Sự tương đồng và khác biệt giữa THDV và THDT thời Hy Lạp cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
LỜI MỞ ĐẦU
Hy Lạp là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại. Hy Lạp cổ đại
đã đạt được những thành tựu vô cùng to lớn về chính trị, xã hội, khoa học kỹ
thuật…, trong đó bao gồm cả triết học. Nền triết học Hy Lạp cổ đại chính là tiền đề,
là cơ sở cho toàn bộ hệ thống triết học phương Tây sau này. Triết học thời kỳ này
nổi bật lên các tên tuổi Đêmôcrít, Hêraclít, Arixtôt, Platon….với 2 chủ đề chính đó
là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.
Triết học duy vật và triết học duy tâm thời Hy Lạp cổ tuy có những mặt đối
lập sâu sắc, nhưng bên cạnh đó, chúng cũng có những nét tương đồng, chính những
điều đó đã đóng góp không những cho nền triết học phương Tây mà còn cho nền
triết học nhân loại những giá trị quý báu. Điều này được tìm hiểu thông qua bài tiểu
luận với đề tài “Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học duy vật và triết học duy
tâm ở Hy Lạp thời cổ đại” sẽ được trình bày dưới đây. Để thực hiện đề tài này, em
đã tham khảo mốt số tài liệu như: 1)TS. Bùi Văn Mưa (chủ biên), Giáo trình Triết
học (Tài liệu dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên
ngành triết học), Tp.HCM, 2011. 2) TS. Nguyễn Ngọc Thu – TS. Bùi Văn Mưa,
Giáo trình Đại cương lịch sử triết học, nxb Tổng hợp Tp.HCM, 2003 và một số
website có liên quan.
Vì kiến thức của em còn hạn chế nên mặc dù đã cố gắng, bài tiểu luận không
thể tránh khỏi những thiếu sót, em mong nhận được sự đóng góp ý kiến và sự chỉ
bảo tận tình của Thầy.
Em xin chân thành cảm ơn!
HVTH: Lê Tuấn Anh Page 1
Sự tương đồng và khác biệt giữa THDV và THDT thời Hy Lạp cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
I. SỰ HÌNH THÀNH VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI:
1.Hoàn cảnh lịch sử xã hội Hy Lạp cổ đại:
Trong những nền văn minh cổ đại rực rỡ mà ngày nay người ta biết được thì nền
văn minh Hy Lạp xuất hiện gần như muộn hơn cả, nhưng nó lại rất phong phú, đặc
biệt là về triết học. Điều đó có thể giải thích bằng tính chất điển hình của chế độ
chiếm hữu nô lệ ở đây. Hy Lạp đã có một chế độ chiếm hữu nô lệ phát triển tới hình
thức cao, mang tính chất điển hình, biểu hiện ở các điểm sau đây:
-Sự phân hoá giai cấp trong xã hội hết sức rõ rệt thành hai giai cấp chủ yếu là
giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ. Nô lệ có số lượng đông đảo trong xã hội và sống
tập trung (có tài liệu cho biết: vào thế kỷ IV. tr.CN, Aten có số dân là 34 vạn, thì 25
vạn là nô lệ).
- Nô lệ là lực lượng sản xuất chủ yếu trong xã hội (trong sản xuất nông
nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp và mậu dịch hàng hải).
- Mâu thuẫn giữa chủ nô và nô lệ ngày càng gay gắt đã làm cho mức độ ác
liệt của cuộc đấu tranh giữa nô lệ với chủ nô ngày càng tăng (tiêu biểu là cuộc nổi
dậy của Xpáctacux vào năm 70 tr.CN). Giai cấp chủ nô cũng phân hoá thành chủ nô
quý tộc và chủ nô dân chủ. Chủ nô quý tộc gắn liền với sản xuất nông nghiệp, bảo
thủ và chuyên chế. Chủ nô dân chủ gắn liền với công thương nghiệp, tiến bộ hơn,
thường đề xuất những chủ trương dân chủ chống lại chủ nô quý tộc. Cuộc đấu tranh
giữa các trường phái triết học duy vật và duy tâm thời cổ đại Hy Lạp - La Mã chủ
yếu là cuộc đấu tranh giữa chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc.
-Tính chất chuyên chế của bộ máy nhà nước chủ nô thường xuất hiện dưới
hình thức các thành bang (quốc gia thành thị). Nhà nước được tổ chức theo kiểu
cộng hoà hay dân chủ; các kiểu nhà nước này đều là công cụ chuyên chính của giai
cấp chủ nô.
Chế độ chiếm hữu nô lệ Hy Lạp ra đời từ thế kỷ VI tr.CN và suy tàn vào thế kỷ
V. Sự phát triển của nó đã mở rộng sự phân công xã hội, tách lao động trí óc khỏi
HVTH: Lê Tuấn Anh Page 2
Sự tương đồng và khác biệt giữa THDV và THDT thời Hy Lạp cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
lao động chân tay, tạo điều kiện cho tầng lớp trí thức chủ nô nghiên cứu triết học,
khoa học và sáng tạo văn học nghệ thuật. Hơn nữa, qua cuộc chiến tranh Hy Lạp -
Ba Tư, nền văn hoá Hy Lạp đã kế thừa được nhiều thành tựu văn hoá của phương
Đông.
2. Sự hình thành, phát triển và suy tàn của triết học Hy Lạp cổ đại:
Lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại có thể chia làm ba thời kỳ. Xuyên suốt ba thời kỳ
ấy là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm mà đỉnh cao là
cuộc đấu tranh giữa đường lối duy vật của Đêmôcrít và đường lối duy tâm của
Platon
2.1. Thời kỳ thứ nhất (thế kỷ VI tr.CN): Đây là thời kỳ chế độ chiếm hữu nô lệ
mới hình thành. Do sự phát triển của sản xuất, thế giới quan cũ có tính chất tôn
giáo, thần thoại dần dần nhường chỗ cho những hiểu biết khoa học về con người, về
vũ trụ. Trên cơ sở đó, triết học với tư cách là một khoa học bao quát mọi tri thức
(khoa học của khoa học) ra đời.
a. Ba nhà triết học duy vật thuộc trường phái Milê (tên một đô thị cổ Hy Lạp) là
Talét, Anaximăngđrơ và Anaximen cho rằng có những thực thể vật chất đầu tiên,
vĩnh viễn vận động tạo ra mọi vật trên thế giới. Theo Talét đó là nước, theo
Anaximăngđrơ đó là apeiron (một thực thể vô định và vô hạn), theo Anaximen đó là
không khí.
Hêraclít không thuộc trường phái nói trên, ông cũng cho rằng bản nguyên của vũ
trụ là lửa, lửa thông qua sự đấu tranh giữa các mặt đối lập mà sinh ra vạn vật.
b. Ngược lại, một số nhà triết học thuộc trường phái Êlê (tên một đô thị cổ ở miền
nam nước Ý) như Xênôphan, Pácmênít, Dênông và trường phái Pitago lại có những
quan điểm duy tâm, siêu hình về nguồn gốc vũ trụ. Họ cho rằng, thế giới là một tồn
tại bất động và bất biến (trường phái Êlê), con số là bản nguyên của vũ trụ (trường
phái Pitago).
HVTH: Lê Tuấn Anh Page 3
Sự tương đồng và khác biệt giữa THDV và THDT thời Hy Lạp cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
2.2. Thời kỳ thứ hai (bắt đầu từ thế kỷ V. tr.CN): Đây là thời kỳ chế độ chiếm
hữu nô lệ phát triển đến hình thức cao và cũng là thời kỳ phồn vinh của triết học cổ
đại Hy Lạp. Thời kỳ này, đối tượng nghiên cứu của triết học được mở rộng sang các
vấn đề về kết cấu của vật chất, nhận thức luận và đời sống chính trị. Trong đó, kết
cấu của vật chất là vấn đề trung tâm của nhiều trường phái triết học.
a. Theo khuynh hướng duy vật. Ămpeđôclơ cho rằng, bản nguyên của vũ trụ
không phải chỉ là một thực thể riêng biệt (như trường phái Milê) mà là gồm 4 thực
thể: đất, nước, lửa, không khí. Anaxago lại cho rằng, mọi vật đều được cấu tạo từ
hạt cực nhỏ nhờ quá trình phân giải và đồng nhất của chúng. Đạt tới đỉnh cao nhất
của chủ nghĩa duy vật thời kì này là học thuyết về nguyên tử của Đêmôcrít. Theo
ông, tất cả mọi vật đều được cấu thành từ những nguyên tử. Nguyên tử là những
phần tử vật chất nhỏ nhất, không thể phân chia được, chúng vĩnh viễn vận động,
không có điểm kết thúc.
b. Đối lập lại chủ nghĩa duy vật trên đây là chủ nghĩa duy tâm khách quan của
Platôn. Ông là đại biểu lớn nhất của chủ nghĩa duy tâm thời cổ đại Hy Lạp. Ông đã
xây dựng học thuyết về ý niệm để chống lại chủ nghĩa duy vật. Theo ông, giới tự
nhiên bắt nguồn từ ý niệm.
c. Dao động giữa đường lối duy vật của Đêmôcrít và đường lối duy tâm của
Platôn là Arixtốt. Ông là một nhà triết học lớn, bộ óc bách khoa thời cổ đại Hy Lạp,
nhưng là một nhà triết học không triệt để. Một mặt, ông bác bỏ thuyết ý niệm của
Platon, mặt khác ông lại chủ trương hình thức là bản chất của mọi sự vật, mà hình
thức của mọi hình thức là tư duy (hình thức thuần tuý).
2.3. Thời kỳ thứ ba (từ thế kỷ thứ III TCN): Đây là thời kỳ khủng hoảng và suy
vong của chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp. Cùng với sự suy tàn đó, nền văn hoá
mà nó sản sinh ra cũng suy tàn theo. Vào cuối thế kỷ này, chỉ còn Êpiquya và học
trò của ông là Lucơrexơ là tiếp tục đường lối duy vật của Đê-mô-crít.
Triết học Hy Lạp cổ đại đã đặt ra hầu hết các vấn đề triết học mà người ta thường
HVTH: Lê Tuấn Anh Page 4
Sự tương đồng và khác biệt giữa THDV và THDT thời Hy Lạp cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
thấy mối quan hệ của nó với các khuynh hướng, các trào lưu triết học sau này.
Trong những thành tựu triết học Hy Lạp-La Mã cổ đại, học thuyết về nguyên tử
của Đêmôcrít, tư tưởng biện chứng của Hêraclít và lôgích học của Arixtốt là những
cống hiến xuất sắc đối với sự phát triển của tư tưởng triết học nhân loại.
Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong lịch sử triết
học Hy Lạp-La Mã cổ đại chứng tỏ rằng, ngay từ đầu, lịch sử triết học là lịch sử đấu
tranh giữa hai thế giới quan, hai phương pháp luận đối lập nhau. Cuộc đấu tranh ấy
phản ánh lợi ích của những tầng lớp, những giai cấp khác nhau trong xã hội có giai
cấp đối kháng.
3.Khái quát chung về chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm thời Hy Lạp
cổ đại:
3.1 Chủ nghĩa duy vật thời Hy Lạp cổ đại:
Chủ nghĩa duy vật được hình thành từ trường phái Milê - trường phái Hêraclít,
trường phái đa nguyên Empêđốc - Anaxago và đạt được đỉnh cao như trong trường
phái nguyên tử luận Lơxíp – Đêmôcrít.
3.1.1 Trường phái Milê:
Đây là trường phái duy vật và biện chứng chất phát đầu tiên trong triết học Hy
Lạp cổ đại. Trong thời này, Milê là một trung tâm thương mại, hàng hải lớn. Chính
điều này đã tạo điều kiện mở rộng tầm nhìn của con người, kích thích sự phát triển
của khoa học và văn hóa. Những nhà triết học tiêu biểu thuộc trường phái Milê là
Talét, Anaximăngđrơ, Anaximen không tin vào thần thoại truyền thống ( coi các
thần linh là nguyên nhân tạo ra thế giới ), cho rằng bản nguyên của thế giới là một
vật thể xác định. Đóng góp quan trọng nhất của trường phái Milê là đã đặt nền
móng cho sự hình thành các khái niệm triết học để các triết gia sau này tiếp tục bổ
sung và làm phong phú thêm những khái niệm đó như khái niệm vật chất, không
gian, sự đấu tranh giữa các mặt đối lập,… Một điều quan trọng nữa là các triết gia
HVTH: Lê Tuấn Anh Page 5
Sự tương đồng và khác biệt giữa THDV và THDT thời Hy Lạp cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
đã tìm cách giải thích thế giới một cách hợp lý từ bản thân thế giới tự nhiên chứ
không phải là từ bên ngoài nó.
3.1.2 Trường phái Hêraclít:
Hêraclít là một nhà triết học sớm thể hiện rõ các tư tưởng biện chứng chất phác
từ thời cổ Hy Lạp. Ông coi bản nguyên của thế giới là lửa. Mọi sự vật luôn ở trạng
thái vận động, biến đổi và phát triển không ngừng. Thế giới như một dòng chảy cứ
trôi đi mãi. Từ đó ông đưa ra luận điểm nổi tiếng “ Không ai có thể tắm được hai
lần trên cùng một dòng sông”. Sự vận động, phát triển liên tục của mọi sự vật theo
Hêraclít là do tính tất yếu khách quan, logos (quy luật, trật tự ) quy định. Đóng góp
cơ bản của Hêraclít vào kho tàng lịch sử triết học nhân loại là việc trình bày đầu tiên
về quy luật thống nhất giữa các mặt đối lập.
3.1.3 Trường phái đa nguyên Empêđốc – Anaxago:
Empêđốc – Anaxago xây dựng quan niệm đa nguyên về bản chất của thế giới vật
chất đa dạng. Empêđốc thừa nhận khởi nguyên của thế giới là bốn yếu tố: đất, nước,
không khí, lửa. Anagaxo cho rằng vạn vật sinh ra từ “những hạt giống”. Những hạt
giống này cực nhỏ và phân chia đến vô tận. Anagaxo xem “ mỗi cái chứa mọi cái”.
Tuy nhiên, quan điểm của họ cũng còn mang tính sơ khai, nghĩa là còn hạn chế.
Những hạn chế này được thuyết phục bởi thuyết nguyên tử luận. Nhưng thuyết này
vẫn còn sơ khai và nhận định bằng cảm tính.
3.1.4 Trường phái nguyên tử luận:
Lơxíp là người sáng lập nên và Đêmôcrít là người kế thừa và phát triền, đưa
trường phái nguyên tử luận lên thành đỉnh cao của triết học duy vật Hy Lạp cổ đại
trong giai đoạn cực thịnh. Lơxíp là người đầu tiên nêu lên các khái niệm về nguyên
tử. Đêmôcrít đã kế thừa và phát triển thuyết nguyên tử trên một phương diện mới.
Theo ông, nguyên tử và chân không chính là căn nguyên của các sự vật, hiện tượng.
3.2 Chủ nghĩa duy tâm thời Hy Lạp cổ đại:
HVTH: Lê Tuấn Anh Page 6
Sự tương đồng và khác biệt giữa THDV và THDT thời Hy Lạp cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
Chủ nghĩa duy tâm được hình thành trong trường phái Pytago, trải qua trường
phái Êlê và đạt được đỉnh cao trong trường phái duy tâm khách quan của Platon
3.2.1 Trường phái Pytago:
Khác với quan niệm của nhiều trường phái triết học Hy Lạp cổ đại khác, coi khởi
nguyên của thế giới là một dạng vật chất cụ thể nào đó, Pytago coi con số là khởi
nguyên của thế giới, là bản chất của sự vật, là quy luật của vũ trụ. Nhưng do quá đề
cao vai trò của các con số, biến chúng thành những lực lượng siêu nhiên. Pytago tin
ở thuyết luân hồi. Cho rằng linh hồn bị giam hãm trong thể xác. Giải thoát linh hồn
ra khỏi sự ràng buộc của thế xác là mục đích của cuộc sống.
3.2.2 Trường phái Êlê:
Trường phái Êlê do Xênôphan thành lập theo tinh thần duy vật, nhưng sau đó
được Pácmêníc phát triển theo hướng duy tâm và được Dênông bảo vệ và phát huy.
Chịu ảnh hưởng bời Talét, Xênôphan cho rằng mọi cái đều từ đất mà ra, và cuối
cùng trở về với đất. Cùng với nước, đất tạo nên sự sống của muôn loài. Pácmêníc
lại cho rằng “tồn tại” là bản chất chung thể hiện tính thống nhất của vạn vật trong
thế giới. “Tồn tại” là một phạm trù triết học mang tính khái quát cao, và được nhận
thức bởi tư duy lý tính. Dênông là người bảo vệ nhiệt thành trường phái Êlê. Ông
đưa ra các apôri để chứng minh rằng không thể dùng trực quan cảm tính để nhận
thức sự vật mà phải dùng tư duy trừu tương. Tuy nhiên, sai lầm của ông là ở chỗ
tuyệt đối hóa và tách tính gián đoạn ra khỏi tính liên tục của vận động.
3.2.3 Trường phái duy tâm khách quan của Xôcrát – Platon:
Trường phái này thể hiện lập trường chính trị của tầng lớp chủ nô quý tộc bảo thủ
chống lại nền dân chủ Athen hệ thống triết học duy vật của trường phái nguyên tử
luận. Được xây dựng bởi Xôcrát và được hoàn thiện bởi Platon.
Khác với những nhà triết học khác, Xôcrát không nghiên cứu về giới tự nhiên mà
ông dành phần lớn nghiên cứu về con người, đạo đức. Platôn xuất thân trong một
gia đình chủ nô quý tộc ở Athen. Ông đã xây dựng chủ nghĩa duy tâm khách quan
HVTH: Lê Tuấn Anh Page 7
Sự tương đồng và khác biệt giữa THDV và THDT thời Hy Lạp cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
với nội dung chính là thuyết ý niệm, với giá trị bên trong là phép biện chứng của
khái niệm và nhiều tư tưởng sâu sắc về đạo đức, chính trị, xã hội,…
3.3 Chủ nghĩa nhị nguyên của Arixtốt:
Arixtốt là học trò xuất sắc nhất của Platôn, tuy nhiên ông lại phê phán thuyết ý
niệm của thầy vì theo ông ý niệm là cái tồn tại bên ngoài và độc lập với sự vật nên
nó không thể là bản chất của sự vật. Nhưng ông cũng không ủng hộ quan điểm của
các trường phái duy vật khi bàn về khởi nguyên vật chất của vũ trụ. Từ đó ông đưa
ra thuyết nguyên nhân – cơ sở của Siêu hình học và thuyết vận động – cơ sở của Vật
lý học. Tuy triết học của ông dao động giữa chủ nghĩa duy vật và duy tâm, nhưng
ông đã mở ra một chân trời mới cho sự phát triển của khoa học phương Tây.
II. SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC DUY VẬT VÀ
TRIẾT HỌC DUY TÂM THỜI HY LẠP CỔ ĐẠI:
1.Sự tương đồng:
- Triết học Hy Lạp cổ đại thể hiện thế giới quan, ý thức hệ và phương pháp luận
của giai cấp chủ nô thống trị. Nó là công cụ lý luận để giai cấp này duy trì trật tự xã
hội, củng cố vai trò thống trị của mình. Các nhà triết học thời kỳ này dù là theo
trường phái duy vật hay duy tâm, vô thần hay hữu thần thì tất cả đều thuộc tầng lớp
chủ nô, do đó những quan điểm, đường lối họ đưa ra đều nhằm bảo vệ cho quyền
lợi của họ.
- Các quan điểm trong nền triệt học cổ Hy Lạp đều mang phép biện chứng chất
phác. Các nhà triệt học thời kỳ này đều là những nhà biện chứng bẩm sinh, họ
nghiên cứu và sử dụng phép biện chứng để nâng cao nghệ thuật hùng biện, để bảo
vệ quan điểm triết học của mình, để tìm ra chân lý. Họ phát hiện ra nhiều yếu tố của
phép biện chứng, nhưng chưa trình bày chúng như một hệ thống lý luận chặt chẽ.
- Triết học Hy Lạp cổ đại gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên để tổng hợp mọi
hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau nhằm xây dựng bức tranh về thế giới như một
HVTH: Lê Tuấn Anh Page 8
Sự tương đồng và khác biệt giữa THDV và THDT thời Hy Lạp cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
hình ảnh chỉnh thể thống nhất mọi sự vật, hiện tượng xảy ra trong nó. Do trình độ tư
duy lý luận còn thấp nên khoa học tự nhiên chưa đạt đến trình độ mổ xẻ, phân tích
tự nhiên để đi sâu vào bản chất sự vật, mà nó mới nghiên cứu tự nhiên trong tổng
thể để dựng nên bức tranh tổng quát về thế giới. Vì vậy, các nhà triết học đồng thời
là những nhà khoa học tự nhiên, họ quan sát trực tiếp các hiện tượng tự nhiên để rút
ra những kết luận triết học, từ đây hình thành nên quan điểm cho rằng “triết học là
khoa học của các ngành khoa học”.
- Triết học Hy Lạp coi trong vấn đề con người. Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại
đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về con người, cố lý giải vấn đề quan hệ giữa
linh hồn và thể xác, về đời sống đạo đức, chính trị, xã hội của họ. Dù còn nhiều bất
đồng, song nhìn chung, các triết gia đều khẳng định con người là tinh hoa cao quý
nhất của tạo hóa.
2. Sự khác biệt:
Sự khác biệt của chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm được thể hiện rõ nét
thông qua trường phái duy vật của Đêmôcrít và trường phải duy tâm của Platon.
Đêmôcrít (460-370 TCN) là nhà triết học duy vật vĩ đại nhất của dòng triết học duy
vật Hy Lạp thời cổ đại, đồng thời ông cũng là đại biểu kiệt xuất nhất của tầng lớp
chủ nô dân chủ thời kỳ này. Còn Platon (427-347 TCN) là nhà triết học duy tâm
khách quan kiệt xuất nhất thời cổ Hy Lạp và cũng là đại biểu trung thành của tầng
lớp chủ nô quý tộc.
• Về vấn đề khởi nguyên của thế giới:
Đêmôcrít quan niệm rằng nguyên tử và chân không là cơ sở đầu tiền cấu tạo nên
mọi vật. Nguyên tử là những hạt vật chất cực nhỏ, không nhìn thấy được, không
màu sắc, không âm thanh, không mùi vị, không thể phân chia được, không biến đổi,
luôn vận động và tồn tại vĩnh viễn, giống nhau về chất nhưng khác nhau về hình
dạng (hình cầu, hình tứ diện, lõm, lồi,…), về kích thước, về tư thế (ngang, đứng,
nghiêng,…). Chân không không có kích thước và hình dáng, vô tận và duy nhất.
HVTH: Lê Tuấn Anh Page 9
Sự tương đồng và khác biệt giữa THDV và THDT thời Hy Lạp cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
Nguyên tử vận động trong chân không, theo luật nhân quả mang tính tất nhiên tuyệt
đối. Ông cho rằng sự kết hợp của các nguyên tử theo một trật tự nhất định tạo thành
các sự vật trong thế giới.
C̣òn Platon cho rằng ý niệm là nguồn gốc sinh ra thế giới. Ý niệm tồn tại ngoài
con người, ngoài cảm giác của con người; “ý niệm tồn tại vĩnh viễn bất biến, bất
động”. Các sự vật cụ thể có thể cảm thụ được bằng cảm giác chỉ là bản sao của các
ý niệm, dựa vào ý niệm hay đúng hơn là thế giới ý niệm. Platon thừa nhận có hai
thế giới tồn tại: thế giới ý niệm, là thế giới tồn tại trên trời, lý tính, vĩnh hằng, bất
biến, bất động, mang tính phổ biến, tuyệt đối chân thực,….là cơ sở tồn tại của thế
giới sự vật cảm tính. Còn thế giới sự vật cảm tính là thế giới tồn tại dưới đất, luôn
luôn biến đổi, mang tính cá biệt, ảo giả, tương đối, thoáng qua,… là cái bóng của ý
niệm, do ý niệm sản sinh ra, phụ thuộc vào ý niệm, loài người cũng thuộc về thế
giới này.
• Về vũ trụ:
Đêmôcrít cho rằng vũ trụ là vô tận, vĩnh cửu, có vô số thế giới phát sinh, phát
triển và tiêu diệt. Còn Platon thì ngược lại ông cho rằng vũ trụ này không tồn tại
thực, tất cả chỉ là sự phức hợp của ý niệm, do ý niệm quy định, do thượng đế quyết
định và không tồn tại.
• Về vấn đề linh hồn:
Theo Đêmôcrít, ông đã bác bỏ quan niệm về sự sản sinh ra sự sống và con người
của thần thánh. Theo ông, sự sống là kết quả biến đổi dần dần từ thấp đến cao của
tự nhiên. Sinh vật đầu tiên xuất hiện ở môi trường nước và dưới tác động của nhiệt
độ. Sinh vật đó sống dưới nước, sau đó dần dần xuất hiện sinh vật có vú sống trên
cạn. Cuối cùng là con người ra đời trên quả đất. Ông đã phân biệt rõ ràng sự vật và
sinh vật chúng khác nhau ở chỗ sự vật không có linh hồn, còn sinh vật có linh hồn:
linh hồn được cấu tạo bởi các nguyên tử hình cầu, giống như nguyên tử của lửa vận
động với vận tốc cao. Nguyên tử linh hồn sinh ra nhiệt, nhiệt làm cho cơ thể hưng
HVTH: Lê Tuấn Anh Page 10
Sự tương đồng và khác biệt giữa THDV và THDT thời Hy Lạp cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
phấn và vận động. Ông coi cái chết là sự phân tán của các nguyên tử cấu tạo nên thể
xác và các nguyên tử cấu tạo nên linh hồn chứ không phải là linh hồn lìa khỏi thể
xác. Tuy quan niệm của Đêmôcrít về linh hồn còn mang tính mộc mạc, song nó giữ
vai trò rất quan trọng trong việc chống lại quan điểm duy tâm, tôn giáo về tính bất
tử của linh hồn.
Còn Platon cho rằng con người bao gồm linh hồn và thể xác tồn tại độc lập với
nhau. “Linh hồn của con người là một bộ phận của linh hồn vũ trụ do thượng đế
sáng tạo ra do đó nó bất tử và tồn tại vĩnh hằng”. Khi con người chết linh hồn sẽ
thoát ra khỏi con người và bay lên trú ngụ ở một vì sao. Khi thể xác mới ra đời, linh
hồn bay xuống nhập vào thể xác đó và tạo ra con người hoàn chỉnh bao gồm cả linh
hồn và thể xác. Trong khi bay xuống nhập vào thể xác con người linh hồn đã lãng
quên những điều quan sát được ở thế giới những ý niệm. Vì thế, nhận thức của con
người thực chất là sự hồi tưởng, sự nhớ lại của linh hồn về những điều mà nó đã
lãng quên.
• Về vấn đề nhận thức:
Đêmôcrít cho rằng , mọi nhận thức của con người đều có nội dung chân thực,
nhưng mức độ rõ ràng, đầy đủ của chúng lại khác nhau. Ông chia nhận thức chân
thực của con người ra làm hài dạng có liên kết mật thiết với nhau là nhận thức mờ
tối do giác quan mang lại, tức nhận thức cảm tính và nhận thức sang suốt do suy
đoán đem đến, tức nhận thức lý tính. Nhận thức mờ tối chỉ cho ta biết được dáng vẻ
bên ngoài của sự vật, muốn khám phá ra bản chất của sự vật cần phải tiến hành
nhận thức lý tính. Nhận thức lý tính đáng tin cậy, nhưng nó lại là một quá trình khó
khăn, đòi hỏi phải có một năng lực tư duy tìm tòi khám phá của con người khao
khát hiểu biết. Theo ông, nhận thức cảm tính là tiền đề của nhận thức lý tính, muốn
nắm bắt bản chất thế giới không thể không sử dụng nhận thức lý tính.
Còn Platon cho rằng chỉ có nhận thức lý tính đưa vào khái niệm mới có thể đạt
tới tri thức chân thực, nhận thức cảm tính không bao giờ đạt tới tri thức chân thực
mà chỉ mang lại kiến giải sai lầm về thế giới sự vật. Platon đã đề cao vai trò của
HVTH: Lê Tuấn Anh Page 11
Sự tương đồng và khác biệt giữa THDV và THDT thời Hy Lạp cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
nhận thức lý tính và hạ thấp vai trò của nhận thức cảm tính. Ông cho rằng nhận thức
chẳng qua là sự hồi tưởng lại của linh hồn bất tử về những gì nó đã từng chiêm
ngưỡng được trong thế giới ý niệm nhưng lãng quên đi khi gia nhập vao thể xác con
người.
• Về vấn đề đạo đức:
Đêmôcrít xác định rằng, đối tượng nghiên cứu của đạo đức học là cuộc sống, là
hành vi số phận của mỗi còn người riêng biệt. Sự hiểu biết là cơ sở của hành vi đạo
đức. Sống đúng mực, ôn hòa, không gây hại cho mình và cho người là sống có đạo
đức. Hạnh phúc của con người là trạng thái mà trong đó con người sống trong sự
hưởng lạc vừa phải trong sự thanh thản của tâm hồn tự do. Ông luôn phản đối sự
giàu có quá đáng, sự trục lợi bất lương, bởi vì chúng là cội nguồn dẫn tới sự bất
hạnh của con người. ông luôn đề cao những hành động vị nghĩa cao thượng của con
người, vì chỉ có những hành vi nghĩa khí mới làm cho con người trở thành vĩ đại.
Platon thì cho rằng, sống hạnh phúc là sống có đạo đức, sống có đạo đức là làm
điều thiện, hành vi hướng thiện là hành vi không dựa trên khoái lạc, lợi thú chủ
quan mà là hướng đến những ý tưởng tuyệt đối khách quan thuộc về thế giới ý niệm
ở trên trời, con người chỉ nhận thức được những ý tưởng này bằng lý trí. Cũng theo
ông thì, chỉ có tầng lớp các nhà triết học và quý tộc mới đạt đạo đức thanh cao, còn
đạo đức của thường dân chỉ là sự kìm chế dục vọng thấp hèn, ông coi nô lệ không
phải là người mà là động vật biết nói cho nên họ không có giá trị đạo đức. Ông đã
không hướng con người vào hành vi đạo đức trong hiện thực mà hướng con người
tới ý niệm tối cao của cái thiện.
• Về vấn đề chính trị, xã hội:
Đêmôcrít đứng trong lập trường của phái chủ nô dân chủ, kịch liệt chống lại phái
chủ nô quý tộc. Ông ra sức bảo vệ và tuyên truyền cho chế độ dân chủ của chủ nô
trong đó thể hiện quyền lợi của mình gắn liền với sự phát triển ngày càng một mạnh
HVTH: Lê Tuấn Anh Page 12
Sự tương đồng và khác biệt giữa THDV và THDT thời Hy Lạp cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
mẽ của thương mại và công nghiệp. Ông đề cao, ca ngợi, cổ vũ cho tình thân ái, tính
ôn hòa, lợi ích chung và quyền lợi chung của công dân tự do. Theo ông “cần phải
ưa thích cái nghèo trong một Nhà nước dân chủ hơn so với cái gọi là cuộc sống
hạnh phúc trong chế độ chuyên chế tựa như là tự do tốt hơn nô lệ”. Do xuất thân từ
tầng lớp chủ nô dân chủ, Đêmôcrít chỉ đề cập đến nền dân chủ của chủ nô, còn bản
thân nô lệ thì cũng như các nhà tư tưởng khác, ông cho rằng phải biết tuân theo
người chủ nô. Ông đề cao Nhà nước, chính Nhà nước đóng vai trò duy trì trật tự và
điều hành xã hội. Theo ông, cần phải trừng trị nghiêm khắc những kẻ vi phạm pháp
luật hay chuẩn mực đạo đức nào đó. Phương châm tư tưởng của Đêmôcrít là thà
sống nghèo khổ còn hơn là giàu có nhưng mất tự do dân chủ. Mục tiêu của con
người là sống hạnh phúc nhưng hạnh phúc không đơn thuần chỉ là giàu có. Ông
khẳng định hạnh phúc là sự thanh thản trong tâm hồn và được tự do. Chỉ có người
biết bằng lòng với sự hưởng lạc vừa phải thì mới được hạnh phúc.
Còn Platon, ông đề cao vai trò của chế độ quý tộc đứng trên lập trường của phái
chủ nô quý tộc chống lại chế độ dân chủ tiến bộ của xã hội. Ông cho rằng linh hồn
gồm các bộ phận lý tính, ý chí và cảm tính, trong xã hội có các hạng người tương
ứng với các bộ phận của linh hồn. Lý tính là cơ sở của các đức tính cao cả chỉ có
được ở những nhà triết học, các nhà thông thái, ý chí là cơ sở của đức tính can đảm.
Nó thể hiện ở trong những người lính, những chiến binh. Cảm tính là cơ sở của các
đức tính thận trọng. Đức tính này thường có ở những người dân tự do, những người
thợ thủ công. Platon đặc biệt miệt thị nô lệ, theo ông, nô lệ không phải là người mà
chỉ là động vật biết nói, không có đạo đức. Platon chủ trương duy trì các hạng người
trong xã hội, cũng có nghĩa là duy trì sự bất bình đẳng giữa mọi người. Nhà nước ra
đời là để đáp ứng những nhu cầu đó. Theo Platon, hình thức cộng hoà là “Nhà nước
lý tưởng”. Trong đó, quyền thống trị tuyệt đối thuộc về tầng lớp chủ nô quý tộc.
Nhà nước là hiện thân của cả ba đức tính đó là thông thái, can đảm và thận trọng.
Trong “Nhà nước lý tưởng”, ông chia xã hội ra thành 3 đẳng cấp dựa vào đặc trưng
HVTH: Lê Tuấn Anh Page 13
Sự tương đồng và khác biệt giữa THDV và THDT thời Hy Lạp cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
đạo đức. Đẳng cấp thứ nhất là các nhà triết học, các nhà thông thái, giữ vai trò lãnh
đạo xã hội, đẳng cấp thứ hai là quân nhân có trách nhiệm bảo vệ “Nhà nước lý
tưởng”, đẳng cấp thứ ba là dân lao động tự do, thợ thủ công và những người tự do
khác làm ra sản phẩm nuôi sống Nhà nước. Nô lệ không được coi là người nên
không thuộc đẳng cấp nào.
Như vậy, chúng ta thấy ngay từ khi ra đời triết học Hy Lạp cổ đại đã xảy ra
cuộc đấu tranh mạnh mẽ giữa Chủ Nghĩa Duy Vật và Chủ Nghĩa Duy Tâm mà đại
biểu tiêu biểu nhất là Đêmôcrít của phái duy vật và Platon của phái duy tâm. Tuy
nhận thức của con người còn nhiều hạn chế song giữa Chủ Nghĩa Duy Vật và Chủ
Nghĩa Duy Tâm đã hình thành nên cuộc đấu tranh gay gắt không thể điều hoà được
về mọi mặt trong xã hội.
KẾT LUẬN
HVTH: Lê Tuấn Anh Page 14
Sự tương đồng và khác biệt giữa THDV và THDT thời Hy Lạp cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
Triết học Hy Lạp cổ đại tuy có sự đấu tranh gay gắt giữa chủ nghĩa duy vật và
chủ nghĩa duy tâm nhưng tất cả đều có vai trò rất quan trọng trong quá trình tìm
hiểu, giải thích những sự vật, hiện tượng xung quanh cuộc sống con người và lý giải
ngay cả bản thân con người, góp phần vào sự phát triển của khoa học đời sống, là
tiền đề cho triết học phương Tây sau này. Như Ăng-ghen đã nhận xét: : “Không có
chế độ nô lệ thì không có quốc gia Hy Lạp, không có nghệ thuật và khoa học Hy
Lạp, không có chế độ nô lệ thì không có đế quốc La Mã mà không có cái cơ sở là
nền văn minh Hy Lạp và đế quốc La Mã thì không có Châu Âu hiện đại được”.
Nhận xét này phần nào cho ta thấy được tầm ảnh hưởng của triết học Hy Lạp cổ đại
đối với sự phát triển của châu Âu nói riêng và của cả nhân loại nói chung.
MỤC LỤC
HVTH: Lê Tuấn Anh Page 15
Sự tương đồng và khác biệt giữa THDV và THDT thời Hy Lạp cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
LỜI MỞ ĐẦU…………………………………………………………… 1
I. Sự hình thành và đặc điểm của triết học Hy Lạp cổ đại………………… 2
1.Hoàn cảnh lịch sử xã hội Hy Lạp cổ đại………………………………….2
2. Sự hình thành, phát triển và suy tàn của triết học Hy Lạp cổ đại……….3
3. Khái quát chung về CNDV và CNDT thời Hy Lạp cổ đại…………… 5
3.1 Chủ nghĩa duy vật thời Hy Lạp cổ đại……………………………….5
3.2 Chủ nghĩa duy tâm thời Hy Lạp cổ đại…………………………… 6
3.3 Chủ nghĩa nhị nguyên của Arixtốt………………………………… 8
II. Sự tương đồng và khác biệt giữa THDV và THDT thời Hy Lạp cổ đại….8
1. Sự tương đồng………………………………………………………… 8
2. Sự khác biệt…………………………………………………………… 9
KẾT LUẬN………………………………………………………………… 15
HVTH: Lê Tuấn Anh Page 16