Tải bản đầy đủ (.doc) (64 trang)

Hoàn thiện quản lý hoạt động nhập khẩu nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi của Công ty TNHH Một thành viên Xuất nhập khẩu và thương mại Haneco

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (402.6 KB, 64 trang )

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập -Tự do - Hạnh phúc
o0o
LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi : Ban giám hiệu trường Đại học Kinh tế quốc dân
Khoa Khoa học quản lý
Đồng kính gửi TS. Đỗ Thị Hải Hà
Tên em là : Nguyễn Thị Mai Hương
Sinh viên lớp : Quản lý kinh tế 49 QN
Khóa : 49
Em xin cam đoan bản chuyên đề thực tập tốt nghiệp này là do chính em thực
hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Đỗ Thị Hải Hà. Đây là kết quả của quá trình tìm
hiểu, nghiên cứu và thu thập tài liệu của em tại Công ty TNHH Một thành viên Xuất
nhập khẩu và thương mại Haneco, không có sự sao chép luận văn, luận án nào, mọi
trích dẫn số liệu đều có nguồn gốc rõ ràng.
Nếu không đúng với những cam đoan trên, em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày tháng năm 2011
Sinh viên
Nguyễn Thị Mai Hương
SV: Nguyễn Thị Mai Hương Lớp: Quản lý kinh tế
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỤC LỤC
SV: Nguyễn Thị Mai Hương Lớp: Quản lý kinh tế
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
MTV : Một thành viên
DN : Doanh nghiệp
WTO : Tổ chức thương mại thế giới.
XNK : Xuất nhập khẩu


L/C : Thư tín dụng
NK : Nhập khẩu
UBND : Uỷ ban nhân dân.
CNH – HĐH : Công nghiệp hoá – hiện đại hoá
DT : Doanh thu
DCP : Dicalcium phosphate
SV: Nguyễn Thị Mai Hương Lớp: Quản lý kinh tế
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty Haneco năm 2007 – 2010
Error: Reference source not found
Bảng 2.2: Bảng hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu Công ty năm 2008 – 2010.
Error: Reference source not found
Bảng 2.3: Cơ cấu thị trường nhập khẩu của Công ty năm 2008 – 2010 Error:
Reference source not found
Bảng 2.4: Cơ cấu mặt hàng nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi của Công ty
Error: Reference source not found
Bảng 2.5: Bảng kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu sản xuất thức ăn cho chăn nuôi từ
các thị trường năm 2008 – 2010: Error: Reference source not found
Bảng 2.6: Hình thức nhập khẩu nguyên liệu sản xuất thức ăn cho chăn nuôi của
Công ty Error: Reference source not found
Bảng 2.7: Bảng thu nhập bình quân đầu người năm 2007 – 2010 Error: Reference
source not found
Bảng 2.8: Cơ cấu nhập khẩu nguyên liệu sản xuất thức ăn cho chăn nuôi Error:
Reference source not found
Bảng 2.9: Cơ cấu nhập khẩu nguyên liệu ở Trung Quốc.Error: Reference source not
found
Biểu đồ 2.1: Doanh thu Công ty năm 2007 – 2010 Error: Reference source not
found
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cơ cấu bộ máy 16

SV: Nguyễn Thị Mai Hương Lớp: Quản lý kinh tế
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Việt Nam là một trong những nước đang phát triển của khu vực Đông Nam Á và
là thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới WTO. Điều đó tạo ra nhiều
thách thức và cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp. Trong những năm qua
Đảng và Nhà nước ta đã và đang thực hiện chủ trương Công nghiệp hoá – Hiện đại
hoá đất nước theo hướng xuất khẩu và thay thế nhập khẩu. Tuy vậy, nhập khẩu
không vì thế mà giảm sút, tổng kim ngạch nhập khẩu vẫn tăng theo nhu cầu sản
xuất và tiêu dùng trong nước, theo xu thế hội nhập và toàn cầu hoá.
Việt Nam tuy là một nước đang phát triển nhưng vẫn là một nước nông nghiệp.
Chăn nuôi trong nông nghiệp luôn giữ một vai trò quan trọng với nền kinh tế nước
nhà. Nhưng thức ăn cho chăn nuôi ở nước ta hiện nay chưa có điều kiện và công
nghệ để phục vụ cho ngành này. Mà bên cạnh đó, nhu cầu về thức ăn cho chăn nuôi
ngày càng tăng, nhưng cung không đáp ứng đủ cầu. Điều này thúc đẩy hoạt động
nhập khẩu. Công ty TNHH Một thành viên Xuất nhập khẩu và Thương mại Haneco
đã kịp thời nắm bắt được cơ hội để mở rộng hơn phạm vi và quy mô nhập khẩu
thức ăn cho chăn nuôi. Do vậy, em chọn đề tài: “ Hoàn thiện quản lý hoạt động
nhập khẩu nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi của Công ty TNHH Một
thành viên Xuất nhập khẩu và thương mại Haneco.”
2. Mục đích của việc nghiên cứu đề tài
Đề tài này khái quát những vấn đề lý luận về hoạt động nhập khẩu và quản lý
các hoạt động đó ở thị trường nước ta. Đồng thời phân tích đánh giá thực trạng
quản lý hoạt động nhập khẩu thức ăn chăn nuôi của Công ty TNHH Một thành viên
xuất nhập khẩu và thương mại Haneco trong những năm qua và đưa ra các giải
pháp để hoàn thiện hơn quản lý hoạt động nhập khẩu.
3. Phương pháp nghiên cứu
Trong bài viết của mình, em đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu
khác nhau nhằm đem lại sự thuyết phục cho đề tài như: phương pháp so sánh,

phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp thống kê mô tả và phương pháp
tích phân – tổng hợp…
Phương pháp so sánh: so sánh sự thay đổi của Công ty theo các chỉ tiêu qua các
năm để tìm ra xu hướng phát triển chung.
SV: Nguyễn Thị Mai Hương Lớp: Quản lý kinh tế
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Phương pháp duy vật biện chứng: xuất phát từ sự vận động của thực tiễn, lý
giải những nguyên nhân tồn tại vấn đề để đưa ra những kết luận phù hợp.
Phương pháp thống kê mô tả: là quá trình thu thập về mặt số lượng, chất lượng
của sản phẩm, kết quả doanh thu, lợi nhuận của Công ty trong khoảng thời gian từ
năm 2006 – 2010.
Phương pháp tích phân – tổng hợp: từ việc phân tích thực trạng quản lý nhập
khẩu thức ăn chăn nuôi của Công ty đưa ra những thuận lợi, khó khăn cũng như
các cơ hội và thách thức trong quá trình phát triển, sau đó đưa ra các kiến nghị,
giải pháp thích hợp giúp Công ty thực hiện được tốt hơn.
4. Kết cấu của đề tài
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục các bảng biểu,
danh mục tài liệu tham khảo và mục lục, phụ lục, chuyên đề thực tập tốt nghiệp
được trình bày trong 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về quản lý nhập khẩu của Công ty thương mại.
Chương II: Thực trạng quản lý hoạt động nhập khẩu nguyên liệu sản
xuất thức ăn chăn nuôi của Công ty TNHH Một thành viên Xuất nhập khẩu và
thương mại Haneco.
Chương III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý hoạt động nhập
khẩu nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi của Công ty TNHH Haneco trong
thời gian tới.
Em xin chân thành cảm ơn TS. Đỗ Thị Hải Hà đã trực tiếp hướng dẫn em hoàn
thành chuyên đề chuyên ngành này. Để có những phân tích đánh giá một cách
chính xác và khoa học quản lý hoạt động nhập khẩu của một doanh nghiệp cụ thể

thì trước tiên ta đi tìm hiểu những vấn đề lý luận về quản lý nhập khẩu trong Công
ty thương mại được trình bày phần dưới đây.
SV: Nguyễn Thị Mai Hương Lớp: Quản lý kinh tế
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHẬP KHẨU CỦA
CÔNG TY THƯƠNG MẠI
1.1. Hoạt động nhập khẩu của Công ty thương mại
1.1.1. Khái niệm nhập khẩu
Nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của hoạt động ngoại thương và là
một trong hai hoạt động cơ bản cấu thành nên hoạt động ngoại thương.
Có thể hiểu nhập khẩu được hiểu là hoạt động mua hàng hoá của các doanh
nghiệp trong nước từ nước ngoài nhằm mục tiêu thoả mãn nhu cầu tiêu dùng cũng
như sản xuất trong nước và là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng giữa các quốc gia.
Nhập khẩu có thể bổ sung những hàng hoá mà trong nước không thể sản xuất
được hoặc chi phí sản xuất quá cao hoặc sản xuất nhưng không đáp ứng được nhu
cầu tiêu dùng trong nước. Nhập khẩu làm tăng cường cơ sở vật chất kinh tế, công
nghệ hiện đại, tiên tiến… tăng cường chuyển giao công nghệ, tiết kiệm được chi phí
sản xuất, thời gian lao động, góp phần quan trọng phát triển sản xuất xã hội một
cách có hiệu quả cao. Mặt khác, nhập khẩu tạo ra sự cạnh tranh giữa hàng hoá nội
địa và hàng hoá ngoại nhập từ đó tạo ra động lực thúc đẩy các nhà sản xuất trong
nước phải tối ưu hoá tổ chức sản xuất, tổ chức bộ máy để cạnh tranh được với các
nhà sản xuất nước ngoài.
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động nhập khẩu
Thị trường nhập khẩu đa dạng: Hoạt động nhập khẩu diễn ra ở nhiều thị
trường các quốc gia khác nhau dựa trên so sánh về giá cả, chi phí nhập khẩu các
mặt hàng ở nhiều thị trường khác nhau. Việc lợi thế so sánh ở các quốc gia khác
nhau giúp cho doanh nghiệp có nhiều cơ hội nhập khẩu ở nhiều thị trường khác
nhau. Việc nhập khẩu hàng hoá từ các thị trường nước ngoài cần phải căn cứ vào

yếu tố như lợi ích thương mại, số lượng thị trường tiêu thụ hàng hoá nhập khẩu.
Thông tin và trao đổi ý định trong kinh doanh xuất nhập khẩu: Nhập khẩu
phải có phương pháp thông tin trao đổi ý định với khách hàng một cách nhanh
chóng. Hiện nay các doanh nghiệp thường sử dụng các phương tiện thông tin hiện
đại như điện báo thương nghiệp, telex, điện thoại, fax, đặc biệt trong thời đại
thông tin thì giao dịch qua thư điện tử, thư hệ thống mạng truyền thông hiện đại
là công cụ phục vụ đắc lực cho kinh doanh. Hệ thống trao đổi thông tin có ý nghĩa
SV: Nguyễn Thị Mai Hương Lớp: Quản lý kinh tế
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
vô cùng quan trọng, nó quyết định sống còn tới hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
Khách hàng đầu vào (người cung ứng) và đầu ra của khách hàng (người
tiêu thụ) của doanh nghiệp. Nguồn cung ứng đầu vào của doanh nghiệp rất đa
dạng và phong phú phụ thuộc vào các yếu tố lợi ích thương mại và chi phí cho
việc nhập khẩu, tuy vậy, nguồn cung ứng ổn định phụ thuộc nhiều vào điều kiện
kinh doanh của doanh nghiệp. Đầu ra các mặt hàng nhập khẩu là thị trường trong
nước và thị trường nước ngoài (tái xuất) rất đa dạng, như vậy doanh nghiệp cần
phải lựa chọn các đối tác kinh doanh cho phù hợp để đem lại lợi nhuận cao nhất
cho doanh nghiệp.
Phương tiện và phương pháp trao đổi trao đổi hàng hoá trong kinh doanh
nhập khẩu: Buôn bán với nước ngoài tức là gửi hàng hoá ra nước ngoài hay nhập
hàng hoá từ nước ngoài về theo các phương tiện vận tải như: Vận tải đường sắt, vận
tải đường hàng không, vận tải đường biển, vận tải đường bộ. Với số lượng hàng hoá
lớn thì thường vận chuyển bằng đường biển. Trong quá trình vận chuyển đường dài,
hàng hoá phải được bảo quản thật tốt để đáp ứng yêu cầu và điều kiện khí hậu khác
nhau hoặc nhiều khi phải đổi phương tiện vận chuyển.
Chịu sự chi phối của nhiều hệ thống pháp luật và thủ tục: Việc kinh doanh
nhập khẩu vượt qua biên giới của nhiều quốc gia khác nhau.Các đối tác kinh doanh
cũng có quốc tịch khác nhau do vậy chịu nhiều hệ thống pháp luật quốc gia cũng

như các hệ thống pháp luật chung trên thế giới. Tiến hành hoạt động kinh doanh
nhập khẩu, doanh nghiệp phải có nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh mọi quy định
của pháp luật và thủ tục, tránh vi phạm các điều khoản về các mặt hàng cấm xuất
nhập khẩu.
Phương thức thanh toán: có nhiều phương thức thanh toán trong kinh doanh
nhập khẩu như L/C thư tín dụng, nhờ thu, chuyển tiền… thông qua hệ thống ngân
hàng rộng khắp trên thế giới. Việc sử dụng các phương thức thanh toán là do hai
bên thoả thuận trong hợp đồng. Hiện nay, phương thức L/C được nhiều người tiêu
dùng sử dụng nhiều nhất. Bên cạnh đó, thanh toán quốc tế yêu cầu sử dụng các
ngoại tệ khác nhau. Do vậy, việc thanh toán quốc tế phụ thuộc rất nhiều vào tỷ giá
hối đoái giữa các đồng tiền trong và ngoài nước.
1.1.3. Một số hình thức nhập khẩu
Do kinh doanh quốc tế ngày càng đa dạng và phong phú về mặt các phương
thức hoạt động nên cho phép các doanh nghiệp tìm thấy được lợi ích thông qua việc
SV: Nguyễn Thị Mai Hương Lớp: Quản lý kinh tế
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
lựa chọn phương thức phù hợp với khả năng của mình nhất. Trước sự thay đổi của
môi trường kinh doanh, đến nay có một số phương thức nhập khẩu chủ yếu sau mà
các doanh nghiệp thường lựa chọn.
1.1.3.1. Nhập khẩu uỷ thác
Trong giao dịch quốc tế không phải bất cứ doanh nghiệp nào cũng có thể
tham gia một cách trực tiếp do các yếu tố về nguồn nhân lực nhưng họ lại muốn
được giao dịch. Từ nhu cầu đấy làm hình thành nên phương thức nhập khẩu uỷ thác.
Đây là hình thức nhập khẩu thông qua các trung gian trong đó bên nhờ uỷ thác sẽ
phải trả một khoản tiền cho bên nhận uỷ thác dưới hình thức là phí uỷ thác, còn bên
nhận uỷ thác có trách nhiệm thực hiện đúng như nội dung hợp đồng uỷ thác đã được
ký kết giữa các bên.
Theo phương thức này, doanh nghiệp nhập khẩu (doanh nghiệp nhận uỷ
thác) không phải bỏ vốn, không phải xin hạn ngạch (nếu có), không phải nghiên

cứu thị trường tiêu thụ hàng nhập khẩu mà chỉ đứng ra làm đại diện cho bên uỷ thác
giao dịch, ký kết hợp đồng, làm thủ tục nhập khẩu hàng cũng như thay mặt cho bên
uỷ thác khiếu nại, bồi thường với bên nước ngoài khi có tổn thất. Các doanh nghiệp
được uỷ thác nhập khẩu chỉ được tính kim ngạch nhập khẩu chứ không được tính
doanh số, doanh thu.
1.1.3.2. Nhập khẩu trực tiếp (nhập khẩu tự doanh)
Đây là hình thức nhập khẩu không qua trung gian hàng hoá được mua trực tiếp
từ các doanh nghiệp nước ngoài. Bên xuất khẩu giao hàng trực tiếp cho bên nhập
khẩu. Phần lớn ở thị trường thế giới, nhập khẩu được thực hiện theo hình thức này.
Khi tiến hành nhập khẩu theo hình thức này, doanh nghiệp cần phải tiến
hành nghiên cứu thị trường trong và ngoài nước, tính toán đầy đủ chi phí, đảm
bảo kinh doanh nhập khẩu có lãi, đúng chính sách luật pháp quốc gia cũng như
quốc tế. Do phải đứng ra tiến hành các khâu nên doanh nghiệp phải chịu mọi rủi
ro, tổn thất cũng như lợi nhuận thu được, nên đòi hỏi doanh nghiệp phải thận
trọng trong từng bước.
1.1.3.3. Nhập khẩu liên doanh
Nhập khẩu liên doanh là hoạt động nhập khẩu hàng hoá trên cơ sở liên kết
một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp (trong đó có ít nhất một doanh nghiệp
nhập khẩu trực tiếp) nhằm phối hợp kỹ năng để cùng giao dịch và đề ra các chủ
SV: Nguyễn Thị Mai Hương Lớp: Quản lý kinh tế
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trương, biện pháp có liên quan đến hoạt động nhập khẩu, thúc đẩy hoạt động này
phát triển theo hướng có lợi cho các bên tham gia.
So với hình thức kinh doanh nhập khẩu trực tiếp thì hình thức này giúp cho
doanh nghiệp có thể chia sẻ rủi ro cho các doanh nghiệp liên doanh tận dụng các
nguồn lực cũng như lợi thế của các doanh nghiệp liên doanh.
Các bên trong liên doanh phải ký các hợp đồng liên doanh và các hợp đồng
nhập khẩu. Các bên liên doanh phải có trách nhiệm đối với các hoạt động kinh
doanh nhập khẩu của mình.

1.1.3.4. Nhập khẩu hàng đổi hàng
Nhập khẩu hàng đổi hàng cùng với trao đổi bù trừ là hai nghiệp vụ chủ yếu
của buôn bán đối lưu, là hình thức nhập khẩu gắn liền với xuất khẩu, phương tiện
thanh toán trong hợp đồng này không phải là tiền mà là hàng hoá. Mục đích nhập
khẩu ở đâu không phải chỉ thu lãi từ hoạt động nhập khẩu mà còn nhằm để xuất
khẩu được hàng và thu lợi từ hoạt động xuất khẩu.
Phương thức này mang lại lợi ích lớn hơn cho các bên tham gia hợp đồng,
mặt khác có thể tiến hành cùng lúc cả hoạt động xuất và nhập khẩu. Trong quá trình
buôn bán, ký kết hợp đồng, thanh quyết toán phải thống nhất lấy một đồng tiền làm
vật ngang giá chung. Trong hình thức này, người mua đồng thời cũng là người bán.
Đặc điểm của hàng hoá nhập khẩu và xuất khẩu là phải có giá trị tương đương nhau,
cân bằng về mặt giá cả, mặt hàng, điều kiện giao hàng, tổng giá trị trao đổi hàng
hoá phải bằng nhau.
1.1.3.5. Nhập khẩu tái xuất
Nhập khẩu tái xuất là hoạt động nhập khẩu hàng hoá nhưng không phải để
tiêu thụ ở nội địa mà để xuất sang nước thứ ba nào đó nhằm thu được lợi nhuận.
Những hàng nhập khẩu này không được chế biến ở nước tái xuất. Như vậy, phương
thức nhập khẩu này được thược hiện thông qua ba nước: nước xuất khẩu, nước nhập
khẩu, nước tái xuất.
Hàng hoá không nhất thiết phải qua nước tái xuất mà có thể nhập thẳng về
nước thứ ba (các giao dịch thì vẫn liên quan đến nước tái xuất). Doanh nghiệp tái
xuất còn có thể có được những khoản lợi do được thanh toán tiền hàng song lại có
thể trả chậm cho bên xuất khẩu. Phương thức thanh toán cho hình thức này sử dụng
thư tín dụng giáp lưng.
SV: Nguyễn Thị Mai Hương Lớp: Quản lý kinh tế
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.1.3.6. Nhập khẩu gia công
Nhập khẩu gia công là hình thức nhập khẩu theo đó bên nhập khẩu (là bên
nhận gia công) tiến hành nhập khẩu nguyên vật liệu từ phía người xuất khẩu (bên

đặt gia công) về để tiến hành gia công theo những quy định giữa hai bên. Hàng hoá
nhập khẩu có thể do bên đặt gia công bán đứt cho bên nhận gia công hoặc do bên
đặt gia công chuyển sang cho.
1.2. Quản lý hoạt động nhập khẩu của Công ty thương mại
1.2.1. Khái niệm
Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý hoạt động nhập khẩu, song hầu
như các khái niệm đều hướng tới có một cách hiểu thống nhất về quản lý hoạt động
nhập khẩu. Đó là những tác động liên tục thông qua việc sử dụng hệ thống công cụ
quản lý ( quy hoạch và kế hoạch hoá, luật pháp và các chính sách kinh tế) để kiểm
soát, điều tiết hành vi của các chủ thể tham gia trong hoạt động kinh doanh nhập
khẩu nhằm đưa thị trường nhập khẩu vận động và phát triển theo đúng mục tiêu và
định hướng đã đề ra.
1.2.2. Nội dung của hoạt động nhập khẩu
Nhập khẩu là việc mua hàng hoá của nước ngoài nhằm phát triển đời sống và
sản xuất kinh doanh. Nhưng nó không chỉ là việc mua bán hàng hoá đơn thuần mà
nó còn có những nét riêng và phức tạp hơn. Hoạt động nhập khẩu phải được tổ chức
thực hiện với nhiều nghiệp vụ từ khâu nghiên cứu thị trường nước ngoài, lựa chọn
hàng hoá nhập khẩu, đối tác, tiến hành giao dịch đàm phán, ký kết hợp đồng và tổ
chức thực hiện hợp đồng. Mỗi nghiệp vụ phải được nghiên cứu, thực hiện đầy đủ,
kỹ lưỡng, đặt trong mối quan hệ với nhau, đảm bảo cho hoạt động kinh doanh nhập
khẩu đạt hiệu quả cao nhất.
1.2.2.1. Nghiên cứu thị trường nhập khẩu
Thị trường là tổng thể các mối quan hệ mua bán, trao đổi, tiêu thụ hàng hoá
bằng tiền và nó chiếm một vị trí quan trọng trong hoạt động nhập khẩu. Qua thị
trường, doanh nghiệp sẽ biết được lượng cung và lượng cầu, từ đó có kế hoạch sản
xuất kinh doanh cho thích hợp. Nghiên cứu thị trường nhằm có một hệ thống thông
tin về thị trường đầy đủ, chính xác, kịp thời làm cơ sở cho doanh nghiệp lựa chọn
đối tác thích hợp, tạo điều kiện tốt nhất cho quá trình giao dịch, đàm phán, ký kết
hợp đồng và thực hiện hợp đồng sau này có hiệu quả. Doanh nghiệp chỉ đưa ra
quyết định đúng đắn khi có sự nghiên cứu, tìm hiểu thông tin chính xác và đầy đủ.

SV: Nguyễn Thị Mai Hương Lớp: Quản lý kinh tế
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nghiên cứu thị trường bao gồm có hoạt động nghiên cứu thị trường trong nước và
nghiên cứu thị trường nước ngoài.
Mục đích nghiên cứu thị trường trong nước là xác định được ba vấn đề cơ
bản của hoạt động kinh doanh: Bán cái gì? Bán cho ai? Bán ở đâu và bán với số
lượng bao nhiêu? Để có thể đạt được điều đó, hoạt động nghiên cứu thị trường tiêu
thụ trong nước bao gồm các nội dung sau: nghiên cứu nhu cầu thị trường về hàng
hoá nhập khẩu; nghiên cứu mặt hàng nhập khẩu; nghiên cứu dung lượng thị trường
và các nhân tố ảnh hưởng; nghiên cứu đối thủ cạnh tranh; nghiên cứu sự vận động
của môi trường kinh doanh.
Nghiên cứu thị trường nước ngoài phải xác định được: Nguồn cung ứng hàng
hoá phù hợp? Giá cả nhập khẩu? Đối tác nhập khẩu? Vì vậy, hoạt động nghiên cứu
thị trường nước ngoài bao gồm các nội dung sau: Nghiên cứu nguồn cung cấp hàng
hoá trên thị trường quốc tế; nghiên cứu giá cả trên thị trường thế giới; nghiên cứu tỷ
suất ngoại tệ; nghiên cứu và lựa chọn bạn hàng nhập khẩu.
1.2.2.2. Lập phương án kinh doanh nhập khẩu
Sau khi nghiên cứu thị trường, dựa vào những cơ sở đó để lập phương án
kinh doanh nhập khẩu. Phương án kinh doanh là một kế hoạch hành động cụ thể của
một giao dịch mua bán hàng hoá hoặc dịch vụ, nó là cơ sở cho cán bộ nghiệp vụ
thực hiện nhiệm vụ, chia các mục tiêu lớn thành những mục tiêu cụ thể để lãnh đạo
quản lý và điều hành liên tục, chặt chẽ. Phương án kinh doanh được lập một cách
đầy đủ và chính xác sẽ giúp cho doanh nghiệp có thể lường trước được những rủi ro
và đạt hiệu quả cao trong kinh doanh.
Trình tự lập một phương án kinh doanh nhập khẩu gồm các bước sau:
• Nhận định tổng quát về diễn biến tình hình thị trường
• Đánh giá khả năng của doanh nghiệp
• Xác định thị trường, mặt hàng nhập khẩu và khối lượng mua bán
• Xác định đối tượng giao dịch để tiến hành nhập khẩu

• Xác định thị trường và khách hàng tiêu thụ
• Xác định giá cả mua bán trong nước
• Đề ra các biện pháp thực hiện
SV: Nguyễn Thị Mai Hương Lớp: Quản lý kinh tế
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.2.2.3. Giao dịch, đàm phán và ký kết hợp đồng
i. Giao dịch
Sau giai đoạn nghiên cứu thị trường, lập phương án kinh doanh, bước tiếp theo
doanh nghiệp cần phải tiến hành tiếp cận với đối tác bạn hàng để tiến hành giao
dịch mua bán. Giao dịch là bước đầu tiên tìm hiểu về điều kiện mua và bán giữa hai
bên bao gồm các bước chủ yếu: hỏi giá, chào hàng, đặt hàng, hoàn giá, chấp nhận
và xác nhận. Giao dịch là quá trình để hai bên thăm dò, nắm bắt được những đòi
hỏi, yêu cầu của đối tác, tạo cơ sở cho quá trình tham gia đàm phán thuận lợi.
ii. Đàm phán
Đàm phán là quá trình trao đổi ý kiến của các chủ thể trong một xung đột nhằm
đi tới sự thống nhất cách nhận định, quan niệm, thống nhất cách xử lý những vấn
đề nảy sinh trong quan hệ buôn bán giữa hai hay nhiều bên. Nội dung đàm phán
bao gồm những vấn đề: tên hàng, phẩm chất, số lượng… Đàm phán thường có các
hình thức: Đàm phán qua thư tín, đàm phán qua điện thoại, đàm phán bằng cách
gặp trực tiếp.
iii. Ký kết hợp đồng
Hợp đồng kinh tế ngoại thương là sự thoả thuận của những đương sự có quốc
tịch khác nhau trong đó một bên là bên bán (xuất khẩu) có nhiệm vụ phải chuyển
vào quyền sở hữu của bên mua (nhập khẩu) một khối lượng hàng hoá nhất định, bên
mua có nghĩa vụ trả tiền và nhận hàng.
Đặc điểm của hợp đồng kinh tế ngoại thương là chủ thể của hợp đồng phải là
các pháp nhân có quốc tịch khác nhau; hàng hoá phải được chuyển từ nước này
sang nước khác; đồng tiền thanh toán trong hợp đồng là ngoại tệ hay có nguồn gốc
ngoại lệ đối với một trong hai bên ký hợp đồng. Cũng có nhiều phương thức để ký

kết hợp đồng nhưng hợp đồng chỉ có thể được coi như đã ký kết chỉ trong trường
hợp các bên đã ký vào hợp đồng. các bên tham gia ký kết hợp đồng phải có đủ năng
lực hành vi, năng lực pháp luật và có đủ thẩm quyền. Nội dung của hợp đồng kinh
tế ngoại thương thường bao gồm những điều khoản chính sau: tên hàng; số lượng;
đóng gói bao bì; thời hạn phương tiện và địa điểm giao hàng…
1.2.2.4. Thực hiện hợp đồng nhập khẩu
Sau khi hợp đồng được ký kết nghĩa là quyền lợi và nghĩa vụ của các bên đã
được xác lập và bước tiếp theo là phải thực hiện hợp đồng. Quá trình thực hiện hợp
đồng là rất phức tạp đòi hỏi phải tuân thủ luật lệ quốc gia và quốc tế, đồng thời phải
SV: Nguyễn Thị Mai Hương Lớp: Quản lý kinh tế
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
đảm bảo quyền lợi của quốc gia, uy tín của doanh nghiệp. Giai đoạn này bao gồm
nhiều công việc:
• Xin giấy phép nhập khẩu: đây là một biện pháp để Nhà nước quản lý nhập
khẩu. Giấy phép do Bộ Thương mại cấp, và thủ tục xin giấy phép nhập khẩu khác
nhau đối với hàng hoá thuộc các nhóm hàng khác nhau.
• Mở thư tín dụng L/C: nếu hợp đồng quy định thanh toán bằng phương thức
thư tín dụng thì bên mua phải mở L/C ở ngân hàng. Thời gian mở phụ thuộc vào
thời hạn giao hàng.
• Thuê phương tiện chở hàng: việc thuê phương tiện giao hàng được tiến
hàng dựa vào 3 căn cứ: điều khoản của hợp đồng, đặc điểm của hàng hoá, điều kiện
tải. Tuỳ theo đặc điểm hàng hoá kinh doanh mà DN lựa chọn phương tiện cho phù
hợp.
• Mua bảo hiểm hàng hoá: hàng hoá thường gặp nhiều rủi ro nên cần bảo
hiểm, đặc biệt là hàng hoá chuyên chở bằng đường biển như mặt hàng này. Hợp
đồng bảo hiểm có thể là hợp đồng bảo hiểm bao hoặc hợp đồng bảo hiểm chuyến.
Có nhiều điều kiện bảo hiểm cho DN lựa chọn như loại A, loại B hay C và lựa chọn
căn cứ vào tính chất, đặc điểm hàng hoá, thời tiết…
• Làm thủ tục hải quan: hàng hoá đi ngang qua biên giới quốc gia để nhập

khẩu đều phải làm thủ tục hải quan. Việc làm thủ tục hải quan gồm 3 bước sau: khai
bảo hải quan; xuất trình hàng hoá; thực hiện các quyết định của hải quan.
• Nhận hàng: để nhận hàng từ nước ngoài về, đơn vị nhập khẩu cần phải làm
các công việc sau: ký kết hợp đồng uỷ thác cho cơ quan vận tải về giao hàng; xác
nhận với cơ quan vận tải kế hoạch tiếp nhận hàng hoá nhập khẩu; cung cấp tài liệu
cần thiết cho việc nhận hàng; theo dõi việc giao nhận…
• Làm thủ tục thanh toán: thanh toán là khâu quan trọng trong thương mại
quốc tế, phải thận trọng, tránh xảy ra tổn thất. Có nhiều phương thức thanh toán:
thư tín dụng L/C, phương thức nhờ thu, chuyển tiền… Thực hiện theo phương thức
nào phải quy định rõ trong hợp đồng.
• Khiếu nại và xử lý khiếu nại (nếu có): khi thực hiện hợp đồng, nếu thấy có
thiếu sót thì DN nhập khẩu cần lập hồ sơ khiếu nại trong thời gian cho phép và điều
kiện quy định. Đối tượng khiếu nại có thể là bên bán, người vận tải, Công ty bảo
hiểm… Nếu không tự giải quyết được thì làm đơn kiện gửi trọng tài kinh tế hoặc
toà án kinh tế.
SV: Nguyễn Thị Mai Hương Lớp: Quản lý kinh tế
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
• Tổ chức tiêu thụ hàng hoá nhập khẩu: sau khi nhập hàng về, DN giao hàng
cho đơn vị đặt hàng hoặc tổ chức tiêu thụ tốt trên thị trường nội địa. Để tiêu thụ
hàng hoá có kết quả cao, DN cần phải: nghiên cứu thị trường và tâm lý khách hàng;
xác định kênh phân phối; tiến hàng quảng cáo và xúc tiến bán hàng; xác định mức
giá cụ thể.
1.2.2.5. Đánh giá hiệu quả hoạt động nhập khẩu
Đánh giá hiệu quả của hoạt động nhập khẩu là bước cuối cùng và quan trọng,
thông qua đánh giá hiệu quả DN có thể tìm ra được những ưu, nhược điểm trong
quá trình kinh doanh nhập khẩu và những nguyên nhân của nó. Từ đó có thể phát
huy những thế mạnh và hạn chế nhược điểm. Việc đánh giá hiệu quả kinh doanh
nhập khẩu hàng hoá của DN được thực hiện dựa vào một số chỉ tiêu sau: doanh thu
nhập khẩu, chi phí nhập khẩu hàng hoá, chi phí tiêu thụ hàng nhập khẩu, tỷ suất

ngoại tệ nhập khẩu, tỷ suất doanh thu …
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đên quản lý hoạt động nhập khẩu của Công ty
thương mại
1.3.1. Các nhân tố khách quan
1.3.1.1. Chế độ chính sách luật pháp trong nước và quốc tế
Đây là yếu tố mà các DN XNK buộc phải nắm chắc và tuân theo. Hoạt động
nhập khẩu được tiến hành giữa các chủ thể ở các quốc gia khác nhau, bởi vậy nó
chịu sự tác động của chính sách, chế độ luật pháp ở các quốc gia đó, đồng thời hoạt
động nhập khẩu cũng phải tuân theo những quy định, luật pháp quốc tế chung. Luật
pháp quốc tế buộc các nước vì lợi ích chung phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm và
nghĩa vụ của mình trong hoạt động nhập khẩu, do đó tạo nên sự tin tưởng cũng như
hiệu quả cao hơn.
1.3.1.2. Môi trường chính trị trong nước và quốc tế
Trong hoạt động kinh doanh XNK nói chung và hoạt động nhập khẩu nói
riêng là hoạt động giao dịch buôn bán trao đổi thương mại mang tính chất quốc tế
nên nó chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố chính trị, luật pháp của mỗi quốc gia
cũng như quốc tế. Các công ty kinh doanh nhập khẩu đòi hỏi phải tuân thủ các quy
định của các quốc gia có liên quan, các tập quán và luật pháp quốc tế. Môi trường
chính trị ổn định, luật pháp chặt chẽ, không thay đổi thường xuyên có ảnh hưởng
lớn đến hoạt động của nền kinh tế nói chung và hoạt động XNK nói riêng. Môi
trường ổn định thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế giữa các quốc gia với nhau
SV: Nguyễn Thị Mai Hương Lớp: Quản lý kinh tế
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
và giữa các chủ thể kinh tế ở các quốc gia với nhau. Ngược lại, khi môi trường
chính trị luật pháp không ổn định nó sẽ hạn chế rất lớn tới hoạt động thương mại
quốc tế của quốc gia nói chung và hoạt động XNK của các DN nói riêng.
1.3.1.3. Tỷ giá hối đoái và tỷ suất ngoại tệ hàng nhập khẩu
Tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền Việt Nam với các đồng ngoại tệ có ảnh hưởng
rất lớn đến hoạt động XNK nói chung và hoạt động nhập khẩu nói riêng, nó ảnh

hưởng đến việc lựa chọn đồng tiền thanh toán. Tỷ giá hối đoái nhiều khi không cố
định, nó sẽ thay đổi lên xuống. Chính vì vậy các DN cần có sự nghiên cứu và dự
đoán xu hướng biến động của tỷ giá hối đoái để đưa ra các quyết định phù hợp cho
việc NK cũng như lựa chọn bạn hàng, lựa chọn đồng tiền tính toán, lựa chọn đồng
tiền tính toán…
Cũng như vậy, tỷ suất ngoại tệ có thể làm thay đổi chuyển hướng giữa các
mặt hàng, giữa các phương án kinh doanh của DN kinh doanh XNK.
1.3.1.4. Sự biến động của thị trường trong và ngoài nước
Tình hình và sự biến động của thị trường trong và ngoài nước như sự thay
đổi của giá cả, khả năng cung cấp hàng hoá, khả năng tiêu thụ và xu hướng biến
động của dung lượng thị trường… đều có ảnh hưởng đến hoạt động NK.
Sự thay đổi lên xuống của giá cả sẽ làm ảnh hưởng tới khả năng tiêu thụ
hàng NK. Khi giá cả hàng NK tăng lên thì nhu cầu tiêu thụ hàng NK sẽ có xu
hướng giảm xuống, người tiêu dùng sẽ chuyển hướng sang tiêu dùng các loại hàng
hoá cùng loại hay tương tự trong nước, khi đó nó sẽ ảnh hưởng đến hoạt động NK
hàng hoá của DN, chỉ trừ những hàng hoá NK mà thị trường trong nước không có
khả năng cung cấp thì khi đó giá cả sẽ biến động theo thị trường. Sự biến động của
nguồn cung và dung lượng thị trường có ảnh hưởng đến sự biến động của giá cả
hàng NK, từ đó ảnh hưởng đến khả năng tiêu dùng và hoạt động NK của Công ty.
1.3.1.5. Nền sản xuất và thương mại trong nước
Sự phát triển của nền sản xuất trong nước, của DN sản xuất trong nước tạo ra
sự cạnh tranh mạnh mẽ với sản phẩm NK, tạo ra sản phẩm thay thế hàng NK, do
vậy làm giảm nhu cầu hàng NK và nếu như sản xuất kém phát triển, không thể sản
xuất được những mặt hàng đòi hỏi kỹ thuật sản xuất cao thì nhu cầu về hàng NK
tăng lên, do đó ảnh hưởng đến hoạt động NK. Ngược lại, sự phát triển của nền sản
xuất ở nước ngoài làm tăng khả năng của sản phẩm NK, tạo ra sản phẩm mới phù
hợp với nhu cầu do vậy thúc đẩy hoạt động NK. Tuy nhiên không phải lúc nào sản
SV: Nguyễn Thị Mai Hương Lớp: Quản lý kinh tế
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

xuất ở trong nước phát triển thì hoạt động NK bị thu hẹp mà để tránh sự độc quyền.
Trái lại, để bảo vệ sản xuất trong nước khi nền sản xuất nước ngoài phát triển thì
hoạt động NK có thể bị thu hẹp và kiểm soát chặt chẽ. Cũng như sản xuất, sự phát
triển của hoạt động thương mại trong và ngoài nước của các DN thương mại quyết
định đến sự chu chuyển, lưu thông hàng hoá trong nền kinh tế hay giữa các nền
kinh tế của các nước, bởi vậy tạo thuận lợi cho đẩy nhanh công tác NK. Mặt khác,
do chủ thể của hoạt động NK chính là các DN kinh doanh XNK nên sự phát triển
của các DN này đồng nghĩa với sự thực hiện một cách có hiệu quả các hoạt động.
Nếu DN không được tự do phát triển, bị Nhà nước can thiệp nhiều nên không thể
phát huy được tạo ra sự thụt hậu.
1.3.1.6. Giao thông vận tải và thông tin liên lạc
Việc thực hiện hoạt động NK không thể tách rời với công việc vận chuyển và
thông tin liên lạc, vì nhờ có thông tin liên lạc hoạt động mà các nước cách xa nhau
vẫn thông tin được với nhau để thoả thuận, tiến hành hợp đồng một cách kịp thời.
Do đó, việc nghiên cứu áp dụng những phương tiện thông tin liên lạc vào giao
thông vận tải là một nhân tố quyết định rất lớn đến sự phát triển của hoạt động NK.
Thực tế cho thấy rằng sự phát triển của hệ thống thông tin như Fax, Telex,
DHL, VMS… đã đơn giản hoá các khâu công việc của hoạt động NK rất nhiều,
giảm bớt hàng loạt chi phí, nhanh gọn kịp thời, chính xác. Việc hiện đại hoá các
phương tiện vận chuyển, bốc dỡ, bảo quản… cũng đã góp phần làm cho quá trình
nhập khẩu được nhanh chóng an toàn và hiệu quả.
1.3.1.7. Hệ thống tài chính – ngân hàng
Hiện nay, hệ thống ngân hàng – tài chính đã phát triển hết sức lớn mạnh và
hiện đại, có liên quan chặt chẽ tới các hoạt động của DN trong nền kinh tế dù lớn hay
nhỏ ở bất ký thành phần kinh tế nào bởi vai trò quan trọng của nó trong việc quản lý,
cung cấp vốn, thanh toán một cách thuận tiện, nhanh chóng, chính xác. Hoạt động
NK ngày nay sẽ không được thực hiện nếu không có hệ thống ngân hàng. Dựa trên
mối quan hệ, uy tín, nghiệp vụ của mình, các ngân hàng đã đảm bảo được lợi ích của
các DN tham gia hoạt động NK. Đồng thời với lòng tin của các ngân hàng, các DN
kinh doanh XNK cũng có thể được ngân hàng đứng ra bảo lãnh hay cho vay với khối

lượng lớn, kịp thời tạo điều kiện cho các DN nắm bắt được cơ hội.
SV: Nguyễn Thị Mai Hương Lớp: Quản lý kinh tế
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.3.1.8. Ảnh hưởng của cơ sở hạ tầng
Hoạt động nhập khẩu diễn ra có thuận lợi hay không phụ thuộc nhiều vào
điều kiện cơ sở hạ tầng của một quốc gia. Hệ thống cơ sở hạ tầng gồm có: hệ thống
giao thông vận tải, sân bay, bến cảng, hệ thống thông tin liên lạc và hệ thống tài
chính – ngân hàng, Một nước có cơ sở hạ tầng phát triển là cơ sở để phát triển các
hoạt động nhập khẩu bởi cùng với sự phát triển của cơ sở hạ tầng là việc giảm thiểu
các chi phí trong hoạt động kinh doanh của DN, tạo điều kiện để các DN nâng cao
được hiệu quả hoạt động của mình.
1.3.2. Các nhân tố chủ quan
1.3.2.1. Cơ cấu bộ máy quản lý hay tổ chức hành chính
Hoạt động nhập khẩu đòi hỏi cần phải có một bộ máy lãnh đạo hoàn chỉnh,
có tổ chức phân cấp quản lý, phân công lao động trong doanh nghiệp sao cho phù
hợp với đặc trưng của một DN kinh doanh XNK, bên cạnh đó phòng ban cũng phải
bố trí cho hợp lý tránh chồng chéo. Nếu bộ máy quản lý cồng kềnh không cần thiết
sẽ làm cho việc kinh doanh của DN không có hiệu quả và ngược lại.
1.3.2.2. Nhân tố con người
Lao động là nhân tố quan trọng nhất tác động đến hiệu quả kinh doanh của
DN. Nó là yếu tố giữ vai trò trung tâm, trực tiếp điều hành hoạt động kinh doanh và
sẽ quyết định đến sự tồn tại và thành công của DN. Trong hoạt động kinh doanh
XNK nói chung và hoạt động nhập khẩu nói riêng, tất cả các công đoạn từ khâu
nghiên cứu tìm hiểu thị trường đến khâu ký kết và thực hiện hợp đồng đòi hỏi cán
bộ NK cần phải nắm vững các chuyên môn nghiệp vụ, năng động, đặc biệt khi kinh
doanh với đối tác nước ngoài. Nếu nguồn cán bộ trong DN có trình độ thì sẽ tiết
kiệm được nhiều thời gian giao dịch, tổ chức thực hiện hợp đồng cũng như sắp xếp
tổ chức mạng lưới tiêu thụ một cách khoa học, tránh ứ đọng vốn và ngược lại.
1.3.2.3. Nhân tố vốn và công nghệ

Vốn và công nghệ có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của DN
nói chung cũng như hoạt động nhập khẩu nói riêng. Nó quyết định đến lĩnh vực
kinh doanh và quy mô hoạt động kinh doanh của DN. Vốn và công nghệ có mối
quan hệ chặt chẽ. Nếu doanh nghiệp có nguồn lực tài chính lớn đặc biệt là vốn lưu
động, thì sẽ mua được công nghệ hiện đại nâng cao năng suất và hiệu quả trong
hoạt động sản xuất kinh doanh của DN và ngược lại.
SV: Nguyễn Thị Mai Hương Lớp: Quản lý kinh tế
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU NGUYÊN LIỆU
SẢN XUẤT THỨC ĂN CHĂN NUÔI TẠI CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH
VIÊN XUẤT NHẬP KHẨU VÀ THƯƠNG MẠI HANECO
2.1. Khái quát về Công ty TNHH MTV Xuất nhập khẩu và Thương mại
Haneco
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Công ty Haneco thành lập vào tháng 12 năm 1989 trực thuộc Sở Kinh tế đối
ngoại Hà Nội. Công ty lúc bắt đầu thành lập lấy tên là Công ty Hợp tác kinh tế với
nước ngoài bắt đầu đi vào hoạt động từ ngày 20/03/1990.
Năm 1993, theo Nghị định 388 – HĐBT ngày 20/11/1991 của Hội đồng Bộ
trưởng và Thông tư của Chính phủ, Công ty Haneco được thành lập lại và đổi tên
thành Công ty Dịch vụ Xuất nhập khẩu và thương mại Haneco. Công ty Haneco là
loại hình doanh nghiệp Nhà nước thuộc sở hữu của Nhà nước, hoạt động hạch toán
kinh tế độc lập.
Năm 2010, theo Nghị định 25/2010/NĐ – CP ngày 19/03/2010 của Chính
phủ và các văn bản hướng dẫn thi hành về chuyển đổi công ty Nhà nước thành
Công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu, UBND Thành phố Hà Nội đã
ra quyết định số 2297/ QĐ – UBND ngày 24/05/2010 về việc chuyển đổi Công ty
Dịch vụ XNK và Thương mại Haneco thành Công ty TNHH MTV Xuất nhập khẩu
và thương mại Haneco.

Ngay từ những ngày đầu mới thành lập, Công ty chưa có vốn nên phải tập
trung vào các hoạt động dịch vụ như: dịch vụ cho các Công ty nước ngoài thuê văn
phòng tại Việt Nam bao gồm thuê đất, thuê nhà, thuê lao động … Bằng các hoạt
động dịch vụ đó và tạo được nguồn vốn ban đầu Công ty tiến hành kinh doanh
XNK. Có thể khái quát các giai đoạn phát triển của Công ty như sau:
+ Từ năm 1991 – 1997: Công ty mới bắt đầu đi vào hoạt động nên chỉ tiến hành các
hoạt động dịch vụ như: dịch vụ du lịch, dịch vụ môi giới lao động… Giai đoạn này
mang tính chất thăm dò.
+ Từ năm 1997 – 2006: Đây là giai đoạn phát triển mạnh các hoạt động dịch vụ môi
giới( nhà cửa, lao động…), đông thời đẩy mạnh công tác XNK dựa trên số vốn tích
luỹ được từ hoạt động dịch vụ.
SV: Nguyễn Thị Mai Hương Lớp: Quản lý kinh tế
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+ Từ năm 2007 đến nay: Là thời kỳ phát triển mạnh mẽ với doanh thu tăng nhanh.
Kinh doanh môi giới lao động, nhà cửa và hoạt động XNK đi dần vào ổn định đưa
lại mức lợi nhuận ngày một cao cho Công ty.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức, chức năng và nhiệm vụ của Công ty
2.1.2.1. Cơ cấu tổ chức Công ty
Công ty Haneco hoạt động theo Luật DN Nhà nước, chịu sự quản lý của Sở
Kinh tế đối ngoại (nay thuộc Sở Thương mại Hà Nội) và UBND Thành phố Hà Nội.
Công ty có 4 phòng ban với các chức năng và các nhiệm vụ khác nhau.
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cơ cấu bộ máy
Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban:
- Chủ tịch – Tổng giám đốc: Là người đứng đầu Công ty, chịu trách nhiệm
quản lý và điều hành cả Công ty do UBND Thành phố Hà Nội trực tiếp uỷ nhiệm và
bãi nhiệm.
- Các phó Tổng giám đốc: Là người giúp cho Giám đốc và cũng tham gia quản
lý điều hành hoạt động kinh doanh. Phó Tổng giám đốc cũng do UBND Thành phố
Hà Nội uỷ nhiệm và bãi nhiệm.

- Kế toán trưởng: Là người chịu trách nhiệm về tình hình tài chính của Công
ty, do UBND Hà Nội uỷ nhiệm và bãi nhiệm.
- Các phòng ban trong Công ty:
• Phòng xuất nhập khẩu:
SV: Nguyễn Thị Mai Hương Lớp: Quản lý kinh tế
Phòng tài
chính – kế
toán
Phòng kinh
doanh –
dịch vụ
Phòng tổ
chức hành
chính
CÁC PHÓ TỔNG GIÁM
ĐỐC
16
CHỦ TỊCH – TỔNG GIÁM
ĐỐC
Phòng
kinh
doanh
XNK
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+ Tham mưu cho ban Giám đốc, đề xuất với Nhà nước về các chính sách XNK
nhằm tạo điều kiện cho Công ty hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn. Tham mưu cho
ban Giám đốc lên kế hoạch về XNK, kết quả doanh thu và lợi nhuận từng quý, năm
hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.
+ Thực hiện và chấp hành tốt các quy định, nghị định, văn bản của Bộ thương
mại, Tổng cục Hải quan, Tổng cục thuế và các ngành của Thành phố về chế độ

chính sách trong XNK.
+ Thực hiện và chấp hành tốt chế độ về báo cáo, nộp các loại thuế hiện hành
đúng kỳ hạn, đúng biểu mẫu quy định.
+ Hàng tháng, hàng quý, hàng năm kinh doanh của Công ty thì phòng có nhiệm
vụ các báo cáo theo mẫu quy định của Nhà nước.
+ Phòng chịu trách nhiệm quản lý và bảo quản các sản phẩm, mặt hàng xuất và
nhập khẩu có chất lượng, tránh hao hụt, hư hỏng, đảm bảo kho tàng và trang bị tốt
phục vụ cho công việc kinh doanh của Công ty.
+ Các loại hợp đồng xuất nhập khẩu, công văn, văn bản, biểu mẫu của Phòng
trước khi Chủ tịch – Tổng giám đốc hoặc các phó tổng giám đốc được uỷ quyền ký,
nhất thiết lãnh đạo phòng phải kiểm tra, ký nháy vào nội dung đó và cùng chịu trách
nhiệm theo phân cấp và quyền hạn của mình.
+ Phối hợp với Phòng Tài chính – Kế toán lên kế hoạch, phương án kinh doanh
xuất nhập khẩu, khảo sát thị trường, tính toán phân tích kết quả về tài chính và các
hoạt động kinh doanh trong xuất nhập khẩu các mặt hàng của Công ty sao cho có
hiệu quả để trình ban Giám đốc quyết định chỉ đạo thực hiện.
• Phòng Tài chính – kế toán:
Chịu trách nhiệm quản lý tài chính của Công ty, tổ chức hạch toán theo các chế
độ Nhà nước quy định, tham mưu với ban Giám đốc lập kế hoạch, sử dụng có hiệu
quả các nguồn vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.
• Phòng Tổ chức – hành chính:
Quản lý các vấn đề về nhân sự của Công ty, theo dõi việc thực hiện nội quy của
cán bộ công nhân viên trong Công ty.
• Phòng Kinh doanh – dịch vụ:
SV: Nguyễn Thị Mai Hương Lớp: Quản lý kinh tế
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chịu trách nhiệm kinh doanh dịch vụ đối ngoại của Công ty trong lĩnh vực cung
ứng lao động và các dịch vụ liên quan đến lao động đặc biệt khách hàng là các văn
phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam.

2.1.2.2. Chức năng nhiệm vụ của Công ty.
Trong công cuộc CNH – HĐH của nước ta hiện nay thì ngoại thương có một vai
trò vô cùng quan trọng. Theo chủ trương của Thành uỷ, UBND Thành phố Hà Nội
cần thiết phải cho ra đời một Công ty phục vụ cho nhu cầu đổi mới về ngoại thương
nên Công ty Haneco được thành lập để đáp ứng yêu cầu cấp bách này.
Ngành nghề kinh doanh và hoạt động chính của Công ty bao gồm:
- Uỷ thác XK sản phẩm dệt, may mặc, da giấy cao su; Uỷ thác NK nguyên vật
liệu vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng thiết yếu được
Nhà nước cho phép, dịch vụ xuất nhập khẩu và thương mại cho các đơn vị sản xuất
kinh doanh trong nước.
- Tổ chức dịch vụ tư vấn đầu tư với nước ngoài.
- Tổ chức kinh doanh các dịch vụ du lịch, vận chuyển, khách sạn, ăn nghỉ, vui
chơi giải trí cho khách du lịch trong và ngoài nước.
- Kinh doanh nhà đất để cho thuê văn phòng đại diện nước ngoài tại Hà Nội và
dịch vụ cho thuê lao động cho các tổ chức nước ngoài trên địa bàn Hà Nội.
- XK hàng thủ công mỹ nghệ, NK máy móc thiết bị văn phòng, phương tiện
vận tải.
- Máy móc thiết bị vật tư NVL phục vụ cho các ngành sản xuất.
- Thu mua, chế biến nông lâm thuỷ hải sản XK.
- NK các mặt hàng thiết bị y tế, thiết bị điện, điện tử, tin học, thiết bị đo lường
kiểm tra điện tử
- Tổng đại lý bảo hiểm.
- Kinh doanh XNK phân bón và các hoá chất.
2.1.3. Một số kết quả kinh doanh chủ yếu của Công ty trong những năm gần đây.
Nền kinh tế đổi mới theo hướng kinh tế thị trường thực sự làm thay đổi các
DN trước cung cách làm ăn cũ. Nhiều DN lớn bị phá sản. Trước bối cảnh đó, Công
ty Haneco cũng như nhiều DN nhà nước khác đã phải đối đầu với rất nhiều khó
khăn và thử thách, với những nỗ lực của toàn cán bộ, công nhân viên, Công ty đã
từng bước vượt qua những khó khăn ban đầu, từng bước khẳng định vị trí của mình
trên thị trường. Cho đến nay, Công ty đã đạt được những bước đi nhất định cả về

chất và lượng, điều đó thể hiện kết quả kinh doanh mà Công ty đạt được trong thời
gian gần đây:
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty Haneco
SV: Nguyễn Thị Mai Hương Lớp: Quản lý kinh tế
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
năm 2007 – 2010.
Đơn vị :Triệu VNĐ
Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Doanh thu bán hàng
và cung cấp dịch vụ
178.082,9 345.895,8 627.845,4 732.769,8
Các khoản giảm trừ
doanh thu
873,6
DT thuần bán hàng
và cung cấp dịch vụ
178.082,9 345.895,8 626.971,8 732.769,8
Giá vốn hàng bán 172.082,9 333.338,3 605.922,5 701.886,2
Lợi nhuận gộp 5.602,8 12.575,4 21.049,3 30.883,5
DT tài chính 2.231,7 15.945,2 5.874,5 10.093,7
Chi phí tài chính 3.431,8 20.745,2 17.808,2 23.796,7
Chi phí bán hàng 1.451,2 3.207,6 5.259,2 4.291,1
Chi phí quản lý DN 2.405,8 4.767,8 6.202,6 6.719,4
Lợi nhuận từ hoạt
động sản xuất kinh
doanh
545.6 (218,0) 1.872,7 1.950,6
Thu nhập khác 118,9 952,6 58,7 154,6
Chi phí khác 10,9 11,5 1,1 41,0

Lợi nhuận khác 108,0 941,0 57,6 113,6
Tổng lợi nhuận
trước thuế
653,7 723,0 1.390,3 2.604,2
Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2007 – 2010. Phòng tài chính – kế toán Công ty
Nhận xét: Nhìn vào bảng trên ta thấy trong vòng 4 năm qua hoạt động sản
xuất kinh doanh của Công ty diễn ra theo chiều hướng thuận lợi. Tuy nhiên nước ta
cũng bị chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 và tất nhiên là
Công ty Haneco cũng không thể nằm ngoài vùng ảnh hưởng. Năm 2008, doanh thu
tăng ít mà chi phí cho các hoạt động lại tăng nhiều. Hoạt động chính của Công ty
chủ yếu là nhập nguyên liệu từ nước ngoài về để phân phối cho các đơn vị khác để
sản xuất và kinh doanh. Do đó khi bị ảnh hưởng, tỷ giá VNĐ/ USD ngày càng cao
SV: Nguyễn Thị Mai Hương Lớp: Quản lý kinh tế
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
làm cho hoạt động nhập khẩu của Công ty trở nên khó khăn. Đồng thời, hàng xuất
khẩu khó khăn về giá cả trong nước và giá cả xuất khẩu. Nhưng nhìn chung hoạt
động kinh doanh của Công ty là có lãi. Sang đến năm 2009 và 2010, tình hình hoạt
động của Công ty đã có bước tiến triển tốt.
Do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau nên lợi nhuận từ
hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty năm 2008 bị giảm đáng kể nhưng các
năm khác vẫn diễn ra theo chiều hướng thuận lợi. Doanh thu của Công ty tuy có bị
ảnh hưởng bởi nền kinh tế nhưng vẫn không giảm sút mà ngược lại, vẫn tăng trưởng
ổn định hơn và dần đi vào quỹ đạo. Điều đó được thể hiện dưới biểu đồ dưới đây
Biểu đồ 2.1: Doanh thu Công ty năm 2007 – 2010
Nguồn: Phòng Tài chính – kế toán của Công ty.
Nhận xét:
Sở dĩ doanh thu của Công ty tăng nhanh như vậy trong thời gian vừa qua do
một số nguyên nhân sau:
- Năm 2009 doanh thu tăng trưởng nhiều hơn các năm còn lại là do Công ty

thực hiện lượng xuất khẩu lớn trong khi tỷ giá tăng.
- Công ty đã tích cực chủ động trong việc tổ chức đầu tư máy móc, thiết bị
hiện đại, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm được cải thiện, hạ giá
thành sản phẩm do đó hạ giá bán trên thị trường.
- Công ty đã tích cực tìm kiếm và mở rộng thị trường thông qua việc mở rộng
mạng lưới tiêu thụ. Điều này giúp cho Công ty nắm bắt kịp thời sự biến động của
SV: Nguyễn Thị Mai Hương Lớp: Quản lý kinh tế
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thị trường để từ đó có những đối sách thích hợp cho hoạt động sản xuất kinh doanh
của mình.
Lợi nhuận là tiêu thức đánh giá chính xác kết quả kinh doanh của một DN.
Lợi nhuận càng cao thì doanh nghiệp càng có điều kiện tái đầu tư, mở rộng sản
xuất. Sự tăng trưởng của lợi nhuận đã cho ta thấy được khả năng kinh doanh của
Công ty. Ngoài nguyên nhân khủng hoảng kinh tế năm 2008 làm cho lợi nhuận
suy giảm thì nguyên nhân nữa là do gần đây. Công ty chú trọng vào công tác mở
rộng thị trường và cạnh tranh với các đối thủ trong và ngoài mức chứ không
phải lợi nhuận.
Đó là toàn bộ quá trình kinh doanh của Công ty năm 2007 – 2010, nó cho ta
thấy được một khả năng tiềm ẩn và nhất định của Công ty trong công cuộc CNH –
HĐH. Từ đó, tìm ra được hướng đi đúng đắn nhằm đưa thành tích của Công ty cao
hơn nữa.
Về tình hình xuất nhập khẩu của Công ty.
Kinh doanh xuất nhập khẩu là một trong những lĩnh vực quan trọng của
Công ty. Trong mấy năm trở lại đây, Công ty đã chú trọng hơn hoạt động kinh
doanh xuất nhập khẩu, chủ yếu là nhập khẩu những mặt hàng thiết yếu để phục vụ
sản xuất kinh doanh và tiêu dùng trong thị trường nội địa. Đặc biệt từ khi Công ty
chuyển sang chế độ Công ty TNHH quy mô hoạt động kinh doanh của Công ty
được mở rộng thêm và hoạt động xuất nhập khẩu của Công ty cũng được chú trọng
hơn, quy mô nhập khẩu lớn hơn.

Tình hình kinh doanh xuất nhập khẩu của Công ty được thể hiện trong bảng
dưới đây:
SV: Nguyễn Thị Mai Hương Lớp: Quản lý kinh tế
21

×