Tải bản đầy đủ (.doc) (17 trang)

Vai trò của thuế đối với ngân sách nhà nước (NSNN)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (165.71 KB, 17 trang )

GVHD: Cô Triệu Kim Lanh. Tiểu Luận
SVTH: Huỳnh Đức Lâm Hiếu.
Lê Xuân Trường.

BÀI TIỂU LUẬN MÔN THUẾ
Câu 1: Vai trò của thuế đối với ngân sách nhà nước (NSNN):
Pháp luật thuế là công cụ chủ yếu và lâu dài của Nhà nước nhằm huy
động tập trung một phần của cải vật chất trong xã hội vào ngân sách Nhà nước. Ngân sách
có thể huy động bằng nhiều cách khác nhau như đi vay, bán tài nguyên thiên nhiên, nhận
viện trợ, in tiền…nhưng không có nguồn thu nào mang tính chất bền vững như thuế. Thuế
chính là công cụ tác động vào sự phân bổ nguồn lực trong xã hội.Thuế gắn liền với sự tồn
tại và phát triển của nhà nước và là công cụ quan trọng mà bất cứ quốc gia nào cũng sử
dụng để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Thuế là khoản thu bắt buộc, không bồi
hoàn trực tiếp của nhà nước đối với các tổ chức cá nhân nhằm trang trải mọi chi phí về
mục đích chung. Doanh thu từ thuế sẽ được sủ dụng để trang trải cho các hoạt đông đầu
vào cần thiết để sản xuất các hang hóa và dịch vụ công của chính phủ.
Mặt khác:
Nhà nước ban hành pháp luật thuế và ấn định các loại thuế áp dụng đối
với các pháp nhân và thể nhân trong xã hội.Việc các chủ thể nộp thuế - thực hiện nghĩa vụ
nộp thuế theo quy định của pháp luật thuế đã tạo ra nguồn tài chính quan trọng, chiếm tỷ
trọng lớn trong cơ cấu nguồn thu ngân sách Nhà nước.
Cũng như pháp luật nói chung, Pháp luật thuế có chức năng điều chỉnh
các quan hệ xã hội. Mục đích chủ yếu và quan trọng nhất cuả sự điều chỉnh quan hệ pháp
luật thu - nộp thuế là nhằm tạo lập qũy ngân sách Nhà nước. Hầu hết ở các quốc gia, thuế
là hình thức chủ yếu mà pháp luật quy định để thu ngân sách Nhà nước.
Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu
nội bộ của nền kinh tế quốc dân. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, xuất phát từ phạm
vi hoạt động mà đòi hỏi Nhà nước phải ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật thuế để tập
Lớp ĐH23KT02.
1
GVHD: Cô Triệu Kim Lanh. Tiểu Luận


SVTH: Huỳnh Đức Lâm Hiếu.
Lê Xuân Trường.
trung nguồn tài chính vào ngân sách Nhà nước từ đó mới đáp ứng được nhu cầu chi ngày
càng tăng.
Câu 3: So sánh cách tính thuế thu nhập doanh nghiệp theo hướng
dẫn của kế toán với cách tính thuế TNDN theo quy định của Luật thuế thu nhập hiện
hành.
Do sự áp dụng Chuẩn mực kế toán số 17- Thuế thu nhập doanh nghiệp,
Thông tư số 60/2007/TT-BTC ban hành ngày 14/06/2007 của Bộ Tài chính và Thông tư số
134/2007/TT-BTC ban hành ngày 23/11/2007, nên việc xác định và hạch toán kế toán thuế
Thu nhập doanh nghiệp (TNDN) hiện nay đã có những điểm mới khác biệt so với trước
đây. Trong quá trình quyết toán thuế TNDN một trong những công việc mà các doanh
nghiệp phải làm đó là xác định phần chênh lệch tạm thời giữa kế toán và thuế nhằm xác
định Chi phí thuế thu nhập hoãn lại hay Thu nhập thuế thu nhập hoãn lại để xác định Chi
phí thuế TNDN hiện hành và xác định kết quả của doanh nghiệp
Trước hết, so sánh các cách xác định theo công thức sau:
Lợi nhuận kế toán = Doanh thu và thu nhập khác
theo quy định của kế toán
- Chi phí theo quy định của
kế toán.
=>
Thuế TNDN phải nộp theo
kế toán
= Lợi nhuận kế toán x Thuế suất thuế TNDN hiện
hành (t%)
Và:
Thu nhập chịu thuế TNDN = Doanh thu và thu nhập khác
theo quy định của thuế
- Chi phí theo quy định của
thuế

Thuế TNDN phải nộp theo
thuế
= Thu nhập chịu thuế
TNDN
X Thuế suất thuế TNDN hiện
hành (t%)
Lớp ĐH23KT02.
2
GVHD: Cô Triệu Kim Lanh. Tiểu Luận
SVTH: Huỳnh Đức Lâm Hiếu.
Lê Xuân Trường.
Tình huống này chỉ xảy ra khi có sự khác nhau giữa quy định của thuế và quy định của kế
toán (Thái độ nhằm phá vỡ liên kết giữa kế toán và thuế)
Nguyên nhân xảy ra sự chênh lệch là do cách xác định khác nhau như sau:
Chỉ tiêu Theo quy định của kế toán Theo quy định của Thuế
Doanh thu Tổng giá trị các lợi ích kinh tế
của Doanh nghiệp thu được
trong kỳ kế toán góp phần
làm tăng vốn chủ sở hữu, phát
sinh từ các hoạt động sản xuất
kinh doanh thông thường của
doanh nghiệp. Thoả mãn 5
điều kiện theo chuẩn mực kế
toán số 14
Toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia
công, tiền cung ứng dịch vụ
bao gồm cả trợ giá và phụ thu,
phụ trội mà cơ sở kinh doanh
được hưởng. Doanh nghiệp đã
phát hành hoá đơn hoặc dịch

vụ cung cấp đã hoàn thành
Khấu hao Theo thời gian sử dụng ứớc
tính của Tài sản
Theo Quyết định số 206
Dự phòng phải thu khó đòi Theo ban lãnh đạo Doanh
nghiệp
Theo quy định của Bộ tài
chính
+ 30% giá trị đối với khoản nợ
phải thu quá hạn từ trên 6
tháng đến dưới 1 năm.
+ 50% giá trị đối với khoản nợ
phải thu quá hạn từ 1 năm đến
dưới 2 năm.
+ 70% giá trị đối với khoản nợ
phải thu quá hạn từ 2 năm đến
dưới 3 năm.
+ 100% giá trị đối với khoản
nợ phải thu từ 3 năm trở lên.
Lớp ĐH23KT02.
3
GVHD: Cô Triệu Kim Lanh. Tiểu Luận
SVTH: Huỳnh Đức Lâm Hiếu.
Lê Xuân Trường.
Chi phí hỗ trợ, ủng hộ Ghi nhận vào chi phí Chi phí không được khấu trừ
Lãi vay Là chi phí Lãi vay vượt mức quy định
không đợc coi là chi phí
Dự phòng trợ cấp mất việc
làm và thử việc
Là chi phí

Theo tỷ lệ quy định
Mức trích Quỹ dự phòng về
trợ cấp mất việc làm từ 1% -
3% trên quỹ tiền lương
Phân bổ chi phí của công ty
Mẹ ở nước ngòai
Là chi phí Quy định cụ thể phương pháp
tính
Chi phí không có hoá đơn,
chứng từ theo quy định
Là chi phí Không được coi là chi phí
Tiền phạt Là chi phí Không được coi là chi phí
Thu nhập sau thuế từ góp vốn
Liên doanh, cổ phần
Doanh thu Không được tính là doanh thu

Có hai loại chênh lệch giữa kế toán và thuế, đó là chênh lệch vĩnh viễn
và chênh lệch tạm thời
(1). Chênh lệch vĩnh viễn là chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu
nhập chịu thuế TNDN phát sinh từ các khoản Doanh thu, thu nhập khác, chi phí được ghi
vào lợi nhuận kế toán nhưng không được tính vào thu nhập, chi phí khi tính thu nhập chịu
thuế TNDN. Hoặc ngược lại, các khoản Doanh thu, thu nhập khác, chi phí đựơc tính vào
thu nhập chịu thuế TNDN nhưng không được tính vào lợi nhuận kế toán. Ví dụ:
- Lãi cổ tức, lãi từ trái phiếu doanh nghiệp nhận được là khoản thu nhập
không chịu thuế và được loại trừ toàn bộ ra khỏi thu nhập chịu thuế TNDN.
- Các khoản được tài trợ, biếu tặng phải nộp thuế trên giá trị các khoản
tài trợ, biếu tặng này nhưng kế toán không được xem là phần lợi nhuận kế toán mà phải ghi
tăng nguồn vốn.
Lớp ĐH23KT02.
4

GVHD: Cô Triệu Kim Lanh. Tiểu Luận
SVTH: Huỳnh Đức Lâm Hiếu.
Lê Xuân Trường.
- Nguyên vật liệu, nhân công vươt trên mức bình thường, chi phí sản
xuất chung cố định phần phân bổ còn lại là chi phí của kế toán để xác định lợi nhuận kế
toán nhưng không phải là tính vào thu nhập chịu thuế TNDN.
- Trường hợp mua Ôtô của cá nhân nhưng chưa sang tên công ty, toàn bộ
chi phí liên quan đến hoạt động, khấu hao xe ôtô này tính vào Lợi nhuận kế toán nhưng
không tính vào thu nhập chịu thuế TNDN.
- Chi phí quảng cáo, hoa hồng, tiếp thị vượt trên mức quy định là chi phí
tình vào lợi nhuận kế toán nhưng không phải là chi phí tình vào thu nhập chịu thuế TNDN.
- Các khoản tiền Doanh nghiệp bị phạt là chi phí tính vào lợi nhuận kế
toán nhưng không phải là chi phí tính vào thu nhập chịu thuế TNDN
(2). Chênh lệch tạm thời là chênh lệch phát sinh do sự khác biệt về thời
điểm Doanh nghiệp ghi nhận thu nhập hoặc chi phí và thời điểm pháp luật về thuế quy
định tính thu nhập chịu thuế hoặc chi phí được khấu trừ khỏi thu nhập chịu thuế. Có hai
loại chênh lệch tạm thời, đó là:
+ Chênh lệch tạm thời phải chịu thuế TNDN: Là các khoản chênh lệch
tạm thời làm phát sinh thu nhập chịu thuế khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN trong
tương lai khi mà giá trị ghi sổ của các khoản mục Tài sản hoặc Nợ phải trả liên quan được
thu hồi hay được thanh toán.
+ Chênh lệch tạm thời được khấu trừ: Là các khoản chênh lệch tạm thời
làm phát sinh các khoản được khấu trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN trong tương
lai khi mà giá trị ghi sổ của các khoản mục Tài sản hoặc nợ phải trả được thu hồi hay được
thanh toán.
Hiện nay nhà nước ta có các biện pháp khắc phục từng bước thay đổi,
hoàn thiện chế độ tài chính doanh nghiệp, chế độ hạch toán kế toán và chính sách thuế
TNDN theo hướng thu hẹp dần sự khác nhau giữa thu nhập chịu thuế và lợi nhuận doanh
nghiệp. Bên cạnh đó biện pháp cơ bản, lâu dài để giảm độ lệch trên là tất cả các hoạt động
mua bán hàng hóa cung ứng dịch vụ phải có hóa đơn, chứng từ hợp pháp. Bộ Tài chính đã

có nhiều chính sách biện pháp để thúc đẩy việc sử dụng hóa đơn như: Chính sách thanh
toán không dùng tiền mặt, bán hóa đơn lẻ và nhất là khuyến khích sử dụng hóa đơn tự in...
Các doanh nghiệp cũng thấy rằng sử dụng hóa đơn trong mua bán hàng hóa, cung ứng dịch
vụ không những sẽ làm cho việc xác định số thuế TNDN chính xác, phù hợp hơn với lợi
nhuận thực tế mà còn là biện pháp làm lành mạnh tình hình tài chính doanh nghiệp, giám
sát được chi phí để hạ giá thành sản phẩm hàng hóa, dịch vụ.
Câu 4 : Thuế chống phá giá được áp dụng khi nào? Các biện pháp
tự vệ về thuế là như thế nào? ở Việt Nam hiện nay có áp dụng hay không?
Lớp ĐH23KT02.
5
GVHD: Cô Triệu Kim Lanh. Tiểu Luận
SVTH: Huỳnh Đức Lâm Hiếu.
Lê Xuân Trường.
Thuế chống bán phá giá là loại thuế được các quốc gia đặt ra để bảo vệ
lợi ích cùa cùa các chủ thể trong nội địa trước sự cạnh tranh với các chủ thể bên ngoài.
Hiệp định về Chống bán Phá giá là một trong những hiệp định của Tổ chức Thương mại
Thế giới (WTO) được ký kết tại Vòng đàm phán Uruguay.
Đầu tiên ta nên hiểu một số vần đề:
Bán phá giá là gì?
Bán phá giá trong thương mại quốc tế là hiện tượng xảy ra khi một loại
hàng hóa được XK với giá thấp hơn giá bán của mặt hàng đó tại thị trường nội địa nước
XK. Như vậy có thể hiểu đơn giản là nếu giá XK của một mặt hàng thấp hơn giá nội địa
của nó thì sản phẩm đó bị coi là bán phá giá. Ví dụ: lạc nhân của nước A bán tại thị trường
nước A với giá (X) nhưng lại được XK sang nước B với giá (Y) (Y<X) thì xảy ra hiện
tượng bán phá giá đối với sản phẩm này XK từ A sang B.
Tại sao bán phá giá?
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới hiện tượng bán phá giá trong thương mại
quốc tế. Nhiều trường hợp cố tình bán phá giá nhằm đạt được những lợi ích nhất định như:
Bán phá giá để loại bỏ các đối thủ cạnh tranh trên thị trường nước NK từ đó chiếm thế độc
quyền; Bán giá thấp tại thị trường nước NK để chiếm lĩnh thị phần; Bán giá thấp để thu

ngoại tệ mạnh... Đôi khi việc bán phá giá là việc bất đắc dĩ do nhà sản xuất, XK không bán
được hàng, sản xuất bị đình trệ, sản phẩm lưu kho lâu ngày có thể bị hỏng... nên đành bán
tháo để thu hồi vốn. Trong thương mại quốc tế, thuế chống bán phá giá có thể bị áp đặt mà
không quan tâm đến lý do vì sao nhà sản xuất bán phá giá. Bán phá giá sang thị trường
nước ngoài thường bị coi là một hiện tượng tiêu cực do nó làm giảm khả năng cạnh tranh
về giá và thị phần của sản phẩm nội địa của nước NK. Tuy nhiên, bán phá giá có thể có tác
động tích cực đối với nền kinh tế: người tiêu dùng được lợi vì giá rẻ; nếu hàng bị bán phá
giá là nguyên liệu đầu vào của một ngành sản xuất khác, giá nguyên liệu rẻ có thể tạo nên
sự tăng trưởng nhất định của ngành đó,... Vì thế không phải mọi hành vi bán phá giá đều bị
áp dụng biện pháp chống bán phá giá. Theo quy định của WTO, các biện pháp chống bán
phá giá chỉ được thực hiện trong những hoàn cảnh nhất định và phải đáp ứng các điều kiện
nhất định. Cụ thể, các biện pháp chống bán phá giá chỉ được áp dụng khi xác định được đủ
ba điều kiện sau đây: Hàng NK bị bán phá giá; Ngành sản xuất sản phẩm tương tự của
nước NK bị thiệt hại đáng kể; Có mối quan hệ nhân quả giữa việc hàng NK bán phá giá và
thiệt hại nói trên.
Thuế chống bán phá giá?
Thuế chống bán phá giá là khoản thuế bổ sung bên cạnh thuế NK thông
thường, đánh vào sản phẩm nước ngoài bị bán phá giá vào nước NK. Đây là loại thuế
nhằm chống lại việc bán phá giá và loại bỏ những thiệt hại do việc hàng NK bán phá giá
gây ra. Trên thực tế, thuế chống bán phá giá được nhiều nước sử dụng như một hình thức
"bảo hộ hợp pháp" đối với sản xuất nội địa của mình. Để ngăn chặn hiện tượng lạm dụng
biện pháp này, các nước thành viên WTO đã cùng thoả thuận về các quy định bắt buộc
Lớp ĐH23KT02.
6

×