Tải bản đầy đủ (.doc) (14 trang)

sáng kiến kinh nghiệm Vận dụng phương pháp dạyhọc tích cực vào giờ tiếng việt lớp 7

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (161.28 KB, 14 trang )

Sở giáo dục & đào tạo hà nội
Phòng gd&đt thanh oai
-------------------***--------------------

đềtài
sáng kiến kinh nghiệm
Vận dụng phơng pháp
dạy-học tích cực
vào giờ tiếng việt lớp 7
tác giả:

Nguyễn Thị Huyền Sâm

đơn vị : trờng thcs kim th

Năm học 2010-2011

1


Cộng hoà xà hội chủ nghĩa Việt nam
Độc lập Tự do- Hạnh phúc

--------*****-------

Đề Tài sáng kiến kinh nghiệm

Phần I : Sơ yếu lý lịch
Họ và tên : Nguyễn

Thị Huyền Sâm



Ngày tháng năm sinh: 6/6/1974
Năm vào nghành: 1994
Chức vụ và đơn vị công tác: Phó hiệu trởng trờng THCS Kim
Th
Trình độ chuyên môn: Cử nhân Ngữ văn.
Hệ đào tạo : Đại học.
Trình độ chính trị : Sơ cấp.
Nhiệm vụ đợc giao: Phụ trách chuyên môn
Dạy ngữ văn 8A1
Những thành tích đà đạt :
2007-2008 đạt chiến sĩ thi đua cấp cơ sở.
2008-2009 đạt Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở
2009-2010 đạt Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở

2


Ii. Nội

dung đề tài

1/ Lý do chọn đề tài.
Môn Ngữ văn là môn học thuộc nhóm khoa học xà hội, điều đó nói lên tầm
quan trọng của nó trong việc giáo dục quan điểm, t tởng tình cảm cho học sinh.
Nhà văn hào Nga Mác-XimGor-Ki đà nói: Học văn là học làm ngời. Học tốt
môn ngữ văn giúp học sinh tù tin rÊt nhiỊu trong giao tiÕp víi ®êi sèng xà hội,
giao tiếp với đời sống gia đình và bạn bè.
Và dù sau này bớc vào đời, học sinh có thể tham gia mọi ngành nghề
phục vụ xà hội, môn Ngữ văn luôn luôn là phơng tiện, là ngời bạn tốt trên đờng

đời của mỗi học sinh, giúp các em sống tốt hơn, đẹp hơn.
Rõ ràng là môn Ngữ văn có một vị trí quan trọng trong nhà trờng phổ
thông. Song có một thực trạng đáng buồn là hiện nay không ít học sinh thực sự
không mặn mà với việc học văn không chịu đọc sách, báo và các tài liệu tham
khảo, lời suy nghĩ, sáng tạo. Chính vì thế mà trong khi nói cũng nh khi viết, các
em thờng không diễn đạt đợc nội dung mình định nói do đó dẫn đến việc viết
câu sai.
Là giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn, bản thân tôi thấy mình
cần phải làm gì để giúp học sinh nhận ra lỗi viết câu sai là loại lỗi gì ? nguyên
nhân và cách sửa chữa. Từ đó, các em sẽ không chỉ biết viết câu sao cho đúng
mà còn biết viết những câu hay, ý tứ. Chính vì lí do đó, tôi đà chọn đề tài Một
số biện pháp chữa lỗi câu tiếng việt cho học sinh lớp 8

2. Phạm vi đối tợng nghiên cứu
Khối 8 trờng THCS Kim Th- năm học 2009-2010

3


Iii. quá trình thực hiện đề tài
1Thực trạng của vấn đề
- Xuất phát từ tầm quan trọng của môn học : Đây là bộ môn khoa học có
nhiệm vụ giáo dơc rÌn lun häc sinh nãi vµ viÕt tiÕng mĐ đẻ một cách chuẩn
xác đúng yêu cầu . Để rồi từ đó giúp các em vận dụng nó làm phơng tiện giao
tiếp trong cuộc sống và công việc hàng ngày đồng thời , nó còn là cái chìa
khóa giúp các em tiếp cận tiếp thu kiến thức của các môn khoa học khác trong
nhà trờng .
- Xuất phát từ tình hình thực tế qua nhiều năm giảng dạy tôi thấy việc viết
câu của học sinh hiện nay vẫn còn nhiều mặt hạn chế. Cụ thể học sinh viết sai
chính tả , vốn từ nghèo nàn , câu sai cú pháp , dấu câu đánh tùy tiện , diễn đạt rờm rà , tối nghĩa , lại còn đọc sai , viÕt Èu .

- Qua kinh nghiƯm theo dâi t×nh h×nh thực tế trong nhiều năm tôi thấy có
nhiều nguyên nhân chủ qua xen lẫn khách quan dẫn đễn tình trạng học sinh viết
câu sai cha nắm vững quy tắc viết câu . Trong đó đáng lu ý là vai trò của học
sinh- đối tợng học tập quá thụ động , cha chịu khó tìm tòi suy nghĩ, không
động nÃo trớc những vấn đề cơ bản mà mình cha lĩnh hội .
- Sở dĩ học sinh học còn thụ động tiêu cực nh vậy theo tôi nghĩ nguyên nhân
sâu xa là do phơng pháp dạy và cách truyền thụ của giáo viên đôi khi thầy cũng
cha thực sự chú ý sửa sai những kiến thức cốt yếu của từng đối tợng học sinh .
Từ thực trạng trên tôi đà tiến hành khảo sát các lỗi về câu. Kết quả thu đợc nh sau:

4


- Thiếu các thành phần

Khối
lớp

Số lợng

Lỗi

Tỷ lệ
(%)
27,1

nòng cốt câu

Năm học


Không
lỗi

22,3

Các loại chủ yếu

- Viết câu thiếu vế
8

65

25

40

- Không ý thức rõ về
thành phần phụ trạng ngữ

2008 2009

21,2

với chủ ngữ
- Sai quan hệ ngữ nghĩa
giữa

các

thành


phần

15,3

trong câu
- Sai quan hệ logic chủ 14,1
đề - liên kết hình thức
II/ các giải pháp thực hiện
A. Các giải pháp thực hiện:
1. Những yêu cầu cơ bản của việc viết câu:
a. Nội dung phải hợp lí về mặt logic và ngữ nghĩa:
- Câu phải có nghĩa, vì có nghĩa chúng ta mới hiểu đợc nội dung, mục
đích thông báo. Muốn vậy dùng từ trong câu và viết chính tả phải đúng.
- Mặt khác, đứng về mặt ý nghĩa giữa các từ, các bộ phận trong câu không
đợc mâu thuẫn nhau, mà phải thống nhất với nhau, ý của câu cũng phải thống
nhất với ý của đoạn văn, của văn bản, đảm bảo sự phát triển liền mạch, liền ý
của đoạn văn và văn bản.
b. Câu trúc cú pháp của câu phải phù hợp với qui tắc tạo câu của Tiếng Việt.
b1 Câu phải có kết cấu nòng cốt.
* Câu là một chỉnh thể ngữ pháp độc lập, chứa đựng một nội dung thông
báo hoàn chỉnh và gắn với một hoàn cảnh giao tiếp nhất định.
Câu có hai thành phần chính là chủ ngữ và vị ngữ.
5


* Chủ ngữ nêu tên sự vật, hiện tợng có hành động, đặc điểm, trạng thái ...
đợc miêu tả ở vị ngữ. Chủ ngữ thờng đứng trớc vị ngữ.
Ví dụ: Con bò đang gặm cỏ
CN

VN
Chủ ngữ thờng do danh từ ®¶m nhiƯm, nhng cịng cã thĨ do ®éng tõ, tÝnh
tõ đảm nhiệm. Chủ ngữ có thể đợc cấu tạo từ một từ hoặc một cụm từ.
* Vị ngữ chỉ ra hành động, trạng thái, tính chất, quan hệ của sự vật, hiện tợng nêu ở chủ ngữ.
Vị ngữ thờng đứng sau chủ ngữ, do động từ, tính từ (cụm động từ, tính từ)
hoặc do các từ, cụm từ khác đảm nhiệm.
* Giữa chủ ngữ và vị ngữ phải đảm bảo quan hệ hợp lí, chặt chẽ.
Thờng thì trong câu chủ ngữ đứng trớc, vị ngữ đứng sau. Chỉ trong những
trờng hợp hạn hữu, trong câu mới có hiện tợng đảo trật tự giữa chủ ngữ và vị
ngữ.
Khi muốn nhấn mạnh ý, làm cho câu có tính gợi hình, gợi cảm ngời ta
đảo vị trí của vị ngữ lên đầu câu.
Ví dụ: Lom khom dới núi, tiều vài chú
VN
CN
Lác đác ben sông, chợ mấy nhà
VN
CN
Chỉ những câu vị ngữ là động từ nội động thì mới có thể đảo vị trí vị ngữ
lên đầu đợc.
Ví dụ: Bạc phơ, mái tóc ngời cha
VN
CN
* Ngoài hai thành phần chính là chủ ngữ và vị ngữ thì câu cần có ngữ điệu
thông báo. Đặc biệt khi hai thành phần chính của câu vắng mặt thì ngữ điệu
càng trở nên quan trọng hơn. Vì thế, câu còn có các thành phần phụ.
b2) Câu phải có quan hệ ngữ nghĩa hợp lí
Khi viết câu, nội dung câu phải hợp lí,có tính chất khách quan phù hợp
với quy lt nhËn thøc.
VÝ dơ : - Chim hãt


Chø kh«ng thể đặt câu là
6


- Bò đang gặm cỏ.

- Bò đang hót
- Chim gặm cỏ

Giữa chủ ngữ và vị ngữ phải hợp lí. Chủ ngữ thờng nêu sự vật, hiện tợng,
sự việc; vị ngữ nêu hành động, trạng thái, tính chất, đặc điểm về sự vật, sự
việc, hiện tợng chứ không thể ngợc lại.
Quan hệ giữa trạng ngữ với nòng cốt câu cũng phải đảm bảo sự logic, hợp
lý.
Ví dụ: Trên cánh đồng, mấy chú bò đang gặm cỏ
Tr.N
CN
VN
Chứ không thể có trạng ngữ: Trên cành cây mà nòng cốt câu lại là
mấy chú bò đang gặm cỏ.
Giữa các vế trong câu ghép phải có sự hợp lý đảm bảo tính logic. Nếu vế
thứ nhất là nguyên nhân thì vế thứ hai phải là kết quả (hoặc điều kiện - kết quả;
giả thiết - kết quả ). Nếu câu không có kết cấu nh thế là câu sai.
b3) Đặt câu phải đảm bảo yêu cầu về mặt phong cách.
Câu trong phong cách hành chính khác với câu viết theo phong cách nghệ
thuật, chính luận.
- ở văn bản hành chính - công cụ thờng sử dụng những câu có cấu trúc
chặt chẽ. Quan hệ giữa các thành phần, các vế câu đợc xác định rõ ràng, rành
mạch, bố cục hợp lý, chặt chẽ không dài dòng.

- Trong văn bản nghị luận thờng sử dụng từ ngữ toàn dân, những từ ngữ
chính trị - xà hội. sử dụng biến hoá các loại câu trong lập luận, chứng minh giải
thích, bình luận để thấu lý, đạt tình...
- Trong văn bản thuyết minh, có thể sử dụng rộng rÃi các kiểu câu đơn câu
phức theo một hệ thống cú pháp chuẩn.
- Đối với văn bản nghệ thuật việc sử dụng câu hết sức đa dạng, có đủ các
loại câu theo mục đích phát ngôn, có đủ các kiểu câu chia theo cấu trúc nhằm
đảm bảo tính thẩm mỹ, tính hình tợng và tính riêng về phong cách cá nhân.

7


Qua trên ta thấy khi đặt câu phải chú ý xem câu phù hợp với phong cách
ngôn ngữ nào để viết câu cho đúng, phù hợp với đặc điểm phong cách ngôn ngữ
đó.
b4) Các câu trong văn bản phải đảm bảo sự liên kết.
Văn bản là một thể thống nhất cã tÝnh trän vĐn vỊ néi dung vµ hoµn chØnh
vỊ hình thức. Văn bản dù viết dới hình thức nào, đều là một tập hợp gồm nhiều
câu, nhiều đoạn nối với nhau. Việc sắp xếp, nối kết các câu trong đoạn, các đoạn
trong văn bản không phải là hiện tợng ngẫu nhiên mà nó thể hiện ý đồ của ngời
viết, hớng tới một nội dung chủ đề nhất định. Và nh vậy, mối quan hệ ý nghĩa
giữa câu với câu đợc gọi là liên kết câu.
Muốn liên kết câu phải đảm bảo nguyên tắc liên kết cả về nội dung và
hình thức.
- Liên kết nội dung: Các câu trong đoạn văn về mặt nội dung có mối quan
hệ qua lại lÉn nhau. Liªn kÕt néi dung thĨ hiƯn ë hai bình diện: liên kết chủ đề
và liên kết logic. Hai mặt này gắn bó chặt chẽ với nhau.
- Liên kết hình thức: Chính là việc sử dụng các phơng tiện liên kết của
ngôn ngữ để nối các câu làm cho chúng gắn bó chặt chẽ với nhau nhằm biểu
hiện nội dung văn bản. Phơng tiện liên kết có thể thuộc bình diện ngữ âm nh

vần, nhịp; có thể thuộc bình diện từ vựng nh từ và thuộc bình diện ngữ pháp nh
kết cấu ngữ pháp. Các phơng tiện đó rất đa dạng nhng có thể quy về một số phơng thức nhất định: Phơng thức lặp; phơng thức thế; phơng thức liên tởng; phơng
thức nối; phơng thức trật tự tuyến tính
Trên đây là toàn bộ những yêu cầu cơ bản của việc viết câu. Dựa vào
những yêu cầu cơ bản ấy mà chúng ta biết đợc câu viết đúng hay viết sai. Để từ
đó nhận ra đợc lỗi câu mà có phơng hớng chữa lỗi.
2. Các giải pháp thực hiện:
a. Phân loại lỗi.
Để phân loại lỗi câu sai, tôi đà dựa vào một số tiêu chuẩn sau:
8


- Thø nhÊt lµ: dùa vµo quan hƯ híng néi (tức là tổ chức nội bộ trong câu).
- Thứ hai là: dựa vào quan hệ hớng ngoại (tức là xem học sinh đà sử dụng việc
liên kết câu theo chủ đề, logic hoặc dùng phơng tiện liên kết không phù hợp nh
thế nào ?)
sơ đồ phân loại lỗi:

Lỗi câu

Quan hệ
hớng nội

Sai về mặt
cấu tạo

Sai kết
Sau khi
cấu
nòng

cốt

Câu
ghép
thiếu
vế

Quan hệ
hớng ngoại

Sai về mặt
ngữ nghĩa

Quan
hệ
C-V
không
hợp

TN với
nòng
cốt
không
hợp

Lỗi về liên
kết nội dung

Thành
phần

trong
câu
không
logic

Lỗi
về liên
kết
chủ đề

Lỗi về liên
kết hình thức

Lỗi
về liên
kết
logic

-phân loại lỗi theo tiêu chuẩn nh ở trên, tôi tiến hành miêu tả lỗi một cách chi
tiết. ở đây, tôi chỉ xin đa ra một số câu tiêu biểu cho mỗi dạng lỗi nằm trong
phạm vi của đề tài.
b. Miêu tả lỗi.
* Lỗi do thiếu các thành phần nòng cốt của câu
- Câu 1: Hè về, nở đỏ rực cả sân trờng
Câu này thiếu bộ phận chủ ngữ
- Câu 2: Những kỷ niệm tuổi học trò
Câu này thiếu bộ phận vị ngữ
9



- Câu 3: Bằng nỗ lực của bản thân đà trở thành một học sinh giỏi
Trong câu này, ngời viết nhầm tởng Bản thân đà có thể làm chủ ngữ cho
bộ phận đứng sau đó
* Lỗi do các em sử dụng câu thiếu vế.
- Tuy Hồng rất chăm học, vâng lời bố mẹ.
ở câu trên các em đà dùng thiếu mét vÕ theo cỈp quan hƯ tõ: “Tuy nhng”.
- “NÕu ngày hôm qua bạn không chăm chỉ, chịu khó Câu nµy cịng chØ cã
vÕ phơ mµ cha cã vÕ chÝnh.
* Lỗi do không ý thức rõ về thành phần trạng ngữ và chủ ngữ
- Qua nhân vật chị Dậu cho ta thấy rõ những đức tính cao đẹp đó.
ở câu này ngời viết đà hoà nhập chủ ngữ với phần phụ trạng ngữ của câu.
* Lỗi do không ý thức rõ về trạng ngữ
- Những năm về sau, khi đà là một ngời thành đạt, dày dặn kinh nghiệm
ở câu này, ngời viết hiểu lầm chủ ngữ là Những năm về sau còn Khi
đà là ... kinh nghiệm là vị ngữ trong khi nó chỉ là phụ
* Lỗi do các em sử dụng câu thiếu phụ ngữ bắt buộc
- Mọi ngời đều lắng nghe. Câu này thiếu phụ ngữ đứng sau của cụm
động từ nên đọc lên ta thấy khó hiểu vì vậy ta phải thêm phụ ngữ cho
động từ. VD: Mọi ngời đều lắng nghe câu chuyện cổ tích.
* Lỗi do câu sai quan hệ logic
ở một số bài tập làm văn của mình, các em đà sử dụng câu mà quan hệ
chủ - vị trong câu không hợp lý.
VD: Qua nhân vật Thuý Kiều, ta thấy đ ợc bản chất xấu xa, thối nát của
chế độ phong kiến
Ngoài ra, tuy các em không mắc lỗi sai về ngữ pháp nhng lại sai về cách
suy nghĩ, thành thử làm cho câu không logic về mặt nội dung.
VD: Các bạn trong lớp hÃy chia thành 2 toán: Một toán gồm tất cả các
bạn học sinh gái và một toán gồm tất cả các bạn học sinh khoẻ
10



* Lỗi do thể hiện sai quan hệ ngữ nghĩa giữa các bộ phận trong câu. Hoặc
do không ý thức rõ mối quan hệ giữa các vế câu hoặc giữa các câu.
VD: Mắt đăm đăm nhìn ra cửa biển, ta thấy Kiều đà theo cánh buồn thấp
thoáng mà nghĩ đến cảnh cô đơn của mình.
Đọc lên ngời ta có thể hiểu kẻ đăm đăm nhìn ra cửa biển và nghĩ đến cảnh
cô đơn của mình ở đây là ta chứ không phải là Kiều nh ý ngời viết muốn nói.
Viết c©u nh thÕ chøng tá ngêi viÕt cha thĨ hiƯn đúng ngữ nghĩa giữa các thành
phần câu.
* Các lỗi về liên kết câu.
- Lỗi về liên kết chủ đề: Các câu trong đoạn không cùng chủ đề
- Lỗi về liên kết logic: Các câu trong một đoạn hay trong một văn bản
không đợc thể hiện bằng các phơng tiện liên kết hay bị thể hiện sai lạc.
Qua thực tế tôi thấy các em mắc lỗi về quan hệ hớng nội nhiều hơn so với
lỗi về quan hệ hớng ngoại.
B. Các biện pháp tổ chức thực hiện chữa lỗi câu:
Để nâng cao chất lợng chữa lỗi câu sai cho học sinh THCS thì bản thân
giáo viên trực tiếp giảng dạy môn ngữ văn trong nhà trờng không thể chỉ chữa
lỗi trong giờ Tiếng Việt, mà phải kết hợp chữa lỗi câu thông qua quá trình giao
tiếp, giờ trả bài Tập làm văn, tổ chức cho các em hái hoa kiến thức ở một số chủ
điểm trong giờ Hoạt động ngoài giờ lên lớp để giúp các em sửa lỗi câu.
1. Chữa lỗi câu trong giờ Tiếng Việt.
VD: Khi dạy bài: Câu ghép (Ngữ văn 8 - Tập I) tiết 43.
Mục đích ở bài này là làm cho học sinh nắm đợc đặc điểm của câu ghép
và cách nối các vế câu trong câu ghép. Rèn kỹ năng nhận diện và sử dụng câu
ghép trong nói và viết.
Trong quá trình giảng dạy bài này, ngoài việc học lý thuyết giáo viên cần
phải chú trọng đến việc sử dung câu của các em trong qua trình đa ví dụ minh
hoạ, làm bài tập. Có nh vậy, thì mới phát hiện ra những câu có lỗi khi các em sử


11


dụng. Mặt khác có thể giáo viên đa ra một số bài tập để kết hợp chữa lỗi câu sai
cho các em.
Bài tập 1: Thêm vào chỗ trống ở câu sau đây một kết cấu chủ - vị để tạo
thành câu ghép:
Trăng đà lên cao.
GV: Gọi học sinh làm bài tập
Trăng/đà lên cao, đêm/càng yên tĩnh
C
V
C
V
Bài tập 2: Cho hai câu sau:
C1: Trời nổi gió
C2: Xa xa, một đàn bò.
GV : Cho một học sinh nhận xét, hai câu trên có phải là câu ghép không ? Phân
tích kết cấu của câu.
C1 : Tuy thành một câu : CN: Trời; VN: nổi gió nhng không phải là câu
ghép mà đây chỉ là câu đơn.
C2 : Cha hoàn chỉnh câu vì câu ghép là câu do hai hoặc nhiều cụm C - V
không bao chứa nhau tạo thành. Mỗi cụm C - V trong câu ghép đợc gọi là một
vế câu.
GV : Gọi học sinh chữa lại hai câu trên
C1: Trời/nổi gió (rồi) một cơn ma/ập đến
C
V
C
V

C2: Xa xa, một đàn bò/đang gặm cỏ, những đứa trẻ/nô đùa vui vẻ
TrN
C
V
C
V
Nh vậy, trong quá trình làm bài tập giáo viên đà giúp các em sửa lỗi câu
luôn.
2. Chữa lỗi câu trong giờ học HĐNGLL (lớp 8) ở chủ điểm: Hội vui học
tập.
Giáo viên chuẩn bị một số câu hỏi gắn vào hoa, yêu cầu các em hái hoa
(tức là giải đáp c©u hái).

12


Ví dụ câu: Tập hợp từ sau đây đà thành câu cha? Vì sao? Nếu cha bổ sung
cho thành câu.
- Tập hợp từ 1: Nhìn thấy cô giáo bớc vào lớp
- Tập hợp từ 2: Nghĩ đến cảnh mẹ con phải xa nhau.
Nh vậy, ở tập hợp từ 1: Học sinh phải thêm vị ngữ
ở tập hợp từ 2: Học sinh phải thêm cả chủ ngữ - vị ngữ.
Hay là ra câu hỏi: Trong số những câu dới đây, câu nào sai ngữ pháp? Nếu sai
thì sai nh thế nào?
A. Trong lớp các bạn ngồi rất ngay ngắn.
B. Những câu chuyên dân gian mà chúng tôi thích nghe kể.
C. Bà tôi hay kể chuyện dân gian.
D. Với kết quả học tập ấy đà động viên tôi rất nhiều
3. Chữa lỗi câu thông qua giờ trả bài Tập làm văn.
Thông qua giờ trả bài giáo viên giúp các em phát hiện, nhận diện một số

lỗi câu sai ở một số bài Tập làm văn của các bạn mà cô cho đọc trớc lớp. Để từ
đó các em cùng cô giáo sửa lỗi câu sai
Ví dụ: Trong 1 tiết trả bài Tập làm văn lớp 8.Tôi đà phát hiện ra ở hai lớp
8/1 và 8/3 các em đều mắc lỗi dùng câu thiếu thành phần nòng cốt.
Cụ thể câu văn sau:
C1 : Dọc bài thơ lên mà em tởng tợng trớc mắt mình.
C2: Bài thơ thích nhất là bài Quê hơng.
Sau khi ghi những câu văn mắc lỗi lên bảng giáo viên cho học sinh phát
hiện ra lỗi câu và cho sửa lại thành câu đúng.
C1: Thiếu bộ phận vị ngữ.
C2: Thiếu bộ phận chủ ngữ.
Sửa lại: C1: Đọc bài thơ lên mà em tởng tợng trớc mắt mình bức tranh sinh động
về làng chài ven biển.
C3: Bài thơ em thích nhất là bài Quê hơng của Tế Hanh.

13


Thông qua việc khảo sát lỗi câu sai của các em, tôi đà đa ra phơng hớng
chữa lỗi câu. Đồng thời bằng các biện pháp chữa lỗi nh đà trình bày ở trên, tôi
đà giúp các em củng cố, rèn luyện kỹ năng đặt câu theo những yêu cầu cơ bản;
làm cho các em hiểu rõ đợc vai trò quan trọng của việc sử dụng câu đúng để các
em viết văn cũng nh ứng dụng trong quá trình giao tiếp nhằm đảm bảo thông tin
một cách chính xác nội dung cần thông báo.
III. Kết luận
Qua thực tế dạy học ở các lớp, bằng việc sửa lỗi câu cho HS ở những tiết
học, nhìn chung các em đà nhận ra đợc những lỗi cơ bản về câu và đà có ý thức
sửa những lỗi mà mình mắc phải trong quá trình giao tiếp.
Đối chiếu với kết quả điều tra ở phần thực trạng năm học 2008 - 2009 của
khối lớp 8 so với khối lớp 8 năm học 2009 - 2010 có sự thay đổi rõ rệt.

Cụ thể nh sau:
Năm
học

Khối
lớp

Số lợng

Lỗi

Không
lỗi

Tỷ lệ
%
-Thiếu các thành phần nòng 7,6
Các loại chủ yếu

cốt câu
- Viết câu thiếu vế

6,1

- Không ý thức rõ về thành
2009 8
2010

phần phụ trạng ngữ với chủ 10
65


12

53

ngữ
- Sai quan hệ ngữ nghĩa giữa 9,2
các thành phần trong câu
- Sai quan hệ logic chủ đề - 12,3
liên kết hình thức

Nhân dân ta thờng nói: ăn cho nên đọi, nói cho nên lời , rõ ràng nói
phải thành lời, rõ ý thì ngời khác mới hiểu. Mà muốn nối thành lời , rõ ý thì phải
nói cho thành câu. Nhng hiện nay, việc dạy học Ngữ văn nói chung phân môn
Tiếng Việt nói riêng trong các trờng phổ thông đang đối diện víi thùc tr¹ng rÊt
14


báo động là có nhiều học sinh khi nói cũng nh khi viết thờng mắc các lỗi về câu
dẫn đến việc viết, nói câu sai cho nên không đạt đợc mục đích giao tiếp. Trong
khi toàn ngành đang thực hiện chơng trình đổi mới phơng pháp dạy học cho phù
hợp với giai đoạn phát triển mới và đặc biệt hởng ứng cuộc vận động 2 không
của Bộ trởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Thiết nghĩ để thế hệ học sinh ngày nay có
niềm hứng thú khi học môn Ngữ văn thì ngay từ khi cắp sách đến trờng ngời
giáo viên phải giúp các em yêu quí tiếng mẹ đẻ, tự hào với tiếng nói của dân tộc.
Mặt khác, trong nhà trờng, ngoài việc học sinh đợc học Ngữ văn thì các
em còn đợc học các môn khác trong đó có môn ngoại ngữ. Việc học tốt phân
môn Tiếng Việt sẽ giúp cho các em thuận lợi hơn khi học ngoại ngữ để có điều
kiện tiếp xúc với nhiều nền văn minh trên Thế giới.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đề tài này tôi còn gặp khó khăn do có

không ít học sinh ngồi nhầm lớp nên kết quả thu đợc còn hạn chế.
Rất mong đựơc sự góp ý của các cấp lÃnh đạo và đồng nghiệp !
Kim Th ngày 20 tháng 4 năm 2010
Tác giả

Nguyễn thị huyền sâm
ý kiến đánh giá, xếp loại
của hội đồng khoa học cơ sở
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
................................................................................................................................
Chủ tịch hội đồng
15


16



×