong thời đại ngày nay” của bộ đôi tác giả
Đỗ Minh Hợp và Nguyễn Kim Lai cùng “Những vấn đề toàn cầu trong hai thập
niên đầu thế kỷ XXI” do Nguyễn Trọng Chuẩn làm chủ biên. Hai cuốn sách trên tập
trung mô tả tình hình và một số xu thế lớn của hiện tượng di cư quốc tế, chủ yếu là
trong nửa cuối của thế kỷ XX, đồng thời chỉ ra những nguyên nhân cơ bản của vấn
đề này. Trong đó, những nước đang phát triển là nguồn của người di cư, đặc biệt là
di cư lao động kể từ những năm cuối thế kỷ XX, ngược lại, các nước phát triển của
phương Tây và Trung Đông thu hút nhiều người di cư quốc tế. Bên cạnh đó, những

7
kinh nghiệm từ hoạt động xuất khẩu lao động, du học của một số quốc gia trên thế
giới cũng được phân tích, từ đó rút ra những kinh nghiệm cho Việt Nam.
Những vấn đề liên quan đến di cư quốc tế cũng đã được đăng tải trên các tạp
chí chuyên ngành.
- Bài viết như “An ninh con người và vấn nạn buôn người: Các khái niệm
chính và một số vấn đề liên quan đến nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em Việt Nam” của
tác giả Nguyễn Hồng Bắc trên Tạp chí Những vấn đề kinh tế và Chính trị thế giới
(số 11, 2006) giải thích khái niệm và những vấn đề liên quan đến an ninh con người
cùng tình trạng buôn bán phụ nữ, trẻ em Việt Nam.
- Bài viết “Tệ nạn buôn người trên thế giới” của Đỗ Trọng Quang trên Tạp chí

Châu Mỹ ngày nay (số 8, 2008) tập trung vào thực trạng vấn đề buôn người, di cư
bất hợp pháp trên thế giới và đưa ra một số giải pháp phòng chống tệ nạn này dựa
trên kinh nghiệm của nước Mỹ.
- Võ Thị Minh Lệ với bài viết “Tổng quan lý luận về di chuyển lao động quốc
tế” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông (số 9, 2009) lại tập
trung vào phân tích những nguyên nhân của di cư lao động quốc tế dưới góc nhìn
của một số học thuyết kinh tế cổ điển và hiện đại.
Bên cạnh đó, nguồn tài liệu thu thập từ Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, Tài liệu
tham khảo đặc biệt của Thông tấn xã Việt Nam và Tài liệu tham khảo phục vụ
nghiên cứu do Viện Thông tin Khoa học xã hội phát hành đôi lúc cũng có đề cập
đến di cư quốc tế.
Hiện nay, Viện Kinh tế và Chính trị thế giới đang triển khai thực hiện một đề
tài nghiên cứu về di cư lao động quốc tế 2 thập niên đầu thế kỷ 21 nhưng vẫn còn
chưa hoàn thành và cũng chỉ tập trung vào vấn đề di chuyển lao động.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trước hết, luận văn sẽ được thực hiện dựa trên các phương pháp nghiên cứu
liên ngành và đa ngành của khoa học xã hội, phương pháp duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử, phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp và so sánh…

8
Tiếp theo, những phương pháp nghiên cứu của ngành quốc tế học, cách tiếp
cận dựa trên các cấp độ phân tích cũng sẽ được áp dụng. Thực tế, có hai hướng tiếp
cận trong hoạt đông nghiên cứu di cư quốc tế. Những học giả tập trung nhiều vào
khía cạnh an ninh, chính trị của vấn đề này; tức là cố gắng phân tích động cơ,
nguyên nhân, hành vi và kết quả của chủ thể thực hiện hành vi dựa trên quan điểm
về chính trị. Ngoài ra, những tổ chức quốc tế như UNHCR không chỉ thực hiện
nhiệm vụ giúp đỡ người tị nạn trên thế giới mà còn tập trung nghiên cứu vấn đề dựa
trên góc nhìn chính trị. Hướng nghiên cứu thứ hai tập trung nhiều vào khía cạnh
kinh tế. Hướng nghiên cứu này được các học giả nghiên cứu về kinh tế áp dụng.
Bên cạnh đó, những tổ chức quốc tế như ILO, WB cũng tập trung phân tích hiện

tượng di cư dựa trên góc nhìn kinh tế.
Luận văn sẽ áp dụng các phương pháp nghiên cứu trên để tiếp cận, phân tích
vấn đề di cư quốc tế cùng những tác động của nó dưới một góc nhìn đầy đủ, toàn
diện hơn. Nói cách khác, vấn đề di cư quốc tế sẽ được phân tích từ góc nhìn quan hệ
quốc tế.
6. Cấu trúc của luận văn
Nội dung của luận văn được chia làm 3 chương:
- Chương một giới thiệu khái quát về vấn đề di cư quốc tế. Cụ thể, chương này
sẽ đề cập tới khái niệm hiện tượng di cư và người di cư, phân loại người di cư, khái
quát hiện tượng di cư trong lịch sử (trước Chiến tranh Lạnh), và tìm hiểu những
nguyên nhân cơ bản nhất thúc đẩy hiện tượng di cư.
- Chương hai đề cập tới những điều kiện mới cho hiện tượng di cư phát triển;
tình hình cùng một số đặc điểm của vấn đề di cư trên thế giới và các khu vực.
- Chương ba bước đầu nêu lên, phân tích và đánh giá những tác động của hiện
tượng di cư, bao gồm những tác động tích cực và tiêu cực đối với con người, quốc
gia và quan hệ quốc tế.



9
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ VẤN ĐỀ DI CƢ QUỐC TẾ
1.1. Khái niệm và phân loại
1.1.1. Khái niệm
Di cư là hiện tượng mang tính lịch sử. Đó là kết quả tổng hợp của sự tương tác
giữa các hoạt động chính trị, kinh tế và xã hội. Đây cũng là một hiện tượng đặc
trưng trong lịch sử loài người bởi hoạt động này gần như gắn với lịch sử phát triển
của nhân loại.
Có nhiều quan niệm khác nhau về di cư nói chung và di cư quốc tế nói riêng.
Theo quan niệm thông thường, với nghĩa rộng, di cư có thể được hiểu là sự chuyển
dịch bất kỳ của con người trong một không gian, thời gian nhất định kèm theo sự di

chuyển nơi cư trú tạm thời hoặc vĩnh viễn. Đại từ điển tiếng Việt định nghĩa di cư là
“dời, chuyển đến nơi khác để sinh sống”.[19, tr. 533] Tương tự như vậy, “Oxford
Concise Dictionary of Politics” cho rằng di cư là sự di chuyển vĩnh viễn của các cá
nhân hoặc nhóm người từ nơi này đến nơi khác.[39, pg. 347] Cùng quan niệm đó
nhưng ở một góc hẹp hơn (vì đề cập đến thời gian), di cư là sự di chuyển dân cư từ
một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác nhằm thiết lập một nơi cư trú
mới trong một khoảng thời gian nhất định. Từ điển “Oxford Advanced Learner’s
Dictionary” định nghĩa di cư là sự di chuyển một số lượng lớn người từ nơi này đến
nơi khác, người di cư là một người chuyển từ nơi này sang nơi khác, đặc biệt là để
tìm kiếm công việc.[50, pg. 968] Những khái niệm này nêu lên hoạt động di cư nói
chung nên không làm nổi bật lên tính quốc tế của hiện tượng.
Theo Từ điển tiếng Việt, di cư là “dời đến ở một miền hay một nước khác để
sinh sống”[16, tr. 409]. Đại từ điển tiếng Việt cho rằng người di cư là “những người
vì lý do khác nhau phải rời nơi cư trú có quốc tịch sang thường trú ở một nước
khác”[19, tr. 519]. Hội đồng Kinh tế Xã hội Liên Hợp Quốc (ECOSOC) cho rằng
người di cư quốc tế là “bất cứ ai thay đổi đất nước nơi mình thường xuyên cư
trú”[46, pg. 17], sự chuyển dịch nơi ở tạm thời như thăm viếng, buôn bán, du lịch
kể cả qua lại biên giới không phải là di cư, di cư còn gắn với sự di chuyển các quan
hệ xã hội. Sự chuyển dịch trong phạm vi hẹp (bên trong biên giới) không được tính

10
là di cư quốc tế. Quan niệm này đã góp phần làm rõ hơn tính quốc tế của hiện
tượng. Tuy nhiên, tính quốc tế của hoạt động di chuyển không phải lúc nào cũng rõ
ràng bởi có những khu vực lãnh thổ chỉ có một số đặc điểm của nhà nước. Do vậy,
sự chuyển dịch của người dân trong giữa “mẫu quốc” và lãnh thổ hải ngoại như Mỹ
với Puerto Rico, Pháp với Guyan vừa có thể được coi là di cư quốc tế, cũng có thể
coi là di cư nội địa.
Hoạt động di cư quốc tế chỉ được thực hiện với chủ thể là con người. Nhận
thấy tầm quan trọng của hiện tượng này, Liên Hợp Quốc đã phát triển định nghĩa về
người di cư quốc tế. Nhìn từ góc độ chủ thể, trong báo cáo của Tổng thư ký Liên

Hợp Quốc tháng 9/2006: “Nói một cách đơn giản nhất, người di cư quốc tế là những
người di chuyển từ một quốc gia này sang một quốc gia khác với mục đích hoặc có
khả năng ở lại nước đó một thời gian, có thể là một năm hoặc lâu hơn” [43], có
nghĩa là người di cư phải ở lại nơi ở mới trong thời gian ít nhất một năm thì đó mới
được coi là nơi cư trú thường xuyên.
Nhìn chung, những định nghĩa trên nêu lên những đặc thù của hoạt động di cư
và người di cư quốc tế: Thứ nhất, hoạt động di cư cần có một chủ thể xác định là
con người; Thứ hai, di cư quốc tế là hoạt động mang tính xuyên biên giới; Thứ ba,
chủ thể của hoạt động di cư phải thực hiện hành vi với mục đích xác định; Thứ tư,
chỉ những cá nhân hoặc nhóm người sống ngoài lãnh thổ nước mình trong một
khoảng thời gian không quá ngắn mới được coi là người di cư quốc tế. Từ đó, ta có
thể hiểu khái niệm về hoạt động di cư quốc tế và người di cư quốc tế như sau:
Di cư quốc tế là hoạt động di chuyển qua biên giới quốc gia của con người với
mục đích xác định trong một khoảng thời gian tương đối dài.
Người di cư quốc tế là những cá nhân hoặc nhóm người di chuyển từ nước
này sang nước khác với mục đích xác định trong khoảng thời gian ít nhất là một
năm.
1.1.2. Phân loại
Dựa trên những tiêu chí riêng biệt, chúng ta có thể phân chia người di cư thành
những dạng khác nhau. Trong cuốn sách “Migration in World History” (2005), tác

11
giả Patrick Manning dựa trên tiêu chí về cộng đồng ngôn ngữ trong lịch sử, đã phân
chia di cư làm bốn dạng chính. Thứ nhất là di cư trong cộng đồng (Home–
community migration), bao gồm sự di chuyển của các cá nhân từ nơi này đến nơi
khác nhưng không vượt ra ngoài khuôn khổ cộng đồng. Đây là trường hợp một
người trong gia đình này đến một gia đình khác để tìm bạn đời. Dạng di cư này là
cần thiết cho hoạt động tái sinh, duy trì nòi giống. Trong chế độ phụ hệ, người phụ
nữ phải di chuyển từ nơi này sang nơi khác, ngược lại với chế độ phụ hệ khi người
di chuyển là đàn ông. Dạng di cư thứ hai là di cư lấn chiếm (Colonization). Dạng di

cư này là sự rời đi của những cá nhân trong một cộng đồng nhằm xây dựng một
cộng đồng khác ở những khu vực chưa có người cư trú. Những người đi xây dựng
cộng đồng mới có xu hướng duy trì những gì thuộc về cộng đồng gốc để người di
cư duy trì ngôn ngữ và phong tục cũ. Dạng di cư thứ ba là di cư cả cộng đồng
(Whole–community migration). Có những cộng đồng người du canh du cư thường
xuyên thay đổi nơi cư trú của mình, nay đây mai đó, khi di chuyển sẽ mang theo tất
cả đồ đạc, tài sản hay bất cứ thứ gì thuộc về họ. Dạng thức di cư này chỉ tồn tại ở
những cộng đồng lạc hậu. Dạng di cư cuối cùng, theo Manning, là di chuyển tới
cộng đồng khác (Cross–community migration), tức là một vài cá nhân hoặc nhóm
người thuộc cộng đồng này di chuyển đến và gia nhập một cộng đồng khác dựa trên
khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ. [35, pg. 4-5]
Bên cạnh đó còn có nhiều cách phân chia khác. Xét theo tính chất của hiện
tượng di cư, người di cư có thể được chia ra làm người xuất cư và người nhập cư.
Nước nào có người di cư sẽ là nước di cư (original/home/emigrating countries);
ngược lại, những nước tiếp nhận người di cư sẽ là nước nhập cư
(receiving/host/immigrating countries).
Theo số lượng, di cư có thể được chia thành di cư cá thể (individual) và di cư
tập thể/di cư nhóm (group). Di cư cá thể là hoạt động được thực hiện bởi cá nhân.
Di cư tập thể được thực hiện bởi một nhóm người hoặc một số lượng người tương
đối lớn. Trong nhiều trường hợp, hiện tượng di cư diễn ra ồ ạt với số lượng người
rất lớn trong một khoảng thời gian tương đối ngắn. Hiện tượng này xảy ra khi có

12
những biến động lớn về chính trị, kinh tế hay xảy ra thảm họa trong môi trường tự
nhiên. Khi đó, sự di cư ồ ạt này còn được gọi là di cư cấp tính. Chinh phục, xâm
lược, thực dân hóa, di cư cưỡng ép và một phần nào đó là tị nạn được xếp vào dạng
di cư hàng loạt. Chinh phục, xâm lược là ví dụ rõ ràng cho dạng di cư hàng loạt và
không yên bình của một nhóm người hoặc một dân tộc, ví dụ như cuộc xâm lăng Ba
Lan của người Đức vào năm 1939 hay cuộc xâm lược Kuwait của người Iraq năm
1990. Tư tưởng dân tộc, chủng tộc là một nguyên nhân dẫn đến sự di cư hàng loạt

của nhóm sắc tộc, nhóm dân tộc, ví dụ như những cuộc di cư của người nô lệ da đen
đến tây bán cầu trong thế kỉ 18, hoạt động di cư của hàng triệu người Do Thái tới
các trại tập trung của phát xít Đức trong Thế chiến 2. Chiến tranh và những bất ổn
chính trị khác dẫn tới sự xuất hiện của hiện tượng di cư hàng loạt và tị nạn, ví dụ
như những cuộc di cư giữa Ấn Độ và Pakistan khi hai nước này tách ra năm 1947
hay trường hợp tương tự giữa Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ vào đầu những năm 1920. Sự
chuyển dịch của các quân nhân theo mệnh lệnh quân đội cũng có thể được xếp vào
một dạng của di cư cưỡng ép. Thực dân hóa được coi là hoạt động trong đó bao
gồm sự chuyển dịch dân cư (một nhóm, gia đình hoặc cá nhân) nhằm mục đích bình
định và khai thác những khu vực “mẫu quốc” mới phát hiện ra hoặc mới chinh phục
được, ví dụ như hoạt động di dân của người châu Âu đến tây bán cầu trong thời kỳ
thực dân hay sự di cư của người Anh đến lục địa Úc đầu thế kỷ 20. Trong lịch sử,
còn có dạng di cư khác liên quan tới chủ nghĩa thực dân là những người di cư lao
động, vế lý thuyết là tự nguyện, đến những vùng đất thực dân và thường dẫn tới
hoạt động định cư lâu dài, thậm chí là vĩnh viễn. Hiện tượng này nở rộ trong thế kỷ
19 với nỗ lực của các đế quốc khi đó, đặc biệt là Anh, Pháp và Mỹ. Ví dụ, chính
quyền Anh tuyển dụng công nhân người Ấn đi lao động tại các đồn điền hoặc khu
mỏ tại Miến Điện, Sri Lanka, Fiji, khu vực Đông Phi, các đảo ở Ca–ri–bê; chính
quyền Pháp đưa người Đông Dương đến New Caledonia; chính quyền Mỹ tuyển
công nhân Trung Quốc, Nhật, Phi-lip-pin và các nước châu Á khác đến làm việc ở
Hawai, người Mê-hi-cô đến làm việc ở các bang phía Tây Nam nước Mỹ.
Dựa trên khía cạnh pháp lý, người di cư có thể là di cư hợp pháp hoặc bất hợp
pháp. Người di cư hợp pháp là người được phép xuất cảnh khỏi nước nhà và được

13
nước nhập cư tiếp nhận. Đưa người di cư bất hợp pháp và buôn bán người là những
loại hình tội phạm đẩy người di cư vào tình trạng nguy hiểm. Dù cùng có thể gọi
những người di cư theo bọn tội phạm và người bị buôn bán là người di cư bất hợp
pháp nhưng vẫn có một sự phân biệt của 2 loại hình di cư này
1

. Điều 3 (a) “Nghị
định thư về kìm giữ, ngăn chặn và trừng phạt tội phạm buôn bán người, đặc biệt là
phụ nữ và trẻ em” của Liên Hợp Quốc định nghĩa “buôn bán người là hành động lôi
kéo, vận chuyển, trao nhượng, che giấu hoặc nhận tiền của người khác, bằng cách
đe doạ hoặc sử dụng vũ lực hay những cách ép buộc khác, lừa gạt về lợi nhuận thu
được so với số tiền bỏ ra, lợi dụng điểm yếu để người khác đồng ý nhằm mục đích
bóc lột. Hành động bóc lột có thể bao gồm bóc lột về thể chất và tinh thần, cưỡng
ép lao động, nô lệ hoặc những dạng tương tự, buộc người di cư phải phụ thuộc mà
không có quyền ngôn luận”. Điều 3 (a) “Nghị định thư chống lại nạn đưa người di
cư trái phép bằng đường bộ, đường biển và đường không” của Liên Hợp Quốc định
nghĩa “đưa người di cư trái phép là hành động đưa người xâm nhập vào một quốc
gia có chủ quyền một cách bất hợp pháp, nơi mà người nhập cư không phải là công
dân hoặc có quyền cư trú lâu dài, nhằm mục đích trực tiếp hay gián tiếp thu lợi
nhuận về kinh tế hoặc vật chất” [33, pg. 203-204]. Hiện tượng di cư trái phép, bất
hợp pháp diễn ra song song với di cư hợp pháp, thậm chí còn có phần lấn lướt và
gây ra nhiều vấn đề cùng hậu quả nghiêm trọng hơn.
Dựa trên tiêu chí điểm đến của quá trình di cư, người di cư được phân loại
thành người di cư trong nước, di cư trong khu vực và di cư quốc tế. Luận văn này
không đề cập đến hiện tượng di cư trong nước mà chỉ tập trung vào hiện tượng di cư
thoát khỏi biên giới quốc gia. Hiện nay, hoạt động di cư trong phạm vi khu vực địa
lý (như Đông Á, châu Âu…) diễn ra tương đối phổ biến. Hoạt động di cư vượt ra
ngoài phạm vi khu vực được thực hiện chủ bởi những người di chuyển từ các nước
thuộc bán cầu nam tới các nước ở bán cầu bắc.

1
Để ngắn gọn, thuật ngữ di cư trái phép (hoặc di cư bất hợp pháp) sẽ được sử dụng để chỉ chung
cả hai dạng di cư kể trên.

14
Dựa trên thời gian di cư, Liên Hợp Quốc phân chia hai dạng thức của di cư là

di cư dài hạn và di cư ngắn hạn. Những người di cư dài hạn đã được đề cập trong
định nghĩa ở trên. Người di cư ngắn hạn được coi là sinh sống ngoài đất nước cư trú
trong khoảng thời gian trên 3 tháng nhưng không quá 1 năm, đồng thời, những hoạt
động như đi buôn bán, giao dịch, chữa bệnh, thăm viếng người thân không được
tính là di cư. Di cư dài hạn mang tính ổn định cao thường là kết quả của những áp
lực về chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo, chính trị và kinh tế hoặc sự kết hợp của những
vấn đề trên. Hiện tại, hầu hết người di cư quốc tế là di cư lao động, chủ yếu là mang
tính chất tạm thời. Người di cư lao động có thể không được tính vào số liệu về di cư
vĩnh viễn nhưng chiếm một tỉ lệ lớn của di cư tạm thời. Điều này đặc biệt chính xác
trong trường hợp của châu Âu khi hàng ngày, hàng tuần hay hàng quý người dân
nơi dân thực hiện hoạt động dịch chuyển qua biên giới quốc gia với số lượng đáng
kể. Ta cũng có thể nhận thấy trường hợp tương tự ở Bắc Mỹ, nơi hoạt động di cư
mang tính thời vụ xảy ra giữa Mỹ và Mê-hi-cô hay sự dịch chuyển hàng ngày giữa
người dân qua biên giới Mỹ và Canada.
Dựa theo mục đích di cư. Các quốc gia đều đưa ra những điều kiện theo đó
người nước ngoài có thể nhập cư vào, sinh sống hay hoạt động kinh tế trong lãnh
thổ các nước. Điều đó tạo nên những dạng khác nhau của người di cư. Người di cư
đến các nước thường tham gia vào thị trường lao động, nhưng điều đó không có
nghĩa là người di cư chỉ là người lao động. Luận văn này sử dụng cách phân chia
theo chính sách nhập cư của các nước thuộc Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển
(OECD – Organization of Economic Cooperation and Development). Cách phân
chia này dựa trên mục đích của di cư.
– Di cư vì mục đích định cư: Australia, New Zealand, Canada, Hoa Kỳ cùng
một số nước phát triển khác ở châu Âu là những nước tiếp nhận người nước
ngoài với tư cách là người nhập cư và cho phép họ quyền được cư trú vĩnh
viễn. Người nhập cư thường được ban cho những quyền lợi kinh tế – xã hội
tương đương với công dân sở tại và có thể được nhập quốc tịch sau một thời
gian cư trú liên tục. Ở những nước này, tỉ lệ người nhập cư đến từ những nước

15

đang phát triển rất cao. Hầu hết người nhập cư vào những nước phát triển đều
phải đạt được những tiêu chuẩn chính như: có người thân đã và đang sinh sống
tại nước đó (bảo lãnh để đoàn tụ gia đình), có trình độ / tay nghề cao hoặc
những lý do về nhân đạo.
– Di cư vì mục đích kinh tế – lao động: Nhiều nước cho phép người nước
ngoài được nhập cư vào nước mình chỉ với mục đích duy nhất là lao động
hoặc tham gia vào hoạt động kinh tế. Thông thường, người lao động di cư
được phép ở lại và làm việc trong một khoảng thời gian nhất định. Những
dạng công việc mà người nhập cư làm thường bị giới hạn. Người lao động
nhập cư thường chỉ gắn với một công việc cụ thể và một người thuê lao động
trong suốt thời gian họ có mặt ở đất nước đó. Những người lao động đơn giản
chỉ được cư trú tạm thời và không được phép mang theo người thân hay gia
đình đi cùng. Những người lao động có trình độ và những người lao động
được cư trú dài lâu thì được phép mang theo những người thân nhất, ví dụ như
vợ / chồng và con cái (chưa đến tuổi vị thành niên). Trong nhiều năm qua, các
nước đã đưa ra những chương trình phát triển nhiều loại hình của lao động di
cư. Bên cạnh loại hình di cư lao động theo hợp đồng như truyền thống còn có
những loại hình khác như: những thực tập sinh (nước ngoài) được đào tạo
ngay tại nơi làm việc; những người làm việc theo chu kỳ dưới một năm nhưng
nhiều hơn 1 tháng mỗi năm; những người được phép làm việc (trong một
khoảng thời gian nhất định) tại nước nhập cư mỗi khi họ đến nước đó; những
người làm việc cho các công ty xuyên quốc gia phải thường xuyên thay đổi địa
bàn làm việc.
– Di cư vì mục đích học tập – nghiên cứu: Rất nhiều nước trên thế giới thu hút
người nước ngoài vào các chương trình giáo dục và đào tạo. Số lượng du học
sinh đang thực hiện các khoá học ở nước ngoài tăng lên nhanh chóng. Anh,
Pháp, Hoa Kỳ… là những nước có nền giáo dục đào tạo phát triển và có
truyền thống lâu năm trong việc thu hút du học sinh nước ngoài. Từ những

16

năm 1990, Australia, Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc… đang
được cho là địa điểm du học mới phát triển và được du học sinh ưa thích.
Những cách phân loại nêu trên tuy không hoàn toàn đầy đủ nhưng cũng giúp
chúng ta hiểu thêm về vấn đề phức tạp này. Mỗi học giả, quốc gia hay tổ chức quốc
tế lại đưa ra một cách phân loại riêng, dựa trên những tiêu chí khác nhau để tìm ra
các loại hình thích hợp. Sự phân loại chỉ mang tính chất tương đối và có nhiều điểm
đan xen lẫn nhau. Xác định được những loại hình phù hợp sẽ tạo điều kiện cho các
cơ quan, tổ chức nói riêng và cộng đồng quốc tế nói chung tìm ra cách quản lý, giúp
đỡ và bảo vệ người di cư một cách hiệu quả nhất.
1.2. Đôi nét về hiện tƣợng di cƣ quốc tế trong lịch sử
Trong suốt chiều dài lịch sử loài người, sự di cư luôn là sự thể hiện ý chí vượt
khó của con người để tìm tới một cuộc sống tốt đẹp hơn. Trong chiều dài lịch sử
loài người, có thể tạm chia hoạt động di cư ra làm 5 giai đoạn lớn: trước thế kỷ XV,
từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XIX, từ đầu thế kỷ XIX đến 1945, giai đoạn Chiến
tranh Lạnh, và thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh.
Hiện tượng di cư của loài người bắt đầu từ khoảng một triệu năm trước đây
khi người đứng thẳng (Homo Erectus) di chuyển từ châu Phi sang lục địa Á – Âu.
Giống người tinh khôn (Homo Sapiens) xuất hiện ở châu Phi 150 nghìn năm trước
đây và di chuyển sang những khu vực khác ở châu Á, châu Âu và châu Úc cách đây
khoảng 40 nghìn năm. Sự di chuyển sang châu Mỹ diễn ra cách đây khoảng 15 đến
20 nghìn năm. Vào khoảng 2 thiên niên kỷ trước thì các đảo trong khu vực Thái
Bình Dương đã có người sinh sống. Những cuộc di cư sau này đáng chú ý có những
cuộc di cư trong thời kỳ đồ đá; hoạt động du canh du cư, những cuộc săn bắn;
những cuộc di cư của người Barbarians ở châu Âu (năm 300–700 sau Công
nguyên), những cuộc di cư của người Thổ (Turkic) ở khu vực châu Âu, châu Á và
Trung Đông (thế kỷ VI – thế kỷ XI), những cuộc di cư của người Ả–rập cùng sự mở
rộng của Đế quốc Ả-rập ra khắp Á – Âu – Phi (năm 632–732). Những cuộc di cư
trong thời Trung cổ thường gắn với các cuộc viễn chinh của nhiều đạo quân trong
các cuộc chiến tranh lớn ở các khu vực Trung Đông, Trung Á, Tây La Mã hay quá


17
trình mở rộng lãnh thổ của đế quốc Mông Cổ. Nhiều chứng cứ lịch sử cho thấy
người Hungary ngày nay có một phần nguồn gốc xa xưa gắn với người Mông Cổ.
[11, tr. 98]
Từ cuối thế kỷ XV, “những cuộc thám hiểm và chủ nghĩa thực dân châu Âu đã
dẫn tới những bước đi đầu tiên của di cư thời tiền hiện đại” [60]. Trong thời kỳ từ
khoảng thế kỷ XVI đến XIX, người di cư trên thế giới xuất hiện cùng những những
thương nhân hoạt động thương mại thoát ra khỏi phạm vi châu Âu, cùng sự ra đời
của chủ nghĩa thực dân và kinh tế tư bản chủ nghĩa. Trong thời kỳ kéo dài 300 năm,
người châu Âu đã đi đến những vùng đất rộng lớn chưa được khai phá tại châu Mỹ,
châu Phi, châu Á và châu Đại dương. Mặc dù hiện nay chúng ta không rõ số lượng
người di cư khỏi châu Âu trong thời gian đó là bao nhiêu nhưng có thể thấy rõ rằng
những luồng di cư từ châu Âu ra là đủ để người châu Âu gây ảnh hưởng đáng kể lên
phần còn lại của thế giới. Trong thời gian này, những người di cư thường được chia
ra làm các loại: người đi khai hoang, người đi cai quản các vùng đất, thợ thủ công,
những doanh nhân đi tìm nguồn nguyên liệu thô cho nền kinh tế và những người
phạm tội bị đày đến các nước thuộc địa. Mặc dù số lượng người di cư tham gia vào
quá trình sản xuất nguyên liệu không nhiều nhưng người châu Âu lại tạo ra ảnh
hưởng lớn đến vấn đề dân tộc ở châu Mỹ. Mang theo những kỹ thuật thời kỳ tiền
công nghiệp, những trang trại mà người châu Âu dựng lên đòi hỏi một số lượng lớn
nhân công giá rẻ. Lực lượng lao động quan trọng nhất là những người nô lệ từ châu
Phi. Trong hơn 3 thế kỷ, có khoảng hơn 10 triệu nô lệ châu Phi được đưa sang các
nước châu Mỹ [37, pg. 2], nguồn gốc của hơn 20 triệu người Mỹ da đen bắt nguồn
từ những đợt di dân lớn từ nhiều thế kỷ trước [11, tr. 98].
Thời kỳ di cư tiếp theo bắt đầu từ đầu thế kỷ XIX và kết thúc với sự chấm dứt
của Chiến tranh Thế giới thứ hai. Thời kỳ di cư này gắn với sự phát triển của quá
trình công nghiệp hoá ở châu Âu, sự lớn mạnh của chủ nghĩa tư bản cùng chủ nghĩa
thực dân và sự xuất hiện của chủ nghĩa đế quốc. Trong khoảng thời gian đầu thời kỳ
công nghiệp hóa, có khoảng 48 triệu người (tương đương 12% dân số trong thời
điểm đó) đã rời châu Âu. Vào khoảng năm 1900, những nước có nhiều người di cư


18
nhất có thể kể đến Anh (41% dân số), Na–uy (36%), Bồ Đào Nha (30%), Ý (29%),
Tây Ban Nha (23%).[37, pg. 2] Trong khoảng từ 1846 đến 1940, những cuộc di cư
diễn ra ồ ạt trên toàn thế giới. Tốc độ và số lượng của những cuộc di dân trong thời
gian này chưa từng có trong lịch sử. Có khoảng 55 triệu người đã di chuyển từ châu
Âu sang châu Mỹ và khoảng 2,5 triệu người châu Á cũng di cư sang châu Mỹ.
Trong những cuộc di dân xuyên Đại Tây Dương thì 65% đến Hoa Kỳ, còn lại chủ
yếu người di cư tìm đến Canada, Bra-xin, Argentina… Cũng trong thời kỳ này thì
có một số lượng tương tự người di cư trong khu vực châu Á. Khu vực Đông Nam Á
đón khoảng 50 triệu người, chủ yếu đến từ Ấn Độ và miền Nam Trung Quốc. Khu
vực Bắc Á (bao gồm miền bắc Trung Quốc, vùng Siberia), Trung Á và Nhật Bản
cũng đón nhận khoảng 50 triệu người.[60]

Nguồn di cư lao động xuyên quốc gia đạt
mức đỉnh 3 triệu người/năm trong những năm đầu của thế kỷ XX. Chiến tranh Thế
giới thứ nhất, sự phát triển của Chủ nghĩa Sô–vanh trong những năm 1920 và cuộc
đại khủng hoảng kinh tế những năm 1930 đã dẫn tới sự đóng cửa biên giới các nước
và sự suy giảm của các luồng di cư quốc tế.
Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, những điều khoản trong Hiệp định Postdam
giữa các nước phe Đồng minh và Liên Xô, trong đó có việc phân định lại biên giới
giữa các nước ở châu Âu cũng đã dẫn tới việc di chuyển và tái định cư cho hàng
chục triệu người.

Từ những năm 1960, số lượng các nước là điểm đến của người di
cư cũng tăng lên nhanh chóng. Bên cạnh những nước có truyền thống về nhập cư
như các nước châu Mỹ và châu Đại dương, các nước ở Tây Âu cũng thu hút một số
lượng lớn người nhập cư như Đức, Pháp, Ý, Hà Lan…[37, pg. 4] Đến những năm
1970, những nước có nhiều người di cư ở châu Âu như Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào
Nha… thậm chí đã bắt đầu nhận những người di cư đến từ Trung Đông và châu Phi.

Sau cuộc khủng hoảng dầu mỏ 1973, những vùng Vịnh đã bắt đầu thu hút
người lao động di cư. Trong những năm 1980, hiện tượng di cư quốc tế đã lan rộng
ra khắp châu Á, người di cư không chỉ đến Nhật Bản mà còn đến những nền kinh tế
mới phát triển như Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông … Từ 1965 đến 1990 thì số
lượng dân di cư tăng thêm khoảng 45 triệu người với tỉ lệ trung bình là 2,1%/năm.

19
Như vậy, tính đến trước những năm 1990, quá trình di cư quốc tế trải qua bốn
thời kỳ lớn: thời kỳ tiền thực dân, thời kỳ xuất hiện của chủ nghĩa thực dân và kinh
tế tư bản, thời kỳ bắt đầu công nghiệp hóa cùng ra đời của chủ nghĩa đế quốc, thời
kỳ Chiến tranh Lạnh. Độ dài của các thời kỳ di cư nói trên giảm dần nhưng hiện
tượng di cư tăng dần cả về số lượng và mật độ. Trong từng thời kỳ, hiện tượng di cư
đều có những tác động khác nhau lên tình hình quốc tế. Có thể nói đó là các bước
đầu tiên của hiện tượng di cư quốc tế, là tiền đề cho sự phát triển mạnh mẽ của hiện
tượng này và những ảnh hưởng của nó đến quan hệ quốc tế thời kỳ sau Chiến tranh
Lạnh sẽ được đề cập trong chương 2 và chương 3.
1.3. Những nguyên nhân cơ bản của hiện tƣợng di cƣ quốc tế
Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến sự di cư của con người. Theo vấn
đề, người di cư có thể di chuyển nơi cư trú bởi những nguyên nhân như kinh tế,
đoàn tụ gia đình, học tập, môi trường… Nhìn chung, trong mỗi nguyên nhân đó
thường chứa đựng những nhân tố đẩy và thu hút con người di cư. Nhân tố thúc đẩy
người di cư gắn liền với đất nước mà họ đang muốn rời bỏ, thường là những vấn đề
mà hậu quả của nó khiến con người muốn di chuyển nơi sinh sống. Nhân tố lôi kéo
người di cư thường là những sự hấp dẫn ở những nước/vùng có điều kiện phát triển
mà thu hút được sự chú ý của người khác.
1.3.1. Nhóm những nguyên nhân liên quan đến kinh tế
Trước hết, di cư được xác định là do sự khác biệt về thu nhập, sức hấp dẫn
giữa các nền kinh tế cùng điều kiện sống. Lý thuyết Harris–Todaro (Harris–Torado
Model) về mức thu nhập dự kiến cho rằng, những người tham gia vào thị trường lao
động, cả trên thực tế lẫn trong tương lai, so sánh mức thu nhập dự kiến có được

trong một khoảng thời gian dài nhất định ở khu vực thành thị (hay là cân nhắc
chênh lệch giữa cái được và cái mất của việc di cư) với mức thu nhập trung bình
đang có ở nông thôn, và sẽ di cư nếu như thu nhập dự kiến cao hơn thu nhập hiện
có.[9, tr. 34] Từ xa xưa, chênh lệch về thu nhập đã là nguyên nhân cơ bản của hiện
tượng di cư. Điều kiện kinh tế thấp kém cũng thường đi với những sự yếu kém về
điều kiện của y tế và giáo dục. Trước tiên, hoạt động di cư có thể chỉ là chuyển dịch

×