Tải bản đầy đủ (.doc) (63 trang)

Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đông Đô

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (373.26 KB, 63 trang )

Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ViÖn Ng©n hµng Tµi chÝnh–
LỜI NÓI ĐẦU
Đất nước ta đang trong giai đoạn đổi mới, đổi mới về cơ chế quản lý cũng như
cơ chế thị trường mở ra những cơ hội cũng như những thách thức cho nền kinh tế
nước nhà. Nền kinh tế nước nhà đang có sự tiến bộ đáng kể, cùng với nó là sự phát
triển của các ngành sản xuất cũng như dịch vụ, Ngành ngân hàng đóng góp một phần
không nhỏ vào sự phát triển của đát nước.
Nhu cầu của con người ngày càng tăng lên cùng với sự phát triển của kinh tế xã
hội, kèm đó là hàng loạt các đòi hỏi cần được thỏa mãn. Khả năng tài chính trở thành
yếu tố rất quan trọng để cho những nhu cầu đó, nhưng trong trường hợp nhu cầu tiêu
dùng thường xuất hiện trước khi quỹ cá nhân được hình thành. Nghĩa là có sự khác
biệt về yếu tố thời gian đối với nhu cầu tiêu dùng và khả năng tài chính của con người.
Khi đó người ta sử dụng tín dụng tiêu dùng như là sự ứng trước của quỹ đầu tư đây là
quỹ được hình thành trong tương lai để thỏa mãn các nhu cầu trong hiện tại. Chính vì
mục đích đó nên ngay từ khi Ngân hàng Nhà nước đưa ra chủ trương kích cầu bằng
cho vay tiêu dùng và được thực hiện bởi các Ngân hàng thương mại, thì loại hình này
đã nhận được hưởng ứng tích cực từ phía các khách hàng là cá nhân.
Tín dụng tiêu dùng không những đem lại lợi nhuận cho ngân hàng mà còn mang
ý nghĩa xã hội sâu sắc, góp phần cải thiện đới sống của người lao động ngày một tốt hơn,
đồng thời nó là sợi dây gắn kết giữa người lao động với cơ quan, doanh nghiệp, từ đó có
thể tăng năng lực lao động và khả năng cống hiến cho xã hội. Hơn thế nữa, cùng với xu
thế đa dạng hóa trong hoạt động của Ngân hàng thương mại, và với sự cạnh tranh gay gắt
trong việc giải quyết đầu ra cho nguồn vốn của các ngân hàng thì mảng tín dụng tiêu
dùng tiêu dùng được các ngân hàng sủ dụng như là nghiệp vụ nhằm hướng đến một thị
trường mới mẻ đầy tiềm năng mà trước đây chưa được khai thác.
Xuất phát từ những vấn đề trên cùng với tình hình thực tế về cho vay tiêu dùng
tại chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và phát triển Đông Đô, qua thời gian thực tập tại ngân
hàng em đã chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho
vay tiêu dùng tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đông
Đô”. Qua đó em xin đưa ra một số ý kiến nhằm hoàn thiện hơn hoạt động cho vay tiêu
dùng của ngân hàng.


SV:Lª V¨n Dòng Líp: Ng©n hµng K11
1
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ViÖn Ng©n hµng Tµi chÝnh–
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG - CHO VAY TIÊU DÙNG
1.1 KHÁI NHIỆM, BẢN CHẤT, VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG
1.1.1 Khái Niệm:
Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ La tinh là credo (tin tưởng, tín nhiệm).
Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau;
ngay cả trong quan hệ tài chính, tùy theo từng bối cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín dụng
có nội dung riêng.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân
hàng cho khách hàng trong thời hạn nhất định với chi phí nhất định, phản ánh quan hệ
kinh tế giữa người sở hữu với người sử dụng các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong
nền kinh tế trên cơ sở hoàn trả vốn và lợi tức khi đến hạn.
Tín dụng ngân hàng là hoạt động tín dụng của ngân hàng với các chủ thể
trong nền kinh tế với tư cách người được cấp tín dụng lẫn được cấp tín dụng. Song
người ta thường đề cập đến ngân hàng với tư cách người cấp tín dụng.
Xét theo góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang
chủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp chuyển dịch từ người
thừa vốn sang người thiếu vốn.
1.1.2. Đặc trưng của tín dụng:
- Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng Ngân hàng bao gồm hai hình thức là
cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản, động sản).
- Thời gian hoàn trả được xác định một cách có cơ sở để đảm bảo bên đi vay sẽ
hoàn trả tài sản cho bên cho vay đúng thời hạn thỏa thuận.
- Giá trị hoàn trả thông thường lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách khác
người cho vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc.
SV:Lª V¨n Dòng Líp: Ng©n hµng K11
2

Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ViÖn Ng©n hµng Tµi chÝnh–
- Quan hệ tín dụng được thực hiện bằng hợp đồng tín dụng, khế ước nhân
nợ…làm cơ sở pháp lý để thực thi trách nhiệm giữa các bên.
1.1.3. Các chức năng của tín dụng
1.1.3.1. Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ trên cơ sở có hoàn trả
Đây là hai quá trình thống nhất trong sự vận hành của hệ thống tín dụng. Sự có
mặt của tín dụng được xem là một chiếc cầu nối giữa các nguồn cung- cầu về tiền tệ.
Với chức năng này, tín dụng đã trực tiếp tham gia điều tiết các nguồn vốn tạm thời
thừa từ các cá nhân, tổ chức kinh tế để bổ sung kip thời cho những doanh nghiệp, các
cá nhân đang có nhu cầu vốn nhằm phục vụ cho sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng…
(hiện nay vốn tín dụng là vốn đầu tư quan trọng trong vốn cố định của các doanh
nghiệp).
Chức năng trung gian tài chính là chức năng cơ bản và quan trọng nhất của tín dụng.
1.1.3.2. Cung cấp các dịch vụ thanh toán và tạo phương tiện thanh toán
Tín dụng luôn được cấp ra nhằm giúp người vay tiền chi trả các khoản mua,
bán, trả các món nợ…ngoài ra, tín dụng còn tạo thêm phương tiện thanh toán cho nền
kinh tế hay nói khác đi, tín dụng tạo thêm tiền cho nền kinh tế.
1.1.3.3. Tín dụng góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển
Trong qúa trình sản xuất kinh doanh, để duy trì hoạt động liên tục đòi hỏi vốn
của tổ chức sản xuất kinh doanh đồng thời tồn tại ở cả ba giai đoạn: dự trữ, sản xuất
và lưu thông. Do đó tình trạng thừa và thiếu vốn tạm thời luôn xảy ra. Tín dụng đã
góp phần điều tiết các nguồn vốn tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh
không bị gián đoạn.
Mặt khác, nhu cầu về vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh luôn là mối quan
tâm hàng đầu được đặt ra, doanh nghiệp không chỉ kinh doanh dựa trên vốn tự có mà
phải biết tận dụng các nguồn vốn khác trong xã hội. Từ đó, tín dụng, nơi tập trung vốn
nhàn rỗi, sẽ đáp ứng nhu cầu vốn bổ sung cho doanh nghiệp đầu tư phát triển.
SV:Lª V¨n Dòng Líp: Ng©n hµng K11
3
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ViÖn Ng©n hµng Tµi chÝnh–

Như vậy, tín dụng vừa giúp cho doanh nghiệp rút ngắn được thời gian tích lũy
vốn cho nền kinh tế.
1.1.3.4. Tín dụng góp phần thúc đẩy ổn định tiền tệ và ổn định giá cả
Sức mua của đồng tiền chịu sự tác động từ nhiều phía cung cầu về tiền tệ, giá
vàng, tỷ giá ngoại hối… NHTW phải tìm mọi biện pháp ổn định sức mua của đồng
nội tệ nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách kinh tế và quan hệ quố tế. Khi sức mua
của đồng tiền giảm tức là giá cả hàng hóa tăng lên chứng tỏ quỹ tiêu dùng bằng tiền
của xã hội lớn hơn quỹ hàng hóa.
Ngân hàng trung ương tìm mọi biện pháp làm giảm quỹ tiêu dùng và phát triển
sản xuất… Ngược lại trước sức mua của đồng tiền tăng tức là giá ca của hàng hóa sẽ
giảm, chứng tỏ quỹ tiêu dùng bằng tiền của xã hội nhỏ hơn quỹ hàng hóa. NHTW sẽ
tìm mọi biện pháp đưa them tiền vào lưu thong để kích tiêu dùng va kích sản xuất.
Ngoài ra ngân hàng TW còn can thiệp để ổn định giá vàng và giá ngoại tệ nhằm tạo
cơ sở cho ổn định tiền.
Tín dụng luôn được cấp ra có một mục đích rõ ràng và nó luôn được luân trả
theo cam kết. Do đó mà số lượng tiền được thêm vào lưu thông được cân đối với số
lượng hàng hóa, dịch vụ do nền kinh tế sản xuất ra tạo nên sự cân đối tiền – hàng, tạo
ra sự ổn định sức mua của tiền tệ.
1.1.3.5. Tín dụng góp phần ổn định đời sống, tạo ra công ăn việc làm và ổn định
trật tự xã hội
Tín dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển, sản xuất hàng hóa và dịch vụ giúp các
doanh nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất sẽ thuê mướn nhân công phục vụ sản
xuất tạo công ăn việc làm cho nhiều người.
Ngân hàng còn là nơi cung cấp tín dụng dân cư, cung cấp những nhu cầu tín
dụng hợp lý của cá nhân như phát triển kinh tế gia đình, mua sắm tư liệu sản xuất,
sinh hoạt giúp những người làm ăn lương thiện có điều kiện tạo lập việc làm ổn định
cho bản thân và gia đình. Một xã hội phát triển ổn định là điều kiện quan trọng để ổn
định trật tự xã hội.
SV:Lª V¨n Dòng Líp: Ng©n hµng K11
4

Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ViÖn Ng©n hµng Tµi chÝnh–
Trên phương diện quốc tế, tín dụng còn có vai trò quan trọng để mở rộng và
phát triển các mối quan hệ kinh tế đối ngoại và mở rộng giao lưu quốc tế làm cho các
nước có mối quan hệ thân thiết và cùng giúp đỡ nhau phát triển.
1.1.4. Phân loại tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng được phân loại dựa vào các căn cứ sau:
1.1.4.1 Căn cứ vào mục đích cho vay:
Tín dụng thường được chia thành các loại sau:
- Cho vay bất động sản: là loại cho vay liên quan tới việc mua sắm và xây dựng
bất động sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại, dịch
vụ.
- Cho vay công nghiệp và thương mại: là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn
lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại, dịch vụ. Giúp
doanh nghiêp trang trải chi phí trong sản xuất.
- Cho vay nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như
phân bón thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động… Là loại vay nhằm
hỗ trợ cho nông dân sản xuất.
- Cho vay các định chế tài chính: bao gồm cấp tín dụng cho các ngân hàng,
công ty tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng và các định chế tài chính khác.
- Cho vay cá nhân: là loại cho vay để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua sắm
các vật dụng đắt tiền, và các khoản cho vay để trang trải các chi phí thông thường của
đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng. Nhằm đáp ứng nhu cầu của cá nhân.
1.1.4.2. Căn cứ vào thời hạn vay
Căn cứ vào thời hạn cho vay, tín dụng được phân thành các loại sau:
- Cho vay ngắn hạn: Thời hạn cho vay đến 12 tháng, được sử dụng để bù đắp
sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá
nhân.
SV:Lª V¨n Dòng Líp: Ng©n hµng K11
5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ViÖn Ng©n hµng Tµi chÝnh–

- Cho vay trung hạn: Theo quy định hiện nay của ngân hàng nhà nước Việt
Nam, loại cho vay này có thời hạn từ 12 tháng đến 5 năm.
- Cho vay dài hạn: thời hạn trên 5 năm và tối đa lên đến 20-30 năm, một số
trường hợp cá biệt có thể lên đến 40 năm.
Cho vay dài hạn là loại tín dụng được cung cấp để đáp ứng nhu cầu dài hạn
như: xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng xí
nghiệp mới….
1.1.4.3. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng:
Căn cứ trên mức độ tín nhiệm đối với khách hàng, tín dụng được phân thành
các loại sau:
- Cho vay không đảm bảo: làviệc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân
khách hàng. Hình thức cho vay này chỉ áp dụng cho các khách hàng tốt, trung thực
trong kinh doanh, có khả năng tài chính lành mạnh, hoặc có mối quan hệ truyền
thống…
- Cho vay có đảm bảo: là loại cho vay có tài sản đảm bảo nợ vay thông qua các
hình thức thế chấp, cầm cố tài sản hình thành từ món vay hoặc tài sản của người thứ 3.
Tài sản đảm bảo nợ vay có thể là tài sản đã có chủ quyền hợp pháp hình thành trước
khi có các giao dịch tín dụng hoặc có thể hình thành từ vốn vay.
1.1.4.4. Căn cứ vào phương thức hoàn trả:
Căn cứ vào phương thức hoàn trả, tín dụng được phân thành các loại sau:
- Cho vay có thời hạn:
Tín dụng trả 1 lần đi đến hạn: là các khoản cho vay trong đó vốn gốc và lãi vay
được hoàn trả một lần khi đến hạn.
Tín dụng trả góp: là các khoản tín dụng trong đó nợ gốc và lãi được hoàn trả
nhiều lần trong một thời hạn vay gọi là kỳ hạn nợ được xác định một cách cụ thể trong
hợp đồng tín dụng.
SV:Lª V¨n Dòng Líp: Ng©n hµng K11
6
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ViÖn Ng©n hµng Tµi chÝnh–
- Cho vay không có thời hạn: cho vay tuần hoàn là các khoản vay trong đó nợ

gốc và lãi được hoàn trả một cách tuần hoàn trong thời hạn vay.
1.1.4.5. Căn cứ vào xuất xứ tín dụng
- Cho vay trực tiếp: ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng
thời người vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
- Cho vay gián tiếp: là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại
các khế ước hoặc các chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán.
Các ngân hàng thương mại cho vay gián tiếp theo các loại sau:
+ Chiết khấu thương mại
+ Mua các chứng từ bán hàng
+ Nghiệp vụ bao thanh toán ( Factoring)
1.1.4.6. Căn cứ vào phương thức cho vay
Theo căn cứ này cho vay chia làm 2 loại :
- Cho vay bằng tiền là hình thức cho vay mà hình thái giá trị của tín dụng được
cung cấp bằng tiền. Đây là loại cho vay chủ yếu của các Ngân hàng và việc thực hiện
bằng các kỹ thuật như: Tín dụng ứng trước, thấu chi, tín dụng thời vụ, tín dụng trả góp

- Cho vay bằng việc mua tài sản rồi cho khách hàng thuê lại. Theo phương
thức cho vay này Ngân hàng hay các công ty thuê mua ( Công ty con của Ngân hàng )
Cung cấp tài sản trực tiếp cho người đi vay và được gọi là người đi thuê và theo định
kỳ người đi thuê hoàn trả nợ vay bao gồm cả gốc lẫn lãi.
1.1.4.7. Căn cứ vào mục đich sử dụng tiền vay.
- Cho vay tiêu dùng : là các khoản vay nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của
các cá nhân, hộ gia đình như: mua nhà, sửa chữa nhà, mua phương tiện đi lại, học tập,
khám chữa bệnh, du lịch …
SV:Lª V¨n Dòng Líp: Ng©n hµng K11
7
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ViÖn Ng©n hµng Tµi chÝnh–
- Cho vay sản xuất kinh doanh : là các khoản vay đối với các tổ chức, doanh
nghiệp để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh.
1.2. CHO VAY TIÊU DÙNG

1.2.1. Khái niệm và đặc điểm
1.2.1.1. Khái niệm:
Tín dụng tiêu dùng là các loại tín dụng cấp phát cho các cá nhân và hộ gia
đình nhằm tài trợ cho nhu cầu tiêu dùng như mua sắm nhà cửa, xe cộ, phát triển kinh
tế hộ gia đình, và chi tiêu khác.
1.2.1.2. Đặc điểm của cho vay tiêu dùng
a. Đây là hình thức cấp tín dụng để tài trợ cho mục đích tiêu dùng của từng cá
nhân nên qui mô vốn của từng món vay thường là nhỏ so với những món vay với mục
đích kinh doanh hoặc đầu tư của các tổ chức kinh tế. Điều này dẫn đến lượng khách
hàng của hình thức tín dụng tiêu dùng là rất lớn. Chính vì nó thoả mãn nhu cầu của
mỗi cá nhân trong xã hội mà mỗi người lại có những mục đích tiêu dùng khác nhau,
khả năng tài chính khác nhau, nhu cầu vay vì thế cũng khác nhau. Nắm rõ đặc điểm
này, các tổ chức tín dụng cho vay phải sắp xếp, bố trí lịch làm việc hợp lý để giải
quyết được lượng khách hàng rất lớn đến để vay, trả nợ hàng tháng.
-Bên cạnh đó số lượng khách hàng vay tiêu dùng lớn giúp ngân hàng phân tán
được rủi ro.
b. Là hình thức tín dụng chứa đựng nhiều rủi ro nhưng đem lại thu nhập lớn
cho ngân hàng. Như ta đã biết, vay tiêu dùng phụ thuộc rất nhiều vào khả năng trả nợ
của từng cá nhân, nó không phải là rủi ro do chủ quan từ phía người đi vay mà còn
chịu ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp của các yếu tố khách quan như rủi ro về mất
việc làm, bệnh tật, tai nạn, chết, các sự cố xảy ra trong gia đình nhưng chính là vì số
lượng khách hàng rất là nhiều nên những rủi ro này được phân tán, không tập trung
vào một đầu mối nên giảm được những tổn thất lớn cho ngân hàng. Bên cạnh đó nó lại
đem về cho ngân hàng một nguồn thu đáng kể từ lợi nhuận cho vay.
SV:Lª V¨n Dòng Líp: Ng©n hµng K11
8
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ViÖn Ng©n hµng Tµi chÝnh–
c. Đặc điểm tiếp theo là nhu cầu vay tiêu dùng phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế,
đây là món vay rất nhạy cảm với tình trạng “sức khoẻ” của nền kinh tế. Khi nền kinh
tế mở rộng, tăng trưởng tốt và ổn định thì nhu cầu vay tiêu dùng tăng lên, vì mọi

người cảm thấy lạc quan về tương lai nên sẵn sàng chi tiêu cho cuộc sống của mình.
Và ngược lại, khi nền kinh tế lâm vào suy thoái, tâm lý chung của các cá nhân là
không tin tưởng về cuộc sống tương lai, lo sợ tình trạng thất nghiệp xảy ra, nên họ sẽ
tiết kiệm trong việc chi tiêu của mình và hạn chế tối đa trong việc vay mượn ngân
hàng.
d. Đặc điểm quan trọng cuối cùng, người vay tiêu dùng quan tâm đến lãi suất
vay ( họ chỉ quan tâm chút ít vi: mức độ số tiền họ vay không nhiều lên khi đến hạn
trả cũng không nhiều). vốn mà họ chỉ quan tâm đến số tiền phải trả trong mỗi kỳ, mặc
dù lãi suất là yếu tố biểu hiện chi phí phải bỏ ra cho món vay đó. Vì đây là những món
vay tiêu dùng, không vì mục đích kinh doanh nên người vay thường ít quan tâm đến
chi phí phải trả này, mà là số tiền trả họ đã xác định rõ rồi. Hơn thế nữa, đối tượng
vay ở đây lại là những lao động bình thường, họ ít am hiểu về các vấn đề của ngân
hàng như lãi suất, điều quan tâm của họ đơn giản là món vay của họ có thoả mãn
được nhu cầu của họ không và số tiền họ phải trả mỗi kỳ là bao nhiêu. Lên rủi ro
trong việc vay đơn giản và thấp. ( Hầu như không tính đến ở người đi vay).
1.2.2. Đối tượng của cho vay tiêu dùng:
- Đó là các cá nhân và hộ gia đình có nhu cầu vay vốn nhằm để giải quyết các
nhu cầu chi tiêu trong đời sống và thu nhập hiên tại của họ chưa thể đáp ứng.
- Những cá nhân có thu nhập thấp, nhu cầu vay vốn thường không cao, chủ yếu
nhằm cân đối giữa thu nhập và chi tiêu. Tuy nhiên do thu nhập thấp đã phần nào hạn
chế khả năng nhận được khoản tín dụng cho chi tiêu của họ.
- Đối với cá nhân có thu nhập trung bình, mức sống của họ tương đối khá nhu
cầu vay vốn thường để chi, mua sắm những đồ dùng có giá trị lớn mà hiện tại họ thiếu
tiền để chi trả hoặc không muốn dùng đến những khoản dự phòng.
SV:Lª V¨n Dòng Líp: Ng©n hµng K11
9
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ViÖn Ng©n hµng Tµi chÝnh–
- Đối với những người có thu nhập cao, nhu cầu vay tiêu dùng tăng mạnh. Đó
là khoản tài trợ rất linh hoạt trong chi tiêu nhất là khi vốn của họ dùng để đầu tư dài
hạn.

1.2.3. Phân loại cho vay tiêu dùng
1.2.3.1. Cho vay tiêu dùng trực tiếp
Là phương thức mà ngân hàng gặp trực tiếp khách hàng phỏng vấn, thẩm định
và quyết định tín dụng. phương thức này thường được thực hiện thông qua các hình
thức sau:
- Thấu chi: cho phép khách hàng rút tiền từ tài khoản thanh toán vượt quá số
dư tự có tới một mức nào đó được hai bên thỏa thuận.
- Tín dụng trả theo định kỳ (cho vay trả góp) khách hàng vay và trả dần số tiền
vay cho ngân hàng theo định kỳ (gồm một phần vốn và lãi ) thường là hàng tháng, quý
và năm.
- Thẻ tín dụng: là nghiệp vụ tín dụng trong đó ngân hàng phát hành thẻ cho
người có đủ điều kiện với việc ấn định hạn mức tín dụng để khách hàng có thể thực
hiện việc thanh toán (rút tiền mặt) cho các nhu cầu chi tiêu của mình.
* Ưu điểm
- Trong CVTD trực tiếp NH có thể tận dụng được sở trường của nhân viên tín
dụng là những người được đào tạo chuyên môn và có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh
vực tín dụng cho lên quyết định tín dụng trực tiếp của NH thường có chất lượng cao
hơn so với trường hợp chúng được quyết định bởi những công ty bán lẻ hoặc nhân
viên tín dụng của công ty bán lẻ.
- Hoạt động của nhân viên tín dụng ngân hàng có xu hướng chú trọng đến việc
tạo ra các khoản cho vay có chất lượng tốt trong khi nhân viên của những công ty bán
lẻ thường chú trọng việc bán sao cho đươc nhiều hàng.
- Tại các điểm bán hàng các quyết định tín dụng thường được đưa ra một cách
vội vàng và như vậy có thể có nhiều khoản tín dụng được cấp ra một cách không
SV:Lª V¨n Dòng Líp: Ng©n hµng K11
10
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ViÖn Ng©n hµng Tµi chÝnh–
chính đáng. Hơn nữa, trong một số trường hợp, do quyết định nhanh, công ty bán lẻ
co thể từ chối cấp tín dụng đối với khách hàng tốt của mình. Nếu người cấp tín dụng
là ngân hàng thì điều này có thể hạn chế.

- CVTD trực tiếp có ưu điểm hơn so với CVTD gián tiếp
Khi khách hàng có mối quan hệ tực tiếp với ngân hàng, có rất nhiều lợi thế có
thể phát sinh, có khả năng làm thỏa mãn quyền lợi cho ca hai phía khách hàng lẫn
ngân hàng.
1.2.3.2. Cho vay tiêu dùng gián tiếp
Là các hoạt động thông qua việc mua lại các khoản phát sinh do công ty bán
hàng bán trả chậm cho khách hàng. Ở đây khách hàng, ngân hàng và các công ty bán
hàng phải ký hợp đồng thỏa thuận với nhau về số tiền vay, mức và tời hạn trả góp.
Nếu khách hàng không có khả năng trả nợ, tùy vào hợp đồng ký kết giữa ngân hàng
và công ty bán hàng mà ngân hàng có quyền truy đòi hoặc không truy đòi công ty bán
hàng.
* Ưu điểm
- Cho phép NH rễ ràng tăng doanh số cho vay tiêu dùng
- Giảm các chi phí xét duyệt hơn so với cho vay trực tiếp
- Rất phù hợp với cách thức mua hàng lâu bền, giá trị lớn với cả người mua và
với cả người bán hàng.
- Là nguồn gốc của việc mở rộng quan hệ với khách hàng và các hoạt động
ngân hàng khác.
- Trong trường hợp có quan hệ với những công ty bán lẻ tốt, công ty có vốn tự
có ròng lớn, CVTD gián tiếp an toàn hơn CVTD trưc tiếp. Bởi vì đảm bảo của khoản
vay tỏ ra vững chắc hơn khi có người bán kí hậu trên chứng từ hoặc kỳ phiếu và người
bán hàng cũng chịu trách nhiệm giám sát các khoản cho vay trong một giới hạn nào
đó ( như theo dõi các khoản không trả đúng hạn, việc tái sở hữu, bán hàng hóa tái sở
hữu…) làm cho chi phí NH giảm xuống.
SV:Lª V¨n Dòng Líp: Ng©n hµng K11
11
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ViÖn Ng©n hµng Tµi chÝnh–
* Nhược điểm
- NH không tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng đã được bán chịu, do đó các
khả năng lừa đảo, giả mạo và xuyên tạc nhiều hơn so với vay trưc tiếp.

- Thiếu sự kiểm soát của NH khi công ty bán lẻ thực hiện việc bá chịu hàng
hóa.
- Trong quá trình thực hiện việc trả góp, xảy ra không ít trường hợp người mua
trả lại hàng hóa cho người bán ( khi họ thấy không thỏa mãn hoặc không có khả năng
chi trả) – tình huống này thường không xảy ra đối với cho vay trưc tiếp. Những khoản
tranh chấp này ảnh hưởng lớn đến kết quả tín dụng.
1.2.4. Phân tích cho vay tiêu dùng
1.2.4.1. Mục đích
Mục đích của phân tích tín dụng là tìm kiếm những tình huống có thể dẫn đến
rủi ro cho ngân hàng và tiên lượng khả năng kiểm soát những rủi ro đó của ngân hàng,
cũng như dự kiến các biện pháp phòng ngừa và hạn chế những thiệt hại có thể xảy ra.
Mặt khác, phân tích tín dụng giúp cho ngân hàng kiểm tra tính chính xác của các
thông tin do khách hàng cung cấp từ đó có nhận định đúng về thái độ của khách hàng.
1.2.4.2. Nội dung phân tích
Nội dung phân tích tín dụng được chia ra làm hai lĩnh vực: phân tích phi tài
chính và phân tích tài chính.
- Phân tích phi tài chính: là phân tích các yếu tố ít hoặc không liên quan tới vấn
đề tài chính của khách hàng trực tiếp. Đó là phân tích, kiểm tra tính pháp lý của khách
hàng; kiểm tra mục đích của khoản tín dụng đề nghị cấp; phân tích tính cách của các
khách hàng, uy tín của họ trong cuộc sống, trong kinh doanh (đối với hộ gia đình có
làm kinh tế) kiểm tra tình hình lao động của khách hàng và nghiên cứu triển vọng của
khách hàng trong tương lai.
SV:Lª V¨n Dòng Líp: Ng©n hµng K11
12
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ViÖn Ng©n hµng Tµi chÝnh–
- Phân tích phi tài chính: là phân tích hiện trạng tài chính và các dự báo về tài
chính trong tương lai của khách hàng nhằm tìm kiếm và tiên lượng những trường hợp
xấu có thể xảy ra làm giảm khả năng trả nợ của khách hàng.
1.2.4.3. Phương pháp phân tích
1.2.4.3.1. Phương pháp hệ thống điểm số

Hệ thống điểm số (score system) là một tập hợp các tiêu thức khác nhau liên
quan đến từng khách hàng vay tiêu dùng. Mỗi tiêu thức có một số điểm khác nhau tùy
theo tình trạng của tiêu thức đó và tầm quan trọng của nó trong hệ thống các tiêu thức,
dựa trên cơ sở các hệ thống kê trong lịch sử.
Phương pháp này phải dựa trên cơ sở các kết quả thống kê trong quá khứ, chỉ
ra đâu là khoản vay tốt và đâu là khoản vay xấu. Ưu điểm nổi bậc của phương pháp
này là việc phân tích một vấn đề bao gồm nhiều yếu tố được đơn giản hóa chỉ còn một
yếu tố: điểm tín dụng của khách hàng.
Trong thực tế, một hệ thống điểm số thường có nhiều yếu tố, được xây dựng
dựa trên một số nguyên tắc nhất định.Thông thường trong một hệ thống điểm số, có
khoảng 7 đến 12 yếu tố khác nhau được xem xét:
- Thời gian làm việc hiện tại
- Tình trạng gia đình (có gia đình, độc thân hay đã ly hôn)
- Độ tuổi
- Hình thức lao động
- Thời gian cư trú
- Có điện thoại không
- Số lượng người sống phụ thuộc vào người vay
- Loại tài khoản có tại ngân hàng…
Hệ thống này có một số nhược điểm sau đây:
SV:Lª V¨n Dòng Líp: Ng©n hµng K11
13
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ViÖn Ng©n hµng Tµi chÝnh–
- Các thông tin về người đi vay được dùng trong hệ thống điểm số là những
thông tin trong quá khứ vì vậy có thể không phản ánh được chính xác tư cách tín dụng
của người đi vay trong hiện tại và tương lai.
- Các thông tin dùng trong hệ thống điểm số bị phiến diện vì chỉ là các thông
tin thông kê về những người vay đã được ngân hàng chấp nhận cho vay.
- Phương pháp này dựa trên cơ sơ số đông và như vậy có thể bỏ qua các trường
hợp khách hàng có hoàn cảnh cá biệt.

1.2.4.3.2. Phương pháp phán đoán
Phân tích tín dụng theo phương pháp này là một quá trình trong đó ngân hàng
tiến hành phân tích và đánh giá tất cả các thông tin định tính và định lượng về khách
hàng nhằm mục tiêu hạn chế bớt các khoản vay có nhiều rủi ro. Đối với phương pháp
này ngân hàng cũng rất quan tâm đến khả năng trả nợ, điều kiện kinh tế hiện tại, bảo
đảm nào cần phải có, phải tuân thủ nội dung của chính sách cho vay của ngân hàng.
Các thông tin có tính chủ quan về khách hàng như: thái độ, diện mạo của khách hàng,
khả năng quan hệ với ngân hàng trong tương lai… có tác dụng rất quang trọng trong
việc ra quyết định của ngân hàng.
Để thẩm định trong vay tiêu dùng chính xác và hạn chế rủi ro các ngân hàng
thường sử dụng kết hợp cả hai phương pháp trên nhằm bổ sung cho nhau và hạn chế
khắc phục của từng phương pháp.
1.2.5. Ý nghĩa của cho vay tiêu dùng
Một hình thức cho vay muốn tồn tại và phát triển trong hoạt động của NH thì bản
thân nó phải đem lại những lợi ích thiết thực cho những người đã tạo ra va sử dụng
nó. Hình thức cho vay tiêu dùng đã xuất hiện từ lâu và cho đến nay hoạt động của nó
vẫn không ngừng được các ngân hàng quan tâm và phát triển, khách hàn sử dụng,
Chính phủ các nước đồng tình ủng hộ.
1.2.5.1. Đối với người tiêu dùng
Tín dụng tiêu dùng góp phần giải quyết những nhu cầu cấp thiết trong cuộc
sống hằng ngày của người đi vay, đặc biệt là người lao động có thu nhập trung bình.
SV:Lª V¨n Dòng Líp: Ng©n hµng K11
14
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ViÖn Ng©n hµng Tµi chÝnh–
Thông qua nguồn vốn vay ngân hàng, người tiêu dùng có thể hưởng được các tiện ích
của hàng hóa trước khi họ có thể đủ tiền để có nó. Từ đó nâng cao mức sống của
khách giúp họ tiếp cận nhanh chóng các sản phẩm có trình độ khoa học kỹ thuật cao.
Từ việc thỏa mãn các nhu cầu trong cuộc sống dẫn tới sự tích cực trong lao động và
hiệu quả của công việc tăng lên. Tuy nhiên nếu lạm dụng việc đi vay để tiêu dùng thi
cũng rất tai hại vì nó có thể làm cho người đi vay chi tiêu vượt quá mức cho phép, làm

giảm khả năng tiết kiệm hoặc chi tiêu trong tương lai, còn nghiêm trọng hơn nếu còn
mất khả năng chi trả thì người này có thể gặp rất nhiều phiền toái trong cuộc sống.
1.2.5.2. Đối với ngân hàng
- Tín dụng tiêu dùng góp phần đa dạng hóa hoạt động cho vay của ngân hàng,
mở rộng quan hệ với khách hàng, có nhiều cơ hội để bán thêm các sản phẩm khác
cũng như huy động thêm tiền gửi…
- Các khoản tín dụng tiêu dùng hầu hết là ngắn hoạt trung hạn và phương thức
thanh toán là trả góp, khoản vay tương đối nhỏ phân tán trên số lượng lớn khách hàng
nên ngân hàng tránh được rủi ro, thu hồi vốn thường xuyên, nâng cao khả năng thanh
khoản.
- Cho vay tiêu dùng giúp khả năng cạnh tranh của ngân hàng với các ngân
hàng và các tổ chức tín dụng khác, thu hút được đối tượng khách hàng mới, từ đó mà
mở rộng mối quan hệ với khách hàng. Bằng cách nâng cao mở rộng mạng lưới, đa
dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ cho vay tiêu dùng, số lượng khách
hàng đến với ngân hàng ngày càng nhiều hơn, và hình ảnh của ngân hàng sẽ đẹp hơn
trong mắt khách hàng. Trong ý nghĩ của công chúng, ngân hàng không chỉ là tổ chức
chỉ biết quan tâm đến các công ty và doanh nghiệp mà ngân hàng còn quan tâm đến
các nhu cầu nhỏ bé, cần thiết của người tiêu dùng, đáp ứng nguyện vọng cải thiện đời
sống của người tiêu dùng. Từ đó mà uy tín của ngân hàng ngày càng nâng lên.
- Cho vay tiêu dùng cũng là một công cụ marketing rất hiệu quả, nhiều người
sẽ biết tới ngân hàng hơn, từ đó ngân hàng sẽ huy động đươc nhiều khoản tiền gửi của
dân cư.
SV:Lª V¨n Dòng Líp: Ng©n hµng K11
15
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ViÖn Ng©n hµng Tµi chÝnh–
- Cho vay tiêu dùng tạo điều kiện mở rộng và đa dạng hóa kinh doanh từ đó
nâng cao thu nhập và phân tán rủi roc ho ngân hàng.
1.2.5.3. Đối với nhà cung cấp
Tín dụng tiêu dùng nâng cao năng lực sản xuất và sức cạnh tranh của doanh
nghiệp. Thông qua phương thức tín dụng tiêu dùng gián tiếp doanh nghiệp có thể giải

quyết được vấn đề tồn đọng vốn huy động được nguồn tiền tệ phục vụ cho sản xuất
kinh doanh. Mặt khác do liên kết với ngân hàng nên doanh nghiệp còn được ngân
hàng tài trợ về vốn và thông tin về nhu cầu của khách hàng đối với hàng hóa và dịch
vụ của doanh nghiệp từ đó điều chỉnh hoạt động kinh doanh của mình tốt hơn.
1.2.5.4. Đối với nền kinh tế
Tác động tích cực: cho vay tiêu dùng nếu được dùng để tài trợ cho các chỉ tiêu
về hàng hoá và dịch vụ trong nước thì nó có tác dụng rất tốt cho việc kích cầu, tạo
điều kiện cho sản xuất phát triển, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tác động
tiêu cực : cho vay tiêu dùng nếu không được sử dụng đúng mục đích trên, chẳng
những không có tác dụng kích cầu mà còn làm giảm khả năng tiết kiệm trong nước.
1.2.6. Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay tiêu dùng.
1.2.6.1 Các nhân tố thuộc về ngân hàng
- Quy mô và uy tín của ngân hàng có ảnh hưởng tới đối tượng cho vay tiêu
dùng. Ngân hàng có nguồn vốn tự có cao hay thấp, có nhiều mạng lưới chi nhánh để
thuận tiện giao dịch với khách hàng hay không. Uy tín của ngân hàng cao hay thấp
cũng ảnh hưởng tới lượng khách hàng đến giao dịch với khách hàng.
- Yếu tố ghóp phần không nhỏ đến thành công của cho vay tiêu dùng là các
chính sách, quy định của ngân hàng. Đó la phương pháp chăm sóc khách hàng trước
và sau khi cho vay. Có chu đáo hay không, đó là các quy chế về lãi suất và phí tín
dụng cao hay thấp, có linh hoạt và phù hợp với thu nhập hiện có của người dân hay
không, các quy chế về thời hạn tín dụng và kỳ hạn nợ, tài sản đảm bảo và phương
SV:Lª V¨n Dòng Líp: Ng©n hµng K11
16
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ViÖn Ng©n hµng Tµi chÝnh–
thức giải ngân thanh toán. Thủ tục xin vay vốn có phức tạp hay đơn giản, thời gian
thẩm định hồ sơ kéo dài bao lâu. Nếu thời gian thẩm định quá dài thì khách hàng
không muốn chờ đợi và sang các ngân hàng khác.
- Trình độ, thái độ cán bộ tín dụng của ngân hàng cũng mang tính quyết định
thành công của cho vay tiêu dùng. Cán bộ tín dụng cần có trình độ chuyên môn tốt thì
mới thẩm định chính xác khách hàng và dự án vốn, từ đó đưa ra quyết định chính xác

va đúng đắn. Cán bộ tín dụng cũng cần có đạo đức nghề nghiệp, tận tâm với công
việc, nhiệt tình giúp đỡ, chỉ bảo khách hàng những thủ tục cần thiết.
- Muốn hoạt động cho vay tiêu dùng được nhiều khách hàng biết đến thì ngân
hàng cần có chính sách marketing phù hợp.
- Công nghệ ngân hàng và khả năng quản lý có tác động tới hoạt động cho vay
tiêu dùng. Nếu ngân hàng có công nghệ hiện đại sẽ dẫn tới việc giải quyết các thủ tục
được nhanh chóng, chính xác, giảm bớt thủ tục rườm rà cho khách hàng va việc quản
lý khách hàng cũng được thuận tiện hơn. Bên cạnh vấn đề về công nghệ, ngân hàng
cần có những nội quy thưởng phạt nghiêm minh, quản lý tốt để tạo động lực làm việc
cho cán bộ nhân viên ngân hàng, tác động đến phong cách làm việc của nhân viên.
- Tất cả các nhân tố vi mô nói trên đều là những nhân tố thuộc về nội tại ngân
hàng có tác động tới cho vay tiêu dùng. Ngoài những nhân tố đó còn kể tới những
nhân tố khách quan bên ngoài ngân hàng cũng ảnh hưởng tới cho vay tiêu dùng. Nếu
như khách hàng là người có đạo đức tốt, ý thức trả nợ tốt, rủi ro cho vay tiêu dùng
thấp sẽ kích thích ngân hàng tiến hành mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng, các quy
chế cho vay sẽ không quá khắt khe. Ngược lại, nếu khách hàng không trả nợ đều, nợ
quá hạn quá nhiều thì tất yếu sẽ kìm hãm hoạt động cho vay tiêu dùng.
1.2.6.2 Các nhân tố ngoài ngân hàng
- Một số nhân tố vĩ mô ảnh hưởng tới hoạt động cho vay tiêu dùng như môi
trường kinh tế xã hội, các chính sách kinh tế của nhà nước, sự cạnh tranh giữa các
ngân hàng, môi trường, phép lịch sự, văn hóa ứng sử…
SV:Lª V¨n Dòng Líp: Ng©n hµng K11
17
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ViÖn Ng©n hµng Tµi chÝnh–
- Trước hết cần kể tới đặc điểm thị trường nơi ngân hàng hoạt đông. Nơi đó là
thành thị hay nơi tập trung đông dân cư, có mức thu nhập khá, trình độ học vấn cao thì
nhu cầu vay tiêu dùng sẽ tăng cao hơn so với vùng nông thôn.
- Kể đến các thói quen, phong tục tập quán, tâm lý có ảnh hưởng tới nhu cầu
vay tiêu dùng. Người dân Việt nam thường có thói quen tiết kiệm rồi tích lũy đủ mới
mua sắm, tiêu dùng. Họ không nghĩ đến việc đi vay nợ để mua sắm cộng với tâm lý

ngại tiếp xúc với ngân hàng, sợ các thủ tục hành chính rườm rà. Chính vì thế mà nhu
cầu vay của ngươi dân còn thấp.
- Môi trường kinh tế chính trị có ảnh hưởng đến cho vay tiêu dùng. Nếu nền
kinh tế phát triển tốt, thu nhập bình quân đầu người cao và ổn định về chính trị, thì
hoạt động cho vay tiêu dùng cũng diễn ra thông suốt, phát triển vững chắc và hạn chế
những rắc rối có thể xảy ra. Nếu thị trường có sự cạnh tranh khốc liệt giữa các ngân
hàng thì cho vay tiêu dùng cũng gặp khó khăn.
- Những quy định pháp lý của chính phủ và Ngân hàng TW có thể khuyến
khích và cũng có thể hạn chế cho vay nói chung va cho vay tiêu dùng nói riêng.
1.3. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG
1.3.1. Khái niệm
Hiệu quả chất lượng cho vay tại ngân hàng thương mại là chất lượng của các
khoản cho vay của ngân hàng thương mại. Các khoản cho vay có chất lượng khi vốn
vay được khách hàng sử dụng hiệu quả, đúng mục đích, tạo ra số tìên lớn hơn, thông
qua đó ngân hàng thu hồi được gốc và lãi, còn doanh nghiệp có thể trả được nợ, bù
đắp chi phí và thu được lợi nhuận. Điều này có nghĩa là ngân hàng vừa tạo ra hiệu quả
kinh tế lại tạo được hiệu quả xã hội.
1.3.2. Mục tiêu của viêc nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng
- An toàn
Giúp ngân hàng an toàn hơn khi cho vay. Vì lượng tiền mỗi người vay không
nhiều dẫn đến việc cho vay và trả nợ được an toàn hơn.
SV:Lª V¨n Dòng Líp: Ng©n hµng K11
18
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ViÖn Ng©n hµng Tµi chÝnh–
- Sinh lời
Khi ngân hàng nào cho vay đều muốn độ sinh lời càng cao càng tốt. Vì vậy
việc cho vay tiêu dùng cũng là một hình thức cho vay tạo lên lợi nhuận khá tốt về mặt
thu nhập cho ngân hàng.
- Giảm thiểu rủi ro
Khi cho vay dưới hình thức nào thì rủi ro là điều không thể tránh khỏi. Vi vậy

cho vay tiêu dùng giúp ngân hàng phân chia rủi ro tới từng người đi vay. Lên độ rủi ro
thấp hơn. So với các hình thức cho vay khác.
1.3.3. Tiêu chí phân tích đánh giá
1.3.3.1. Dựa vào chỉ tiêu nợ xấu / tổng dư nợ
Tỷ lệ nợ xấu =
Tổng dư nợ xấu x
100%
Tổng dư nợ tín dụng
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ được sử dụng đánh giá chất lượng tín dụng
tại tổ chức tín dụng, điều này được quy định cụ thể tại khoản 6, điều 2 Quyết định
493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Tỷ lệ nợ
xấu cho biết trong 100 đồng tổng dư nợ tín dụng có bao nhiêu đồng nợ xấu, tỷ lệ này
càng lớn chứng tỏ chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng càng giảm.
Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước Nợ xấu là khoản nợ thuộc nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5 cụ thể như sau:
- Nhóm 3: ( Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng
đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này
được các tổ chức tín dụng là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi.
- Nhóm 4: (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh
giá là khả năng tổn thất cao.
- Nhóm 5: (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín
dụng đánh giá là không có khả năng thu hồi, mất vốn.
SV:Lª V¨n Dòng Líp: Ng©n hµng K11
19
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ViÖn Ng©n hµng Tµi chÝnh–
1.3.3.2. Dựa vào chỉ tiêu ( Tỷ lệ nợ rủi ro )
Tỷ lệ nợ rủi ro =
Tổng dư nợ (từ nhóm 2 đến nhóm 5)
x 100%
Tổng dư nợ tín dụng

Hiện nay tổ chức tín dụng phân loại nợ thành 5 nhóm, nợ từ nhóm 2 đến nhóm
5 là nợ rủi ro và tổ chức tín dụng phải trích lập dự phòng rủi ro tín dụng cụ thể. Tỷ lệ
trích lập dự phòng cụ thể đối với các nhóm nợ rủi ro được quy định như sau: nhóm
2:5%; nhóm 3:20%; nhóm 4:50%; nhóm 5:100%. Chỉ tiêu tỷ lệ rủi ro phản ánh cứ
100 đồng tổng dư nợ tín dụng sẽ có bao nhiêu đồng tổng dư nợ từ nhóm 2 đến nhóm
5. Chỉ tiêu này càng lớn phản ánh nguy cơ mất vốn của ngân hàng càng cao, chất
lượng tín dụng của ngân hàng càng giảm.
1.3.3.3 Dựa vào chỉ tiêu: (Thu lãi từ cho vay tiêu dùng / Tổng thu lãi)
Thu lãi từ cho vay tiêu dùng
x 100%
Tổng thu lãi
- Chỉ tiêu này phản ánh quy mô, hiệu quả hoạt động cho vay của ngân hàng. Chỉ
tiêu này càng cao phản ánh tỷ trọng thu nhập của ngân hàng chủ yếu là từ hoạt động
cho vay. Khi phân tích xem xét chỉ tiêu này ta sẽ thấy cứ 100 đồng tổng thu lãi của
ngân hàng thì sẽ có bao nhiêu đồng thu lãi từ cho vay. Khi phân tích hiệu quả từ hoạt
động cho vay thì đánh giá quy mô thu lãi từ hoạt động cho vay cũng đóng một vai trò
quan trọng.
1.3.3.4 Dựa vào chỉ tiêu: (Lãi thực thu của cho vay tiêu dùng / Tổng thu lãi)
Lãi thực thu của cho vay tiêu dùng
x 100%
Tổng thu lãi
Chỉ tiêu này phản ánh chất lượng của hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân
hàng. Cứ 100 đồng tổng thu lãi từ hoạt động cho vay thì sẽ có bao nhiêu đồng lãi thực
thu. Chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả chất lượng cho vay của ngân hàng càng cao. Số
lãi thực thu phản ánh thực chất số tiền lãi mà ngân hàng thu được trong tổng thu lãi.
SV:Lª V¨n Dòng Líp: Ng©n hµng K11
20
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ViÖn Ng©n hµng Tµi chÝnh–
1.3.3.5 Chỉ tiêu sinh lời
- Chỉ tiêu đánh giá lợi nhuận.

Hầu hết các khách hàng khi tiến hành hoạt động đầu tư, kinh doanh đều
hướng đến mục tiêu quan trọng nhất là lợi nhuận và các NHTM cũng không phải là
ngoại lệ. Cho dù với tư cách là một trung gian tài chính quan trọng trong nền kinh
tế, giữ vai trò là đòn bẩy thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển, các NHTM trong quá
trình kinh doanh không những phải chú ý đến hiệu quả kinh tế mà còn phải chú ý
đến hiệu quả xã hội. Tuy nhiên lợi nhuận vẫn là điều kiện cần thiết để đảm bảo sự
tồn tại và phát triển của ngân hàng do vậy không thể bỏ qua tiêu chí này khi đánh
giá hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng. Hiệu quả hoạt cho vay của
ngân hàng không thể nói là tốt nếu lợi nhuận do hoạt động này mang lại thấp. Cụ
thể, người ta thường dùng các chỉ tiêu sau để đánh giá hiệu quả hoạt động cho vay
tiêu dùng xét về mặt lợi nhuận:
Chỉ tiêu 1:
Lợi nhuận từ hoạt động cho vay tiêu dùng
Dư nợ cho vay tiêu dùng
Chỉ tiêu 2:
Lợi nhuận từ hoạt động cho vay tiêu dùng
Tổng lợi nhuận ngân hàng
Chỉ tiêu thứ nhất phản ánh khả năng sinh lời của các khoản cho vay tiêu dùng
của ngân hàng. Nó cho biết một hợp đồng dư nợ cho vay tiêu dùng mang lại bao
nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ lợi nhuận do hoạt động cho vay
tiêu dùng mang lại càng lớn, đó là một trong những nhân tố tạo nên chất lượng, hiệu
quả hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng.
Chỉ tiêu thứ hai cho phép đánh giá tầm quan trọng của hoạt động cho vay tiêu
dùng trong mối quan hệ với toàn bộ hoạt động của ngân hàng. Tỷ lệ này cao chứng
tỏ hầu hết lợi nhuận của ngân hàng đạt được từ hoạt động cho vay dự án của ngân
hàng. Điều đó chỉ có thể có được khi quy vô cho vay tiêu dùng của ngân hàng chiếm
tỷ trọng lớn trong cơ cấu tài sản của ngân hàng đồng thời hiệu quả mang lại từ hoạt
động này ngày càng cao. Nói cách khác, chất lượng cho vay tiêu dùng của ngân
hàng có thể được đánh giá là khả quan. Tuy nhiên, điều đó cũng đồng nghĩa với việc
SV:Lª V¨n Dòng Líp: Ng©n hµng K11

21
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ViÖn Ng©n hµng Tµi chÝnh–
ngân hàng đang phải chấp nhận đối mặt với những nguy cơ rủi ro tiềm tàng. Do đó
đòi hỏi hoạt động cho vay tiêu dùng phải được quản lý một cách khoa học và chặt
chẽ.
1.3.3.6. Chỉ tiêu về dư nợ
Chỉ tiêu 1:
Dư nợ cho vay tiêu dùng
Tổng dư nợ cho vay
Chỉ tiêu 2:
Dư nợ cho vay tiêu dùng
Tổng tài sản
- Chỉ tiêu thứ nhất phản ánh tỷ trọng dư nợ cho vay tiêu dùng so với tổng dư
nợ cho vay của ngân hàng, tức là phản ánh quy mô của việc cho vay tiêu dùng đối
với dư nợ ngắn hạn cũng như dư nợ trung dài hạn khác. Tỷ lệ này cao và ngày càng
tăng sẽ cho thấy ngân hàng chú trọng đến việc mở rộng hoạt động cho vay tiêu
dùng, nhìn chung ngân hàng thương mại nào cũng mong muốn tỷ lệ này cao do hoạt
động cho vay tiêu dùng mang lại thu nhập lớn hớn so với tín dụng ngắn hạn. Hơn
nữa, mở rộng cho vay tiêu dùng sẽ giúp ngân hàng nâng cao uy tín, mở rộng thị
trường tín dụng ngắn hạn. Tuy nhiên, do đặc tính rủi ro cao nên các ngân hàng sẽ
căn cứ vào những đặc điểm riêng về nguồn vốn, về khả năng quản lý, trình độ
chuyên môn của mình để xác định tỷ lệ này cho phù hợp.
- Chỉ tiêu thứ hai phản ánh tương quan so sánh về quy mô cho vay tiêu dùng
so với tổng tài sản của ngân hàng, đồng thời cho phép đánh giá tính hợp lý trong cơ
cấu sử dụng vốn ngân hàng. Nếu tỷ lệ này cao chứng tỏ các khoản cho vay tiêu dùng
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản ngân hàng. Điều này là tích cực nếu như ngân
hàng có tiềm lực và khả năng dồi dào về nguồn vốn, đồng thời các khoản vay phải
được quản lý tốt và đảm bảo an toàn. Ngược lại nếu không có tiềm lực vốn trung dài
hạn lớn và khả năng quản lý tốt trong khi tỷ lệ này cao thì có nghĩa là ngân hàng
đang ở vào tình thế nguy hiểm có thể dẫn đến mất khả năng thanh toán. Thông

thường các ngân hàng thường thích phân tán rủi ro bằng cách đa dạng hoá các tài
SV:Lª V¨n Dòng Líp: Ng©n hµng K11
22
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ViÖn Ng©n hµng Tµi chÝnh–
sản sinh lời của mình hơn là tập trung vào một tài sản có khả năng sinh lời cao
nhưng lại tiềm ẩn trong nó một nguy cơ rủi ro lớn.
SV:Lª V¨n Dòng Líp: Ng©n hµng K11
23
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ViÖn Ng©n hµng Tµi chÝnh–
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI CHI NHÁNH
NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN ĐÔNG ĐÔ
2.1. Khái quát về Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt nam – Chi nhánh Đông Đô
2.1.1. Sơ lược về quá trình hình thành
Ngày 26/4/1957 ngân hàng ĐT&PTVN được thành lập theo quyết định số
177/TT của thủ tướng chính phủ, là ngân hàng được thành lập sớm nhất ở Việt Nam
theo mô hình tổng công ty nhà nước. Trải qua 52 năm hoạt động xây dựng và trưởng
thành với nhiệm vụ chính là hoạt động chuyên sâu trong lĩnh vực đầu tư và phát
triển, với các tên goị khác nhau:
- Ngân hàng kiến thiết Việt Nam trực thuộc Bộ tài chính từ ngày 26/04/1957.
- Ngân hàng đầu tư và xây dựng trực thuộc NHNN từ 26/6/1981.
- Ngân hàng đầu tư và phát triển trực thuộc NHNN từ 14/11/1990.
Chi nhánh Ngân hàng đầu tư và phát triển Đông Đô được thành lập trên cơ sở
nâng cấp phòng Giao dịch số 2 (14 Láng Hạ), đi vào hoạt động từ ngày 31/07/2004
theo QĐ số 191/QĐ-HĐQT ngày 05/07/2004 của Hội đồng quản trị Ngân hàng đầu
tư và phát triển Việt Nam, là một trong những cơ sở tiên phong đi đầu trong hệ
thống Ngân hàng đầu tư và phát triển chú trọng triển khai nghiệp vụ Ngân hàng bán
lẻ, lấy phát triển dịch vụ và đem lại tiện ích cho khách hàng làm nền tảng; hoạt động
theo mô hình giao dịch một cửa với quy trình nghịêp vụ Ngân hàng hiện đại và công
nghệ tiên tiến; theo đúng dự án hiện đại hoá Ngân hàng Việt Nam hiện nay.

Việc thành lập chi nhánh Ngân hàng đầu tư và phát triển Đông Đô phù hợp
với tiến trình thực hiện chương trình cơ cấu lại, gắn liền với đổi mới toàn diện và
phát triển vững chắc với nhịp độ tăng trưởng cao, phát huy truyền thống phục vụ
đầu tư phát triển; đa dạng hoá khách hàng thuộc mọi thành phần kinh tế, phát triển
và nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ Ngân hàng, nâng cao hiệu quả an toàn
SV:Lª V¨n Dòng Líp: Ng©n hµng K11
24
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ViÖn Ng©n hµng Tµi chÝnh–
hệ thống theo đòi hỏi của cơ chế thị trường và lộ trình hội nhâp, làm nòng cốt cho
việc xây dưng tập đoàn tài chính đa năng, vững mạnh, hội nhập quốc tế.
Sau 3 năm thành lập đến nay chi nhánh đã bắt kịp với sự phát triển của thị
trường. Trụ sở chính cùng với 8 điểm giao dịch đặt ở các vị trí thuận lợi trên toàn
thành phố rất thuận tiện để cung cấp các sản phẩm của ngân hàng tới các khách
hàng.Chọn làm một trong những điểm giao dịch triển khai trương trình hiện đại hoá
đầu tiên, đây là một trương trình có nhiều tiện ích online trên cả nước rất thuận tiện
cho công tác thanh toán tiền trên cả nước, chuyển tiền trong nước và quốc tế.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức nhân sự
Sơ đồ Cơ cấu, tổ chức Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Đông Đô.
SV:Lª V¨n Dòng Líp: Ng©n hµng K11
25
Phó giám đốc 1
Giám đốc
Phó giám đốc 1
Phòng
Quản
lý rủi
ro
Phòng
tổ chức
hành

chính
Phòng Kế
hoạch tổng
hợp
Phòng
tài
chính
kế
toán
Phòng
quản
trị tín
dụng
Phòng
thanh
toán
quốc
tế
Phòng
quản
lý và
dịch
vụ kho
quỹ
Phòng
Quan hệ
khách
hàng cá
nhân 1,2
Tổ

điện
toán
Phòng
GD1,
2,4,5
và các
QTK
17,19,
22,9

×