Tải bản đầy đủ (.pdf) (104 trang)

Tìm hiểu một số cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn của một số cây bút nữ thời kỳ 1986-2006 (Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.11 MB, 104 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

--------------------

NGUYỄN THANH HỒNG

TÌM HIỂU MỘT SỐ CÁCH TÂN NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN
NGẮN CỦA MỘT SỐ CÂY BÚT NỮ THỜI KỲ 1986-2006 ( NGUYỄN
THỊ THU HUỆ, NGUYỄN NGỌC TƯ, ĐỖ BÍCH THÚY)

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

HÀ NỘI – 10/2009


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

--------------------

NGUYỄN THANH HỒNG

TÌM HIỂU MỘT SỐ CÁCH TÂN NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN
NGẮN CỦA MỘT SỐ CÂY BÚT NỮ THỜI KỲ 1986-2006 ( NGUYỄN
THỊ THU HUỆ, NGUYỄN NGỌC TƯ, ĐỖ BÍCH THÚY)

CHUYÊN NGÀNH:
MÃ SỐ:

VĂN HỌC VIỆT NAM


60 22 34

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HÀ VĂN ĐỨC

HÀ NỘI – 10/2009


Luận văn thạc sĩ

Nguyễn Thanh Hồng

MỤC LỤC
MỤC LỤC ............................................................................................................................ 1
PHẦN MỞ ĐẦU................................................................................................................... 2
1. MỤC ĐÍCH Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI ........................................................................ 2
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ....................................................................................................... 3
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ......................................................... 12
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU............................................................................. 13
5. CẤU TRÚC LUẬN VĂN .......................................................................................... 14
PHẦN NỘI DUNG ............................................................................................................. 15
CHƯƠNG 1: NHỮNG ĐỔI MỚI VỀ CỐT TRUYỆN VÀ KẾT CẤU ..................... 15
1.1.Cốt truyện và sự mở rộng dung lượng hiện thực .............................................. 15
1.1.1. Cốt truyện đan xen nhiều mạch truyện ....................................................... 19
1.1.2. Cốt truyện giàu chi tiết sự kiện: ................................................................... 23
1.1.3. Cốt truyện có cấu trúc lỏng: ......................................................................... 27
1.2. Những đổi mới trong kết cấu truyện ngắn ....................................................... 30
1.2.1. Kết cấu đảo lộn thời gian của sự kiện.......................................................... 33
1.2.2. Kết cấu tâm lí: ............................................................................................... 41

1.2.3. Kết cấu mở (Kiểu kết thúc để ngỏ) ............................................................... 45
CHƯƠNG 2: NHỮNG ĐỔI MỚI TRONG NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN
VẬT ................................................................................................................................. 48
2.1. Sự phong phú của thế giới nhân vật: ................................................................ 51
2.1.1.Nhân vật lý tưởng .......................................................................................... 51
2.1.2.Nhân vật tha hóa............................................................................................ 56
2.1.3. Nhân vật bi kịch ............................................................................................ 58
2.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật........................................................................... 63
2.2.1.Không gian nghệ thuật trong việc khắc họa tính cách nhân vật................. 63
2.2.2. Đối thoại và độc thoại nội tâm ..................................................................... 67
2.2.3.Nghệ thuật miêu tả tâm lý ............................................................................. 72
CHƯƠNG 3: NHỮNG CÁCH TÂN TRÊN PHƯƠNG DIỆN GIỌNG ĐIỆU VÀ
NGÔN NGỮ ................................................................................................................... 77
3.1. Giọng điệu: .......................................................................................................... 77
3.1.1.Giọng hài hước, châm biếm, mỉa mai: ......................................................... 78
3.1.2.Giọng trữ tình, suy tư, chiêm nghiệm ........................................................... 80
3.2.Ngôn ngữ: ............................................................................................................. 82
3.2.1.Những đặc trưng nghệ thuật trong ngôn ngữ của Nguyễn Ngọc Tư: ........ 82
3.2.1.1.Ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ: .................................................................. 82
3.2.1.2.Tính nhip điệu trong văn Nguyễn Ngọc Tư .............................................. 84
3.2.2.Những đặc trưng nghệ thuật trong cách sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn
Thị Thu Huệ ............................................................................................................ 87
3.2.2.1.Ngôn ngữ đời thường ............................................................................... 87
3.2.2.2. Ngơn ngữ có tính cá thể hóa cao độ ....................................................... 88
3.2.3.Những đặc trưng nghệ thuật trong cách sử dụng ngơn ngữ của Đỗ Bích
Thúy ......................................................................................................................... 91
3.2.3.1.Ngơn ngữ mang đậm bản sắc của người dân tộc .................................... 91
3.2.3.2.Ngơn ngữ giàu hình ảnh, giàu chất thơ ................................................... 94
PHẦN KẾT LUẬN ............................................................................................................ 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO


1


Luận văn thạc sĩ

Nguyễn Thanh Hồng

PHẦN MỞ ĐẦU
1. MỤC ĐÍCH Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Sau năm 1986, văn học Việt Nam đã có những khởi sắc đặc biệt. Khơng giống
như ở thời kỳ trước, văn học thời kỳ này đã phản ánh hiện thực theo cách mới, quan
niệm mới. Không chỉ mở rộng đề tài theo hướng tiếp cận gần gũi hơn với hiện thực
đời sống sinh hoạt, đời sống văn hóa, quan điểm của các nhà văn về một số vấn đề
của lịch sử Việt Nam cũng mang những sắc thái thẩm mỹ mới. Cảm hứng sử thi của
giai đoạn trước được thay thế bằng cảm hứng đời tư, thế sự. Xu hướng ngợi ca được
thay thế bằng cái nhìn phê phán hiện thực. Thói quen nhìn cuộc sống ở khía cạnh
lạc quan, tươi đẹp được thay bằng sự khai thác trực diện những tồn đọng của xã hội,
những khát vọng của đời sống cá nhân con người. Văn học giai đoạn này vì thế đa
giọng điệu, đa sắc màu và gây nhiều tranh cãi hơn.
Với đặc thù là một thể loại nhỏ gọn và cơ động, truyện ngắn bắt nhịp rất
nhanh với những vấn đề của đời sống. Truyện ngắn nhanh nhạy len lỏi vào mọi ngõ
ngách của xã hội, phản chiếu mọi tâm điểm nóng bỏng của hiện thực. Nhà nghiên
cứu Nguyên Ngọc nhận xét: “Đây có thể coi là một thời kỳ có nhiều truyện ngắn
hay trong văn học Việt Nam, tiếp theo “vụ được mùa truyện ngắn” những năm
1960 và một vụ mùa khác, trong chiến tranh”. Tuy nhiên, truyện ngắn lần này có
những nét khác biệt rõ rệt. “Những năm 1960 từng để lại nhiều truyện ngắn đẹp như
thơ, trong veo, trữ tình. Truyện ngắn thời chiến tranh thì vạm vỡ, chắc chắn. Đặc
điểm nổi bật lần này là cầm cái truyện ngắn trong tay có thể cảm thấy cái dung
lượng của nó nặng trĩu. Có những truyện ngắn chỉ mươi, mười lăm trang thơi mà

sức nặng có vẻ cịn hơn cả một cuốn tiểu thuyết trường thiên”. [Tr7, 71]
Vì vậy, khi tiến hành thực hiện đề tài: “Tìm hiểu một số cách tân nghệ thuật
của một số cây bút nữ thời kỳ 1986 -2006 (Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc
Tư, Đỗ Bích Thúy) chúng tôi muốn bước đầu nhận diện một số cách tân của thể
loại truyện ngắn, qua đó có những nhìn nhận chung về tiến trình đổi mới của văn
học nước nhà.
1.2. Lâu nay, văn học Việt Nam đa số là văn học của nam giới. Người phụ nữ
cũng xuất hiện trong lực lượng sáng tác nhưng nó cịn rất mờ nhạt và chưa tạo được
dấu ấn riêng. Bước vào thời kỳ đổi mới sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm
1986, các cây bút nữ ngày càng thể hiện rõ thế mạnh của mình trong lĩnh vực văn
chương. Bên cạnh các cây bút sáng tác từ trước 1975, các gương mặt nữ như Y Ban,
Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Lý Lan, Phan Thị Vàng Anh, Trần Thùy Mai,
Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy đã xuất hiện….Nhiều tác phẩm
của họ vừa ra đời đã gây được sự chú ý của dư luận, tạo được dấu ấn trong đời sống

2


Luận văn thạc sĩ

Nguyễn Thanh Hồng

văn học như Hậu thiên đường (Nguyễn Thị Thu Huệ), Bức thư gửi mẹ Âu Cơ (Y
Ban), Kịch câm, Hoa muộn (Phan Thị Vàng Anh), Cánh đồng bất tận (Nguyễn
Ngọc Tư)…Nhiều tác giả đoạt giải cao trong các cuộc thi truyện ngắn như báo Văn
nghệ, tạp chí Văn nghệ qn đội, cùng với đó là hàng loạt những tuyển tập bước
đầu định hình những phong cách khiến độc giả không thể không ghi nhận và hi
vọng về tương lai văn học của những cây bút này. Ở góc độ của người phụ nữ sáng
tác văn học, từ quan niệm về nghề, quan niệm về thiên chức của người cầm bút các
nhà văn nữ thời kỳ này đã đem đến cho văn chương những cảm hứng và giọng điệu

mới. Trong các sáng tác của các nhà văn nữ, ta ln tìm thấy những âm hưởng của
thời đại chúng ta đang sống. Họ tỏ ra áp sát hiện thực đời sống một cách trực diện
và thẳng thắn khi nhìn nhận mặt trái của hiện thực. Có thể nhận thấy sự sắc sảo và
sâu sắc khi khái quát và tiếp nhận đề tài thế sự đời tư với nỗi đau nhân tình thế thái
bằng lối viết “dịu dàng, bén ngọt, riết róng và đồng cảm chia sẻ với những thân
phận, những người sống quanh mình”. Tìm hiểu những cách tân nghệ thuật của một
số cây bút nữ, chúng tơi muốn khẳng định giá trị của dịng văn học “tính nữ” (chữ
dùng của nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng) trong sự phát triển của văn học Việt Nam
đương đại.
1.3. Trong nền văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới, Nguyễn Thị Thu Huệ,
Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy chưa hẳn đã là những đại diện tiêu biểu nhất.
Nhưng họ là những phong cách riêng rất độc đáo không thể trộn lẫn. Nguyễn Thị
Thu Huệ là nhà văn nữ với chất giọng trầm tiêu biểu cho sự đổi mới của văn xuôi
miền Bắc, Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn trẻ của mảnh đất phương Nam xa xơi và Đỗ
Bích Thúy là đứa con của đại ngàn Tây bắc. Mỗi nhà văn đã đóng góp cho văn học
Việt Nam một tiếng nói riêng. Chính vì thế, lựa chọn đề tài: Tìm hiểu một số cách
tân nghệ thuật của một số cây bút nữ thời kỳ 1986 – 2006 (Nguyễn Thị Thu Huệ,
Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy), chúng tơi muốn bước đầu khám phá những thể
nghiệm nghệ thuật của một số tác giả nữ để từ đó, bước đầu định hình được chỗ
đứng của văn học Việt Nam trên tiến trình vận động để hội nhập với văn chương và
rộng lớn hơn là văn hóa tiến bộ của thế giới.

2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
2.1.Tình hình nghiên cứu khái quát về văn học và truyện ngắn Việt Nam
thời kỳ 1986 – 2006.
* Tình hình nghiên cứu văn học
Sự đổi mới quan niệm và ý thức nghệ thuật của văn học sau 1986 được
đánh giá là nhân tố đặc biệt quan trọng, có ảnh hưởng chi phối mọi thể loại,
trong đó có truyện ngắn. Các tác giả nghiên cứu về văn học thời kỳ này đã khẳng
định, văn học đương đại phát triển theo hướng dân chủ hóa, có ý nghĩa bổ sung,


3


Luận văn thạc sĩ

Nguyễn Thanh Hồng

hoàn thiện những quan niệm hiện thực về con người cho văn học giai đoạn trước.
Trong chuyên luận Văn học Việt Nam hiện đại – Nhận thức và thẩm định, tác giả
Vũ Tuấn Anh viết: “Nếu như cách nhìn sử thi là thích hợp cho việc thể hiện tầm
rộng lớn của những vấn đề lịch sử xã hội và cộng đồng thì cách nhìn tiểu thuyết là
cái nhìn tập trung, xốy sâu vào những vấn đề của con người cá nhân cũng như mối
quan hệ cá nhân – xã hội trên hành trình tìm kiếm và khẳng định giá trị nhân văn
[tr54,4]. Nhà nghiên cứư Nguyễn Thị Bình cũng cùng chung nhận định: “Văn xi
sau 1975 phát triển trong bối cảnh đất nước chuyển đổi kinh tế, giao lưu văn hóa
nhiều chiều. Ý thức cá nhân được sự cổ vũ của cơ chế thị trường trỗi dậy mạnh mẽ.
Nhu cầu thức tỉnh gắn liền với cảm hứng khám phá, nghiền ngẫm hiện thực, nhu
cầu công bố tư tưởng riêng trong thái độ nhập cuộc của nhà văn.
Trong bài viết Văn học Việt Nam những năm đầu đổi mới tại cuộc hội thảo
quốc tế Văn học Việt Nam trong bối cảnh giao lưu văn hóa khu vực và quốc tế, nhà
lí luận Lê Ngọc Trà nêu ra 3 đặc điểm của văn học sau 1986. Đặc điểm nổi bật theo
ơng là tính chất phê phán. Đặc điểm thứ hai là tinh thần phân tích xã hội và sự
chiêm nghiệm lại lịch sử. Đặc điểm thứ ba là sự trở lại với đời thường, với những số
phận riêng.
Có thể nói, các nhà nghiên cứu đã có sự thống nhất khá cao về những đặc
điểm nội dung của giai đoạn văn học 1986 – 2006.
Về đổi mới thi pháp. Tuy chưa đi sâu vào nghiên cứu một cách sâu rộng các
vấn đề thi pháp của văn xuôi sau 1986, song các bài nghiên cứu gần đây đã nhấn
mạnh vào một số hình thức biểu đạt của tác phẩm như: Sự suy giảm vai trò cốt

truyện, sự đa dạng trong hình thức kết cấu tác phẩm, tính chất đa thanh trong nghệ
thuật trần thuật, những khám phá về hệ thống nhân vật…Từ đó các nhà nghiên cứu
bước đầu đi đến kết luận về khả năng mở rộng, gia tăng tính đối thoại của tự sự
đương đại trước các vấn đề hiện thực và lịch sử.
* Tình hình nghiên cứu truyện ngắn 1986 – 2006
Không được coi là thể loại chủ đạo trong đời sống văn học như tiểu thuyết,
nhưng khả năng khái quát hiện thực của truyện ngắn giai đoạn 2006 không hề thua
kém phương thức tự sự cỡ lớn này. Trước sự chín muồi của đội ngũ các cây bút đã
có thành tựu và sự nở rộ của lớp các nhà văn mới 1986 – 2006 được coi là một
trong những giai đoạn hoàng kim của lịch sử truyện ngắn Việt Nam. Nhà nghiên
cứu Bùi Việt Thắng khẳng định: “Nhìn tổng thể, truyện ngắn 1975 – 2000 vượt trội
so với thơ và kịch vì nhiều lí do, trong đó phải kể đến sự ưu ái của đời sống là mảnh
đất màu mỡ cho các thể của văn xuôi phát triển. Nếu có so sánh thì truyện ngắn
Việt Nam trong thế kỷ 20 có hai thời hồng kim của nó: 1930 – 1945 và 1986 –
2000 [tr113, 34]. Nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nguyên trong bài Truyện ngắn và

4


Luận văn thạc sĩ

Nguyễn Thanh Hồng

cuộc sống hôm nay đánh giá: “Truyện ngắn hôm nay tiếp xúc, xới lật các mảng
hiện thực ở cả hai chiều quá khứ và hiện tại để mong đóng góp một tiếng nói định
vị cho người đọc, một thái độ nhìn nhận đánh giá những việc, những người của bây
giờ, nơi đây [Tr 10, 67]. Chỉ rõ sự phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng
của thể loại này, nhà nghiên cứu Lý Hoài Thu viết: “Cùng với sự gia tăng của
những tên tuổi mới và số lượng tác phẩm, truyện ngắn thời kỳ này đã mở ra nhiều
tìm tịi cả trong tiếp nhận về sự cô đơn của thân phận con người, là sự đan cài giữa

cái ảo và cái thực, giữa chất thơ và văn xi [tr182, 36]. Cịn trong bài viết “Từ
một góc nhìn về sự vận động của truyện ngắn chiến tranh”, tác giả Tôn Phương
Lan lý giải chi tiết hơn: “Những truyện ngắn đã khai thác yếu tố tâm linh và tạo ra
những chi tiết, cảnh huống, li kì, hấp dẫn, đem lại cho các truyện này một vóc dáng
hiện thực mới khiến người đọc khơng chỉ cảm mà còn thấy”.
Những đổi mới về nội dung tất yếu dẫ đén sự thay đổi về hình thức thể loại
truyện ngắn. Nhà phê bình Bùi Việt Thắng nhận xét: “Về khía cạnh thi pháp, truyện
ngắn 1986 – 2006 đã trở nên phong phú về hình thức, phong cách và bút pháp. Đã
có thể tách bạch ra những dịng phong cách chủ yếu sau: phong cách cổ điển (ứng
với lớp nhà văn như Nguyễn Thành Long, Nguyên Ngọc, Nguyễn Kiên, Ma Văn
Kháng, Nguyễn Khải, Hồng Nhu…), phong cách trữ tình (ứng với Y Ban, Phạm
Ngọc Tiến, Nguyễn Thị Thu Huệ…). Về hình thức, truyện ngắn giai đoạn này khá
đa dạng, có thể nói đến một kiểu truyền kỳ hiện đại (Bến trần gian của Lưu Sơn
Minh, Hai người đàn bà xóm trại của Nguyễn Quang Thiều), kiểu truyện giả cổ
tích (Những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp), truyện ngắn kịch (Kịch
câm của Phan Thị Vàng Anh), truyện rất ngắn (Vùng lặng của Phạm Sông Hồng),
truyện ngắn triết luận (Tâm tưởng của Bùi Hiển, Sống mãi với cây xanh của
Nguyễn Minh Châu…). Trong tiến trình phát triển của lịch sử văn học nói chung và
thể loại truyện ngắn nói riêng, truyện ngắn nữ cũng có những thành tựu đáng ghi
nhận[34].

2. 2.Truyện ngắn nữ Việt Nam sau 1986
Văn học Việt Nam thời kỳ phong kiến, dường như ít thấy xuất hiện bóng dáng
của các cây bút nữ. Một trong những nguyên nhân quan trọng là do điều kiện lịch
sử, dưới chế độ phong kiến hà khắc, người phụ nữ bị bó buộc bới luật tam tịng tứ
đức, bị phụ thuộc vào gia đình. Vì vậy, người phụ nữ chủ yếu quẩn quanh với các
cơng việc của gia đình mà khơng có cơ hội được tiếp xúc và tham gia các hoạt động
xã hội. Điều đó đã hạn chế sáng tác của nữ giới và khiến họ vắng bóng trên văn đàn
dân tộc.


5


Luận văn thạc sĩ

Nguyễn Thanh Hồng

Bước sang thế kỷ XX, người phụ nữ bắt đầu có tiếng nói trên các diễn đàn và
báo chí như Phụ nữ tân văn, Phụ nữ thời đàm…tuy nhiên sáng tác của các chị
còn rất thưa thớt, chủ yếu là ở lĩnh vực thơ ca.
Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một thời kỳ mới. Từ đây bắt đầu
xuất hiện các cây bút nữ: Thanh Hương, Lê Minh, Nguyễn Thị Như Trang, Minh
…Đội ngũ các nhà văn nữ tiếp tục phát triển qua thời kỳ kháng chiến chống Mỹ: Vũ
Thị Thường, Nguyễn Ngọc Tú, Lê Minh Khuê, …Tuy nhiên, dường như tiếng nói
của họ chưa thực sự lớn mạnh.
Những năm sau chiến tranh, đặc biệt là thời kỳ đổi mới, văn học Việt Nam
khởi sắc với sự xuất hiện của hàng loạt cây bút nữ. Ngày càng nhiều những gương
mặt nữ xuất hiện và chiếm ưu thế đã tạo nên sự mới mẻ, hấp dẫn. Các giải thưởng
truyện ngắn liên tiếp được trao cho các cây bút bữ là bằng chứng rõ nét nhất về điều
đó. Y Ban với Bức thư gửi mẹ Âu Cơ và Chuyện một người đàn bà giành giải nhất
cuộc thi năm 1990. Kết thúc cuộc thi năm 1992-1994 của tạp chí Văn nghệ Quân
đội, Nguyễn Thị Thu Huệ đã giành giải nhất với Hậu thiên đường và Mùa đông
ấm áp. Liên tiếp trong những năm 1996, 1999, 2000,2002 các tác gải nữ đã nhận
được danh hiệu cao quý nhất: Trần Thanh Hà, Đỗ Bích Thúy, Thùy Linh…
Sau 1986, trong nền văn học đương đại Việt Nam đã xuất hiện cụm từ “nữ
khuynh”( Chữ dùng của các tác giả trong bài Chúng tôi phỏng vấn bốn cây bút nữTạp chí Văn nghệ qn đội 3/1993) trong văn học. Có thể nói, sự xuất hiện ồ ạt của
các cây bút nữ cũng như số lượng khổng lồ các tác phẩm của họ trình làng (Lê
Minh Kh hiện nay đã có 7 tập truyện ngắn in riêng, Nguyễn Thị Thu Huệ 6 tập,
Võ Thị Hảo 4 tập…) và hơn hết là chất lượng các sản phẩm mà họ tạo ra có thể
khẳng định, đây là thời đại mà văn chương của phái nữ đang chiếm ưu thế. Đã hết

rồi cái thời mà văn học gần như là sáng tác độc tôn của giới mày râu. Đến bây giờ,
có nhà nghiên cứu văn học đã phải thốt lên rằng: “Đã hình thành một tỷ lệ giữa phái
yếu và phái mạnh là 2/3- một tỉ lệ đáng gờm bởi nhìn vào đó sẽ thấy truyện ngắn trẻ
hơm nay (và văn chương nói chung) mang gương mặt nữ” [34].
Các cây bút nữ thực sự khẳng định được tài năng và bản lĩnh nghệ thuật của
mình. Với sự tinh tế nhạy cảm vốn có, “Dường như phụ nữ bắt mạch thời đại nhanh
hơn nam giới. Họ luôn gần gũi với cái lỉnh kỉnh, dở dang của đời sống.”[68]. Nhà
nghiên cứu Đặng Anh Đào đã chỉ ra đặc điểm riêng, những đóng góp riêng của các
nhà văn nữ vào nền văn học đương đại của nước nhà: “Phụ nữ thường mạnh ở chỗ
họ đưa tất cả cuộc đời và tâm hồn họ vào trang sách, hoặc nói như Tây, họ tự ăn
mình”. Vì thế mà “Các cây bút nữ hơm nay mở cuộc tìm tịi trên một cái diện rất
rộng và họ đạt đến hiệu quả ngay” (Ngô Thế Oanh).

6


Luận văn thạc sĩ

Nguyễn Thanh Hồng

Sáng tác của các cây bút nữ thường đi sâu vào bi kịch, những nỗi đau với sự
trải nghiệm sâu sắc. Các chị đã đem đến cho văn chương một diện mạo mới “đằm
thắm, tinh tế và khoan dung hơn”. Hiện thực cuộc sống với sự tha hóa đạo đức,
những xói mịn về nhân cách được thể hiện khá rõ nét. Nội tâm nhân vật được được
đào sâu khai thác với cái nhìn đa chiều, sấu sắc: Hậu thiên đường (Nguyễn Thị
Thu Huệ), Bức thư gửi mẹ Âu Cơ (Y ban)…
Khơng chỉ có những khám phá mới về nội dung mà các cây bút nữ cịn có
những cố gắng trong tìm tịi nghệ thuật nhằm xây dựng cho mình một phong cách
riêng: Y Ban với chất giọng nữ trầm trong văn chương, Võ Thị Hảo có lối viết pha
màu sắc huyền thoại, Nguyễn Ngọc Tư với lối viết văn đậm màu sắc Nam Bộ, Đỗ

Bích Thúy với những tác phẩm văn chương đậm tính chất vùng miền…Tất cả đã tạo
nên diện mạo của truyện ngắn đương đại với những tác phẩm rất tiêu biểu của nữ
giới.
2.3 .Tình hình nghiên cứu về các tác giả
Trong nền văn học Việt Nam thời kỳ 1986-2006, Nguyễn Thị Thu Huệ,
Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy là những cây bút có tên tuổi. Số lượng các bài
viết, những cơng trình nghiên cứu về các tác giả này rất nhiều. Những cơng trình đó
đã đánh giá được tài năng cũng như những đóng góp của họ trong nền văn học dân
tộc.
2.3.1. Nguyễn Thị Thu Huệ
Nguyễn Thị Thu Huệ sinh ngày 12/8/1966. Quê quán: Xã Thạch Phong,
huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Trú quán: Hà Nội. Tốt nghiệp đại học tổng hợp Hà
Nội, khoa ngữ văn. Chị là một trong số những tác giả nữ gặt hái được rất nhiều
thành công khi tuổi đời còn khá trẻ:
- Giải thưởng truyện ngắn Hội văn học nghệ thuật Hà Nội 1986
- Giải nhì cuộc thi truyện ngắn Tác phẩm tuổi xanh báo Tiền Phong 1993
- Giải nhất cuộc thi truyện ngắn Tạp chí văn nghệ quân đội 1994
- Tặng thưởng Hội nhà văn 1994
Tác phẩm: Đến nay, Nguyễn Thị Thu Huệ đã ra mắt bạn đọc bốn tập truyện
ngắn: Cát đợi, Hậu thiên đường,Phù thủy, Nào ta cùng lãng quên.
Xuất hiện không lâu, Nguyễn Thị Thu Huệ đã gây một tiếng vang lớn khi
giành giải nhất cuộc thi truyện ngắn lần thứ 5 (1992-1994) do Tạp chí văn nghệ
quân đội tổ chức với hai truyện ngắn Hậu thiên đường và Mùa đông ấm áp. Không
dừng lại ở các giải thưởng, chị tiếp tục khẳng định mình bằng một loạt các sáng tác
có giá trị khác.
Nghiên cứu thế giới nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, đặc biệt là
khám phá những cách tân, đổi mới trong các tác phẩm của chị, nhà nghiên cứu Bùi

7



Luận văn thạc sĩ

Nguyễn Thanh Hồng

Việt Thắng đã phát hiện trong tác phẩm của Nguyễn Thị Thu Huệ “một sự vật vã
khắc khoải canh cánh trong mỗi nhân vật, đặc biệt là nhân vật nữ[33]. Ông chỉ rõ:
“Cây bút này tỏ rõ sự chia sẻ, cảm thông với phụ nữ vì anh cũng mang khn mặt
con gái”. Sau gần một thập kỷ, khi phác thảo chân dung Thu Huệ trong lời giới
thiệu về bốn cây bút nữ vào năm 2003, Bùi Việt Thắng lại một lần nữa khẳng định
đối tượng mà Thu Huệ quan tâm hướng ngòi bút tới là “những thiên đường và hậu
thiên đường của đời sống con người đặc biệt là người phụ nữ[34].Khơng chỉ có sự
cách tân, mới lạ ở điểm nhìn nghệ thuật, Nguyễn Thị Thu Huệ cịn có những cách
tân trong q trình xây dựng tác phẩm. Phạm Hoa trong bài giới thiệu tập Cát đợi
đã chỉ rõ hai kiểu xây dựng nhân vật của Nguyễn Thị Thu Huệ: “Một là truyện
truyền thống (Có chuyện), hai là truyện khơng có chuyện (cốt truyện theo dòng tâm
trạng) (Phạm Hoa).Nguyễn Thị Thu Huệ là người rất nghiêm túc trong lao động
sáng tạo nghệ thuật. Chị đã từng tâm sự rằng, truyện của chị giống như một thùng
nước sơi, nó sơi lên ùng ục đến khi hết sơi là hết. Vì thế, trong sáng tác, chị đã cố
gắng sử dụng những phương tiện nghệ thuật để diễn tả cho hết, cho sâu những tâm
tư trong lịng mình. Nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng trong Năm truyện ngắn dự thi
của một cây bút trẻ [33] và Tứ tử trình làng ( Lời giới thiệu Tuyển tập truyện
ngắn bốn cây bút nữ), ông đã chỉ rõ cả bề rộng lẫn bề sâu trong sáng tác của
Nguyễn Thị Thu Huệ: “Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ hấp dẫn rộng rãi người
đọc trước hết là vì giàu chất đời” và “Những truyện ngắn hay của Thu Huệ là nhờ
người viết bứt lên được trên cái có thực đến tận cùng, để tìm cái gì đó cao hơn của
con người, đó là đời sống tâm hồn vốn rất không rõ ràng, mạch lạc, vốn bí ẩn, khó
giải thích rạch rịi bằng lí trí”. Tác giả cịn chỉ rõ những phương diện nghệ thuật
khác trong truyện ngắn Thu Huệ, đó là tình huống “ tuy hẹp nhưng đặc sắc, ngơn
ngữ có độ căng của nhịp điệu, câu thường ngắn, cấu trúc đơn giản, thông tin cao,

hoạt động trong giọng điệu….Đồng thời, ông cũng nhận thấy hạn chế trong văn Thu
Huệ: Cây bút này hơi tham, chưa dám gạt bỏ, cịn muốn nói nhiều, nói hết trong
truyện”.Ngồi ra, các tác giả khác cũng có những bài nghiên cứu sâu sắc đến hiện
tượng văn học này như: Những truyện ngắn hay (Lý Hoài Thu- Tạp chí văn nghệ
quân đội 12/1993), Một nửa nhân loại qua truyện ngắn dự thi của một cây bút nữ
(Dương Quỳnh Trang- tạp chí văn nghệ quân đội,6/1994), Đọc hồi ức binh nhì và
Bến trần gian (Kim Dung- Tạp chí Văn nghệ qn đội, 11/1994), Những ngơi sao
nước mắt (Đồn Thị Đặng Hương- Văn nghệ trẻ, 25/3/1996), Thi pháp truyện
ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ (Hồ Sỹ Vịnh-Báo Văn nghệ, 8/2002)…Nhìn chung, qua
các bài viết, Nguyễn Thị Thu Huệ được đánh giá là một cây bút có tài năng trong
việc khám phá và nắm bắt hiện thực một cách nhạy bén, có giọng văn linh hoạt,
uyển chuyển.

8


Luận văn thạc sĩ

Nguyễn Thanh Hồng

2.3.2.Nguyễn Ngọc Tư
Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976 tại huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau trong một
gia đình nghèo. Nguyễn Ngọc Tư bắt đầu nghiệp viết văn khá sớm tại làng quê và
gặt hái nhiều thành cơng trong nghề viết của mình. Chị đã lập gia đình với một thợ
kim hồn. Hiện, cùng chồng con cư ngụ tại thành phố Cà Mau, làm phóng viên cho
tạp chí Văn nghệ bán đảo Cà Mau và Hội văn học nghệ thuật Cà Mau.
Trong đời thường, Nguyễn Ngọc Tư có vẻ ngoan hiền, thích cuộc sống đơn
giản, nhưng lại có một cuộc sống nội tâm khá phong phú và bí ẩn. Trong văn
chương, Nguyễn Ngọc Tư thường ví truyện của mình như trái sầu riêng, nhiều
người thích nhưng cũng có nhiều người lại dị ứng.

Tác phẩm chính đã xuất bản:
- Ngọn đèn không tắt (Tập truyện. NXB Trẻ-2000)
- Ông ngoại (Tập truyện thiếu nhi. NXB Trẻ. 2001)
- Giao thừa (Tập truyện trẻ.2003)
- Biển người mênh mông (Tập Truyện. NXB Kim Đồng.2003)
- Nước chảy mây trôi (Tập truyện và kí. NXB Văn nghệ. TPHCM)
- Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (Tập truyện và ký. NXB Văn hóa Sài
Gịn.2005)
- Cánh đồng bất tận (NXB Trẻ. 2005)
Giải thưởng:
- Giải nhất cuộc vận động sáng tác văn học lần thứ 20, tác phẩm Ngọn đèn
không tắt năm 2000
- Giải B hội nhà văn Việt Nam, tập truyện Ngọn đèn không tắt,năm 2000
- Giải B hội nhà văn Việt Nam, tập truyện Ngọn đèn không tắt, năm 2001
- Tặng thưởng dành cho tác giả trẻ, Ủy ban toàn quốc liên hiệp các hội Văn
học nghệ thuật Việt Nam. Một trong mười gương mặt trẻ tiêu biểu năm 2003 do
T.W đoàn trao tặng.
Cho đến nay, mặc dù đã xuất hiện trên văn đàn khá lâu, Nguyễn Ngọc Tư vẫn
được coi là hiện tượng. Hàng loạt những cơng trình nghiên cứu, những bài báo, bài
viết, những lời nhận xét khen có, chê có đã khiến Nguyễn Ngọc Tư trở thành nhà
văn nữ đựợc tìm kiếm nhiều nhất trên mạng Internet và trên các phương tiện thông
tin đại chúng. Lí do cơ được tìm kiếm nhiều bởi người đọc nhận thấy ở tác phẩm
của cơ có những phát hiện mới lạ và rất độc đáo.
Trên diễn đàn tháng 2/2004 có bài Nguyễn Ngọc Tư- Đặc sản miền nam của
giáo sư kinh tế Trần Hữu Dũng, một Việt kiều tại Mỹ. Bài viết đã đánh giá một
cách tổng hợp về nghệ thuật viết truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư từ những điều
giản dị của ngôn ngữ, giai điệu đến nhân vật, cấu trúc câu. Đặc biệt, Trần Hữu

9



Luận văn thạc sĩ

Nguyễn Thanh Hồng

Dũng đã chỉ ra điểm khác biệt của Nguyễn Ngọc Tư với các nhà văn khác: “Cái mới
trong văn Nguyễn Ngọc Tư chính là cái cũ, cái lạ ở cô là tài khui mở những sinh
hoạt thân thuộc trước mắt. Nguyễn Ngọc Tư không “vén màn” cho người đọc thấy
cái hay từng có, cơ khơng dẫn ta khám phá những ngóc ngách của nội tâm mà ta
chưa từng biết. Cô đưa ra một tấm gương rất trong, thật sáng. Và qua đó, lạ thay,
như một tiếng đàn cộng hưởng, ta khám phá cái phong phú của chính đời ta [54].
Báo Tiền phong, ra ngày 31/1/2006 có bài đánh giá về văn Nguyễn Ngọc Tư:
Văn phong giản dị, ngôn ngữ truyện cứ như được kê vào từ đời thường, nhưng
chính những nỗi đau của những kiếp người, những số phận nhỏ bé ở một vùng quê
nghèo và triểt lý nhân quả của cuộc đời làm nên sức ám ảnh lớn cho truyện (Phan
Lâm).
Báo tuổi trẻ, số ra ngày 30/1/2005với bài viết Im lặng thế đấy, tác giả Đỗ
Hồng Ngọc đã nhận xét: Người đọc bất ngờ trước những kiếp người, phận người
hôm nay, tại đây như trong truyện kể, và bất ngờ trước một văn bút khác lạ của
người viết truyện. Nguyễn Ngọc Tư đã bắt đầu chạm vào những vỉa tầng cuộc sống
của những vùng đất cô sống và viết văn. Dữ dội và nhân tình, văn Tư bắt đầu là
như thế.
Trong bài Hỏi chuyện nhà văn Dạ Ngân: Nguyễn Ngọc Tư, điềm đạm mà
thấu đáo, nhà văn Dạ Ngân đã không tiếc lời khen ngợi khả năng vận dụng ngôn
ngữ của Nguyễn Ngọc Tư: “Cái cách tu từ của Tư là tuyệt vời. Tôi thấy phương ngữ
mà Ngọc Tư đưa vào truyện bao giờ cũng có sự cân nhắc cho sự đóng góp vào vốn
liếng chung của ngôn ngữ quốc gia. Những người bẩm sinh có tài năng lớn thì họ
mới làm được cái đó chứ! Nó tự nhiên như khơng thơi! Thả cái chữ ra thì đúng là
cái chữ đó thơi khơng phải cái chữ nào khác”. Như vậy, theo đánh giá của nhà văn
Dạ Ngân, Nguyễn Ngọc Tư không chỉ biết trân trọng, vận dụng những giá trị văn

hóa đặc trưng đã có của vùng miền, của dân tộc, chị cịn chủ động sáng tạo và đóng
góp một cách có ý thức những giá trị văn hóa mới, những cách dùng ngơn ngữ mới,
làm giàu thêm cho nền văn hóa dân tộc.
Ở góc độ ngơn ngữ, tác giả Văn Cơng Hùng phần nào cũng chung cảm nhận
với nhà văn Dạ Ngân khi viết: “Các câu thoại cũng thế. Đầy bất ngờ và lí thú, đậm
đặc bản sắc Nam Bộ. Đậm đặc tới mức dẫu chưa một lần tới Nam Bộ cũng thấy rõ
nó hiện ra mồn một khi đọc văn Nguyễn Ngọc Tư. Chất Nam Bộ ấy ẩn chứa trong
tâm hồn những con người sống ở nơi tận cùng của Tổ quốc, phóng khống và nhân
hậu, thẳng thắn, trung thực hết mình trong đời sống…Số phận cột họ vào mảnh đất
này và sống chết với nó một cách dung dị, cương trực”[tr15, 62]

10


Luận văn thạc sĩ

Nguyễn Thanh Hồng

2.3.3. Đỗ Bích Thúy
Nhà văn Đỗ Bích Thuý sinh ngày 13.4.1975 tại Hà Giang. Lớn lên chị học
tập, lập gia đình và sinh sống tại Hà Nội. Đỗ Bích Thuý đã tốt nghiệp Phân viện
Báo chí – tun truyền Hà Nội và hiện là Phó tổng biên tập tạp chí Văn Nghệ Qn
Đội. Cơ gái trẻ này từng đạt giải nhất cuộc thi viết truyện ngắn của tạp chí Văn nghệ
quân đội năm 1998-1999. Nhiều truyện ngắn của chị đã được chuyển thể thành
phim. Những tác phẩm của chị thường có đề tài về cuộc sống người dân miền núi:
tập truyện ngắn Những buổi chiều ngang qua cuộc đời, tiểu thuyết Dưới bóng cây
sồi, kịch bản Cô gái xinh đẹp. Tiếng đàn môi sau bờ rào đá là truyện ngắn đã được
đạo diễn Ngô Quang Hải chuyển thể thành kịch bản phim Chuyện của Pao. Bộ
phim này vừa qua đã đoạt giải Cánh diều vàng 2005 cho phim truyện nhựa xuất sắc
nhất.

Giống như Nguyễn Ngọc Tư, ngay từ đầu, Đỗ Bích Thúy đã buộc người ta phải nhớ
tới chị qua một văn phong riêng đậm chất miền núi, tác giả Điệp Anh đã cảm nhận:
“Thế mạnh của Đỗ Bích Thúy là đời sống người Tây Bắc với những không gian vừa
quen vừa lạ, với những phong tục tập quán đặc thù, khiến người đọc luôn thấy tò
mò và bị cuốn hút. Trong truyện của Đỗ Bích Thúy, khơng gian Tây Bắc hiện lên
đậm nét, để lại dư vị khó qn trong lịng độc giả, dù người đọc vẫn chưa thể hết
quyến luyến với những áng văn thơ dặt dìu tiếng sáo, tiếng khèn, la đà với rượu
nồng bếp lửa của núi rừng Tây Bắc trong các sáng tác của các bậc tiền bối như Tơ
Hồi, Chế Lan Viên, Tố Hữu…” [Tr3, 49].
Cảm nhận đó cịn thuyết phục hơn khi Trung Trung Đỉnh, một nhà văn
chuyên viết về đề tài miền núi đã viết: “Đỗ Bích Thúy có khả năng viết truyện về
cảnh sinh hoạt truyền thống của người miền cao một cách tài tình. Khơng truyện
nào là không kể về cách sống, lối sinh hoạt, nết ăn ở và cả quang cảnh sinh hoạt lễ
hội, phong tục tập quán. Truyện nào cũng hay cũng mới, cũng lạ mặc dù tác giả
không hề cố ý đưa vào chi tiết lạ. Thế mà đọc đến đâu ta cũng sững sờ và bị chinh
phục bở những chi tiết rất đặc sắc chỉ người miền cao mới có.[tr8,58]
Cái lạ mà Trung Trung Đỉnh cảm nhận thấy cũng rất gần gũi với cảm giác về
cái lạ mà nhà văn Chu Lai khi đọc văn Đỗ Bích Thúy. Trong bài Cái duyên và sức
gợi của hai giọng văn trẻ, nhà nghiên cứu Chu Lai viết: “Đọc Thúy, người ta có
cảm giác như được ăn một món ăn lạ, được sống trong một mảnh đất lạ mà ở đó
tràn ngập những cái rất riêng đậm đặc chất dân gian của hương vị núi rừng, của
con suối chảy ra từ khe đá lạnh, của mây trời đặc sánh “như một bầy trăn trắng
đang quấn quyện vào nhau”, của mùi ngải đắng, mần tang, của những nét ăn, nét
ở, phong tục tập quán còn giữ nguyên vẻ hoang sơ, thuần phác, của ánh trăng
“giữa mùa cứ rọi vào nhà cả đêm, trăng đi một vòng cửa trước ra cửa sau”, của

11


Luận văn thạc sĩ


Nguyễn Thanh Hồng

những trái tim con gái vật vã, cháy bùng theo tiếng khèn gọi tình dưới thung xa, của
bếp lửa nhà sàn và tiếng mõ trâu gõ vào khuya khoắt, của những kiếp sống nhọc
nhằn và con bìm bịp say thuốc, say rượu ngủ khì bên chân chủ…” [Tr102,65]
Nhà phê bình Nguyễn Hồng Linh Giang khi nghiên cứu tìm hiểu tiểu thuyết
Bóng của cây sồi đã nhận thấy những nét đặc sắc trong văn phong của Đỗ Bích
Thúy: Tính xã hội, tính nhân văn, lịng trắc ẩn và khao khát của nhà văn đã được
gửi gắm vào từng trang viết. Nó đã được nói qua nhân vật, qua giọng kể không mới
lạ nhưng đằm lắng và nhiều cảm xúc của Đỗ Bích Thúy. Hiện tại, quá khứ, chuyện
mới, chuyện cũ đan xen, cài quấn nhau như dịng chảy của cuộc sống mn đời nay
tiếp nối, tiếp nối không dứt. Lối dẫn chuyện tự nhiên và không gị bó, cách miêu tả
thiên nhiên và đời sống của miền đất cực bắc đất nước khá sinh động là ưu điểm
nổi trội của tiểu thuyết này.
Trong văn chương, Đỗ Bích Thúy cũng khơng q ồn ào, những câu văn của
chị như những dòng chảy ký ức, mãnh liệt và bản năng
*Tóm lại: Chúng tơi nhận thấy có nhiều ý kiến phê bình, nghiên cứu về những
đổi mới, những cách tân nghệ thuật trong tác phẩm truyện ngắn của các tác giả
Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy. Những cơng trình nghiên
cứu về các tác giả trên một mặt có nhiều quan điểm khác nhau, mặt khác đều chưa
hoặc chỉ phần nào chạm tới những đổi mới nghệ thuật. Người viết chưa thấy cơng
trình nào quan tâm nghiên cứu từng bước tìm tịi sáng tạo nghệ thuật truyện ngắn
của các tác giả trên một cách đầy đủ và có hệ thống tính đến thời điểm hiện tại. Trên
cơ sở những ý kiến đã có, chúng tơi muốn phân tích, bổ sung thêm một số vấn đề.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1.Tìm hiểu một số cách tân nghệ thuật của một số cây bút nữ thời kỳ đổi mới có
thể đem lại cho chúng ta một cái nhìn sâu sắc trước sự vận động, chuyển biến của
một tư duy văn học mới về con người thời kỳ đổi mới.
Với một số lượng nhà văn nữ đông đảo như hiện nay thì việc tìm hiểu những

phong cách nghệ thuật của từng nhà văn để đi đến cái nhìn chung thống nhất về
diện mạo của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới là một vấn đề khá phức tạp. Vì thế,
trong phạm vi đề tài luận văn chúng tơi chỉ dừng lại tìm hiểu một số nhà văn nữ tiêu
biểu đã tạo dấu ấn riêng trong truyện ngắn thời kỳ đổi mới cũng như đã giành được
sự đón nhận nhiệt tình của cơng chúng độc giả, đặc biệt là nữ giới, đó là: Nguyễn
Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thuý.

12


Luận văn thạc sĩ

Nguyễn Thanh Hồng

Trên cơ sở đó, chúng tơi tiến hành khảo sát để có cái nhìn hệ thống hơn về
quá trình sáng tác của các tác giả nữ trên xét trên phương diện thể loại vào đời sống
văn học nước ta thời kỳ 1986-2006 qua đó sẽ chỉ ra được một số dấu hiệu cơ bản
trong sự vận động của thể loại truyện ngắn. Chúng tôi cũng cố gắng thử kiến giải
một số vấn đề về xu hướng vận động của thể loại truyện ngắn từ phương diện quan
niệm nghệ thuật đến góc độ thi pháp thể loại.
Chúng tôi không bỏ qua những truyện ngắn về người phụ nữ của các tác giả
nam để có sự so sánh đánh giá tồn diện nhất về hình tượng người phụ nữ trong
truyện ngắn thời kỳ đổi mới.
Chúng tôi cũng quan tâm nhiều đến các bài nghiên cứu của các tác giả trong
lĩnh vực lí luận văn học: lý luận về truyện ngắn, lý luận về hình tượng như Phan Cự
Đệ, Phương Lựu, Bùi Việt Thắng…góp phần tạo dựng cơ sở khoa học cho vấn đề
này.
3.2. Chọn đề tài Tìm hiểu một số cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn của một
số cây bút nữ thời kỳ 1986-2006 ( Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ
Bích Th), chúng tơi tìm hiểu ở ba phương diện:

- Những cách tân nghệ thuật trên phương diện kết cấu và tính huống truyện
- Sự đổi mới trong cách xây dựng nhân vật
- Sự đổi mới về nghệ thuật trần thuật ( Ngôn ngữ và giọng điệu)
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã phối hợp vận dụng các phương
pháp sau:
4.1. Phương pháp hệ thống:
Những cách tân nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, Đỗ Bích Thuý
trên các phương diện: quan niệm nghệ thuật, cốt truyện, kết cấu, nhân vật, trần
thuật…cần được nhìn nhận một cách hệ thống. Mỗi phương diện là một tiểu hệ
thống riêng nằm trong hệ thống lớn là toàn bộ sáng tác của các tác giả nữ trên.
Đồng thời, phải đặt sáng tác của các tác giả nữ ấy trong hệ thống chung của văn học
Việt Nam để thấy vị trí và đóng góp riêng của các tác giả trong tiến trình đổi mới,
hiện đại hoá văn học nước nhà.
4.2. Phương pháp so sánh:
Chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu để thấy được sự đổi mới
nghệ thuật qua từng chặng đường truyện ngắn của các tác giả Nguyễn Thị Thu Huệ,
Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Th. Đồng thời, chúng tơi tiến hành so sanh tác phẩm
của các tác giả nữ đó với nhau và với các nhà văn khác trong cùng thời kỳ để ghi
nhận đóng góp của họ cho sự phát triển của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới.

13


Luận văn thạc sĩ

Nguyễn Thanh Hồng

4.3. Phương pháp phân tích tổng hợp, khái quát
Phân tích tổng hợp là phương pháp quan trọng.Thơng qua đó, ta thấy được sự

cảm nhận riêng của từng nhà văn về con người và cuộc sống. Bên cạnh đó, mọi biểu
hiện sinh động trong sáng tác cần được soi chiếu bằng nhiều góc nhìn dưới con mắt
phân tích. Từ đó chúng tơi tổng hợp khái qt các kết quả phân tích để đi đến kết
luận minh chứng cho những luận điểm mà luận văn đưa ra.
5. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận và phần thư mục tham khảo, nội dung
chính của luận văn gồm ba chương như sau:
Chương 1: Những đổi mới về cốt truyện và kết cấu
Chương 2: Những đổi mới trên phương diện nhân vật
Chương 3:Những cách tân trên phương diện ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật

14


Luận văn thạc sĩ

Nguyễn Thanh Hồng

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG ĐỔI MỚI VỀ CỐT TRUYỆN VÀ KẾT CẤU
1.1.Cốt truyện và sự mở rộng dung lượng hiện thực
Nếu tác phẩm trữ tình phản ánh hiện thực trong sự cảm nhận chủ quan về nó,
thì tác phẩm tự sự lại tái hiện đời sống trong tồn bộ tính khách quan của nó. Tác
phẩm tự sự phản ánh hiện thực qua bức tranh mở rộng của đời sống trong không
gian, thời gian, qua các sự kiện, biến cố xảy ra trong cuộc đời con
người”[Tr385,13]. Phương thức phản ánh hiện thực qua các sự kiện, biến cố và
hành vi con người làm cho tác phẩm tự sự trở thành một câu chuyện về ai đó hay về
một cái gì đó. Cho nên, tác phẩm tự sự bao giờ cũng có cốt truyện. Điểm khác biệt
cơ bản giữa tác phẩm tự sự và tác phẩm trữ tình chính là yếu tố cốt truyện. Vì vậy,
ta có thể khẳng định cốt truyện trong tác phẩm tự sự chiếm một vị trí vơ cùng quan

trọng góp phần hình thành nên đặc trưng của thể lọai.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì “cốt truyện là hệ thống các sự kiện cụ thể,
được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định, tạo thành bộ phận cơ
bản, quan trọng nhất trong hình thức động của tác phẩm văn học thuộc các loại tự
sự và kịch [13].
Có thể tìm thấy qua một cốt truyện hai phương diện gắn bó hữu cơ. Một mặt,
cốt truyện là một phương diện bộc lộ nhân vật, nhờ cốt truyện, nhà văn thể hiện sự
tác động qua lại giữa các tính cách nhân vật, mặt khác, cốt truyện còn là phương
tiện để nhà văn tái hiện các xung đột xã hội. Cốt truyện vừa góp phần bộc lộ có hiệu
quả đặc điểm mỗi tính cách, tổ chức tốt hệ thống tính cách, lại vừa trình bày một hệ
thống sự kiện phản ánh chân thực xung đột xã hội, có sức mạnh hấp dẫn và lôi cuốn
người đọc.
Cốt truyện là một hiện tượng phức tạp. Trong thực tế văn học, cốt truyện các
tác phẩm hết sức đa dạng, kết tinh truyền thống dân tộc, phản ánh những thành tựu
văn học của mỗi thời kỳ lịch sử, thể hiện phong cách, tài năng nghệ thuật của nhà
văn [Tr100. 13].
Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân lại đưa ra quan niệm khác về cốt truyện: “Cốt
truyện là một phương diện của lĩnh vực hình thức nghệ thuật, nó chỉ lớp biến cố của
hình thức tác phẩm. Chính hệ thống biến cố tạo ra sự vận động của nội dung cuộc
sống được miêu tả trong tác phẩm. Cốt truyện là một phẩm chất có giá trị quan
trọng của văn học, sân khấu, điện ảnh và các nghệ thuật cùng loại. Trong các thể
loại văn học, các cốt truyện là thành phần quan trọng thiết yếu của tự sự và kịch,
nhưng thường khơng có mặt trong các tác phẩm trữ tình” [Tr 114, 5]

15


Luận văn thạc sĩ

Nguyễn Thanh Hồng


Dẫn luận nghiên cứu văn học do G.N. Pôpêlốp chủ biên nêu khái quát về cốt
truyện: “Các tác phẩm tự sự và kịch, miêu tả các sự kiện, hành động trong đời sống
nhân vật diễn ra trong không gian và thời gian. Phương diện này của sáng tác nghệ
thuật được gọi bằng thuật ngữ cốt truyện.[Tr 229,25]
Vậy ta có thể đi đến kết luận về cốt truyện: Cốt truyện là một hệ thống các sự
kiện, biến cố phản ánh những diễn biến của cuộc sống một cách nghệ thuật làm cho
tính cách của nhân vật hình thành và phát triển. Đồng thời, cốt truyện cịn là phương
tiện để nhà văn tái hiện các xung đột xã hội nhằm làm sáng tỏ chủ đề - tư tưởng của
tác phẩm, qua đó thể hiện phong cách tài năng nghệ thuật của nhà văn.
Cốt truyện là thành phần quan trọng thiết yếu của tự sự và kịch. Nó thường
trải qua một tiến trình có vận động, hình thành, phát triển và kết thúc. Tuy vậy, ở
những cốt truyện cụ thể khơng phải bao giờ cũng có đầy đủ các thành phần đã nêu.
Và để một cốt truyện hay, hấp dẫn phụ thuộc rất nhiều vào hiện thực cuộc sống với
những quy luật phát triển tất yếu của nó và phụ thuộc vào năng lực, phẩm chất sáng
tạo, đặc biệt là ý đồ tư tưởng của tác giả. Bởi vậy, mỗi nhà văn trên con đường sáng
tạo nghệ thuật đều phải nỗ lực tìm tịi những cốt truyện phù hợp để biểu hiện tư
tưởng một cách sâu sắc. Tìm hiểu về cốt truyện chính là một góc độ để nắm bắt chủ
đề tư tưởng, cũng như giá trị thẩm mỹ của tác phẩm, đồng thời cho ta thấy được tài
năng và sự sáng tạo không ngừng nghỉ của người nghệ sỹ.
Tác phẩm tự sự phản ánh đời sống qua việc lựa chọn, trình bày hệ thống
những sự kiện, chi tiết, tình tiết khác nhau. Nghĩ về truyện ngắn, Nguyễn Minh
Châu hình dung “Truyện ngắn như mặt cắt giữa một thân cây cổ thụ: chỉ liếc qua
những đường vân trên cái khoanh gỗ tròn tròn kia, dù sau trăm năm vẫn thấy cả
cuộc đời của thảo mộc [Tr332, 9]. Hay nói một cách cụ thể hơn: “Khác với tiểu
thuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong sự đầy đặn và tồn vẹn của nó, truyện
ngắn thường hướng tới việc khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất
trong quan hệ nhân sinh, trong đời sống tâm hồn con người”[Tr31, 18]. Do vậy,
hướng tiếp cận và cách thức lựa chọn, xây dựng cốt truyện của truyện ngắn cũng có
những đặc trưng riêng. Được quan niệm “là một hệ thống các sự kiện phản ánh

những diễn biến của cuộc sống và nhất là các xung đột xã hội một cách nghệ thuật,
qua đó các tính cách hình thành và phát triển trong những mối quan hệ qua lại của
chúng nhằm làm sáng tỏ chủ đề tư tưởng của tác phẩm[33], cốt truyện truyện ngắn
có nhiều biểu hiện đa dạng và phong phú thể hiện những chức năng, giá trị khác
nhau trong từng giai đoạn phát triển cụ thể của thể loại.
Nguyễn Minh Châu đã nhấn mạnh vai trò của cốt truyện: “Trong những
truyện ngắn hay, bao giờ người viết cũng biết lợi dụng cốt truyện để tạo độ căng”
[Tr 230, 34]. Nhà văn Ma Văn Kháng khi viết truyện ngắn có nhận xét: “Với tơi,

16


Luận văn thạc sĩ

Nguyễn Thanh Hồng

theo một thói quen đã trở thành thông lệ, trước hết hiển nhiên là phải có được một
cốt truyện”.. Gớt cũng đã đề cao vai trò của cốt truyện trong sáng tạo truyện ngắn:
“Đúng vậy, cịn gì quan trọng hơn cốt truyện và nếu thiếu nó cả nền lí luận nghệ
thuật sẽ cịn ra gì nữa? Nếu cốt truyện khơng dùng được thì tài năng cũng sẽ lãng
phí vơ ích. Và chính vì nghệ sỹ hiện nay khơng có những cốt truyện xứng đáng nên
tình hình nghệ thuật hiện đại mới bi đát như thế.
Để tạo nên sức sống bền lâu cho thể loại, nhà văn phải ln có ý thức cách tân
và sáng tạo trong lao động nghệ thuật, cơng việc đó, “xét đến cùng là sự cải tạo các
phương thức tổ chức nghệ thuật của tác phẩm, phản ánh những thay đổi trong
phạm vi và tính chất của mối quan hệ con người – thực tại[6]. Hơn nữa, trong văn
học thời kỳ đổi mới, cả nhà văn và độc giả đều có nhu cầu cao hơn trong sáng tạo
và cảm thụ nghệ thuật, muốn nhận thức, khám phá cuộc sống “ở bề chưa thấy, ở cái
bề sâu, ở cái bề sau, ở cái bề xa (Chế Lan Viên). Cho nên, với vai trò là “Phương
tiện bộc lộ tính cách” đa dạng và “Phương tiện để nhà văn thể hiện các xung đột xã

hội” ngày càng trở nên phức tạp và biến hóa hơn, truyện ngắn giai đoạn này thực sự
lên ngôi khi tạo ra nhiều cốt truyện hay, độc đáo và có khả năng chuyển tải nhiều
nội dung xã hội sâu sắc. Vì thế, giá trị chủ yếu của cốt truyện không đơn thuần ở
chỗ có hay khơng có cốt truyện mà ở chiều sâu nội dung tư tưởng mà nó dung chứa
được. Cốt truyện do vậy không chỉ là tổng hợp giản đơn các chi tiết, biến cố mà
được tổ chức một cách hệ thống những sự kiện, tình huống đa dạng, hàm chứa sự
dồn nén tích tụ nhiều trạng thái của đời sống. Cốt truyện theo xu hướng hiện nay
không chỉ thực hiện chức năng phản ánh, tái hiện đời sống, xây dựng tính cách nhân
vật mà cịn là sự khám phá, lí giải sâu sắc hiện thực xã hội và những số phận cá
nhân. Điều đó cho thấy “ Truyện ngắn thời kỳ này đã mở ra nhiều hướng tìm tòi cả
trong tiếp nhận hiện thực lẫn thi pháp thể loại” [Tr57, 36].
Thực chất của việc tạo nên nhiều cốt truyện hay, có chiều sâu là cách thức tạo
nên hiệu quả nghệ thuật cao trong một hình thức nhỏ, là “Khả năng ôm trùm bao
quát hiện thực, là sức chứa chất liệu đời sống” hay khả năng của nội dung phản
ánh hiện thực[34]. Vấn đề của một số truyện ngắn hiện nay là vấn đề dung lượng
hiện thực và khả năng phản ánh cuộc sống. Xu hướng “Tiểu thuyết hóa” thể loại
truyện ngắn được nhà văn Nguyên Ngọc đánh giá xác đáng “Dung lượng truyện
ngắn ngày nay rất lớn, trong độ ba trang mấy nghìn chữ mà rõ một cuộc đời, một
kiếp người, một thời đại. Các truyện ngắn bây giờ rất nặng. Dung lượng của nó là
dung lượng của cả cuốn tiểu thuyết [34].Cho nên, “Hầu hết mỗi truyện ngắn là cả
một cuộc đời, một số phận thậm chí một thời đại’ [34]. Sự thâm nhập mạnh mẽ của
tư duy tiểu thuyết tạo cho truyện ngắn giai đoạn này “Một sức chứa lớn hơn nhiều
so với bản thân chúng và mở rộng khả năng thể loại đến độ ngạc nhiên [Tr4,4].

17


Luận văn thạc sĩ

Nguyễn Thanh Hồng


Trước năm 1975, cốt truyện ít nhiều chịu “áp lực của sử thi”. Truyện ngắn
chú ý tạo dựng những cốt truyện chặt chẽ với tình huống gay cấn, căng thẳng. Âm
hưởng chủ đạo là ngợi ca, khẳng định. Truyện ngắn giai đoạn này cũng đã hướng
tới cốt truyện tâm lý, phản ánh vẻ đẹp nội tâm của con người nhưng chưa có nhiều
trang thể hiện sâu sắc diễn biến tâm lý và cái tôi nội cảm của nhân vật. Sau 1975,
nhất là trong những năm gần đây, thực tiễn văn học đã chứng minh cái tạo nên sức
hấp dẫ lôi cuốn của truyện ngắn không chỉ là “những cốt truyện rạch ròi, những sự
kiện trọng đại, những tình huống căng thẳng, những xung đột bên ngồi, mà cịn là
những cảnh ngộ đời thường, những tính cách nhân vật giàu tâm trạng và nhận thức
cá nhân với cuộc đời và những người sống bên mình”[73]. Cốt truyện đã vận động
đổi thay trong sự phát triển của thể loại. Xuất hiện những cốt truyện đầy kịch tính,
những cốt truyện giàu tâm trạng, cốt truyện có đầu có cuối, cốt truyện “vơ hậu”, phi
kết cấu, có cốt truyện phản ánh hiện thực đương đại, có cốt truyện ảo, cổ tích. Với
khả năng biến hóa linh hoạt trong cách xây dựng cốt truyện, truyện ngắn là thể loại
thuận lợi để biểu đạt một cách tự nhiên, cụ thể những nỗi niềm, những tâm sự thầm
kín, đầy bí ẩn của con người.
Truyện ngắn phát triển đa dạng cùng với sự nổi trội hình thức như truyện ngắn
kỳ ảo, giả lịch sử, nhại cổ tích, truyện ngắn dịng ý thức. Truyện ngắn kỳ ảo là đi
sâu khám phá thế giới tinh thần hết sức trừu tượng khó nắm bắt của con người để từ
đó thấu hiểu con người ở phần nhân tính mơ hồ huyền diệu ấy. Truyện ngắn giả lịch
sử là dùng chất liệu lịch sử làm cái vỏ nghệ thuật để truyền những thông điệp về
hiện tại. Truyện ngắn dòng ý thức (tâm trạng) với đặc điểm phi cốt truyện: Truyện
ngắn khơng kể lại được bởi khơng có cốt truyện tiêu biểu, nếu có là cốt truyện bên
trong, cốt truyện tâm lý phản ánh trạng thái tâm lý điển hình của nhân vật.
Bằng cách diễn đạt khác với những phương thức thể hiện đa dạng vừa truyền
thống vừa hiện đại, truyện ngắn trong một thời gian không dài đã làm được nhiều
vấn đề mà tiểu thuyết chưa kịp làm. Truyện ngắn đã đạt được nhiều thành tựu đáng
kể trong xây dựng cốt truyện, trong cách nhìn nghệ thuật về con người và trong
sáng tạo ngôn từ. Tiểu thuyết là cái nhìn tập trung xốy sâu vào những vấn đề của

con người cá nhân cũng như mối quan hệ của cá nhân và xã hội trên hành trình tìm
kiếm và khẳng định những giá trị nhân bản, nhà văn chú ý vào số phận, tính cách
của nhân vật mà soi chiếu lại lịch sử xã hội để khơi gợi những vấn đề triết lý nhân
sinh. Trái lại, trong truyện ngắn, nhà văn chú trọng vào việc xây dựng tình huống
truyện: “Quan trọng nhất của truyện ngắn là tạo ra một tình huống nào đó từ tình
huống nổi bật của tính cách nhân vật” (Nguyễn Đăng Mạnh). Nhà văn Nguyễn
Kiên tâm đắc: “Điều quan trọng đối với truyện ngắn là phải lựa chọn cho được cái

18


Luận văn thạc sĩ

Nguyễn Thanh Hồng

tình thế, nó bộc lộ nét chủ yếu của tính cách số phận, nó đặc trưng cho một hiện
tượng xã hội [69].
Trong bài Những thành tựu của truyện ngắn sau 1975, tác giả Bích Thu
đánh gía tổng quát như sau: “Trong những năm gần đây, truyện ngắn có xu hướng
tự nới mở đa dạng hơn trong cách diễn đạt. Cốt truyện vận động đổi thay trong sự
phát triển của thể loại, có những cốt truyện vơ hậu, phi kết cấu, có cốt truyện phản
ánh hiện thực đương đại, cốt truyện ảo, cổ tích…Truyện ngắn hơm nay ngày càng
tăng cường cốt truyện bên trong, biểu lộ trạng thái tâm tưởng của nhân vật chính,
giảm bớt cốt truyện hành động bên ngoài. Cốt truyện với đầy đủ chi tiết sự kiện
khơng cịn chiếm giữ vai trị cơ bản mà lùi xuống hàng thứ yếu sau tính cách”. Đặc
biệt, tác giả chỉ rõ ra rằng: “Một số cây bút nữ đã góp phần làm nên sự đa dạng của
từ ngữ sau 1975 bằng năng lực biểu cảm cuộc sống qua thế giới tâm hồn theo dòng
tâm trạng của nhân vật”.
Truyện ngắn của các nhà văn nữ đã mở ra một luồng sinh khí mới cho văn học
thời kỳ đổi mới. Lối viết trẻ trung đầy sáng tạo, cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh độc

đáo của họ đã thu hút được sự quan tâm của rất nhiều độc giả đương đại. Nói như
nhà văn Bùi Hiển “Nét sinh sắc là ở chỗ cây bút trẻ không hề hồn nhiên một cách
dễ dãi, trái lại văn phong mang vẻ trầm ngâm, để suy ngẫm về cuộc sống, về những
thân phận khác nhau” [59].
1.1.1. Cốt truyện đan xen nhiều mạch truyện
Cốt truyện là những đường dây sự kiện, “hệ thống sự kiện cụ thể”, [Tr99,14]
là sự xâu chuỗi, liên kết, tổ chức các chi tiết, tình huống “theo yêu cầu tư tưởng và
nghệ thuật nhất định [Tr99,14] . Khi xây dựng cốt truyện, nhà văn có thể tạo ra một
hoặc nhiều đường dây sự kiện đan xen và bổ sung cho nhau nhằm làm nổi bật nội
dung tư tưởng của tác phẩm. Do vậy, mạch truyện có thể được hiểu là những đường
dây chi tiết, sự kiện nhất định trong từng cốt truyện, được tạo nên theo những khả
năng kết hợp khác nhau, một câu chuyện có thể có một hoặc nhiều mạch chuyện.
Suy cho cùng, việc sáng tạo mạch chuyện phụ thuộc chủ yếu vào ý đồ sáng tác và
quan niệm về giá trị cốt truyện của tác giả. Sự phức tạp và đầy biến động của đời
sống xã hội sau đổi mới đã làm nảy sinh rất nhiều phương diện và phạm vi hiện
thực mới mẻ cần được khám phá, lí giải. Xu hướng phản ánh cuộc sống đa chiều đã
xuất hiện trong nhiều truyện ngắn thời kỳ sau này. Sự chuyển đổi từ loại cốt truyện
một mạch thẳng sang cốt truyện đan xen nhiều mạch chuyện là một biểu hiện rõ nét
của sự đổi mới nghệ thuật trong truyện ngắn hiện đại nói chung và của các cây bút
nữ thời kỳ này nói riêng. Do đó, cốt truyện được tổ chức linh hoạt và tinh tế hơn với
nhiều ngả rẽ, nhiều mạch chuyện.

19


Luận văn thạc sĩ

Nguyễn Thanh Hồng

Trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, ta thấy nhà văn đã tạo ra sự đan xen

của nhiều mạch truyện, mạch quá khứ và mạch hiện tại, hay sự song song tồn tại
của cái thực và cái ảo…Nhà văn thường xây dựng kiểu cốt truyện có sự xáo trộn về
mặt thời gian nghệ thuật, đan xen những sự kiện quá khứ và hiện tại để đối chiếu và
soi tỏ nhằm khắc họa sâu sắc hình tượng nhân vật và bộc lộ tối đa tư tưởng chủ đề
của tác phẩm. Trong truyện ngắn của chị, cốt truyện thường được bắt đầu ở hiện tại
sau đó trở về quá khứ rồi lại quay về hiện tại. Ở một số truyện ngắn khác lại có sự
đan xen giữa quá khứ và hiện tại, tạo điều kiện cho nhân vật bộc lộ tình cảm, suy
nghĩ, hành động của mình trong các giai đoạn khác nhau. Tuy nhiên, sự kết hợp
giữa quá khứ và hiện tại trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư không chỉ dựa trên
diễn biến nội tâm của các nhân vật mà chúng ta còn thấy được qua chính lối tổ chức
các sự kiện của nhà văn. Chính sự hợp lý, lơ gíc của các sự kiện khiến cho chính các
sự kiện trong quá khứ cũng hiện lên một cách rõ nét và gần gũi như trong hiện tại.
Mơ hình cốt truyện này được khái qt như sau:
(1)
Thời điểm hiện tại: Nhân vật xuất hiện
(2)
Thời điểm quá khứ: Những hồi tưởng của nhân vật
(3)
Trở lại thời điểm hiện tại: Kết thúc truyện, những so sánh chiêm
nghiệm của nhân vật
Rất nhiều truyện ngắn của chị được xây dựng với mơ hình cốt truyện trên,
trong đó triển khai các chi tiết, sự kiện tạo thành các mạch hiện tại – quá khứ - hiện
tại khá linh hoạt. Sự đảo lộn trật tự thời gian là một trong những cách kéo gần thời
gian quá khứ về với thời gian hiện tại, làm cho tất cả các sự kiện, sự việc đồng hiện
cùng một lúc, làm nên những mảng màu đa dạng của cuộc sống. Từ đó giúp người
đọc có thể soi chiếu vấn đề đặt ra trong tác phẩm dưới nhiều góc độ khác nhau,nhất
là nó có khả năng hình thành nhiều liên tưởng bất ngờ, phức tạp cho độc giả. Có
những khi người đọc phải sắp xếp lại trật tự thời gian của cốt truyện thì mới có thể
hiểu được những bước diễn tiến của truyện. Chính sự nhập nhằng, đơi khi khó phân
định ranh giới giữa hiện tại và quá khứ ấy khiến người đọc trong quá trình sắp xếp

lại các sự việc theo thời gian, buộc phải có những suy nghĩ sáng tạo và liên tục đặt
ra những câu hỏi mang tính dự cảm, đốn định.
Sầu trên đỉnh Puvan của Nguyễn Ngọc Tư là một kiểu đan xen các mạch truyện
khá phức tạp. Trong cốt truyện mỗi nhân vật tạo nên một mạch truyện tồn tại độc
lập. Sự sắp xếp nhiều mạch truyện trong tác phẩm tạo nên cảm giác về một khơng
khí ngột ngạt, sự đan xen của nhiều số phân các nhân vật tạo nên cảm giác vừa cay
đắng vừa xót xa. Câu chuyện thứ nhất là chuyện về số phận nhân vật Dịu. Hai vợ
chồng giả vờ li dị để cô đi xuất khẩu lao động Đài Loan. Nhưng cô bị ông chủ Đài
Loan hãm hiếp và có con với ơng ta. Bà chủ đẩy cô ra đường, cô trở về nước với hai

20


Luận văn thạc sĩ

Nguyễn Thanh Hồng

bàn tay trắng và một cõi lịng cay đắng tê tái. Khơng chấp nhận nổi sự tha thứ của
chồng, mà cơ nghĩ đó là lịng thương hại, cô bỏ đi kiếm tiền bằng nghề làm gái trên
thành phố. Tại đây, cô gặp Vĩnh, chàng họa sỹ có tình u mãnh liệt với vẻ đẹp của
những cây sầu. Câu chuyện thứ hai là chuyện về người tu sỹ Colègan đã chết khi
tận mắt chứng kiến vẻ đẹp của hoa sầu nở. Thứ ba là chuyện về cuộc đời của Vĩnh,
nhà bị cháy rụi trong bom đạn, người yêu đầu đời chết đuối, quá khứ mờ mịt và
tương lai vô vọng....Cuối cùng là câu chuyện của chú bé chăn dê với người mẹ
nghèo…Mỗi số phận có một nỗi niềm riêng. Và tác giả đã khéo léo lồng ghép
chúng trong câu chuyện chung đó là hành trình tìm đến cái đẹp của ba con người:
một chú bé chăn dê, một cô gái điếm và một nghệ sỹ. Cách ứng xử của ba người
trước cái đẹp hoàn toàn khác nhau. Chú bé căm ghét cây sầu nở hoa vì năm nào sầu
nở làng cũng đói và dê chết nên bỏ về trước. Người nghệ sỹ chết vì cái đẹp cịn cơ
gái điếm đi xuống núi một mình và khơng tin vào lời nguyền. Đằng sau những câu

chuyện về từng số phận, từng cuộc đời đó là cái dư âm còn khắc khoải trong những
trang viết của Nguyễn Ngọc Tư.
Một nhân vật có thể tạo nên khơng chỉ một mạch truyện mà có thể đan xen
nhiều mạch bằng những đoạn hiện tại, quá khứ, suy tưởng, ước mơ…Trong “ Tiếng
đàn mơi sau bờ rào đá” của Đỗ Bích Thúy, số phận của một người phụ nữ vùng
cao được thể hiện thông qua một hệ thống các chi tiết sự kiện. Truyện được bắt đầu
bằng hình ảnh của thời hiện tại cảm nghĩ của ơng Chúng về gia đình khi nhìn thấy
những đứa con của mình, và cả bà Chúng nữa. Mới đọc truyện, người đọc cứ ngỡ
như đang tiếp xúc với một gia đình hạnh phúc, cha mẹ đã đến tuổi xế bóng về già
mãn nguyện nhìn con cái trưởng thành. Nhưng hóa ra khơng phải vậy. Đằng sau vẻ
bình thản của từng con chữ là bao nhiêu nỗi nhọc nhằn của đời người xuất hiện. Từ
đó, truyện phân chia thành những khúc đoạn kể về những thăng trầm của một gia
đình, trong đó mỗi cá nhân là một cảnh đời, một số phận chớ trêu rất đáng thương.
Mỗi khúc đoạn có thể tồn tại độc lập như một câu chuyện, trở thành những mạch
phụ trong sự liên hệ chung nhằm lí giải chủ đề. Mạch diễn tiến của truyện có thể sơ
đồ hóa như sau:

21


Luận văn thạc sĩ

Nguyễn Thanh Hồng

Thời gian hiện tại:
Chuyện gia đình ơng
Chúng
Thời gian q khứ:
Trước tết một tháng
Thời gian q khứ:

Kía lấy Chúng mà
khơng có con

MẠCH
THỨ 2
MẠCH
THỨ 1

Thời gian q khứ: mẹ
Hoa về
Thời gian hiện tại:
Chuyện của May

MẠCH
THỨ 3

Thời gian hiện tại:
Chuyện tình của mẹ
già

Câu chuyện xoay về thời gian của quá khứ gần “trước tết một tháng…”, hình
ảnh của mẹ Hoa xuất hiện. Từ đó, người đọc ngạc nhiên trước sự xuất hiện của một
nhân vật mới trong mạch truyện. Mẹ Hoa là người đàn bà được cha của May đem
về sau những năm tháng đằng đãng sống với mẹ già mà khơng có con. Từ đó, mối
tình tay ba của họ bắt đầu. Truyện lại quay trở lại mạch quá khứ với những dòng hồi
cố về cuộc sống của một gia đình vùng cao, về cảnh làm dâu và làm mẹ hai đứa con
chồng của mẹ già. Xen kẽ trong mạch truyện lúc ở thì hiện tại, lúc lại dội về quá
khứ nhức nhối của mẹ già là câu chuyện tiếng kèn mơi dặt dìu của May. Tiếng khèn
môi ấy làm trái tim thiếu nữ xao xuyến. Nhưng tiếng khèn mơi ấy cịn gợi lại những
kỉ niệm khơng thể nào quên của mẹ già về một thời trẻ đã qua…Có thể nói, thơng

qua cốt truyện về số những số phận khác nhau của cuộc sống con người nơi vùng
cao, Đỗ Bích Thúy muốn gửi gắm sự đồng cảm, thấu hiểu và chia sẻ tận đáy sâu
tâm hồn mình với số phận của những người phụ nữ. Có thể thấy, với người phụ nữ
vùng cao, những chuỗi ngày được coi là hạnh phúc nhất của đời họ thường qua

22


Luận văn thạc sĩ

Nguyễn Thanh Hồng

ngắn ngủi. Hẳn đó chỉ là những tháng ngày mới bước vào tuổi cập kê, biết ửng hồng
đơi má khi bắt gặp một ánh nhìn như thiêu như đốt trong buổi chợ, biết cất cao
giọng hát đáp lời một tiếng hát nồng nàn, tình tứ phía đám trai bên kia. Cịn khi đã
lấy chồng, họ sẽ phải chấp nhận muôn vàn nỗi khổ cực do hủ tục lạc hậu, do cái đói,
nghèo, do tối tăm lạc hậu và hơn hết là do những định kiến xã hội gây ra. Phải
chăng, bởi đúng như Đỗ Bích Thúy đã viết: “Bởi cuộc đời thì dài, âu lo thì lớn, khát
vọng thì xa nên cái khoảnh khắc ấy mới quý giá và ý nghĩa biết nhường nào”.
Ta còn có thể bắt gặp rất nhiều truyện khác có cùng kiểu cốt truyện như thế
này: Hậu thiên đường, Cát đợi, Đêm dịu dàng…(Nguyễn Thị Thu Huệ), Gió
khơng ngừng thổi, Ngải đắng ở trên núi…(Đỗ Bích Thúy), Cánh đồng bất tận
(Nguyễn Ngọc Tư). Chức năng lớn nhất của loại cốt truyện này là khả năng bao
trùm hiện thực cuộc sống ngổn ngang, bề bộn, phức tạp; khơng chỉ phản ánh mà
cịn nhằm lí giải hiện thực. Nằm trong mạch vận động chung của văn học thời hiện
đại , truyện ngắn ngày nay với xu hướng “tiểu thuyết hóa” đã tìm đến một lượng chi
tiết, sự kiện đa dạng với những giá trị biểu hiện mới, đã tố chức hệ thống chi tiết sự
kiện một cách linh hoạt và sinh động hơn.
1.1.2. Cốt truyện giàu chi tiết sự kiện:
Cốt truyện là một hệ thống các chi tiết, sự kiện, biến cố được kết nối với nhau

một cách đa dạng, linh hoạt. Đối với truyện ngắn, chi tiết trở thành vấn đề sống cịn:
“Truyện ngắn sống bằng các chi tiết…khơng khí, cảnh trí, tình huống, nhân vật,
tính cách, hành động, tâm tư, diễn biến…đều phải được tạo ra, dựng nên từ các chi
tiết[3], bởi “truyện ngắn cũng có thể chẳng có cốt truyện gì cả, khơng kể được
nhưng truyện ngắn khơng thể nghèo chi tiết[Tr85,3]. Với đặc điểm là “ngắn”,
truyện ngắn khơng có chỗ cho những chi tiết rườm rà, khơng có giá trị cho sự phát
triển cốt truyện, xây dựng tính cách nhân vật và bộc lộ chủ đề tư tưởng tác phẩm.
Mọi chi tiết sự kiện tham gia vào cốt truyện phải được chọn lọc kỹ càng và có tác
dụng nhất định trong việc chuyển tải ý đồ nghệ thuật của tác giả. Bên cạnh chi tiết,
sự kiện là những việc có ảnh hưởng và tác động đáng kể đến tính cách và số phận
nhân vật, là chất liệu cơ bản tạo thành một cốt truyện. Khẳng định vai trò của chi
tiết sự kiện trong truyện ngắn đồng thời cần thấy rằng tính chất chức năng và sự tổ
chức của các loại chi tiết, sự kiện sẽ có những biến đổi nhất định phụ thuộc vào
từng giai đoạn phát triển của thể loại. Khảo sát truyện ngắn của các tác giả Nguyễn
Thị Thu Huệ, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Ngọc Tư, ta thấy có rất nhiều tác phẩm xuất
hiện nhiều chi tiết, sự kiện .
Trước hết, đó là chi tiết có tính điển hình cao. Những chi tiết này có tác
dụng cá thể hóa một đặc điểm tính cách của một loại nhân vật trong tác phẩm. Ví
dụ, để diễn tả đặc điểm phong tục cưới hỏi của người dân tộc vùng cao, Đỗ Bích

23


×