Tải bản đầy đủ (.pdf) (108 trang)

Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hành vi giết người trong Luật Hình sự Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (992.73 KB, 108 trang )


4
MỤC LỤC



Trang

Trang phụ bìa


Lời cam đoan


Mục lục


Danh mục các bảng


Danh mục các biểu đồ


MỞ ĐẦU
1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÀNH VI GIẾT NGƯỜI
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
6
1.1.
Khái niệm hành vi giết người


6
1.2.
Phân loại hành vi giết người
11
1.2.1.
Căn cứ phân loại
11
1.2.2.
Các loại hành vi giết người
11
1.2.1.1.
Căn cứ vào khách thể của hành vi giết người
11
1.2.1.2.
Căn cứ vào đối tượng tác động của hành vi giết người
12
1.2.1.3.
Căn cứ vào chủ thể thực hiện hành vi giết người
12
1.2.1.4.
Căn cứ vào mức độ nguy hại của hành vi giết người
13
1.2.1.5.
Căn cứ vào mục đích, động cơ của hành vi giết người
15
1.3.
Hành vi giết người trong các trường hợp phạm tội đặc biệt
15
1.3.1.
Thời điểm hoàn thành và việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc

phạm tội của hành vi giết người trong các tội phạm giết người
15
1.3.1.1.
Thời điểm hoàn thành của hành vi giết người trong các tội
phạm liên quan đến giết người
15
1.3.1.2.
Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của hành vi giết
người trong các tội phạm giết người
20

5
1.3.2.
Vấn đề đồng phạm trong các tội phạm có hành vi giết người
21
1.3.2.1.
Nhận định chung
21
1.3.2.2.
Các tư cách đồng phạm trong các tội phạm có hành vi giết người
23
1.3.3.
Hành vi giết người trong các dạng đa tội phạm và tội ghép
25
1.4.
Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm có hành vi giết người
28
1.5.
Phân biệt hành vi giết người với những hành vi phạm tội
khác có liên quan đến tính mạng con người

31

Chương 2: CÁC TỘI PHẠM CÓ HÀNH VI GIẾT NGƯỜI TRONG
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
45
2.1.
Quy định của pháp luật Việt Nam về các tội phạm có hành vi
giết người từ trước khi có Bộ luật hình sự 1999
45
2.1.1.
Hành vi giết người trong luật hình sự Việt Nam trước ngày
thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
45
2.1.2.
Hành vi giết người trong luật hình sự Việt Nam từ năm 1945
đến trước khi Bộ luật hình sự 1985 có hiệu lực
47
2.1.3.
Hành vi giết người trong luật hình sự Việt Nam khi bắt đầu
chính thức có Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi Bộ
luật hình sự 1999 ra đời
50
2.1.4.
Hành vi giết người được quy định trong Bộ luật hình sự 1999
51
2.2.
Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của các tội phạm được cấu
thành từ hành vi giết người trong luật hình sự Việt Nam
hiện nay
53

2.2.1.
Hành vi giết người cấu thành tội khủng bố (Điều 84 Bộ luật
hình sự 1999)
55
2.2.2.
Hành vi giết người cấu thành tội giết người (Điều 93 Bộ luật
hình sự 1999)
57
2.2.3.
Hành vi giết người cấu thành tội giết con mới đẻ (Điều 94
Bộ luật hình sự 1999)
60

6
2.2.4.
Hành vi giết người cấu thành Tội giết người trong trạng thái
tinh thần bị kích động mạnh (Điều 95 Bộ luật hình sự 1999)
61
2.2.5.
Hành vi giết người cấu thành tội giết người do vượt quá giới
hạn phòng vệ chính đáng (Điều 96 Bộ luật hình sự 1999)
64

Chương 3: MỘT SỐ THỰC TRẠNG VÀ VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI PHẠM LIÊN QUAN
ĐẾN HÀNH VI GIẾT NGƯỜI
68
3.1.
Một số thực trạng đối với tội phạm liên quan đến hành vi
giết người

68
3.1.1.
Số vụ phạm tội liên quan đến hành vi giết người
68
3.1.2.
Cơ cấu và tính chất một số tội phạm liên quan đến hành vi giết
người
69
3.1.3.
Động thái của một số tội phạm liên quan đến hành vi giết
người
74
3.2.
Hoàn thiện pháp luật hình sự đối với một số tội phạm liên
quan đến hành vi giết người
81
3.2.1.
Cơ sở và những yêu cầu trong việc hoàn thiện pháp luật
hình sự đối với một số tội phạm liên quan đến hành vi giết
người
81
3.2.1.1.
Cơ sở trong việc hoàn thiện pháp luật hình sự đối với tội
phạm liên quan đến hành vi giết người
81
3.2.1.2.
Những yêu cầu trong việc hoàn thiện pháp luật hình sự đối
với một số tội phạm liên quan đến hành vi giết người
85
3.2.2.

Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự đối với một
số tội phạm liên quan đến hành vi giết người
89

KẾT LUẬN
101

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
103


7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
3.1
Thống kê xét xử sơ thẩm hình sự về tội phạm có hành vi
giết người ở Việt Nam giai đoạn từ 2006 - 2010
66
3.2
Thống kê số vụ về các tội xâm phạm tính mạng con
người đã được xét xử sơ thẩm ở Việt Nam trong giai
đoạn 2001 - 2010
68
3.3
Thống kê các vụ phạm tội liên quan đến hành vi giết

người và số vụ phạm tội nói chung giai đoạn từ
1/10/2005 đến 30/9/ 2010
69
3.4
Thống kê các vụ phạm tội liên quan đến hành vi giết người
và số vụ phạm tội nói chung giai đoạn từ 2001 đến 2005
70
3.5
Thống kê số bị cáo phạm tội liên quan đến hành vi giết
người và số bị cáo phạm tội nói chung giai đoạn từ
1/10/2005 đến 30/9/ 2010
70
3.6
Thống kê số bị cáo phạm các tội xâm phạm tính mạng đã
được xét xử tại Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010
71
3.7
Thống kê xét xử sơ thẩm hình sự về tội phạm liên quan
đến hành vi giết người giai đoạn 2006 - 2010
73
3.8
Thống kê xét xử sơ thẩm hình sự về tội phạm nói chung ở
Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010
74



8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ


Số hiệu
biểu đồ
Tên biểu đồ
Trang
3.1
Cơ cấu tội phạm liên quan đến hành vi giết người đã
được xét xử tại Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010
69
3.2
Cơ cấu tội phạm liên quan đến hành vi giết người đã
được xét xử tại Việt Nam giai đoạn 2006- 2010
69
3.3
Cơ cấu tội phạm liên quan đến hành vi giết người đã
được xét xử tại Việt Nam giai đoạn 2001 - 2005
70
3.4
Số vụ và bị cáo phạm tội hình sự liên quan đến hành vi
giết người đã được xét xử ở Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010
74
3.5
Số vụ và bị cáo phạm tội hình sự nói chung đã được xét
xử ở Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010
75


9
MỞ ĐẦU


1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Tính mạng con người là giá trị cao nhất của con người. Quyền được
sống, được tôn trọng và bảo vệ là quyền cơ bản hàng đầu của con người, của
công dân. Hiến pháp năm 1992 quy định công dân có quyền bất khả xâm
phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm.
Ở Việt Nam tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người
người nói chung ngày một gia tăng. Hành vi giết người không chỉ được quy
định là một tội danh mà ở nhiều tội danh khác nhau.
Bên cạnh những thành tựu đạt được, nền kinh tế thị trường cũng có
những mặt trái của nó, có ảnh hưởng tiêu cực làm nảy sinh nhiều vấn đề trong
đó có các vấn đề dân số, việc làm, các tệ nạn xã hội, tình hình tội phạm nói
chung trong đó có tội phạm liên quan đến hành vi giết người.
Ở Việt Nam tội phạm liên quan đến hành vi giết người nói chung ngày
một gia tăng, với nhiều thủ đoạn tinh vi xảo quyệt, tội phạm liên quan đến
hành vi giết người có sự chuẩn bị trước, nhiều tổ chức phạm tội giết người
diễn ra đã gây nhiều hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
Tội phạm liên quan đến hành vi giết người diễn ra với tính chất côn
đồ, hung hãn, trắng trợn, xem thường tính mạng của con người không những
gây nên đau thương tang tóc cho gia đình nạn nhân mà còn gây mất trật tự trị
an ở địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân.
Nhiều vụ án, kẻ phạm tội đã sử dụng công cụ, phương tiện cực kỳ nguy hiểm
như súng, lựu đạn gây ra cái chết của nhiều người một cách thương tâm.
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về hành vi giết người
trong Luật hình sự Việt Nam là thật sự cần thiết. Bởi vì, thông qua việc
nghiên cứu này có thể tìm ra hướng hoàn thiện những quy định của pháp luật

10
hình sự trong việc góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng,
chống tội phạm giết người và tiến tới hạn chế, đẩy lùi loại tội phạm này.
Hành vi giết người không phải mới xuất hiện trong những năm gần

đây mà có thể nói đó là loại hành vi đã có lịch sử từ rất lâu. Đây là loại tội
phạm mà bất cứ quốc gia nào cũng mong muốn khống chế, đẩy lùi. Tác giả
mong muốn nghiên cứu, tìm hiểu cơ sở lý luận cũng như thực tiễn liên quan
đến cấu thành của loại tội phạm này, đồng thời tìm hiểu những nguyên nhân
khách quan và chủ quan của nó, góp phần nhỏ bé vào việc phòng, chống
những hành vi xâm phạm tính mạng con người, xâm phạm giá trị cao nhất của
con người.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Liên quan đến việc nghiên cứu về hành vi giết người, đã có những bài
viết: Đỗ Đức Hồng Hà, Mặt khách quan của Tội giết người - Một số vấn đề lý
luận và thực tiễn, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 06/2004; Đỗ Đức Hồng
Hà, Một số quan điểm khác nhau về định nghĩa về đối tượng tác động của tội
giết người, Tạp chí Tòa án, số 13/2004; Đỗ Đức Hồng Hà, Chủ thể của Tội
giết người - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí Tòa án, số 23/2004;
Đỗ Đức Hồng Hà, Lịch sử phân hóa trách nhiệm hình sự về Tội giết người từ
năm 1945 đến nay, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 03/2006; Trần Văn
Luyện (2001), Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm
của con người, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội; Phùng Thế Vắc - Trần Văn
Luyện, Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, 2001; Lê Cảm, Chế định đồng phạm và mô hình lý luận của nó trong
Luật Hình sự Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 8/2003
Mặc dù cũng không phải ít các tác giả nghiên cứu về vấn đề có liên
quan đến hành vi giết người nhưng những công trình và bài viết nói trên mới
chỉ đề cập tới hành vi giết người ở những tội phạm đơn lẻ, chưa thành một hệ
thống. Vì vậy, việc nghiên cứu hành vi giết người được đặt trong hệ thống của

11
các tội phạm liên quan đến nó là thật sự cần thiết, từ đó tiếp tục hoàn thiện
pháp luật hình sự về nhóm tội phạm này, có ý nghĩa cả về mặt lý luận và
thực tiễn.

3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1. Mục đích của việc nghiên cứu đề tài
- Hiểu một cách đầy đủ khái niệm hành vi giết người;
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận của một số tội phạm có liên quan đến hành
vi giết người;
- Tìm hiểu một cách đầy đủ hơn những quy định có liên quan đến
hành vi giết người;
- Làm sáng tỏ những nguyên nhân chủ quan và khách quan của một số
tội phạm có liên quan đến hành vi giết người.
3.2. Nhiệm vụ của đề tài
- Nghiên cứu hành vi giết người trong một số tội phạm có liên quan;
- Nghiên cứu, tìm hiểu những nguyên nhân chủ quan và khách quan
của tội phạm có liên quan đến hành vi giết người;
- Nghiên cứu, tìm hiểu tình hình thực tế một số tội phạm có liên quan
đến hành vi giết người;
- Nghiên cứu, chỉ ra những bất cập, hạn chế, thiếu sót trong lý luận và
thực tiễn từ đó đưa ra những giải pháp có cơ sở pháp lý và thực tiễn nâng cao
tính khả thi cũng như nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự có liên
quan đến một số tội phạm liên quan đến hành vi giết người đồng thời nâng
cao công tác phòng và chống loại tội phạm này.
4. Phạm vi nghiên cứu
"Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hành vi giết người trong luật
hình sự Việt Nam" - Đề tài nghiên cứu hành vi giết người với tư cách là một

12
yếu tố cấu thành của một số loại tội phạm có liên quan đến tính mạng con
người, đồng thời từ việc nghiên cứu các yếu tố cấu thành đưa ra một số điểm
còn chưa rõ ràng khi phân biệt giữa một số tội phạm được cấu thành từ hành
vi giết người với nhau và giữa một số tội phạm được cấu thành từ hành vi giết
người với một số tội phạm khác có liên quan đến tính mạng con người.

5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện
chứng, phép biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin.
- Các phương pháp khác: Phương pháp phân tích, phương pháp logic,
phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp, phương pháp đối chiếu,
phương pháp so sánh, phương pháp chứng minh.
- Nghiên cứu trên cơ sở nhận thức của tư tưởng Hồ Chí Minh, đường
lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa.
6. Điểm mới của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên đi sâu vào phân tích một cách toàn
diện, đầy đủ và có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về một số tội
phạm có liên quan đến hành vi giết người. Cụ thể:
- Đưa ra được khái niệm tương đối đầy đủ về hành vi giết người
- Khái quát, phân tích một cách có hệ thống các dấu hiệu pháp lý đặc
trưng về một số các loại tội phạm liên quan đến hành vi giết người. Đồng thời
cũng đưa ra một số dấu hiệu cơ bản để phân biệt hành vi giết người với những
hành vi phạm tội khác có liên quan đến tính mạng con người.
7. Ý nghĩa của luận văn
- Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo phục vụ cho việc học tập, giảng
dạy và nghiên cứu khoa học tại các cơ sở đào tạo luật ở Việt Nam, đặc biệt
đối với chuyên ngành tư pháp hình sự.

13
- Dựa trên sự phân tích lý luận và tìm hiểu thực tiễn về tình hình tội
phạm liên quan đến hành vi giết người, đưa ra những luận giải, những căn cứ
khoa học, để từ đó đưa ra kết luận, kiến nghị có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
trong công tác phòng, chống tội phạm có liên quan.
- Về thực tiễn: kết quả nghiên cứu đề tài có thể tham khảo để xây
dựng đường lối, chính sách, quản lý xã hội, nhằm ngăn chặn và tiến tới đẩy

lùi tội phạm có liên quan đến hành vi giết người, thức tỉnh đạo đức, lương tâm
của người phạm tội. Đề tài có thể được dùng làm tư liệu tham khảo trong
nghiên cứu, giảng dạy và học tập.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về hành vi giết người trong luật hình
sự Việt Nam.
Chương 2: Một số tội phạm có hành vi giết người trong luật hình sự
Việt Nam.
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật hình sự đối với một số tội phạm liên
quan đến hành vi giết người.

14
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÀNH VI GIẾT NGƯỜI
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1. KHÁI NIỆM HÀNH VI GIẾT NGƯỜI
Có thể nói, hành vi giết người từ xa xưa, ở bất cứ quốc gia nào cũng
đều coi là hành vi dã man, tàn bạo và chủ thể thực hiện hành vi này bao giờ
cũng phải gánh chịu một hình phạt nghiêm khắc nhất. Bởi, một trong những
quyền tự nhiên của con người là quyền được sống. Tất cả mọi người sinh ra
đều có quyền được sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc. Như vậy, mỗi
con người nếu "quyền được sống" không thể đảm bảo thì các quyền con
người khác cũng không thể có cơ hội thực hiện.
Tuy nhiên, hiện nay trong khoa học luật hình sự mới chỉ đề cập nhiều
về hành vi giết người với tư cách là mặt khách quan của tội giết người còn
khái niệm độc lập về hành vi giết người vẫn chưa được nêu ra.
Trước hết, chúng ta xem xét hành vi giết người với tư cách là mặt

khách quan của tội giết người. Khi xem xét hành vi giết người mặc dù về mặt
lý luận các quan điểm đều xem xét hành vi giết người với tư cách là mặt
khách quan của tội giết người nhưng trên thực tế đại đa số các quan điểm lại
thể hiện xem xét hành vi giết người và tội giết người chỉ là một. Trong Bộ
luật hình sự của Liên bang Nga năm 1996, tại Điều 106, tội giết người được
nêu ra là "hành vi cố ý giết người khác" [35, tr. 178], trong Bộ luật hình sự
Trung Quốc năm 1997, tại Điều 232, tội giết người được nêu "là hành vi cố ý
giết người khác" [36, tr. 43], tại điều 187 trong Bộ luật hình sự bang California
(Mỹ) năm 1998 tội giết người được nêu "là hành vi cố ý giết người khác hoặc
giết bào thai một cách hiểm độc và bất hợp" [38, tr. 6].
Ở Việt Nam, thực tiễn có khá nhiều quan điểm tương tự về hành vi giết
người với tư cách là tội giết người. Trong khoa học pháp lý hình sự có khá nhiều

15
cách định nghĩa khác nhau. Có quan điểm cho rằng "Tội giết người là hành vi
cố ý tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác" [29, tr. 327] Một
quan điểm khác lại cho rằng "Tội giết người là hành vi trái pháp luật của
người đủ năng lực trách nhiệm hình sự cố ý tước bỏ quyền sống của người
khác" [34, tr. 51]. Thêm một quan điểm tương tự: "Tội giết người là hành vi
làm chết người khác một cách cố ý và trái pháp luật" [32, tr. 7]. Theo Giáo trình
Luật hình sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, định nghĩa tội giết người
là "hành vi cố ý tước đoạt trái pháp luật tính mạng người khác" [16, tr. 287].
Sở dĩ người viết cho rằng: Khi xem xét hành vi giết người, mặc dù về
mặt lý luận các quan điểm đều xem xét hành vi giết người với tư cách là mặt
khách quan của tội giết người nhưng trên thực tế đại đa số các quan điểm lại
thể hiện hành vi giết người và tội giết người là một là bởi vì, nếu đưa ra
những định nghĩa như ở trên về tội giết người thì về mặt nội dung các định
nghĩa này hầu như không đề cập đến dấu hiệu độ tuổi của chủ thể hoặc nếu
có đề cập đến dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự thì lại không đề cập
đến dấu hiệu độ tuổi. Bên cạnh đó, khi diễn đạt giết người là hành vi cố ý

tước đoạt tính mạng sẽ mâu thuẫn với nghĩa của từ tước đoạt được nêu trong
Từ điển tiếng Việt. Việc tước đoạt là lấy cái của người khác, biến nó thành
của mình. Rõ ràng trong khi đó, chủ thể có hành vi giết người mục đích của
họ không phải là và không thể biến cuộc sống của người khác thành cuộc
sống của họ được mà chỉ có thể xóa bỏ quyền được sống của họ, Tước đoạt
tính mạng là tước và chiếm lấy sự sống của con người, vì vậy tước đoạt đã
bao hàm sự cố ý nên không cần thiết phải quy định giết người là hành vi cố
ý tước đoạt tính mạng.
Có quan điểm khác lại xác định giết người là hành vi trái pháp luật cố
ý làm chết người ngoài ý muốn của nạn nhân. Quan điểm này cũng có điểm
không hợp lý ở chỗ cố ý làm chết người nhưng "ngoài ý muốn của nạn nhân".
Vậy thì trong các trường hợp "Tình thế cấp thiết", ‘Sự kiện bất ngờ", "Phòng

16
vệ chính đáng" hay trường hợp thi hành án tử hình (thi hành một mệnh lệnh
hợp pháp của nhà chức trách) sẽ mâu thuẫn.
Như vậy, có thể nhận thấy, khái niệm về hành vi giết người (được hiểu
là tội giết người) là chưa thống nhất. Thứ nhất, như đã đề cập ở trên, mặc dù
về mặt lý luận các quan điểm đều xem xét hành vi giết người với tư cách là
mặt khách quan của tội giết người nhưng trên thực tế đại đa số các quan điểm
lại thể hiện hành vi giết người và tội giết người là một. Thứ hai, để phân biệt
giữa khái niệm hành vi giết người và tội giết người cần phải đưa vào định
nghĩa tội giết người dấu hiệu chủ thể của hành vi (năng lực trách nhiệm hình
sự và tuổi chịu trách nhiệm hình sự). Từ đó có thể thấy rằng khái niệm hành
vi giết người sẽ rộng hơn khái niệm tội giết người. Do vậy cần thiết phải có
cách hiểu để có thể phân biệt, thống nhất về hai khái niệm này nhằm xác định
mức độ nguy hiểm của hành vi trong quá trình xét xử và đấu tranh phòng
chống loại tội phạm có liên quan.
Tuy nhiên, ở đây khi đưa ra một khái niệm phù hợp về hành vi giết
người và Tội giết người, chúng ta cũng phải giải quyết một số vấn đề sau:

Thứ nhất: Sự sống của con người được xác định như thế nào và từ
thời điểm nào là đúng? Theo đại đa số quan điểm của các nhà luật học trong
nước cho rằng: Con người với tư cách là một cơ thể sống phải được sinh ra
một cách tự nhiên. Cuộc sống tự nhiên đó được xác định bắt đầu từ khi sinh ra
còn sống đến khi chết đi theo đúng quy luật tự nhiên của cuộc sống. Theo
hướng này thì hiểu rằng hành vi xâm hại vào thai nhi cũng như hành vi xâm
hại vào một tử thi sẽ không nằm trong phạm vi của khái niệm trên. Tất nhiên
cũng phải loại trừ quy định riêng trong một số trường hợp. Ví dụ như: Người
thực hiện hành vi tác động vào một xác chết nhưng vẫn nghĩ là người còn
sống với ý thức muốn họ phải chết thì hành vi đó vẫn bị coi là hành vi giết
người nếu có các dấu hiệu khác thoả mãn cấu thành tội phạm. Trong khoa học
hình sự gọi đó là sai lầm về đối tượng tác động.

17
Thứ hai: Phải khẳng định, hành vi giết người là hành vi xâm phạm
quyền nhân thân cao quý nhất của con người là quyền được sống. Không có
quyền này thì những quyền nhân thân khác của con người trở nên vô nghĩa và
cũng không có quyền này thì những quyền khác không bao giờ có cơ hội thực
hiện. Hơn thế nữa, con người vừa là động lực vừa là chủ thể của xã hội cả
hiện tại và tương lai. Mục tiêu bảo vệ quyền được sống của con người bao giờ
cũng được đặt lên hàng đầu. Vì vậy, hành vi giết người được coi là hành vi
nguy hiểm cho xã hội. Từ mục đích tước bỏ quyền được sống của một con
người của hành vi mà hành vi giết người thể hiện tính nguy hiểm ở những
hành động hết sức dã man, tàn bạo như dùng sức mạnh vật chất tác động vào
thân thể (đâm, chém, bắn, ) hay không thực hiện những hành động mà đáng
ra phải làm để giữ quyền được sống đó (người mẹ không cho con bú hoặc vứt
bỏ đứa trẻ dẫn đến cái chết của nó). Cần phải xác định, đã coi đó là hành vi
giết người thì lỗi đó phải là lỗi cố ý. Tức là người thực hiện hành vi nhận thức
rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi
đó và mong muốn hậu quả đó xảy ra (cố ý trực tiếp); người thực hiện hành vi

nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả
của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để
mặc cho hậu quả xảy ra (cố ý gián tiếp). Như vậy, nếu hành vi gây ra cái chết
cho người khác là do lỗi vô ý thì không coi đó là hành vi giết người. Ví dụ
hành vi làm chết người khác cấu thành "Tội làm chết người khác trong khi thi
hành công vụ" (Điều 97 Bộ luật hình sự 1999); "Tội vô ý làm chết người"
(Điều 98 Bộ luật hình sự 1999). Làm rõ lỗi của người thực hiện hành vi chính
là căn cứ để xác định hành vi giết người với những hành vi không phải là
hành vi giết người, mặc dù những hành vi đó gây ra hậu quả chết người một
cách trực tiếp (làm chết người khi thi hành công vụ; làm chết người do vi
phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính;…) hoặc gián tiếp (bức
tử; xúi giục hoặc giúp người khác tự sát; không cứu giúp người khác đang
trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng;…).

18
Thứ ba: Khi xác định tội danh do hành vi giết người cấu thành, cũng
phải xác định đến mục đích của hành vi. Nghĩa là, hành vi giết người không
chỉ cấu thành các loại tội giết người với mục đích trực tiếp (tội giết người -
Điều 93 Bộ luật hình sự 1999; tội giết con mới đẻ - Điều 94 Bộ luật hình sự
1999; Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh - Điều 95
Bộ luật hình sự 1999; Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính
đáng - Điều 96 Bộ luật hình sự 1999) mà còn cấu thành tội khác với mục đích
gián tiếp (Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân - Điều 84 Bộ luật
hình sự 1999) khi xâm phạm quyền được sống của con người. Đó cũng là căn
cứ để phân biệt và phân hóa trách nhiệm hình sự của những loại tội phạm
được cấu thành từ hành vi giết người.
Thứ tư: Khi xác định hành vi giết người là hành vi loại bỏ quyền được
sống của người khác một cách cố ý và trái pháp luật, khi nói như vậy đã bao
hàm cả dấu hiệu người thực hiện hành vi có đủ năng lực trách nhiệm hình sự,
nghĩa là người đó có khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi và

đến độ tuổi do luật hình sự quy định (đủ 14 tuổi trở lên)
Chúng ta nhận thấy rằng mỗi quan điểm ở trên mặc dù có những điểm
chưa hoàn thiện nhưng cũng có những điểm hợp lý. Kết hợp với những phân
tích ở trên, chúng ta có thể đưa ra một khái niệm đầy đủ về hành vi giết người
như sau: Hành vi giết người là hành vi cố ý tước bỏ tính mạng người khác trái
pháp luật, xâm phạm đến quyền được sống của con người. Hành vi giết người
bị coi là tội phạm trong luật hình sự các nước và tùy theo đặc điểm của các
trường hợp giết người mà cấu thành những tội phạm khác nhau.
Đối với tội giết người, cũng từ những phân tích ở trên, có thể đưa ra
định nghĩa tội giết người để phân biệt với hành vi giết người nói chung như
sau: "Tội giết người là hành vi cố ý gây ra cái chết cho người khác một cách trái
pháp luật, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện, trong đó phải
đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự do Bộ luật hình sự quy định (từ đủ 14 tuổi
trở lên)" [14, tr. 20].

19
1.2. PHÂN LOẠI HÀNH VI GIẾT NGƯỜI
1.2.1. Căn cứ phân loại
Có nhiều căn cứ để có thể phân loại hành vi giết người, tuy nhiên có
thể dựa vào những căn cứ sau đây để phân loại:
- Căn cứ vào khách thể của hành vi giết người;
- Căn cứ vào đối tượng tác động của hành vi giết người;
- Căn cứ vào chủ thể của hành vi giết người;
- Căn cứ vào mức độ nguy hại của hành vi giết người;
- Căn cứ vào mục đích, động cơ của hành vi giết người.
1.2.2. Các loại hành vi giết người
1.2.1.1. Căn cứ vào khách thể của hành vi giết người
Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và
bị tội phạm xâm hại
Dựa vào căn cứ này có thể phân loại các loại tội phạm được cấu thành

từ hành vi giết người thành hai nhóm:
- Hành vi giết người xâm hại nhiều quan hệ xã hội được luật hình sự
bảo vệ (khách thể kép) như Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân
(Điều 84 Bộ luật hình sự 1999), cùng một lúc vừa xâm phạm tính mạng con
người, đồng thời qua đó vừa có khả năng làm suy yếu chính quyền nhân dân.
- Hành vi giết người xâm hại một khách thể trực tiếp của tội phạm là
tính mạng con người (khách thể đơn) như các tội giết người (Điều 93 Bộ luật
hình sự 1999), tội giết con mới đẻ (Điều 93 Bộ luật hình sự 1999), tội giết
người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 96 Bộ luật hình sự 1999),
tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 95 Bộ luật
hình sự 1999).

20
1.2.1.2. Căn cứ vào đối tượng tác động của hành vi giết người
Dựa vào căn cứ này có thể phân loại các loại tội phạm được cấu thành
từ hành vi giết người thành hai nhóm:
- Nhóm các đối tượng tác động của hành vi giết người là những đối
tượng không có dấu hiệu đặc biệt. Đối tượng tác động trong trường hợp này là
con người nói chung bị tước đoạt quyền được sống.
- Nhóm các đối tượng tác động của hành vi giết người là đối tượng
đặc biệt: như hành vi giết người cấu thành tội khủng bố nhằm chống chính
quyền nhân dân (Điều 84 Bộ luật hình sự 1999) nạn nhân phải là những người
được coi là cán bộ cốt cán, là cán bộ, công nhân viên chức nhà nước kể cả bộ
đội và công an, những thành viên tích cực trong các hoạt động xã hội, những
công dân có đóng góp nhiều trong các hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã
hội; hành vi giết người cấu thành tội giết con mới đẻ (Điều 94 Bộ luật hình sự
1999) nạn nhân phải là đứa trẻ trong vòng 7 ngày tuổi; hành vi giết người cấu
thành tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 96 Bộ
luật hình sự 1999), tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
(Điều 95 Bộ luật hình sự 1999) nạn nhân phải là người có hành vi trái pháp

luật nghiêm trọng xâm hại quyền và lợi ích chính đáng của người phạm tội.
1.2.1.3. Căn cứ vào chủ thể thực hiện hành vi giết người
Dựa vào căn cứ này có thể phân loại các loại tội phạm được cấu thành
từ hành vi giết người thành hai nhóm chủ thể thường và chủ thể đặc biệt:
- Chủ thể thường: Người thực hiện hành vi giết người là công dân Việt
Nam, công dân nước ngoài hay người không có quốc tịch, có năng lực trách
nhiệm hình sự và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Ví dụ chủ thể có hành
vi giết người cấu thành tội giết người (Điều 93 Bộ luật hình sự 1999), tội giết
người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 96 Bộ luật hình sự
1999), tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 95 Bộ
luật hình sự 1999), tội khủng bố (Điều 84 Bộ luật hình sự 1999).

21
- Chủ thể đặc biệt: Người thực hiện hành vi giết người ngoài những
đặc điểm của chủ thể thường thì dấu hiệu đặc biệt là dấu hiệu bắt buộc để cấu
thành tội phạm. Đại diện cho loại chủ thể này là chủ thể thực hiện hành vi giết
người cấu thành tội giết con mới đẻ. Ở tội giết con mới đẻ chủ thể của hành vi
giết người phải là người mẹ của đứa trẻ sơ sinh (trong vòng 7 ngày tuổi), hơn
thế nữa người mẹ này còn bị những tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh
khách quan đặc biệt thúc đẩy thực hiện hành vi giết con đẻ của mình.
1.2.1.4. Căn cứ vào mức độ nguy hiểm của hành vi giết người
Dựa vào căn cứ này có thể phân loại các loại tội phạm được cấu thành
từ hành vi giết người thành:
- Hành vi giết người cấu thành tội phạm ít nghiêm trọng: Tội phạm ít
nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất
của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù. Đại diện cho hành vi giết
người cấu thành loại tội phạm này là tội Giết con mới đẻ (Điều 94 Bộ luật
hình sự 1999: "Người mẹ nào…, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai
năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm" [27]); tội giết người do vượt quá
giới hạn phòng vệ chính đáng (khoản 1 Điều 96 Bộ luật hình sự 1999:

"Người nào giết người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính
đáng…., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba
tháng đến hai năm" [27]); tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích
động mạnh (khoản 1 Điều 95 Bộ luật hình sự 1999: "Người nào giết người
trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh… , thì bị phạt tù từ sáu tháng
đến ba năm)" [27]).
- Hành vi giết người cấu thành tội phạm nghiêm trọng: Tội phạm
nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của
khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù. Đại diện cho hành vi giết
người cấu thành loại tội phạm này là tội giết người do vượt quá giới hạn
phòng vệ chính đáng (khoản 2 Điều 96 Bộ luật hình sự 1999: "Giết nhiều

22
người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì bị phạt tù
từ hai năm đến năm năm)" [27]); tội giết người trong trạng thái tinh thần bị
kích động mạnh (khoản 2 Điều 95 Bộ luật hình sự 1999: "Giết nhiều người
trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy
năm" [27]).
- Hành vi giết người cấu thành tội phạm rất nghiêm trọng: Tội phạm
nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất
của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù, trên mười lăm
năm tù, tù chung thân hoặc tử hình. Đại diện cho hành vi giết người cấu thành
loại tội phạm này là tội giết người (khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự 1999:
"Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 điều này, thì bị
phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm" [27]).
- Hành vi giết người cấu thành tội phạm đặc biệt nghiêm trọng: Tội
phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức
cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù. Đại diện
cho hành vi giết người cấu thành loại tội phạm này là tội giết người (khoản 1
điều 93 Bộ luật hình sự 1999: Người nào giết người thuộc một trong các

trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù
chung thân hoặc tử hình [27].
Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân (khoản 1 điều 84 Bộ
luật hình sự 1999: Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà xâm
phạm tính mạng của cán bộ, công chức hoặc công dân, thì bị phạt tù từ mười
hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình) [27].
1.2.1.5. Căn cứ vào mục đích, động cơ của hành vi giết người
Mục đích, động cơ phạm tội chính là xuất phát từ thái độ chủ quan của
người phạm tội. Thái độ chủ quan của người phạm tội bao gồm hai mặt cơ
bản: lỗi và mục đích, động cơ phạm tội. Trong đó, lỗi trong hành vi giết người
là chắc chắn phải là lỗi cố ý, bao gồm cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp; mục

23
đích và động cơ phạm tội bao gồm hành vi giết người chỉ với mục đích tước
bỏ quyền được sống của con người trái pháp luật và hành vi giết người thực
hiện nhằm mục đích khác ngoài mục đích tước bỏ quyền sống của con người.
Cũng dựa vào tiêu chí này, có thể chia thành nhóm tội phạm có mục
đích, động cơ thực hiện hành vi giết người là bắt buộc mới có thể đủ dấu hiệu
cấu thành tội phạm và nhóm tội phạm mà dấu hiệu mục đích, động cơ thực
hiện hành vi giết người không phải là dấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội phạm.
1.3. HÀNH VI GIẾT NGƯỜI TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP PHẠM
TỘI ĐẶC BIỆT
1.3.1. Thời điểm hoàn thành và việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc
phạm tội của hành vi giết người trong một số tội phạm giết người
1.3.1.1. Thời điểm hoàn thành của hành vi giết người trong một số
tội phạm liên quan đến giết người
Tội phạm hoàn thành là trường hợp hành vi phạm tội đã thỏa mãn hết
các dấu hiệu được mô tả trong cấu thành tội phạm. Thời điểm hoàn thành của
từng tội phạm được thực hiện qua việc xây dựng các dấu hiệu của cấu thành
tội phạm. Trong đó thời điểm hoàn thành của các loại tội phạm có cấu thành

tội phạm vật chất (có các dấu hiệu của mặt khách quan: hành vi, hậu quả, mối
quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả) hoàn thành khi người phạm tội đã
gây ra hậu quả của tội phạm; loại tội phạm có cấu thành tội phạm hình thức
(có một dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi nguy hiểm cho xã hội) hoàn
thành khi người phạm tội đã thực hiện được hành vi phạm tội. Ngoài ra, thời
điểm hoàn thành của tội phạm có thể được xem là hoàn thành khi người phạm
tội đã có những hoạt động bất kỳ nhằm thực hiện hành vi phạm tội.
* Thời điểm hoàn thành của hành vi giết người trong tội giết người
(Điều 93 Bộ luật hình sự 1999)
Tội giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác một
cách trái pháp luật.

24
Tội giết người là tội phạm có cấu thành vật chất, có nghĩa là nó đảm
bảo các dấu hiệu của mặt khách quan:
- Hành vi có khả năng gây ra cái chết cho con người dưới dạng hành
động như đâm, bắn, chém, đầu độc, dìm xuống nước, hoặc dưới dạng không
hành động như không cho ăn, không cho uống nước,…
- Hậu quả: Để cấu thành tội giết người, hậu quả của hành vi không
nhất thiết phải gây ra cái chết cho nạn nhân
- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi đâm, chém,… và hậu quả chết
người xảy ra. Có nghĩa là nếu hành vi đâm chém không có mối quan hệ nhân
quả với hậu quả chết người thì không cấu thành tội giết người. Ví dụ: Chỉ để
dọa nạn nhân nên người phạm tội đã dùng dao rạch một đường lên mặt họ,
nhưng vì có bệnh tim nên khi nhìn thấy máu nạn nhân đã bị sốc, lên cơn đau
tim và đã chết. Trường hợp này không cấu thành tội giết người
Nhìn chung, thời điểm hoàn thành của hành vi giết người cấu thành tội
giết người là khi hậu quả chết người đã xảy ra.
Tuy nhiên, thời điểm hoàn thành của hành vi giết người trong các tội
phạm giết người nói chung còn có thể được coi khi thực tế chưa có hậu quả

chết người xảy ra. Đó là trường hợp phạm tội giết người chưa đạt (cố ý giết
người nhưng hậu quả chết người chưa xảy ra do những nguyên nhân ngoài ý
muốn) nhưng đã được coi là hoàn thành khi người phạm tội đã thực hiện được
hết các hành vi được cho là cần thiết để gây ra hậu quả nhưng hậu quả đã
không xảy ra
- Do những nguyên nhân ngoài ý muốn. Ví dụ: M định giết T và đã
chém T rất nhiều nhát dao, khi tin chắc T đã chết M đã bỏ đi. Tuy nhiên T đã
không chết do có người phát hiện và đưa T đi cấp cứu. M hành vi giết người
của M đã đủ dấu hiệu cấu thành tội giết người và trường hợp này được coi là
phạm tội giết người chưa đạt nhưng đã hoàn thành.

25
- Chủ thể thực hiện hành vi giết người nhưng thực tế nạn nhân không
chết do khi thực hiện hành vi người phạm tội đã nhầm đối tượng tác động
hoặc không có đối tượng tác động. Ví dụ: A có ý định giết B, đêm đến A đã
lẻn vào cửa sổ nhà B ném lựu đạn vào giường ngủ của B nhưng đêm đó B đi
vắng nên đã thoát chết. Trong ví dụ này nếu hôm đó một người khác ngủ ở
giường B bị tước đi tính mạng thì hành vi của A vẫn cấu thành tội giết người
chưa đạt nhưng đã hoàn thành
- Trong trường hợp người phạm tội đã sử dụng nhầm phương tiện
phạm tội nhưng người đó không biết và tin chắc mục đích của mình đã đạt
được từ phương tiện này nhưng thực tế phương tiện đó đã không phát huy tác
dụng. Ví dụ: người phạm tội bỏ thuốc độc vào thức ăn của nạn nhân nhưng do
thuốc đó là hàng giả nên nạn nhân đã không chết. Trường hợp này cũng được
coi là phạm tội giết người chưa đạt đã hoàn thành.
* Thời điểm hoàn thành của hành vi giết người trong tội giết con mới
đẻ (Điều 94 Bộ luật hình sự 1999
Hành vi giết người cấu thành tội giết con mới đẻ có thể coi là một
dạng giết người đặc biệt, vì vậy thời điểm hoàn thành của hành vi về cơ bản
cũng chính là có hậu quả đứa trẻ (trong vòng 7 ngày tuổi) đó chết. Hậu quả

này là kết quả của hai dạng hành vi của chính người mẹ đứa trẻ do ảnh hưởng
của tư tưởng lạc hậu hoặc do hoàn cảnh khách quan đặc biệt khác: giết đứa trẻ
(bằng những hành động, công cụ, phương tiện nhất định) hoặc vứt bỏ đứa trẻ
dẫn đến hậu quả đứa trẻ chết. Đối với hành vi giết người cấu thành tội Giết
con mới đẻ cũng có thể áp dụng đối với trường hợp chưa đạt đã hoàn thành.
Ví dụ: Người mẹ cho thuốc độc vào bình sữa và cho con bú nhưng vì là thuốc
giả đứa trẻ chỉ bị nôn mửa mà không chết. Tuy nhiên ở dạng hành vi thứ hai:
Người mẹ vất bỏ đứa trẻ nhưng đứa trẻ được người khác phát hiện cứu sống
thì người mẹ đó không phạm tội giết con mới đẻ. Nhưng nếu xảy ra trường
hợp vì trời tối người mẹ bế nhầm con người khác (đứa trẻ được đem đi tắm

26
cùng với những đứa trẻ khác khi ở bệnh viện) đem đi vất bỏ (nghĩ là con
mình) thì hành vi của người mẹ đó vẫn đủ yếu tố cấu thành tội Giết con mới
đẻ (phạm tội chưa đạt đã hoàn thành).
* Thời điểm hoàn thành của hành vi giết người trong tội giết người
trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 95 Bộ luật hình sự 1999)
Cũng là một dạng đặc biệt của tội giết người, thời điểm hoàn thành
của hành vi về cơ bản phải có hậu quả chết người xảy ra từ hành vi được thực
hiện trong trạng thái không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm
tội của mình. Tuy nhiên cũng vẫn có thể xảy ra trường hợp người phạm tội lại
thực hiện hành vi giết người của mình nhầm đối tượng tác động. Tức là đáng
ra phải thực hiện hành vi giết người với người thực tế đã có hành vi trái pháp
luật nghiêm trọng đối với người phạm tội hoặc đối với người thân thích của
người phạm tội thì người đó vì một lý do nào đã thực hiện hành vi giết người
đối với một người khác vì nghĩ rằng chính người đó đã có hành vi trái pháp
luật với mình hoặc với người thân thích của mình. Ví dụ: K đã có hành vi mạt
sát và đánh gãy tay em gái H, vừa đi làm về nghe em gái khóc kể lại sự việc,
trong lúc tức giận nghe không rõ H đã nghĩ là C (em trai K, người yêu cũ của
em gái H cũng có mặt khi K mạt sát và đánh em gái H) làm việc đó nên lập

tức đến nhà C và K rút dao đâm C. Hậu quả là C chết trên đường đi cấp cứu.
Trường hợp này, H phạm tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động
mạnh dạng phạm tội đã đạt, đã hoàn thành.
* Thời điểm hoàn thành của hành vi giết người trong tội giết người do
vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 96 Bộ luật hình sự 1999)
Thời điểm hoàn thành của hành vi giết người cấu thành tội phạm này
về cơ bản cũng được coi phải có hậu quả chết người xảy ra phù hợp với mối
quan hệ nhân quả giữa hành vi chống trả lại rõ ràng là quá mức cần thiết và
hậu quả xảy ra. Trường hợp phạm tội chưa đạt đã hoàn thành rất hiếm xảy ra

27
đối với loại tội phạm này. Vì hành vi của nạn nhân đang thực tế đe dọa các lợi
ích đã nêu trong Điều 96 Bộ luật hình sự 1999 nên rất hiếm trường hợp nhầm
lẫn đối tượng tác động hoặc nhầm phương tiện thực hiện hành vi.
* Thời điểm hoàn thành của hành vi giết người trong tội khủng bố
nhằm chống chính quyền nhân dân (khoản 1 Điều 84 Bộ luật hình sự 1999)
Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà xâm phạm tính
mạng của cán bộ, công chức hoặc công dân, thì bị phạt tù từ mười hai năm
đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình
Ở tội này, thông qua hành vi xâm phạm tính mạng cán bộ, công chức
hoặc công dân người phạm tội làm suy yếu chính quyền nhân dân. Như vậy
thời điểm hoàn thành của hành vi giết người cấu thành tội khủng bố (khoản 1
Điều 84 Bộ luật hình sự 1999) về cơ bản là thời điểm đối tượng cán bộ, công
chức, nhân dân mà người phạm tội thực hiện hành vi giết người nhằm chống
chính quyền nhân dân đã bị tước đoạt tính mạng trái pháp luật. Tuy nhiên
cũng tương tự như đối với hành vi giết người trong tội giết người, thời điểm
hoàn thành của tội phạm có thể xảy ra trường hợp tội phạm hoàn thành nhưng
chưa đạt. Ví dụ người phạm tội vẫn nghĩ là đối tượng họ có ý định giết nhằm
mục đích chống chính quyền nhân dân đã chết bởi hành vi của họ nhưng thực
tế họ không chết hoặc nạn nhân mà họ vẫn nghĩ là đối tượng có thể thực hiện

mục đích chống chính quyền nhân dân thực tế không phải như vậy.
1.3.1.2. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của hành vi giết
người trong một số tội phạm giết người
Theo Điều 19 Bộ luật hình sự 1999:
Tự ý nửa chừng chấm dứt chấm dứt việc phạm tội là tự mình
không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản.
Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn
trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực

28
hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu
trách nhiệm hình sự về tội này [27].
Thứ nhất, hành vi giết người trong các tội phạm giết người sẽ được coi
là tự ý nửa chừng khi chủ thể thực hiện hành vi dừng lại không thực hiện tiếp
tội phạm mặc dù không có gì ngăn cản và hoàn toàn phải do động lực bên
trong chứ không do khách quan chi phối.
Thứ hai, hành vi giết người trong các tội phạm giết người được coi là
tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội với điều kiện việc chấm dứt hành vi
giết người phải xảy ra khi tội phạm đang ở giai đoạn chuẩn bị hoặc ở giai
đoạn chưa đạt chưa hoàn thành. Phải khẳng định hành vi giết người không thể
xảy ra trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội khi tội phạm đã
hoàn thành. Vì khi tội phạm đã hoàn thành thì không thể loại bỏ được sự nguy
hiểm cho xã hội của tội phạm
Hành vi giết người phải được dừng lại khi chưa có hậu quả chết người
xảy ra trong khi người phạm tội vẫn có thể thực hiện những hành động tiếp
theo để gây ra cái chết cho nạn nhân mới có thể được coi là tự ý nửa chừng
chấm dứt việc phạm tội. Tuy nhiên có những trường hợp người phạm tội tuy
đã thực hiện được hết hành vi cần thiết để gây ra hậu quả nhưng vì lý do nào
đó xuất phát từ động lực bên trong người phạm tội đã tự nguyện ngăn chặn có
hiệu quả hậu quả xảy ra. Ví dụ: Người phạm tội đã đâm nạn nhân nhiều nhát

dao vào những chỗ có thể gây chết người và nếu người phạm tội bỏ đi chỉ
trong thời gian rất ngắn nạn nhân có thể mất mạng. Nhưng ngay sau đó người
phạm tội đã có sự ân hận về hành vi của mình nên đã nhanh chóng đưa nạn
nhân đi cấp cứu và nạn nhân đã không chết. Trường hợp này cũng có thể
được coi là tự ý nửa chừng đối với hành vi giết người. Cũng áp dụng tương tự
đối với trường hợp người mẹ đã đem con mình (trong vòng 7 ngày tuổi) vứt
bỏ qua một đêm, nhưng sáng hôm sau vì lương tâm không yên ổn nên đã đến
bế đứa trẻ về, khi đó đứa trẻ vẫn còn sống.

×