Tải bản đầy đủ (.doc) (30 trang)

545 Thực trạng phát triển các loại hình dịch vụ hỗ trợ phát triển công nghiệp ở Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (202.92 KB, 30 trang )

Lời nói đầu
Trong mấy thập kỷ gần đây, ở nhiều nước trên thế giới, khu vực dịch vụ
nói chung và khu vực dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp nói chung đã
phát triển rất mạnh, trở thành một ngành kinh tế quan trọng ở Việt Nam, trước
đây khái niệm dịch vụ chưa được hiểu một cách đúng đắn và đầy đủ, ngành dịch
vụ chưa có vị trí xứng đáng trong công cuộc phát triển kinh tế – xã hội. Sau gần
mười năm tiến hành đổi mới, công cuộc cải cách kinh tế đã đạt được nhiều thành
tựu ban đầu rất quan trọng. Trong thời kỳ 1991-1995, nhịp độ tãng bình quân
hàng năm về tổng sản phẩm quốc nội đạt 8,2%, về sản xuất công nghiệp là
13,3%, kim ngạch xuất khẩu trung bình tăng bình quân hàng năm là 20%. Nhu
cầu về dịch vụ để phục vụ cho các ngành kinh tế, đặc biệt là đối với phát triển
tăng nhanh. Gần đây đã có sự bùng nổ về phát triển các hoạt động dịch vụ. Tỷ
trọng ngành dịch vụ trong GDP tăng từ 35,7% lên 42,5% năm 1995. Bên cạnh
những dịch vụ chuyền thống như vận tải thương nghiệp …. các hình thức dịch
vụ khác và mới như dịch vụ tài chính, nghân hàng, dịch vụ khoa học công nghệ,
thông tin kinh tế, dịch vụ quảng cáo – triển lãm, dịch vụ đầu tư dịch vụ pháp
lý… cũng xuất hiện và phát triển mạnh. Trong thời gian tới khi Việt Nam
chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước với nhịp
độ tăng trưởng kinh tế hàng năm 9-10%, công nghiệp tăng từ 14-15%, xuất khẩu
tăng từ 24_28% thì nhu cầu dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp sẽ tăng nhanh hơn. Tuy
nhiên, trong thời gian qua các loại hình dịch vụ ở Việt Nam hình thành và phát
triển một cách tự phát, thiếu nhiều dịch vụ cần thiết hoặc chưa đáp ứng được
nhu cầu đối với các doanh nghiệp công nghiệp cả về số lượng và chất lượng,
đồng thời vấn đề thực trạng phát triển dịch vụ phục vụ công nghiệp, quan hệ
cung cầu về dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ phục vụ xuất nhập khẩu của doanh
nghiệp công nghiệp cũng chưa được nghiên cứu và đánh giá cụ thể.
Để góp phần làm sáng tỏ vấn đề trên, đề án của em gồm 3 phần chính như
sau.

1
Chương I: Thực chất và vai trò về dịch vụ hỗ trợ phát triển công nghiệp


Chương II: Thực trạng phát triển các loại hình dịch vụ hỗ trợ phát triển
công nghiệp ở Việt Nam.
Chương III: Những phương hướng nhằm phát triển và nâng cao chất
lượng dịch vụ hỗ trợ phát triển công nghiệp ở Việt Nam.
Đề án sử dụng lối viết diễn giải, quy nạp cùng với phân tích tuy nhiên do thời
gian có hạn bài viết của em sẽ không tránh khỏi những thiếu sót em rất mong
thầy đóng góp ý kiến để giúp em hoàn chỉnh hơn bài viết của mình.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Nguyễn Đình Trung đã tận tình giúp
đỡ em hoàn thành đề án này.

2
Chương I: Thực chất và vai trò về dịch vụ hỗ trợ phát
triển công nghiệp.
1. Thực chất về dịch vụ hỗ trợ phát triển công nghiệp
Ngày nay, xuất khẩu không còn bó hẹp theo nghĩa thông thường của sự
buôn bán trao đổi hàng hoá hưu hình vượt ra khỏi biên giớ địa lý của một quốc
gia, mà phảI kể đế các hoạt động dịch vụ mà các doanh nghiệp trong nước tiến
hành ở nước ngoài hoặc ngay tại trong nước đối với các doanh nghiệp, tổ chức,
cá nhân nước ngoài (xuất khẩu tại chỗ x). Các dịch vụ này rất đa dạng như dịch
vụ láp đặt máy, xây dung vận tải, bản quyền sở hữu công nghiệp, phát minh
sáng chế … Sự gia tăng cạnh tranh quốc tế của các doanh nghiệp, kể cả thị
trường ngoài nước và thi trường nội địa, đã thúc đẩy các doanh nghiệp của nhiều
nước tăng cường sử dụng các dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu.
Chính các dịch vụ này đã hợp thành các chuỗi mắt xích quan trọng tạo khả năng
nâng cao giá trị xuất khẩu của doanh nghiệp
2. Vai trò và vị trí của khu vực dịch vụ hỗ trợ phát triển công nghiệp
Khu vực dịch vụ hiện nay đã trở thành ngành kinh tế quan trọng, chiếm tỷ
trọng ngày càng tăng trong tổng sản phẩm quốc nội ở nhiều quốc gia trên thế
giới. Năm 1991, tỷ trọng dịch vụ trong tổng sản phẩm quốc nội đã chiếm khoảng
60-70% ở các nước công nghiệp phát triển và khoảng 40% ở các nước đang phát

triển. Trong 10 năm gần đây, xuất khẩu dịch vụ tăng bình quân hàng năm là
14% và đạt gần 1/3 tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá hữu hình của thế giới.
Có nhiều cách phân loại dịch vụ tuỳ tính chất và đối tượng phục vụ như
dịch vụ có tính chát xã hội và dich vụ cá nhân, dịch vụ có tích chất sản suất và
dịch vụ phi sản xuất, dịch vụ thị trường và dịch vụ phi thị trường…dịch vụ thị
trường có thể phân ra thành dịch vụ cho người tiêu ding và dịch vụ cho người
sản xuất (dịch vụ công nghiệp d) có vị trí quan trọng trong thúc đẩy sản xuất
công nghiệp, tăng khả năng cạnh tranh của hành hoá hữu hình, thúc đẩy việc tìm

3
kiếm đầu vào và đầu ra cho sản xuất công nghiệp. Trong đó có một số loại dịch
vụ có tầm quan trọng đặc biệt đối với các nước đang phát triển thực hiện chính
sách công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước như dịch vụ chuyển giao công nghệ,
dịch vụ thông tin.
Dịch vụ công nghiệp có thể chia thành 4 nhóm chính sau:
Nhóm thứ nhất là dịch vụ tài chính, bao gồm các dịch vụ ngân hàng, bảo
hiểm và thuê mua.
Nhóm thứ hai là dịch vụ vận chuyển và cung ứng bao gồm các dịch vụ
vận tảI đường biển, đườn sắt, đường bộ và đường hàng không, dịch vụ lưu kho
cung ứng, bán buôn.
Nhóm thứ ba là dịch vụ công nghệ và chuyên môn gồm dịch vụ về giấy
phép công nghệ và thương mại, dịch vụ về kiến trúc và xây dung, dịch vụ về
quản lý, dịch vụ pháp lý, dịch vụ kế toán.
Nhóm thứ tư là các dịch vụ công nghiệp khác gồm dịch vụ công nghệ
thông tin, dịch vụ quản cáo, dịch vụ bất động sản, dịch vụ bảo vệ dịch vụ hỗ trợ,
dịch vụ bư điện.
Trong những năm gần đây, cơ cấu dịch vụ ở các nước công nghiệp phất
triển thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng của các dịch vụ chuyền thống (như
thương mạin, vận tải …) và tăng tỷ trọng dịch vụ đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp
(như dịch vụ kế toan – tài chínhn, dịch vụ tư vấn pháp luật, dịch vụ nhiên cư

triển khai khoa học công nghệ, quản cáo, triển lãm..). Ví dụ Mỹ là nước có nhịp
độ phát triển nhóm dịch vụ này cao nhất với nhịp độ bình quân hàng năm trung
bình là 3,9% trong thời kì 1973-1984.
3. Các loại dịch vụ hỗ trợ phát triển công nghiệp
3.1. Dịch vụ thông tin về thị trường
Dịch vụ này là điểm khởi đầu, là tiền đè cho hoạt động xuất khẩu. Nó
cung cấp cho doanh nghiệp các thông tin tư ván về thi trường, các chiến lược thi
trường, tìm kiếm thị trường mới, nghiên cứu và phân tích về thị trường với các

4
yếu tố liên quan đến cơ cấu và hướng phát triển của thị trường, về các doanh
nghiệp nước ngoài.
Dịch vụ thông tin về thị trường còn bao gồm các hoạt động quảng cáo về
chính doanh nghiệp và hoánh hoá xuất khẩu của doanh nghiệp, như quản cáo và
công bố các thông tin cần thiết tại các cuộc hội trợ, triển lãm, hội nghị trong và
ngoài nước, trên các phương tiện thông tin đại chúng, các tạp chí kinh tế, nghiên
cứu thị trường.
3.2. Dịch vụ tư vấn về các vấn đề liên quan đến xuất khẩu.
Các doanh nghiệp thường sử dụng các dịch vụ tư vấn để phục vụ cho các
hoạt động xuất nhập khẩu như tư vấn về pháp luật, chế định về xuất nhập khẩu,
về pháp luật của nước nhập khẩu hoăc xuất khẩu hàng hoá cho doanh nghiệp, về
các vấn đề kỹ thuật pháp lý trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu như đàm
phán kinh doanh, hợp đồng .
3.3. Các dịch vụ tài chính.
Đối với nhiều doanh nghiệp, việc cung ứng vốn cho xuất khẩu và bảo
hiểm xuất khẩu là điều kiện tiền đề quan trọng cho hoạt động xuát khẩu. Tuy
nhiên, do vốn sử dụng trong kinh doanh xuất khẩu luôn găn với những rủi ro. Vì
vậy, hoạt động cấp vốn thường gắn với các hoạt động bảo hiểm xuất khẩu.
3.4. Dịch vụ vận tải.
Dịch vụ này liên quan đến việc lựa chon phương tiện vận tảI thích hợp để

vận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu, giảm tối đa các thiệt hại trong quá trình
vận chuyển, đảm bảo về kho chứa bến bãi, bảo hiểm vận tải.

5
Chương II Thực trạng phát triển các loại hình dich vụ hỗ
trợ phát triển công nghiệp ở Việt Nam
1. Thực trạng phát triển các loại hình dịch vụ hỗ trợ phát triển công
nghiệp.
Trong nhiềp thập kỷ vừa qua dịch vụ sản xuất chưa được quan tâm phát
triển đúng mức. Ngay trong công tác thống kê Việt Nam vẫn áp dụng hệ thống
cân đối vật chất ( MPS ). Vì vậy, hệ thống thống kê chỉ bao quát được một phần
các hoạt động dịch vụ đó là vận tảI, thông tin liên lạc, thương mại và một số
dịch vụ công cộng khác như cung cấp điện – khí – nước.
Sau 10 năm đổi mới chuyển đổi kinh tế theo hướng thị trường khu vực
dịch vụ, đặc biệt làdịch vụ cho sản xuất đã có sự phát triển vượt bậc cả về chất
và lượng, nhất là trong mấy năm gần đây.
Tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDP tăng từ 35,7% năm 1991 lên 42,5%
năm 1995.
Bảng1.Cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội phân theo ngành.
Đơn vị: % GDP
Ngành kinh tế 1991 1992 1993 1994 1995
Nông nghiệp 40.5 33.9 29.9 28.7 27.2
Công nghiệp 23.8 27.3 28.9 29.6 30.3
Dịch vụ 35.7 38.8 41.2 41.7 42.5
Số doanh nghiệp trong ngành thương nghiệp và dịch vụ được cấp đăng ký
kinh doanh trong năm 1994 bằng 45,9% tổng số doanh nghiệp ngành thương
nghiệp và dịch vụ trong thời kỳ 1991 – 1993, còn số doanh nghiệp ngành tài
chính, tín dụng được cấp đăng ký kinh doanh năm 1994 bằng 69,8% tổng số
doanh nghiệp ngành tài chính, tín dụng được cấp đăng ký kinh doanh trong thời
kỳ 1991 – 1993.


6
Bảng2.Số lượng doanh nghiệp và vốn đăng kýkinh doanh của một số
ngành dịch vụ
Loại dịch vụ
Tổng số (Tính đến
hết năm 1994)
Chia ra
Từ 1991 đến cuối
1993
1994
Số
doanh
nghiệp
Vốn đăng
ký (Tỷ
đồng)
Số
doanh
nghiệp
Vốn đăng
ký (Tỷ
đồng)
Số
doanh
nghiệp
Vốn đăng
ký (Tỷ
đồng)
Thương nghiệp,

dịch vụ
5535 6277.7 3793 5266.1 1742 1011.6
Tài chính, tín dụng 4210 1673.7 2479 1436.4 1731 237.3
Nguồn: Niên giám thống kê 1993 – 1994

Số dự án đầu tư nước ngoài dược cấp giấy phép đầu tư trong lĩnh vực dịch
vụnăm 1994 chiếm tới 74,6% tổng số dự án đầu tư trong lĩnh vực dịch vụ được
cấp giấy phép đầu tưtừ năm 1988 đến năm1993.
Chính sách mở cửa của Việt Nam được thực hiện từ năm 1986 đã có tác
dụng thúc đẩy ngoại thương và các ngành sản xuất hàng hoá xuất khẩu, tạo cơ
sở cho việc phát triển các ngành dịch vụ phục vụ xuất nhập khẩu. Năm 1975 chỉ
có 40 nước có quan hệ buôn bán với Việt Nam, đến năm 1996 Việt Nam đã
quan hệ buôn bán với 105 nước và khu vực, kí hiệp định khung với EU; tham
gia AFTA, gia nhập WTO. Trong 5 năm 1991 – 1995, kim ngạch xuất khẩu đạt
hơn 17tỷ USD bình quân mỗi năm tăng 16,7%, kim ngạch xuất khẩu đạt 22, 9 tỷ
USD bình quân mỗi năm tăng 22,2%. So với thời kì trước 1986 – 1990, kim
ngạch xuất khẩu giai đoạn 1991 – 1995 tăng gấp 3 lần và kim ngạch nhập khẩu
tăng gấp 2 lần.
Cơ cấu hàng xuất trong thời kỳ 1991 – 1995 đã có thay đổi theo hướng
giảm tỷ lệ hàng nguyên liệu thô, tăng tỷ lệ hàng chế biến. Tỷ lệ nhóm hàng xuất
khẩu nguyên liệu thô đã giảm từ 92% năm 1991 xuống còn72 % tổng kim ngạch
xuất khẩu năm 1995. Nhóm hàng xuất khẩu đã qua chế biến tăng từ 8% năm
1991 lên gần 30% năm 1995. Các dịch vụ gắn liền với xuất nhập khẩu cũng phát

7
triển mạnh., góp phần thúc đẩy và nâng cao hiệu quả của sản xuất kinh doanh,
phục vụ sản xuát và giảI quyết việc làm cho người lao động.
Đến nay đã hình thành một số loại dịch vụ phục vụ sản xuất công nghiệp
và hỗ chợ việc xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp như sau:
a. Dịch vụ cung cấp thông tin, tư vấn, nghiên cứu và phân tích thị trường,

xúc tiến xuất nhập khẩu
Bao gồm các hình thức cụ thể sau:
- Cung cấp các thông tin, tư liệu cần thiết về thi trường, đối tác kinh
doanh trong và ngoài nước.
- Tư vấn, nghiên cứu về các yếu tố liên quan đến cơ cấu và hướng phát
triểncủa thị trường, chiến lược hội nhập thi trường.
- Tổ chức cho các nhà doanh nghiệp đI nghiên cữu thị trường nước ngoài,
tiếp xúc với doanh nghiệp nước ngoài để thực hiện việc xúc tiến đầu tư,
liên kết kinh doanh, nhập máy móc, thiết bị, công nghệ, vật tư và bán
hàng.
- Các dịch vụ trên thường được thực hiện qua các cơ quan nhà nước (các
bộc, ngành, sở, thương vụ..) hoặc các tổ chức phi chính phủ như phòng
thương mại và công nghiệp, các hiệp hội ngành nghề.
b. Dịch vụ về tài chính, bảo hiểm:
Thực hiện các giao dịch tài chính, thanh toán trong nước và quốc tế, trợ giúp tài
chính cho sản xuất và xuát khẩu, bảo hiểm cho sản xuất và xuất khẩu. Đến nay
cả nước có trên 4200 tổ chức dịch vụt tài chính, tín dụng trong đó có 6 công ty
bao hiểm, 13 công ty kiểm toán và 4 công ty thuê mua.
c. Dịch vụ kiểm định hàng hoá bao gồm các hình thức cụ thể sau:
- Kiểm ngiệm: Đây la công việc mang tính chất kiểm tra của nhà nước
nhăm cấp giấy chứng nhận hàng hoá và xuất sứ hàng hoá.
- Giám dịnh nhăm cung cấp báo cáo, biên bản giám định theo yêu cầu của
bên mua, bán về phẩm chất, số lượng, khối lượng, chất lượng, bao bì, tổn thất
hàng hoá như giám định hàng hảI, giám định xây dựng, thẩm định giácông trình

8
đầu tư, … Đến năm 1995, cả nước có 7 tổ chức trong đó có 3 tổ chức là cơ quan
nhà nước thực hiện loại dịch vụ này.
d. Dịch vụ kho vận và giao nhân hàng hoá:
Bao gồm các dịch vụ vận tảI hàng hoá, lưu kho và giao nhận hàng hoá.

Đến năm 1995 cả nước có trên 20 tổ chức đang hoạt động trong lĩnh vực này
(không kể vận tảI thuần tuý k).
e. Dịch vụ tổ chức hội trợ, quảng cáo trong và ngoài nước:
Đến năm 1995 cả nước có gần 15 tổ chức làm dịch vụ tổ chức hội trợ và
15 văn phòng đại diện của các công tycủa nước ngoài dang hoạt động tại Việt
Nam.
f. Dịch vụ tư vấn đầu tư và công nghệ:
Bao gồm các dịch vụ tư vấn về chính sách đầu tư, tư vấn về xây dung dự
án đầu tư, dịch vụ triển khai dự án đầu tư và tư vấn công nghệ. Trong năm 1995,
cả nước có 18 tổ chức được cấp giấy phép hoạt độngtrong linh vực tư vấn đầu
tư.
g. Dịch vụ nghiên cứu – triển khai khoa học công nghệ:
Hiện có trên 300 cơ quan khoa học và công nghệ thực hiện nhiệm vụ này.
h. Dịch vụ tư vấn pháp luật:
Bao gồm các dịch vụ đặt yêu cầu, đàm phán kinh doanh, hỗ trợ doanh
nghiệp khi sử lý tranh chấp tại toà án, trọng tài kinh tế và thông tin pháp luật.
Đến nay, cả nước có trên 100 tổ chức dịch vụ tư vấn pháp lý.
Trong một số năm gần đây, chính phủ đã ban hành một số quy định để
phát triển và quản lý các hoạt động dịch vụ phục vụ các doanh nghiệp xuất nhập
khẩu, bao gồm các vấn đề sau:
- Cho phép mọi thành phần kinh tế được thành lập các đơn vị nghiên cứu
khoa học và phát triển công nghệ, quy định về công tác quản lý khoa
học và công nghệ, đưa công tác quản lý khoa học vào nề nếp.

9
- Quy định về quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất nhập khẩuvà việc
ban hành quy chế về hội trợ, triển lãm, quảng cáo, thương mại, giám
định hàng xuất khẩu.
- Quy định về quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam.
- Quy định về quy chế kiểm toán độc lập.

- Quy định về kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam.
- Quy định về quy chế hành nghề tư vấn pháp luất của các tổ chức nước
ngoài ở Việt Nam.
- Quy định về tổ chức và hoạt động của công ty thuê mua tài chính tại
Việt Nam.
- Quy định về việc áp dụng hệ thống tài khoá quốc gia trong toàn quốc
thay cho hệ thống bảng cân đối vật chất.
2. Nhu cầu và tình hình cung cấp các dịch vụ hỗ trợ phát triển công nghiệp
đối với các doanh nghiệp công nghiệp.
Nhằm nghiên cứu về thực trạng sủ dụng các loại dịch vụ hỗ trợ phat triển
công nghiệ của các doanh nghiệp, nhu cầu của các doanh nghiệp về các dịch vụ
này, mức đáp ứng về các dịch vụ này, trên cơ sở đó đề xuất các kiến nghị để
phát triển và hỗ trợ sản xuất công nghiệp.
Các doanh nghiệp được điều tra bao gồm các loại: doanh nghiệp nhà
nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn,
doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài. Việc lựa chọn doanh nghiệp đển điều
tra dựa trên phương pháp lựa chọn ngẫu nhiên căn cứ vào một số tiêu trí như
ngành nghề, quy mô doanh nghiệp.
Tuy mẫu điều tra phỏng vấn là nhỏ so với tổng số doanh nghiệp công
nghiệp và các cơ sở cung cấp dịch vụ hỗ trợ phát triển công nghiệp ở Việt Nam
nhưng mục tieu của đề án này không phảI là đánh giá tổng thể về khu vực này ở
Việt Nam mà là thông qua nghiên cứu các trường hợp điển hình để đánh giá về
cung và cầudịch vụ đối với một doanh nghiệp công nghiệp và qua đó để phát

10
hiện và kiến nghị những chính sách cần thiết để phát triển dịch vụ hỗ trợ phát
triển công nghiệp của các doanh nghiệp công nghiệp.
- Đặc điểm và tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp bao
gồm các tiêu chí: doanh thu sản xuất, doanh thu xuất khẩu, cơ cấu lao
động và dự kiến biến động về doanh thu và lao động trong một vài năm

tới.
- Tình hình sử dụng các dịch vụ và nhu cầu của doanh nghiệp về nhu cầu
quảng cáo, triển lãm, hội trợ, tổ chức hỗ trợ việc xúc tiến xuất nhập
khẩu, dịch vụ ngân hàng trong hoạt động xuất nhập khẩu, về việc cung
cấp thông tin thị trường và đối thủ cạnh tranh, về việc nghiên cứu phát
triển sản phẩm, về dịch vụ vận tảI và một số dịch vụ khác.
- Đáng giá nhu cầu, mức độ dáp ứng nhu cầu về các loại dịch vụ của
doanh nghiệp và kiến nghị của doanh nghiệp về các biện pháp để đáp
ứng nhu cầu dịch vụ của doanh nghiệp.
2.1. Tình hình sử dụnh các dịch vụ hỗ trợ phát triển công nghiệp của
các doanh nghiệp công nghiệp.
a. Dịch vụ quảng cáo, hội trợ, triển lãm và tiếp thị.
Hầu hiết các doanh nghiệp ( 83,7% tổng số doanh nghiệp được điều tra)
thực hiên quảng cáo sản phẩp cả trong và ngoài nước, trong đó có 81,6% doanh
nghiệp quảng cáo trong nước và 22,4% doanh nghiệp quảng cáo sản phẩm ở
ngoài nước. Các phương thức quảng cáo được doanh nghiệp sử dụng bao gồm:
- Doanh nghiệp tự quảng cáo bằng cách tự in ấn, phát hành các tờ rơi giới
thiệu về doanh nghiệp và sản phẩm của doanh nghiệp với khách hàng; thông qua
đội ngu cán bộ của doanh nghiệp trực tiếp gặp và giới thiệu sản phẩm của doanh
nghiệp với khách hàng, hoặc thông qua các cửa hàng trưng bày, giới thiệu sản
phẩm của doanh nghiệp. Phương thức quảng cáo này được nhiều doanh nghiệp
sử dụng nhất trong các phương thức quảng cáo sản phẩm cảu các doanh nghiệp
đã điều tra.

11
- Thông qua các công ty, tổ chức quảng cáo trong nước bằng cách sủ
dụng các phương tiện thông tin đại chúng (đài phát thanh®, báo trí, truyền hìng,
panô, apphic ) phương thức quảng cáo này chiếm vị trí thứ hai về tỷ trọng doanh
nghiệp sử dụng.
- Các ngành điện lực, luyện kim đen, luyện kim màu, chế biến lâm sản

thuộc nhóm có tỷ lệ doanh nghiệp thực hiện việc quảng cáo ở trong nước thông
qua các công ty quảng cáo trong nước là cao nhất ( 100% số doanh nghiệp thuộc
ngành này). Tiếp đó là các ngành điện tử ( 80% số doanh nghiệp), chế tạo máy –
thiết bị và cơ khí khác ( 75% số doanh nghiệp thuộc ngành). Nhóm ngành có ít
các doanh nghiệp thực hiện việc quảng cáo trong nướcthông qua các công ty
quảng cáo trong nước gồm các ngành may ( 37,5% số doanh nghiệp), dệt
( 33,8% số doanh nghiệp), công nghiệp da (25% số doanh nghiệp) và sành sứ
thuỷ tinh ( 20% số doanh nghiệp). Nhóm doanh nghiệp ở mức trung bình gồm
các ngành chế biến thực phẩm ( 57,1% số doanh nghiệp), vật liệu xay dựng, chế
biến lương thực và ngành in (50% số doanh nghiệp thuộc ngành). Hầu hết các
doanh nghiệp thuộc các ngành không sử dụng các công ty quảng cáo trong nước
để quảng cáo cho sản phẩm của mình ở nước ngoài. chỉ có 28,6% số doanh
nghiệp thuộc ngành chế biến thực phẩm sử dụng phương thức này.
- Quảng cáo thông qua các tổ chức, cá nhân khác như qua công ty mẹ, qua
thân nhân bạn bè… chiếm vị trí thứ ba về tỷ lệ doanh nghiệp có sử dụng hình
thức này (24,5% số doanh nghiệp thực hiện quảng cáo trong nước và 4,1% số
doanh nghiệp thực hiện quảng cáo ở nước ngoài).
- Quảng cáo thông qua các công ty quảng cáo nước ngoài chiếm tỷ trọng
thấp nhất. Chỉ có 28% số doanh nghiệp thuộc ngành chế biến sản phẩm sử dụng
hình thức này để quảng cáo cho sản phẩm của mình ở nước ngoài. Vấn đề này
liên quan đến hai lý do chủ yếu là theo quy định hiện nay, các công ty quảng cáo
nước ngoài chưa được phép tổ chức hoạt động quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam
và hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam chưa đủ khả năng tài chính để trang trảI
cho việc quảng cáo ở nước ngoài.

12

×