Tải bản đầy đủ (.doc) (23 trang)

TÓM TẮT LUẬN VĂN Những tư tưởng cơ bản trong học thuyết “Kiêm ái” của Mặc Tử và ý nghĩa của chúng trong xây dựng đạo đức của người Việt Nam hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (174.42 KB, 23 trang )

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Loài người ngày càng nhận thức rõ sự phát triển của một đất nước
không chỉ là phát triển kinh tế, khoa học, công nghệ. Sự giàu có vật
chất, phương tiện tiêu dùng, kỹ thuật chỉ mới là những điều kiện quan
trọng, thực hiện lý tưởng sống cao đẹp nhất của con người là cuộc sống
văn minh, hạnh phúc. Đáp ứng cuộc sống văn minh, hạnh phúc gồm
nhiều yếu tố trong đó văn hóa đạo đức chiếm một vị trí quan trọng.
Người ta cũng thấy được rằng, văn hóa không chỉ là yếu tố phát sinh,
song song tồn tại với cuộc sống, mà nó nằm ngay trong cuộc sống, là
động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Lịch sử cho thấy, không một nền văn hóa nào phát triển được nếu
nó đứng cô lập, tách rời với các nền văn hóa khác. Như chúng ta đã
thấy vào thời cổ đại, nhiều tộc người da đỏ châu Mỹ và da đen Nam Phi
đã đạt được trình độ phát triển cao nhưng do bị ngăn cách bởi các đại
dương và sa mạc cho nên các nền văn minh ấy bị suy thoái dần dần.
Trong thời cận đại thì Trung Hoa thi hành “chính sách bế quan tỏa
cảng” tự ru ngủ mình bằng hào quang của quá khứ và đã dẫn đến tình
trạng trì trệ. Còn Nhật Bản thì chủ trương mở của, tiếp thu khoa học kỹ
thuật tiên tiến của phương Tây với nền tảng văn hóa, đạo lý truyền
thống dân tộc, nên đã phát triển nhanh. Việt Nam là một trong những
quốc gia trên thế giới, vì vậy chúng ta đã nhận thức ra được việc phát
triển kinh tế như thế nào cho phù hợp với xu hướng của thế giới trong
giai đoạn hiện nay. Đồng thời đánh giá về kết quả thu được cho nền văn
hóa nước nhà, nhất là về văn hóa đạo đức khi gia nhập vào nền kinh tế
thị trường toàn cầu. Thêm vào đó, thấy được sự giao lưu, hòa trộn giữa
các nền văn hóa khác nhau của nhân loại.
Hiện nay, khi mà đất nước chúng ta đang tiến hành mở cửa hội
nhập với các quốc gia trên thế giới, ngoài việc tiếp thu được các thành
1


tựu khoa học tiên tiến cùng với những trang thiết bị kỹ thuật hiện đại,
góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, thì chúng ta còn chịu ảnh hưởng
lớn về mặt đời sống xã hội, mà cụ thể là mặt đạo đức. Nền đạo đức Việt
Nam chịu sự tác động của kinh tế thị trường có nhiều điểm tích cực
nhưng đồng thời nó cũng làm nảy sinh một số hiện tượng tiêu cực, gây
mất ổn định trong đời sống đạo đức của người dân trong các tỉnh thành
khắp cả nước.
Nền kinh tế mở mang tới cho con người cách sống năng động, linh
hoạt trong việc xử lý mọi tình huống xảy ra trong cuộc sống hàng ngày.
Nhưng đồng thời nó đã làm cho con người sống thực dụng hơn, mối
quan hệ tình cảm tốt đẹp giữa người với người giờ đây bị chi phối bởi
tiền bạc, địa vị, lợi ích cá nhân, những giá trị truyền thống của cha ông
giờ đây đã bị phai nhạt đi trong lối sống của tầng lớp trẻ. Những biểu
hiện này chính là mầm mống cho một quan niệm sống thực dụng nếu
chúng ta không có biện pháp kịp thời ngăn chặn thì có thể dẫn tới việc
mất cân bằng xã hội, mất đi niềm tin của giới trẻ vào xã hội tương lai,
làm cho họ không có được nền tảng vững chắc để chuẩn bị cho công
cuộc xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh.
Chính vì thế, trong khi Việt Nam đang nổ lực hết mình để vươn lên
sánh vai cùng bạn bè năm châu về mọi mặt: kinh tế, xã hội, văn hóa, thì
vấn đề đạo đức mới được rất nhiều người quan tâm. Đảng và nhà nước
ta trong các chính sách của mình cũng thể hiện sự quan tâm sâu sắc tới
vấn đề này. Việc xây dựng đời sống đạo đức mới cho người dân phải
lấy những tư tưởng truyền thống làm nền tảng như tư tưởng Nho gia,
Mặc gia, đạo Phật, đạo Thiên Chúa v.v… Ở mỗi học thuyết, tôn giáo
chúng ta đều chọn lọc lấy những giá trị đạo đức tốt đẹp, phù hợp với
cuộc sống của con người trong giai đoạn hiện nay, sau khi đã gạt bỏ đi
tính chất duy tâm thần bí của những tư tưởng ấy và có sự cải biến phù
hợp.
Nghiên cứu tư tưởng của Mặc Tử ở nhiều khía cạnh khác nhau như

“Phi công”, “Thượng đồng”, “Thượng hiền”, “Tiết dụng”, “Phi nhạc”,
2
“Tiết táng” với những nội dung có thể vận dụng vào việc xây dựng đời
sống đạo đức mới của người Việt Nam hiện nay, đặc biệt là học thuyết
“kiêm ái”. Đây là một tư tưởng về việc xây dựng khối đại đoàn kết
nhằm đưa xã hội đi lên xuất phát từ tình yêu thương giữa con người với
con người, không phân biệt sang hèn. “kiêm ái là yêu thương con
người”, là sự gắn bó lợi ích giữa con người với nhau trong xã hội. Để đi
tới xây dựng một xã hội đại đồng, con người sống với nhau chan hòa,
tình cảm.
Hiện nay, chúng ta đang phải chứng kiến sự suy đồi về đạo đức của
một bộ phận người trong xã hội, nhất là tầng lớp thanh thiếu niên. Đạo
đức suy thoái làm cho mối quan hệ giữa người với người bị cách biệt,
sự thương cảm giữa những con người với nhau bị phai nhạt đi ngay cả
trong gia đình - nơi mà tình cảm con người gắn bó nhất. Thế nên cần
phải có biện pháp tích cực để khắc phục những hạn chế, tiêu cực trên.
Với lý do này tôi đi đến việc lựa chọn đề tài nghiên cứu là: “Những tư
tưởng cơ bản trong học thuyết “Kiêm ái” của Mặc Tử và ý nghĩa của
chúng trong xây dựng đạo đức của người Việt Nam hiện nay” làm đề
tài luận văn thạc sĩ Triết học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Tư tưởng của Mặc Tử đã được nhiều nhà khoa học quan tâm và đi
sâu vào nghiên cứu với nhiều công trình và khai thác dưới nhiều góc độ
khác nhau. Có thể nêu lên một số công trình tiêu biểu như: PGS. TS.
Đoàn Đức Hiếu, "Lịch sử triết học phương Đông" (Huế, 2002); Phùng
Hữu Lan, "Đại cương triết học sử Trung Quốc" (Vạn Hạnh, Sài Gòn,
1968, Bản dịch của Nguyễn Văn Dương); Hồ Thích, "Trung Quốc triết
học sử" (Khai Trí, Sài Gòn, 1969, Bản dịch của Huỳnh Minh Đức). Các
tác phẩm này, nêu lên một cách tóm tắt thân thế sự nghiệp và những nội
dung cơ bản nhất trong tư tưởng triết học của Mặc Tử.

PTS. Vũ Tình, "Đạo đức học phương Đông cổ đại" (Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998). Tác phẩm này tác giả đã trình bày
3
đạo đức của xã hội và đạo đức trong sinh hoạt đời thường xuất phát từ
luận điểm “kiêm ái” của Mặc Tử.
Cao Xuân Huy, "Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn
tham chiếu" (Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1995). Thảo đường cư sĩ
Trần Văn Hải Minh, "Bách gia chư tử" (Hội Nghiên cứu và Giảng dạy
văn học Thành phố Hồ Chí Minh, 1991). Trần Đình Hượu, "Các bài
giảng về tư tưởng phương Đông" (Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà
Nội, 2002). GS. La Quốc Việt, "Tu dưỡng đạo đức tư tưởng" (Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003). Nguyễn Gia Phu, Nguyễn Huy
Quý, "Lịch sử Trung Quốc" (Nhà xuất bản Giáo dục, 2001). PGS. TS.
Doãn Chính (chủ biên), "Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc" (Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002). GS. TS Nguyễn Hữu Vui
(chủ biên), "Lịch sử triết học" (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2002). Các tác giả trên trình bày khái quát các phạm trù trong tư
tưởng triết học của Mặc Tử một cách sơ lược.
Vũ Văn Gầu, "Kiêm ái nhân sinh - triết lý độc đáo của Mặc Tử"
(Tạp chí Triết học số 5, Tháng 5 - 2003, tr.36-41). Trong bài báo này
tác giả nghiên cứu rút ra cái hay trong tư tưởng của Mặc Tử ở học
thuyết “kiêm ái”, cụ thể ở đây là tình yêu thương giữa những con người
trong xã hội với nhau. Tác giả còn chỉ ra hoàn cảnh ra đời của học
thuyết.
Các công trình nghiên cứu trên đi sâu vào tìm hiểu tư tưởng của
Mặc Tử ở một số phương diện như các phạm trù cơ bản: “phi công”,
“thượng đồng”, “thượng hiền” Tuy nhiên các tác giả trên chưa đi vào
nghiên cứu phạm trù "kiêm ái" với tư cách là một học thuyết quan trọng
về đạo đức trong xã hội.
Tác giả luận văn kế thừa các công trình nghiên cứu trước, đồng thời

vận dụng những giá trị tích cực của học thuyết "kiêm ái" vào thực tiễn
xây dựng đạo đức mới của người Việt Nam hiện nay.
4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích của đề tài: Phân tích những tư tưởng cơ bản trong học
thuyết “kiêm ái” của Mặc Tử. Từ đó nêu lên được những nội dung cơ
bản của học thuyết ý nghĩa của chúng đối với việc xây dựng đạo đức
mới ở Việt Nam hiện nay.
* Nhiệm vụ của đề tài:
+ Phân tích thân thế và sự nghiệp của Mặc Tử, cũng như hoàn cảnh
ra đời của học thuyết “kiêm ái”.
+ Phân tích những tư tưởng cơ bản trong học thuyết “kiêm ái” của
Mặc Tử cùng với sự đóng góp và hạn chế của nó.
+ Ý nghĩa của tư tưởng “kiêm ái” đối với việc xây dựng đạo đức
mới ở Việt Nam hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Học thuyết “kiêm ái” và sự thể hiện của
nó qua các phạm trù khác nhau trong tư tưởng của Mặc Tử.
* Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu các tài liệu bàn về
Mặc Tử và học thuyết “kiêm ái”.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình nghiên cứu là
phương pháp biện chứng duy vật, với tính cách là phương pháp luận
chung nhất. Trên cơ sở đó tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu
như: phương pháp thống nhất giữa lịch sử và lôgic, phương pháp phân
tích và tổng hợp, phương pháp so sánh đối chiếu để thực hiện tốt mục
đích và nhiệm vụ của luận văn.
6. Dự kiến đóng góp của đề tài
- Nêu lên những giá trị và hạn chế của Mặc Tử, nhất là học thuyết
“kiêm ái”.

- Chỉ ra ý nghĩa của học thuyết “kiêm ái” đối với việc xây dựng lối
sống đạo đức của người Việt Nam hiện nay.
5
- Làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm tới vấn đề này.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung luận văn được kết cấu thành 2 chương, 5 tiết:
Chương 1: Mặc Tử và hoàn cảnh ra đời của học thuyết “kiêm ái”.
Chương 2: Những tư tưởng cơ bản trong học thuyết “kiêm ái” - giá
trị, hạn chế và ý nghĩa của chúng.
6
Chương 1
MẶC TỬ VÀ HOÀN CẢNH RA ĐỜI
CỦA HỌC THUYẾT “KIÊM ÁI”
1.1. Thân thế, sự nghiệp của Mặc Tử
1.1.1. Giải nghĩa chữ “Mặc” trong Triết học Trung Hoa cổ đại
Trong lịch sử tư tưởng triết học Trung Hoa cổ đại vào cuối thời
Xuân Thu - Chiến Quốc đã xuất hiện một trường phái triết học lớn,
cùng với Nho gia, Đạo gia chia nhau thống trị đời sống tinh thần ở
Trung Hoa thời kỳ này, đó là trường phái triết học Mặc gia. Người sáng
lập ra trường phái triết học Mặc gia với học thuyết “ Kiêm ái” nổi tiếng
là kẻ thù của Khổng giáo, đó là Mặc Địch. Sau khi Mặc Tử mất học
thuyết này được bảo vệ và phát triển bởi các triết gia hậu Mặc vào thế
kỷ thứ IV - III trước công nguyên, với tư tưởng nổi bật nhất về lôgic và
nhận thức luận trên cơ sở duy vật của họ.
Khi nghiên cứu về Mặc Tử chúng ta phải hiểu được nghĩa của từ
“Mặc” trong triết học Trung Hoa cổ đại là gì? Hiểu được nó, sẽ giúp
chúng ta có được một cách nhìn toàn diện hơn về trường phái Mặc gia.
“Mặc” còn có nghĩa là đen, như Mạnh Tử nói “diện thâm mặc”, tức
là mặt đen sì. Vậy “Mặc” có nghĩa là mặc đồ đen. Mặc Tử lấy sự cực

khổ làm đức hạnh, cho nên mệnh danh học thuật của mình là Mặc. Hơn
nữa, chữ Mặc còn là để gọi một tội hình khắc vào mặt và thoa mực đen
đi. Theo Giang Tuyền, chữ “Mặc” không phải là tên là dòng họ mà nó
là tên gọi một học thuật.
1.1.2. Thân thế sự nghiệp của Mặc Tử
Về cuộc đời và sự nghiệp của Mặc Tử người ta có nhiều cách lý
giải khác nhau. Gần đây viện hàn lâm khoa học Trung Quốc đã xác
định có thể nói Mặc Tử là người nước Lỗ.
7
Về vấn đề niên đại của Mặc Tử cũng là một vấn đề tốn khá nhiều
giấy mực của các nhà nghiên cứu mà đến nay vẫn chưa ngã ngũ. Nhưng
nhìn chung đều cho rằng Mặc Tử sinh vào khoảng giữa thời Khổng Tử
và Mạnh Tử, nói một cách khác tức là vào khoảng giữa thời Xuân Thu -
Chiến Quốc giao nhau. Điều đó có căn cứ để biết được năm sinh, năm
mất của Mặc Tử.
Về tính giai cấp của Mặc Tử, thì trong các sách cổ chép rất ít về lúc
sinh thời của ông, cho nên cũng có phần không tìm ra được rõ ràng.
Theo Lã Trấn Vũ việc xuất thân của Mặc Tử có thể dính líu với gia thế
của tầng lớp địa chủ mới đã bị sa sút hoặc gia thế của một nhà đời trước
là nông dân tự do đã chuyển thành một nhà sản xuất nhỏ độc lập, nhất
là thuyết sau có vẻ đúng hơn cho nên trong hệ thống tư tưởng của Mặc
Tử có phản ánh đôi chút ý thức tư tưởng của bọn địa chủ mới. Hồi đó
bọn địa chủ mới mà bị sa sút thì rất có thể bị giáng xuống hàng nông
dân. Học thuyết của Mặc Tử có thể phản ánh một số những yêu cầu của
nông dân có lẽ cũng vì thế.
Về vấn đề trước tác của Mặc Tử: về tập sách “Mặc Tử”, xưa nay
tranh luận đã nhiều. Các chương trong tập sách “Mặc Tử” ngày nay có
thể biểu hiện là một dòng phái triết học đồng nhất, đồng thời biểu hiện
thành một hình thái ý thức giai cấp xã hội đồng nhất. Tuy nhiên các
chương trong tập sách “Mặc Tử” không phải do một tay Mặc Tử viết

ra, đó là sự thực. Tác phẩm ấy, một mặt có chỗ có thể do học trò của
Mặc Tử ghi chép lại và cũng có thể toàn trước tác của Mặc Tử đều do
sự ghi chép như vậy tập hợp. Về phần này cũng có thể là do những
người đời sau theo phái Mặc Tử sưu tầm lại. Một mặt có thể do phái
Mặc học đời sau biên tập vào, bởi vì giữa tác phẩm, những câu văn ở
các chương không những có cách viết, lối hành văn khác nhau mà còn
có sự khác nhau về phần ý thức giai cấp xã hội, thấy rõ sự khác nhau về
thời gian. Song về điểm này đối với chúng ta không quan trọng lắm, vì
8
chúng ta nghiên cứu học thuyết của Mặc Tử như là một hình thái ý thức
giai cấp của thời đó.
Khi nghiên cứu thân thế, sự nghiệp của Mặc Tử chúng ta không thể
bỏ qua việc tìm hiểu thế giới quan của ông. Vì đó là cơ sở nền tảng để
xây dựng lên toàn bộ hệ thống triết học Mặc gia. Thế giới quan của
Mặc Tử cơ bản là duy tâm và hữu thần. Tuy nhiên, Mặc Tử đã bài bác
lại học thuyết “thiên mệnh” và mọi người đều có quyền lợi như nhau
đối với việc thờ cúng quỷ thần, bình đẳng trước quyền lợi về tín
ngưỡng tôn giáo, đó là sự phản ánh nhu cầu đòi quyền bình đẳng xã hội
của giai tầng mà ông đại diện.
Cần nói thêm rằng, thời Mặc Tử sống, Lão giáo cũng phát triển rất
mạnh. Do vậy quan điểm của Mặc Tử không chỉ đối lập với Nho gia mà
còn đối lập với tư tưởng tự nhiên chủ nghĩa, “vô vi” phóng túng của
Đạo gia.
Tư tưởng trung tâm của Mặc Tử - “kiêm ái” sẽ là công cụ hữu hiệu
nhất để chống lại đạo đức Nho gia. Vậy tư tưởng này ra đời như thế
nào?
1.2. Hoàn cảnh ra đời của học thuyết “Kiêm ái”
* Về kinh tế - xã hội
Năm 771 trước công nguyên Chu Bình Vương lên ngôi đưa xã hội
Trung Quốc bước vào thời kỳ đặc biệt, đó là thời kỳ Xuân Thu. Ở thời

kỳ này, nền kinh tế Trung Quốc đang chuyển từ thời đại đồ đồng sang
thời đại đồ sắt. Tiền tệ đã xuất hiện. Trong xã hội đã hình thành một
tầng lớp thương nhân giàu có và ngày càng có thế lực gây nhiều ảnh
hưởng đối với chính trị đương thời. Chính việc xuất hiện tầng lớp này
đã tạo ra sự thay đổi trong cơ cấu giai cấp xã hội. Từ tầng lớp này dần
dần xuất hiện một loại quý tộc mới với thế lực ngày càng mạnh, tìm
cách leo lên tranh giành quyền lực với tầng lớp quý tộc cũ.
* Về chính trị
9
Thời Xuân Thu các lãnh chúa tăng cường bóc lột nhân dân lao
động. Người dân ngoài việc phải đi chiến trận thực hiện các cuộc chinh
phạt của các tập đoàn quý tộc còn phải chịu sưu thuế, phu phen, lao
dịch nặng nề. Thiên tai thường xuyên xảy ra, nạn trộm cướp nổi lên
khắp nơi làm cho đời sống nhân dân ngày càng thêm khốn khổ. Dân lưu
vong khắp nơi, ruộng đồng thì bị bỏ hoang nhiều nơi.
Trong nước xuất hiện những trung tâm, những tụ điểm mà ở đó “kẻ
sĩ bàn ngang” hay “bàn việc nước”. Nhìn chung, họ đều đứng trên lập
trường giai cấp mình, tầng lớp mình mà phê phán trật tự xã hội cũ, xây
dựng xã hội tương lai và tranh luận, phê phán, đả kích lẫn nhau. Lịch sử
gọi thời kỳ này là thời kỳ “bách gia chư tử” (trăm nhà trăm thầy), “bách
gia tranh minh” (trăm nhà đua tiếng).
Học thuyết triết học “kiêm ái” của Mặc Tử đã ra đời trong hoàn
cảnh đó, nó phản ánh một phần những tư tưởng, những tình cảnh và
những yêu cầu của tầng lớp nông dân bị bóc lột, thống trị nặng nề trong
xã hội.
* Phân biệt hai khái niệm “kiêm” và “biệt” trong quan điểm của
Mặc Tử
Theo Mặc Tử những kẻ chia rẽ nhau, làm thiệt hại cho nhau thuộc
phái “biệt”. “Biệt” là bậy. Đã là bậy thì phải có cái thay vào. Nếu chê
mà không thay thì cũng như lấy nước cứu nước, lấy lửa cứu lửa mà

thôi. Cái thay “biệt” là “kiêm”. “Kiêm” bao gồm những kẻ yêu thương
nhau, “kiêm” là tốt. Ngô Tất Tố giải thích: “kiêm” tức là gồm, trái lại
với “biệt” là rẽ. “Ái” tức là yêu, trái lại với “ố” là ghét, chỉ về tấm lòng
thương mến lẫn nhau của loài người. “Kiêm ái” là yêu hết mọi người.
Vậy với hai nguyên tắc “kiêm” và “biệt” lấy gì để xác định nguyên
tắc nào đúng, nguyên tắc nào sai ? Mặc Tử đã đưa ra phép “tam biểu”
làm quy tắc, chuẩn mực để xác định sự đúng sai, lợi hại của “kiêm” và
10
“biệt”. Với phép “tam biểu” Mặc Tử đã có sự đóng góp lớn trong việc
phát triển lý luận về nhận thức ở Trung Quốc cổ đại.
“Tam biểu” là gì? Nói một cách khái quát “biểu” chính là khuôn
mẫu, phép tắc, chuẩn mực để người ta suy nghĩ, ngôn luận và hành
động. Với phép “tam biểu”, Mặc Tử chủ trương rằng muốn ngôn luận
và tư tưởng chính xác phải căn cứ vào ba biểu là “gốc”, “nguyên” và
“dụng”.
11
Chương 2
NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN TRONG HỌC THUYẾT
“KIÊM ÁI” - GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ VÀ Ý NGHĨA CỦA CHÚNG
2.1. Nội dung chủ yếu của học thuyết “kiêm ái”
2.1.1. Kiêm ái là yêu thương tất cả mọi người không phân biệt
đẳng cấp, sang hèn
“Ái” là “nhân”, “kiêm” là “nghĩa”, “kiêm ái” là “nhân nghĩa”. Cho
nên khi thực hiện được cái đức căn bản ấy sẽ làm cho đạo đức luân lý
xã hội trở nên tốt đẹp và người ta có thể đạt được tất cả những phẩm
chất đạo đức khác như huệ, trung, từ, hiếu, kính đễ…, người người no
đủ, nhà nhà hạnh phúc, quốc gia yên lành, thiên hạ bình trị. Tuy nhiên,
“kiêm ái” đối với ông không chỉ là mọi người yêu thương những người
thân với mình, gần với mình, mà nó còn có một bước phát triển cao hơn
đó là mọi người trong xã hội đều yêu thương nhau.

2.1.2. Mối quan hệ giữa “kiêm” với “lợi”
“Kiêm ái” là cái quyết định bộ mặt đạo đức của xã hội. Song cái gì
là tiêu chí để xem xét xã hội ấy có thực sự “kiêm ái” hay không ? Theo
Mặc Tử đó là “lợi”. Kiêm ái là vì lợi. Và cái lợi trong tư tưởng của Mặc
Tử có nét độc đáo riêng
* “Lợi” luôn được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với “nhân” và
“nghĩa”
Nếu như ở Nho gia của Khổng Tử, “lợi” là cái gì đó hoàn toàn đối
lập với “nhân”, “nghĩa” thì ở Mặc Tử “lợi” lại gắn bó không tách rời
với hai phạm trù này. Về nhân, Mặc Tử nói “người nhân làm việc gì
cũng mang lấy cái lợi, trừ cái hại cho thiên hạ. Về nghĩa, Mặc Tử nói
thiên hạ có lợi thì thịnh trị, có lợi là có nghĩa, vô nghĩa thì xã hội sẽ
loạn.
12
* “Lợi” luôn được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với thiên hạ
Kiêm ái là cái đạo của thánh nhân, bậc quân vương, đại phu nhờ nó
mà yên ổn, đời sống nhân dân nhờ nó mà no đủ. Thi hành nó thì vua
chúa ắt có lòng huệ, bề tôi ắt có lòng trung, cha mẹ ắt có lòng từ, con ắt
có lòng hiếu, anh ắt có lòng thương em, em ắt có lòng kính anh… Kiêm
ái là đạo của thánh nhân mà là cái lợi của muôn dân.
2.1.3. Sự thể hiện của “kiêm ái” trong đời sống chính trị và sinh
hoạt thường ngày
2.1.3.1. “Kiêm ái” trong đời sống chính trị với các phạm trù “phi
công”, “thượng đồng”, “thượng hiền”
* Phi công
Đây là thiên nói về chiến tranh rất nổi tiếng của Mặc Tử. Mặc Tử
đã chủ trương “kiêm ái” nay lại tận mắt nhìn thấy những thảm họa
chiến tranh do các nước chư hầu gây ra, Mặc Tử tỏ thái độ căm ghét
chiến tranh, phản đối các cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa, đả phá,
mạt sát thái độ hiếu chiến của bọn vua chúa đương thời.

Đưa ra quan điểm phản đối chiến tranh xâm lược nhưng Mặc Tử
vẫn bênh vực chiến tranh tự vệ, trong thực tế tổ chức của Mặc gia rất
giỏi tự vệ. Tư tưởng này của ông đã bị rất nhiều người phê phán, bởi lẽ
họ cho rằng Mặc Tử tự mâu thuẫn với chính mình “vừa ghét chiến
tranh - vừa ủng hộ chiến tranh”. Thực ra thì trong “phi công”, Mặc Tử
chỉ bàn về chiến tranh tự vệ hay thuật phòng vệ của một nước nhỏ mà
thôi.
* Thượng hiền
Mặc Tử đã kịch liệt phản đối chế độ cai trị có tính chất thế tập. Từ
những gì nhìn nhận thấy trong xã hội Mặc Tử đã đưa ra chủ trương
“thượng hiền”, lựa chọn và sử dụng những người hiền tài, nhân đức bất
kể họ ở địa vị nào trong xã hội để đưa lên giữ trọng trách chăn dân, trị
nước.
13
* Thượng đồng
Theo Mặc Tử, để thực hiện được “kiêm ái’ phải “thượng đồng”.
“Thượng đồng” có nghĩa là người dưới luôn luôn phải tán đồng với kẻ
trên và phục tùng tuyệt đối mệnh lệnh của kẻ trên. Mặc Tử cũng dựa
vào thuyết này để lý giải cho việc hình thành bộ máy nhà nước.
2.1.3.2. “Kiêm ái” trong đời sống sinh hoạt thường ngày thể hiện
thông qua các phạm trù “tiết dụng”, “phi nhạc”, “tiết táng”
* Tiết dụng
Ở đây, Mặc Tử đã tập trung vào những mặt cơ bản nhất của cuộc
sống là ăn, ở, mặc, đi lại không phải là của dân mà của thánh vương đời
xưa để cảnh tỉnh giới quý tộc ngày nay. Về ăn uống, Mặc Tử cho rằng
chỉ cần ăn cho đủ no thôi chứ không cần cầu kỳ, đòi hỏi món này món
nọ. Về mặc, ông viết: mùa đông cốt sao cho chống được rét, mùa hè cốt
sao cho chống được nóng. Về ở, Mặc Tử nói, xây nhà sao cho che được
mưa nắng, có chỗ thờ cúng, ngăn cách các phòng cho đàn ông, đàn bà
là được.

* Phi nhạc
“Phi nhạc”, hiểu theo nghĩa thông thường là không dùng âm nhạc,
nhưng trong cách nhìn của Mặc gia thì nội dung này rất rộng, nó bao
hàm là tất cả những gì làm cho đẹp mắt, vui tai, ngon miệng, êm thân
thể. Có thể hiểu phi nhạc của Mặc gia là phi nghệ thuật nói chung.
* Về Tiết táng
Tiết táng là hạn chế tiêu dùng trong việc ma chay, nhưng nội dung
“tiết táng” được Mặc gia đề cập đến việc thu ngắn thời gian để tang nên
“tiết táng” và đoản tang trong Mặc gia đi với nhau là một. Nhận thấy
sai lầm trong ma chay của Nho gia, Mặc Tử đưa ra quan điểm riêng của
mình đó là cần phải tiết kiệm trong ma chay. Theo ông chỉ cần có một
chiếc quan tài, 3 bộ quần áo khâm liệm là đủ, không phải chế đồ tang
và không có thời gian cư tang, đám ma xong cuộc sống lại về bình
thường ngay.
14
2.2. Những mặt tích cực và hạn chế của học thuyết “kiêm ái”
2.2.1. Mặt tích cực
Thời đại Mặc Tử sống là lúc ngôi thiên tử nhà Chu đã mất hết
quyền hành, xã hội xảy ra chiến tranh liên miên. Người ta đã không từ
bất kỳ thủ đoạn nào, một phương tiện nào để giành chiến thắng và kẻ
chiến thắng sẵn sàng chôn sống hàng vạn tù binh của mình. Sống trong
hoàn cảnh như vậy Mặc Tử đã cất tiếng kêu gọi mọi người cần “kiêm
ái”. Đây là hành động của con người đầy tính nhân bản.
Với tư tưởng “kiêm ái” thể hiện qua đời sống chính trị bằng các
phạm trù “phi công”, ‘thượng hiền”, “thượng đồng” và sinh hoạt đời
thường với các phạm trù “phi nhạc”, “tiết dụng”, “tiết táng” đã cho thấy
được cách nhìn đúng đắn của Mặc Tử về xã hội đương thời, trong sự
thống trị của Nho gia với những nguyên tắc, quy tắc hà khắc bó buộc
đời sống con người.
Quan điểm “phi công” phản đối kịch liệt chiến tranh xâm lược,

thôn tính lẫn nhau giữa các nước là một tư tưởng tiến bộ giữa cảnh đất
nước đang chiến tranh loạn lạc.
“Thượng hiền”cho thấy việc quý trọng tài năng của con người.
Muốn đất nước ngày càng giàu mạnh thì cần phải có những người hiền
tài đứng ra lãnh đạo đất nước.
“Thượng đồng” chỉ ra rằng để xã hội được thịnh trị, yên vui thì trên
dưới cần phải đồng lòng, dân phải trung thành và nghe lời vua, ngược
lại vua phải biết chăm lo cho dân.
“Phi nhạc”, xét khía cạnh tích cực của nó trong tư tưởng của Mặc
Tử, đó là xóa bỏ những thứ văn hóa tinh thần xa hoa không phù hợp với
lợi ích của dân chúng.
“Tiết dụng” của Mặc Tử, ở một góc độ nào đó là đúng. Nó được
đưa ra nhằm chống lại thói ăn chơi xa hoa của giai cấp thống trị.
Mặc Tử đưa ra quan điểm “tiết táng” nhằm chỉ cho mọi người thấy,
trong cuộc sống chúng ta cần phải tiết kiệm cả ở việc ma chay, xóa bỏ
15
những hủ tục lạc hậu đang đeo bám nhiều năm trời của Nho gia, tiến
hành ma chay một cách đơn giản nhất.
Bên cạnh những mặt tích cực chúng ta còn nhận thấy những điểm
hạn chế cơ bản trong học thuyết “kiêm ái” của Mặc Tử
2.2.2. Mặt hạn chế
Hạn chế lớn nhất của học thuyết này chính là ở tính chất không
tưởng của nó. Làm sao chúng ta có thể xây dựng được một xã hội tốt
đẹp chỉ bằng việc cải thiện về mặt đạo đức, mà không tính đến việc cải
thiện mặt sản xuất của xã hội và nhiều vấn đề khác nữa.
“Kiêm ái” của Mặc Tử gắn liền với “lợi”. Nhưng Ông chưa thể chỉ
ra một cách rành mạch tính đối lập và tính thống nhất về quyền lợi giữa
các giai cấp và cái căn nguyên đã tạo thành chế độ giai cấp không thể
nhất trí về quyền lợi được, mà chỉ dừng lại ở khái niệm đơn thuần cùng
có lợi cho lẫn nhau. Ở đây chúng ta thấy được tính chất duy tâm của

Mặc Tử.
“Kiêm ái” thể hiện qua các phạm trù “phi công”, “thượng đồng”,
“thượng hiền”, “phi nhạc”, “tiết dụng”, “tiết táng”. Trong đó ở một số
chỗ đã thể hiện mặt hạn chế của Mặc Tử.
Với quan điểm “thượng đồng”, dường như ở một mức độ nào đó
Mặc Tử đã xóa nhòa ranh giới giai cấp, ông cho rằng chỉ cần mọi người
tôn trọng, yêu thương nhau thì xã hội sẽ thịnh trị. Ở đây Mặc Tử chưa
nhận thấy cơ sở của việc hình thành giai cấp xã hội.
Khi chỉ ra các quan điểm sai lầm của Nho gia về thi, thư, lễ, nhạc,
Mặc Tử đưa ra ý kiến cần phải xóa bỏ nhạc hay “phi nhạc”. Đây là một
tư tưởng khá cực đoan. Ông chưa nhận thấy bên cạnh đời sống vật chất
con người còn có đến đời sống tinh thần, mà trong đó “nhạc”, “vũ” là
một phần của đời sống ấy. Để con người phát triển toàn diện cần phải
trau dồi cả hai lĩnh vực ấy.
“Tiết dụng” cũng là một phạm trù lớn thể hiện “kiêm ái” bằng cách
hạn chế tiêu dùng. Tiết kiệm trong tiêu dùng của Mặc Tử là thứ tiết
16
kiệm thái quá, khổ hạnh. Nó tạo ra những con người không biết hưởng
thụ thành quả lao động của mình.
Tất cả những mặt tích cực và hạn chế này đã đem tới cho triết học
Mặc gia một chỗ đứng rất riêng biệt của mình trong làng triết học.
2.3. Ý nghĩa của học thuyết “kiêm ái” trong việc xây dựng đạo
đức mới của con người Việt Nam hiện nay
2.3.1. Một vài nét về thực trạng đạo đức Việt Nam hiện nay
Việc chuyển sang phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa đã và đang tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội, nó vừa có tính tích cực, vừa có tính tiêu cực đối với đạo đức.
* Về mặt tích cực
Trong nền kinh tế thị trường, lợi ích cá nhân, trước hết là lợi ích
vật chất của chủ thể kinh tế, không những được thừa nhận cả về mặt

pháp luật và đạo đức, mà còn được quan tâm, trở thành động lực trực
tiếp, thúc đẩy tính năng động, tích cực xã hội của cá nhân.
Thêm vào đó thiết chế gia đình Việt Nam đang có sự chuyển tiếp từ
truyền thống đến hiện đại.
Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, đời sống của người dân ngày một
cải thiện hơn. Quan niệm về hôn nhân, gia đình có phần thoáng hơn so
với trước đây. Lớp trẻ ngày càng có xu hướng kết hôn và ly hôn nhẹ
nhàng hơn.
* Về mặt hạn chế
Ở Việt Nam hiện nay văn hóa đạo đức không chỉ bị thương tổn, bị
méo mó, mà nhiều chuẩn mực còn bị vi phạm một cách gián tiếp thông
qua tác động bởi mặt trái của kinh tế thị trường cũng như vô vàn tác
động chính trị, xã hội, văn hóa trong nước và quốc tế khác. Nhưng
những thủ đoạn tinh vi, thói hư tật xấu trong các quan hệ xã hội, tính
ích kỷ, lòng tham lam, hám quyền, hám lợi, những tệ nạn xã hội như
ma túy, xì ke, các căn bệnh thế kỷ như: AIDS, HIV, nạn tham nhũng,
cửa quyền… có thể nói là sản phẩm trực tiếp của mặt trái cơ chế thị
17
trường. Chúng xuất hiện ngày càng nhiều và lan tràn khắp các lĩnh vực
đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội. Với tốc độ phát triển như hiện nay,
các tệ nạn xã hội có nguy cơ đe dọa, thậm chí có thể phá vỡ và làm biến
dạng cả diện mạo văn hóa đạo đức trong sáng của nhân dân ta.
2.3.2. Ý nghĩa của “kiêm ái” trong việc xây dựng đạo đức mới
của người Việt Nam hiện nay
Hiện nay dưới tác động của cơ chế thị trường với nhiều tiêu cực do
nó mang lại mà cụ thể là sợ băng hoại về tình cảm giữa người với người
thì vấn đề xây dựng một xã hội đại đồng của Mặc Tử là một trong
những tư tưởng tiến bộ (ở đây chúng ta đã gạt đi tính chất duy tâm thần
bí của nó). Xã hội này không diễn ra cuộc chiến tranh ác liệt với gươm
đao như thời Xuân Thu - Chiến Quốc, nhưng nó luôn luôn tồn tại

những cuộc chiến ngầm trên tất cả mọi mặt của đời sống, mà cụ thể là
lĩnh vực kinh tế nơi mà thương trường cũng chính là chiến trường với
kẻ thắng người bại. Sự vận động của cuộc chiến mới này đã tác động
mạnh mẽ đến văn hóa đạo đức của con người. Vì vậy, đòi hỏi chúng ta
cần phải thay đổi linh hoạt cho phù hợp nhưng vẫn giữ gìn được bản
sắc văn hóa của dân tộc.
Trong tư tưởng “kiêm ái” của Mặc Tử chúng ta đã nhận thấy được
ở đó lý tưởng về lòng yêu thương vô hạn của con người, đó là tình yêu
không biên giới giữa con người với nhau trên trái đất với việc xây dựng
một “xã hội đại đồng”. Quả thật khi xây dựng được một xã hội mà con
người sống với nhau bằng tình cảm chân thành, thắm thiết thì xã hội đó
sẽ rất phát triển.
“Kiêm ái” trong tư tưởng của Mặc Tử dường như ở khía cạnh nào
đó cũng chính là lòng nhân ái sâu sắc của dân tộc Việt Nam. Lòng nhân
ái ấy có nguồn gốc sâu xa từ trong xã hội công xã nông thôn thời kỳ
nguyên thủy, buổi đầu dựng nước. Nó đã thấm sâu trong các quan hệ từ
trong gia đình đến xóm làng, cộng đồng.
Khi bàn về “kiêm ái”, Mặc Tử đã nhấn mạnh đến yếu tố lợi ích.
18
Trong đó, theo ông “kiêm ái là vì lợi”. Ngày nay, chúng ta đã nhận thấy
rõ hơn vai trò của lợi ích trong việc xây dựng nền kinh tế mới thúc đẩy
xã hội phát triển.
“Kiêm ái” của Mặc Tử chi phối mọi tư tưởng của ông. Chúng ta
nhận thấy rằng nhờ có "kiêm ái" ông đã đi tới phản đối chiến tranh xâm
lược giữa các quốc gia với nhau. Tuy nhiên cái độc đáo của ông là ở
chỗ vẫn thừa nhận chiến tranh tự vệ. Trong cuộc sống hàng ngày của
chúng ta đang còn tồn tại các nước đế quốc xâm lược thì tư tưởng về
việc đòi hỏi cần phải tăng cường luyện tập quân sự để đề phòng những
bất trắc xảy ra do sự xâm lược của các nước bên ngoài là một điều hết
sức cần thiết

Nhờ có "kiêm ái" mà Mặc Tử đã đề ra tư tưởng “thượng hiền”. Như
vậy cho thấy có yêu người, thương người mới kính trọng người, nhận
thức được năng lực của người một cách đầy đủ. Việt Nam chúng ta hiện
nay, cũng trên tinh thần "cầu hiền tài" ấy đã thực hiện nhiều chính sách
để thu hút nhân tài tham gia vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Mặc Tử cũng có bàn tới trách nhiệm của người đứng đầu bộ máy
thống trị. Trong bối cảnh xã hội còn tồn tại nhiều vấn đề phức tạp như
hiện nay thì người đứng đầu nhà nước cần phải có một bản lĩnh chính
trị vững vàng cùng với một trí tuệ lớn, có đạo đức trong sáng và lòng
yêu thương dân sâu sắc, thì mới có đủ sức để lãnh đạo đất nước ở giai
đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Để bảo vệ cho tính đúng đắn của học thuyết "kiêm ái" và thực hiện
"kiêm ái"có hiệu quả, Mặc Tử đã đưa ra chủ trương "thượng đồng". Soi
vào đó chúng ta thấy rằng mọi chủ trương, chính sách và hệ thống pháp
luật và việc làm của nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
được ban ra đã có sự phối hợp chặt chẽ với nhau giữa các bộ phận trong
cơ quan nhà nước từ cấp trung ương đến cơ sở địa phương, làng xã. Và
điều đó làm cho nó đi sâu vào thực tiễn và được mọi người dân tiếp thu
và thực hiện nhanh chóng hơn. Xã hội chỉ phát triển được khi mà mọi
19
thành viên cùng đồng lòng hợp tác vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Vì thương người, muốn làm lợi cho người nên Mặc Tử đã đòi hỏi
phải "tiết táng" .Tư tưởng này chúng ta cần tiếp thu thể hiện trong việc
ma chay mà cả cưới xin nữa. Nó thể hiện ở việc người dân hiểu rõ hơn
về việc tiến hành ma chay, cưới hỏi cho phù hợp với gia cảnh và không
còn những thủ tục lạc hậu như lễ giáo phong kiến quy định nữa.
20
KẾT LUẬN
Mặc Tử là một nhà triết học lớn trong xã hội Trung Quốc thời kỳ

Xuân Thu - Chiến Quốc. Với những gì đã xây dựng nên, ông mang tới
một cái nhìn mới mẻ về xã hội với các phạm trù mang dấu ấn riêng của
mình như: “Phi công”, “Thượng đồng”, “Thượng hiền”, “Tiết dụng”,
“Phi nhạc”, “Tiết táng” và đặc biệt là học thuyết “Kiêm ái”.
Với quan điểm “Kiêm ái” là yêu thương tất cả mọi người không
phân biệt sang hèn, thân cận thì đây quả thật là một tư tưởng tiến bộ của
ông trong thời kỳ này, khi mà xã hội dưới sự gò bó của chế độ cũ của
bọn quý tộc thị tộc còn coi trọng người sang, yêu thương người thân.
Tuy nhiên, khi chỉ ra “Kiêm ái là nhân nghĩa”, là bình đẳng cho tất cả
mọi người trong xã hội, nó khác hẳn với “Biệt” là chia rẽ chúng ta vẫn
nhận thấy ở đây chỉ là sự bình đẳng về nhận thức, còn bản chất nó là
một thứ quan niệm bất bình đẳng, tức là vẫn còn tồn tại trong nó sự
phân biệt giàu sang, nghèo hèn.
Nghiên cứu tư tưởng của Mặc Tử về “Kiêm ái” trong giai đoạn này
giúp cho chúng ta có thêm được một cách nhìn khác trong việc tiếp thu
tinh hoa văn hóa nhân loại để ứng dụng vào đời sống xã hội hiện tại.
Ngày nay xây dựng chế độ mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa
là quá trình đấu tranh lâu dài cải biến toàn diện các mặt của đời sống xã
hội, đưa đất nước từ tình trạng nông nghiệp lạc hậu lên trình độ phát
triển toàn diện: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh. Trong giai đoạn hiện nay. Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng
tâm. Phát triển kinh tế là cơ sở của việc phát triển trên các lĩnh vực văn
hóa tinh thần, đồng thời phát triển kinh tế cũng đòi hỏi phải có sự phát
triển tương ứng trên tất cả mọi mặt của xã hội. Vì vậy, trên lĩnh vực văn
hóa, đạo đức lối sống phải từng bước đấu tranh chống ảnh hưởng tiêu
cực của nền kinh tế thị trường.
Chính vì thế xây dựng một phương hướng đúng đắn, cho phép khắc
21
phục những hạn chế ấy một cách có hiệu quả là vấn đề hết sức khó
khăn và phức tạp, đòi hỏi sự nghiên cứu công phu, nghiêm túc của tập

thể và phải thường xuyên đánh giá, bổ sung từ thực tiễn. Đó là nhiệm
vụ của toàn Đảng, toàn dân ta, mà trước hết là đội ngũ cán bộ lãnh đạo
quản lý, của những cán bộ làm công tác xây dựng Đảng, tổ chức cán
bộ, người càng cao thì trách nhiệm và nghĩa vụ càng nặng vì vậy cần
phải có lòng nhiệt thành cách mạng sâu sắc.
Nhận thức được điều này tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VIII, Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “trong điều kiện kinh tế
thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế, phải đặc biệt quan tâm, giữ gìn
và nâng cao bản sắc văn hóa dân tộc, kế thừa và phát huy truyền thống
đạo đức, tập quán tốt đẹp và lòng tự hào dân tộc. Tiếp thu tinh hoa của
các dân tộc trên thế giới, làm giàu đẹp thêm nền văn hóa Việt Nam, đấu
tranh chống sự xâm lược của các loại văn hóa độc hại, những khuynh
hướng sùng ngoại, lai căng, mất gốc. Khắc phục tâm lý sùng bái đồng
tiền, bất chấp đạo lý, coi thường các giá trị nhân văn”. Do vậy, để có
một hệ thống chuẩn mực đạo đức mới, chúng ta không chỉ xác định
xem cần phải kế thừa, duy trì, phát triển những yếu tố nào, gạt bỏ
những yếu tố nào trong hệ thống giá trị và quy tắc ứng xử đi liền với
quá trình hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trường để trên cơ
sở đó, xây dựng một nền đạo đức Việt Nam trong sáng, lành mạnh, giàu
tính dân tộc và hiện đại mạng đậm tính nhân văn.
Việc tiếp thu tư tưởng “kiêm ái” của Mặc Tử là một ví dụ cụ thể
cho việc “gạn đục khơi trong, gạt bỏ mọi nhân tố tiêu cực của quá khứ
để giữ lại và phát huy những tinh hoa của dân tộc và của nhân loại
trong mọi lĩnh vực của đời sống” của dân tộc ta như lời Bác Hồ dạy.
Chúng ta đã gạt bỏ đi tính chất duy tâm của tư tưởng ấy và tiếp nhận
lấy quan điểm về việc xây dựng một “xã hội đại đồng”, mà nơi đó mọi
người luôn sống trong mối quan hệ gắn bó với nhau, thêm vào đó là
quan điểm về việc gắn lợi ích của cá nhân với lợi ích của xã hội, yêu
thương nhau có nghĩa là làm lợi cho nhau và đồng thời là làm lợi cho
22

xã hội. Tư tưởng “kiêm ái” gắn liền với lợi là điểm hợp lý nó còn tồn
tại mãi cho tới tận ngày nay và cả trong tương lai, bởi lẽ con người làm
việc đều vì nhu cầu, lợi ích của mình, họ luôn luôn phấn đấu để đạt
được mục đích đó, nhưng lợi ích ấy phải được điều chỉnh dựa trên
khuôn khổ pháp luật và tình cảm. Hiểu rõ điều này giúp cho chúng ta
có biện pháp phù hợp trong việc phát triển cá nhân dưới tác động của
kinh tế thị trường. Có làm được vậy thì xã hội của chúng ta sẽ có được
những con người tài giỏi và có đạo đức cao, họ sẽ góp sức mình để xây
dựng nhanh chóng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
23

×