Tải bản đầy đủ (.doc) (13 trang)

tiểu luận lịch sử Thăng Long-Đông Đô-Hà Nội.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (123.24 KB, 13 trang )

1.Khái quát về lịch sử Thăng Long-Đông Đô-Hà Nội.
Thăng Long từ vị trí trung tâm của một vùng, đã được lựa chọn để trở
thành thủ đô, trung tâm của cả một quốc gia phong kiến độc lập; trở thành
trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, quân sự, ngoại giao của đất
nước.
Thăng Long với vị trí của mình, đã sớm trở thành trung tâm hội tụ,
giao lưu của nhiều vùng miền văn hoá, của nhiều nền văn minh trong nước,
cũng như trên phạm vi rộng lớn của vùng Đông Nam châu Á.
Trong lịch sử, mối quan hệ giữa Thăng Long, còng nh quốc gia Đại
Việt với phong kiến phương Bắc – Trung Hoa là thường xuyên và có tính
chất liên tục hơn cả, đó là mối quan hệ có tính chất chi phối mọi mối quan
hệ khác. Bên cạnh đó, Thăng Long Đại Việt cũng đã sớm có những mối
quan hệ về chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế, văn hoá với các quốc gia
Đông Nam á; các mối quan hệ này cũng có vai trò nhất định đối với sự hình
thành, phát triển của Thăng Long trong suất chiều đài lịch sử.
1.Miền đất Thăng Long – Hà Nội với những mối liên hệ thời tiền sử và
sơ sử.
Miền đất Hà Nội cũng nh toàn bộ lãnh thổ Việt Nam thuộc về context
Đông Nam Á, cùng chia sẻ với các quốc gia Đông Nam Á nhiều giá trị văn
hoá, lịch sử tương đồng của nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước, nền
văn minh phia Hoa, phi Ên.
Từ thế kỷ III-IV, Thăng Long là một huyện (Tống Bình), rồi thế kỷ V-
VI nó là một châu (Tống Châu), Lý Nam Đế với con mắt tinh đời, năm 554
đã dựng nước Vạn Xuân, xây chùa Khai Quốc, dựng điện Vạn Thọ, đắp
thành ở cửa sông Tô Lịch (theo Lương thư, Nam Tề thư). Đến thế kỷ VII-
VIII nó trở thành một phủ (An nam đô hộ phủ) có thành có thị. Nó là một đô
thị hiếm hoi của đất Việt và Đông Nam Á.
1
phái thiền tông thứ hai ở Việt Nam Là phái Tì Ni Đa Lưu Chi, người
Thiên Trúc, sang Việt Nam năm 580, với trung tâm là chùa Pháp Vân ở Cổ
Châu (chùa Dâu, Thuận Thành, Bn).


….Năm 757, xuất hiện La Thành trên đất Hà Nội cổ. Kinh lược sứ
Trương Bá Nghi đắp La Thành bao quanh phủ thành đô hộ sau phong trào
Mai Hắc Đế và những cuộc cướp bóc của giặc biển Chà Và. Nhưng thành
này chỉ cao vài thước, nhỏ hẹp và không lấy gì làm chắc chắn.(129).
Sách Man thư cuốn sách của kinh lược sứ phủ đô hộ An Nam Thái
Tập. Theo đó, vào khoảng năm 863, ở khu vực Hà Nội có 3 thành: Thành
Giao Châu (hay Giao Chỉ); Tử Thành; và thành cũ Tô Lịch…Việc kẻ địch
liên tiếp đắp thành ở Hà Nội chứng tỏ chúng phải đương đầu với nhiều cuộc
khởi nghĩa nhân dân. Mặt khác, Hà Nội và lưu vực sông Hồng thế kỷ VIII-
IX luôn bị quân Chà Và, Côn Lôn ở vùng biển phía nam và quân Nam Chiếu
ở miền nội địa phía Tây Bắc đến cướp bóc dã man. (t.132)
Hà Nội 863-865. Hàmg vạn giặc Nam Chiếu đánh phủ thành An Nam.
Quan quân đô hộ nhà Đường hèn yếu, bất lực bỏ chạy. Hào trưởng các địa
phương đã đem con em dân Việt đứng lên giữ làng chống giặc. Ba năm dân
Việt đánh du kích giữ làng quê. Chỉ sau đó nhà Đường mới cử Cao Biền
đem đại quân sang mở trận tổng công kích đuổi giặc Nam Chiếu về nước.

880, nam chiếu lại cất quân xâm lược
1
TrÇn Quèc Vîng, T×m hiÓu di s¶n v¨n ho¸ d©n gian Hµ Néi, NXB Hµ Néi – 1994, tr.70.
2. Những mối liên hệ giữa Thăng Long Đại Việt với
các quốc gia Đông Nam Á.
2.1. Những mối quan hệ về chính trị, quân sự, ngoại giao.
Thăng Long với vị thế trung tâm, thủ đô của một quốc gia độc lập, nơi
tinh hoa, đại diện cho cả dân tộc, đã trở thành nơi đón tiếp các đoàn ngoại
giao quốc tế và khu vực đến giao thương, và thiết lập mối quan hệ.
Bên kia sông Hồng, tại làng Cự Linh (Gia Lâm) có trạm Hoài Viễn là
nơi tiếp đón và trú ngụ của các sứ thần nước ngoài. Nước Đại việt bấy giờ đã
có quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, Lào. Chân Lạp, Xiêm, Đại Lý (Vân
Nam), Tây Vực (Trung Á). Sứ thần các nước đó đã nhiều lần đến Thăng

Long.
Chỉ trong vòng một vài thế kỷ sau khi định đô, Thăng Long đã được
xây dựng về mọi mặt và trở thành trung tâm chính trị-kinh tế-văn hoá lớn
nhất và tiêu biểu cho cả nước. Thành quách, đê điều, các loại kiến trúc cung
đình, dân gian, tôn giáo, văn hoá…tất cả hoà quyện với thiên nhiên tạo thành
dáng vẻ riêng của kinh thành Rồng Bay – Thăng Long, vừa ngoạn mục, vừa
giản dị, rất gần gũi với thiên nhiên và tính cách người Việt, đượm tính dân
gian và tính dân tộc.
Trong vương quốc Chiêm Thành, âm nhạc, ca múa đặc biệt phát triển,
người Chiêm đẫ giữ lâu bền một số phong tục cổ truyền như ăn trầu, nhuộm
răng đen, coi trọng phụ nữ, đặc biệt nền văn minh văn hóa nông nghiệp, thủ
công nghiệp, chế tạo đồ trang sức, nghề dệt phát triển, kỹ thuật xây dựng
tháp của người Chiêm đạt đến trình độ cao. Nó không chỉ phát triển trong
nước mà nú cũn tác động ảnh hưởng mạnh mẽ tới các nước và khu vục xung
quanh, đặc biệt nó có ảnh hưởng mạnh mẽ tới nền văn hóa Đại Việt
191… đời thứ 14 có Khánh Hỷ, tăng thống ở chùa Hương Từ Liêm,
quận Vĩnh Khang, dòng dõi Bà la môn (gốc Chàm). Thời Lý Trần di dân
người Chàm đến ngụ ở Vĩnh Khang tức vùng Từ Liêm, Hoài Đức ngày nay
là khá nhiều. Trong khoảng niên hiệu Thiên Chương Bảo Tự (1133-1137),
vua triệu sư vào cung phong làm t ăng lục rồi lên tăng thống.
Thăng Long thời Trần đã mang dáng dấp của một thành phố quốc tế.
Một thành phố nhân ái, đón nhiều người đến cư trú chính trị, chống sự xâm
lược của đế quốc Nguyên Mông. Như đại quan nhà Tống Hoàng Bính đem
cả 1200 người sang Thăng Long xin trú ngụ; như tham chính Tăng Uyên
Tử, như tướng Tống Triệu Trung, như gia đình nghệ sĩ leo dây múa rối Đinh
Bàng Đức…
275…Thăng Long kháng chiến chống Nguyên Mông. Thăng Long từ
chối không cho Mông cổ mượn đường đánh Chiêm Thành.
Thăng Long gửi quân vào giúp Chiêm Thành kháng chiến chống
Nguyên Mông.

Thời Trần, ngoài sứ thần các nước, Thăng Long còn tiếp nhận nhiều
thượng khách và cư dân nước ngoài đến buôn bán làm ăn và cư trú chính trị.
Năm 1274, có 30 thuyền Trung Quốc đến xin cư trú và được nhà Trần cho ở
phường Nhai Tuân, lập phố, mở chợ buôn bán. Thăng Long mở rộng cửa
đón nhận các thương nhân người Hoa, người Hồi Hột (người Ouigour ở
Trung á theo đạo Hồi), thuyền buôn Chà và (Java), sư người Hồ, thày thuốc
và nghệ sĩ Trung Quốc, trong đó có nghệ sĩ leo dây Đinh Bàng Đức, nghệ sĩ
tuồng Lý Nguyên Cát.
Thăng Long có Ýt nhiều dáng vẻ quốc tế của một kinh thành đô hội.
2
2
Phan Huy Lª: Th¨ng Long - §«ng §« - §«ng Kinh- Hµ Néi thÕ kû XI-XIX. Trong: Th¨ng Long-Hµ Néi,
NXB ChÝnh TrÞ Quèc Gia, Hµ Néi-1995, tr.80.
Cỏc triu Lý-Trn-Lờ, khi triu ỡnh phỏt quõn ỏnh Chiờm Thnh bt
c nhiu tự binh Chiờm v ó an thỏp h thnh cỏc lng bao quanh
ngoi thnh Thng Long- ụng ụ-ụng Kinh.
Quan h i vit v Lo cú t rt sm, t thi Lý Bớ.
Khi nc i Vit c lp, triu Lý mt mt n nh tỡnh hỡnh trong
nc, mt khỏc lo chun b lc lng chng Tng nờn ó c bit quan tõm
ti vựng biờn gii phớa Tõy ca t nc. Nh Lý thc hin chớnh sỏch nhu
vin v dựng bin phỏp hụn nhõn nm cỏc tự trng a phng. Thụng
qua ú, triu ỡnh Thng Long qun lý vựng biờn i cng nh giao thip vi
bờn ngoi.
Di triu Lý, cỏc tự trng Lo vn thng xuyờn sang Thng Long
- i Vit triu cng: nm 1067 s Lo mang vng bc, trm hng, ng
voi v mt s c sn a phng sang triu cng
3
.
T th k X, vic buụn bỏn c m rng ra phớa Bc do quc gia i Vit
c c lp v ngy cng phỏt trin cng thnh. Thng cng Võn n

(Qung Ninh) tr thnh mt trung tõm buụn bỏn vỡ cú v trớ thun li. Trong
thi k ny, cỏc quc gia ụng Nam cng bc vo thi k phỏt trin nờn
cng cú mong mun thit lp quan h vi cỏc nc trong khu vc. Nm
1149, mựa xuõn, thỏng hai, thuyn buụn ba nc Tro Oa (Java), L Lc v
Xiờm La vo Hi ụng, xin li buụn bỏn, bốn cho lp trang ni hi o
gi l Võn n mua bỏn hng hoỏ quý, dõng tin sn vt a phng
4
Nm 1348, nc Tro Oa (Java) chớnh thc sai s sang t thụng hiu
vi i Vit: Nm 1348, thỏng 5, mựa h, nc Tro Oa sang cng sn vt
a phng v chim vt bit núi
5
. Nm 1360, thỏng 10, mựa ụng,
3
Đại Việt sử ký Toàn th, tập 1, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội-1998, tr.247.
4
Đại Việt sử ký Toàn th, tập 1, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội-1998, tr.317.
5
Đại Việt sử ký Toàn th, tập 2, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội-1998, tr.131.
thuyn buụn cỏc nc L Lc, Tro Oa, Xiờm La n Võn n buụn bỏn v
tin cỏc sn vt l
6
Ch V cú quan h vi cỏc vng triu phong kin Vit Nam t bui
u c lp. Ch V cú quan h v ngoi thng vi i Vit t rt sm, v
mi quan h ny l thng xuyờn hn c.
2.2.Nhng mi liờn h-giao lu v kinh t-thng mi.
T thi Lý-Trn, vi sc mnh ca mt quc gia ang lờn, Thng
Long-i Vit ó phỏt trin lờn mt tm cao mi, d nhp mnh m vo h
thng thng mi, buụn bỏn chung ca khu vc ụng Nam ỏ-h thng
thng mi bin ụng.
Vic nh ụ ca Lý Cụng Un Thng Long l quyt nh ht sc

sỏng sut trong s la chn mt kh nng an ton cao nht cho triu i
mi.
Vng triu Lý l thi k xõy dng t nc trờn quy mụ ln, thi
k phc hng ton din ca dõn tc v nn vn hoỏ dõn tc.
Trong th Thng Long - Rng lờn ú, nh Lý ó thc hin nhiu chớnh
sỏch kinh t tớch cc v mt ch trng i ngoi khỏ rng m. Nhu cu
phỏt trin ca mt Nh nc tp quyn ũi hi gii lónh o phi ng thi
y mnh sn xut, khuyn khớch hot ng ngoi thng. Sau khi trang
Võn n c vua Lý Anh Tụng m ra vo thỏng 2.1149, Võn n ó tr
thnh mt ca ngừ quan trng ca nh nc i Vit giao lu vi cỏc
quc gia c ụng Bc v ụng Nam . Vo th k XI-XIII, hot ng
kinh t thng mi khu vc bin ụng c m rng hn bao gi ht.
6
Đại Việt sử ký Toàn th, tập 2, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội-1998, tr.140.
Nhà nước Đại Việt với trung tâm chính trị Thăng Long đã dự nhập
mạnh mẽ hơn vào đời sống kinh tế – chính trị của các quốc gia khu vực
Đông Nam á và chủ động trở lại đóng vai trò cầu nối giữa hai khu vực địa-
kinh tế và địa-văn hoá này.
Thế chiến lược của Thăng Long, hiểu theo nghĩa rộng, còn nằm ở cả
tiềm lực kinh tế của nhà Lý với trung tâm đô hội ở Thăng Long đã làm nên
sự hưng thịnh của một triều đại và sự phát triển phồn vinh về văn hoá với vị
thế của một dân tộc tự cường.
Với vị trí là trung tâm trung chuyển, thu hút nguồn hàng từ
Miến Điện, Nam Trung Quốc theo đường sông Hồng, hay theo đường thiên
lý Bắc nam, tập kết ở Thăng Long. Bằng chứng là sự có mặt được ghi chép
nhiều lần trong chính sử về sự xuất hiện của thương nhân ngoại quốc: người
Hồi Hột, người Miến Điện, Tây Vực… ở Thăng Long. Nguồn hàng từ khu
vực này được đưa đến tập kết tại Thăng Long, sau đó được chuyển tiếp ra
thương cảng Vân Đồn, và bắt đầu vào quá trình giao lưu, trao đổi thương
mại với các thương cảng khác ở khu vực.

Việc lập thương cảng Vân Đồn năm 1049 thời Lý Trang Tông có thể
coi là một động thái thể khiện “khát vọng” vươn mình hội nhập thương mại
với thế giới bên ngoài của nhà nước phong kiến Đại Việt sau một thời gian
dài “bị lãng quên” dưới ách thống trị của phong kiến phương Bắc. Sự có mặt
của các thương nhân người Mã Lai, người Hồi Hột, người Java…được ghi
chép trong chính sử, hay những minh chứng xác thực nhất của khảo cổ học ở
khu vực thương cảng Vân Đồn đã giúp chúng ta phần nào hiểu được về
những mối quan hệ thương mại giữa Thăng Long Đại Việt với các nước
trong khu vực.
Mối quan hệ tương tác giữa hai trung tâm kinh tế lớn là Thăng Long-
với vị thế là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của cả đất nước với Vân
Đồn-với vị thế là cửa ngõ giao thương với thế giới bên ngoài, đã trở thành
trục chính cho sự phát triển của thương mại Thăng Long Đại Việt. Điều đó
đã góp phần tạo nên sự phồn thịnh của thành thị Thăng Long 36 phố phường
đông vui, tấp nập.
Người Việt tuy “ít có truyền thống thương mại biển”, nhưng cũng đã
nhận thức được sức mạnh của thương mại, buôn bán trên biển-minh chứng
là sự ra đời của thương cảng Vân Đồn năm 1049, chủ động dự nhập vào hệ
thống thương mại khu vực.
Sự hình thành của nhiều phường hội thủ công, sự du nhập của nhiều
nghề thủ công ở Thăng Long trong suốt chiều dài lịch sử là kết quả của quá
trình giao lưu văn hoá với thế giới bên ngoài, đặc biệt là từ Trung Quốc và
các quốc gia Đông Nam á. Các thương nhân từ nhiều quốc gia khác nhau
đến tham quan, hay buôn bán ở Thăng Long đã ở lại nơi này để lập nghiệp,
sản xuất hàng hoá và sinh sống luôn ở đây.
255…sử sách đời Trần còn chép đến các phường Tây Nhai ở phía tây
bên hữu kinh thành, phường Kiều Các Đài cũng ở bên hữu kinh thành;
phường Nhai Tuấn, nơi mà mà năm 1247, 30 thuyền buôn của người Tống
chống Nguyên đào vong sang ta, đem vợ con, của cải sang xin phụ và vua
Trần cho ở phòng đó. Họ mở phố chợ, bày bán vóc đoạn và thuốc bắc, tự gọi

là người Hồi Kê. Hồi Kê, hay Hồi Cốt, hoặc là Hồi Hột (Ouigour – Duy Ngô
Nhĩ) chỉ người Duy Ngô Nhĩ Tân Cương theo Hồi giáo, con cháu người
Hung nô. Thăng Long thời Trần, ngoài việc xuất hiện khá nhiều thương
nhân Lưỡng Quảng, còn có nhiều người Hồi Hột từ Vân nam qua làm ăn
buôn bán. Các năm 1267, 1268 Hốt Tất Liệt đòi nhà Trần phải nộp những
thương nhân người Hồi hột, Nhưng Trần Thái Tông không chịu. Một mặt
vua Trần cấm nhân dân không được tiếp xúc với người Hồi Hột, sợ trong
bọn họ có người làm gián điệp cho quân Mông cổ, mặt khác trong thư gửi
Hốt Tất liệt, Thái Tông nói: “lái buôn Hồi hột, một người tên là Ion đã chết
lâu ngày, một người tên là Bà bà vừa bị chết…” ( Nguyên sử).
Ngoài phường Giai Tuấn, bến An Hoà cũng là nơi thuyền buôm nước
ngoài ghé cập. Đạo sĩ nhà Tống Hứa Tông Đạo đã đến Thăng Long theo
thuyền buôn và ở lại bến này. Như vậy dọc bờ sông Cái, có khá nhiều bến và
chợ bến: An Hoa, Đông Bộ Đầu, Giang Khẩu, Cơ Xá…Có hai bến nữa cần
nhắc tới là bến Thái Cực, và bến Thái Tổ.
Thái Cực là tên một phường ở phố Hàng Đào, xưa còn có hồ Hàng
Đào, có lạch nối với sông Hồng. Vì vậy thuyền bè đời Trần có thể len lỏi tới
tận phố Hàng Đào bây giờ mà buôn bán.
258…Thăng Long thời Trần là trung tâm đất nước, Kẻ chợ của toàn
bộ miền kẻ quê Đại Việt. Cuối thời Trần sử sách đã chép tới cái tên “ Kẻ
chợ” dân gian đó. Thăng Long thời Trần đã mang dáng dấp của một thành
phố quốc tế
Một thành phố thủ công và buôn bán nhỏ của người Việt nhưng cũng
có các cửa hàng buôn bán của Hoa Kiều, Hôì Hột, và Chà Và Một thành
phố đón tiếp các sứ giả Tống, Nguyên, Sách Mã Tích, Ai lao, Chiêm Thành,
Gia Va, các vị sư, các thầy Yoga Trung Quốc, Trung Á, Ên Độ; có cả một số
thôn làng người Chiêm ở miền ven nội…
Trong Dư địa chí của Nguyễn Trãi đã nhắc nhiều tới gốm sứ Bát
Tràng. Vào thế kỷ XVI, các lái buôn thường đến Thăng Long mua đồ gốm
sứ mang đi bán ở một số nước khác trong vùng Đông Nam Á.

Đến thế kỷ XVIII, nghề Khảm xà cừ khá phát triển ở Thăng Long. Lê
Quý Đôn trong “Phủ biên tạp lục” cho rằng: Nghề khảm xà cừ từ rất lâu
trước đây đã vừa lan đến những miền xa xôi nhất của đất nước, tận những
vùng thuộc Chiêm Thành và Cao Miên, lại vừa hội tụ trong 36 phố phường
của đất đế đô, đã khẳng định hùng hồn sự phát triển của nó cả về chiều rộng
lãnh thổ, cả về số lượng và chất lượng.
2.3.Giao lưu về văn hoá.
Thăng Long – Đại Việt nằm trong mét context chung là Đông Á-Đông
Nam Á, nằm ở vị trí trung tâm, đã tiếp thu được nhiều nền văn hoá khác
nhau, sáng tạo thành nền văn hoá của riêng mình.
Có hai con đường giao lưu văn hoá chính là:
- Con đường giao lưu tự nguyện, tự du nhập.
- Con đường giao lưu thông qua chiến tranh, bắt tù binh, người tài từ
các quốc gia láng going (đặc biệt là từ Chăm Pa) mang về Thăng Long, trở
thành những nghệ nhân tài hoa, góp phần vào quá trình xây dung Thăng
Long.
Các sản phẩm văn hoá du nhập vào Thăng Long: Lễ hội, ca múa nhạc,
mang vào những nghề mới: Dệt lĩnh Chăm, múa chăm, thợ Chăm xây dưụng
tháp Báo Thiên…
Thời các triều đại phong kiến Việt Nam, qua các cuộc chiến tranh
giữa hai nước, xảy ra các cuộc bắt bớ cung nữ của Chiêm Thành về Đại
Việt, sẽ có những cuộc vui để mừng chiến thắng , sẽ có những điệu múa của
cả hai nước, chính điều đó đó cú sự học hỏi lẫn nhau của hai nền văn hóa.
Cũng như trong các bữa tiệc tổ chức tiếp đún cỏc sứ thần sang cống
nạp, hay lễ mừng thọ. lễ mừng các công trỡnh đã xây dựng xong đều tổ chức
ca múa, giao lưu. Mối quan hệ văn hóa của hai nước giai đoạn này là có sự
học hỏi lẫn nhau, sự tiếp thu văn hóa của nhau để cung xây dựng nền văn
hóa đặc sắc của dân tộc mình. Cả hai nền văn hóa cú nột tương đồng là đều
có tục thờ cúng tổ tiên, tục ăn trầu, tục nhuộm răng đen. Phải chăng đây là
sự giao lưu và tiếp biến văn hóa giữa hai nền văn hóa Việt- Chiêm.

Thăng Long biểu diễn chèo Việt, tuồng Tàu và điệu múa của người
Hồ…
Đại Việt – Thăng Long thời Lý Trần vừa sùng Phật, vừa sùng Đạo.
Mọi người đều đến đạo quán chiêm bái, dâng lễ.
Đại Việt sử lược chép hội đèn Quảng Chiếu đầu tiên vào năm Hội
Tường Đại Khánh nguyên niên (1110) đời Lý Nhân Tông
Năm 1118, sứ giả Chân Lạp đến Thăng Long, gặp lúc triều đình mở
tiệc mùa xuân mừng khánh thành bảy ngọn bảo tháp, vua Lý bày nghi tượng
ở điện Linh Quang, rồi dẫn sứ giả cùng xem.
322…Trần Nhật Duật (1254-1330) chàng vương tử tài hoa, vị tướng
tài của cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông. Là con thứ sáu của Trần
Thái Tông, rất say mê âm nhạc. Trải làm quan bốn triều cho đến chức thái
sư, ở dinh ông không ngày nào không mở cuộc chèo hát hay bày trò chơi,
thế mà không ai cho ông là người say đắm niềm vui mà quên công việc. Giỏi
âm nhạc, ông cũng có niềm say mê đặc biệt với ngôn ngữ nước ngoài , rất
thích chơi với người nước ngoài. Từ Thăng Long ông thường cưỡi voi đến
chơi thôn Đalali – một thôn gồm người Việt gốc tù binh Chiêm Thành, sau
gọi trệch là thôn Bà Gìa ( mạn Cổ Nhuế), có khi ba bốn ngày mới về. Ông
cũng hay đến chùa Tường Phù, nói chuyện với nhà sư người Tống, ngủ lại
rồi về. Khách nước ngoài đến kinh sư, thường được ông mời đến chơi nhà,
nếu là người Tống thì ngồi đối nhau, đàm luận suốt ngày, sứ giả nhà Nguyên
tưởng ông là người Chân Định (Hà Bắc, Trung Quốc) chính cống. Nếu là
người Chiêm hay người các dân tộc khác, ông đều theo quốc tục của họ mà
tiếp đãi. Thêi Nhân Tông, sứ giả nước Sách Mã Tích sang cống, không tìm
được người phiên dịch. Cả Thăng Long chỉ một mình Trần Nhật Duật là
dịch được. Đó là vì thời Thái Tông, có sứ Bắc quốc đến, ông đã giao du với
họ và học tiếng nước họ rồi
Nghệ thuật Thăng Long tiếp thu nhiều nhân tố tốt đẹp từ các
nước láng giềng. Với trình độ thẩm mĩ sâu sắc và tế nhị, con người trên
mảnh đất Thăng Long không chỉ nhanh chóng tiếp thu nhanh nhất những

tinh hoa văn hoá nghệ thuật từ mọi miền của đất nước, mà còn nhạy bén
trong việc tiếp thu những thành tựu nghệ thuật từ nước ngoài vào, mà trước
hết là từ Trung Quốc, Champa, Ên Độ.
Cung nữ Chiêm Thành được đem về Thăng Long múa hát trong yến
tiệc nhà vua thời Lý. Nhiều nghệ nhân Trung Quốc đã vào Việt Nam và có
ảnh hưởng quan trọng đối với sự phát triển của nghệ thuật Việt Nam – mà
trước hết là ở Thăng Long.
Các triều Lý-Trần-Lê, khi triều đình phát quân đánh Chiêm Thành bắt
được nhiều tù binh Chiêm và đã “an tháp” họ thành các “làng” bao quanh
ngoại thành Thăng Long- Đông Đô-Đông Kinh.
Làng Trích Sài ngay cạnh Hồ Tây có ngôi miếu nhỏ thờ bà chúa Lĩnh
có tên Việt là Phan Ngọc Đô, vốn người con gái Champa, được vua lê Thánh
Tông đưa cùng 22 thị nữ Champa ra ở Trích Sài. Tại đây bà đã truyền nghề
dệt Lĩnh Chăm cho dân. Khi bà mất, dân làng lập miếu thờ, tôn xưng bà là tổ
nghề của quê mình.
Tổ sư nghề dệt ở phường Nhược Công (nay là Thành Công-Ba Đình)
từ cuối thời Lý là công chúa Thụ La, vợ quan Công bộ hầu Đoàn Thường.
Theo thần tích đình làng Thành Công, bà là người gốc Chămpa.
7
7
TrÇn Quèc Vîng, Hµ Néi-Nh t«i hiÓu, NXB T«n Gi¸o, Hµ Néi-2005., tr.208.
Giữa thế kỷ XV, vua Lê Thánh Tông cắt đất của phường Trích Sài
cho người cung phi gốc Chàm là Phan Thị Ngọc Đô làm thái Êp lập ra Thiên
Niên Trang.
Sự đóng góp của người Chăm và người Hoa vào sự phát triển của văn
hoá, văn minh Thăng Long-Đại Việt: Công trình xây dựng tháp Báo Thiên
“hình thiên trụ” là công lao của những người thợ Chăm tài hoa, dưới sự đốc
công của người Việt
8
.

Nghệ nhân leo dây múa rối nổi tiếng Đinh Bàng Đức cùng thân nhân;
nghệ sĩ tuồng Lý Nguyên Cát cùng nghệ nhân, tăng lữ, thương nhân, thầy du
già…từ trung á, Tạng Miến theo đường Vân Nam xuống, từ Khai Phong (Hà
Nam) theo đường Ung Châu (Nam Ninh) đi xuống, hay từ đường biển đi
vào, hội tụ ở Thăng Long làm ăn, mua bán, hành nghề,ư
Thăng Long thời Lý-Trần có nhiều quan hệ với Chiêm Thành, Chân
Lạp, Qua Oa (Java), Tam phật tề (Palembang), Thất lợi phật thệ (Sri Vijaya)
…ở vùng biển phía Nam, có chiến tranh mà cũng có giao lưu kinh tế-văn
hoá. Nhiều vũ nữ, ca công Chiêm Thành được/bị tập trung về Thăng Long.
Vùng ven đô mạn Từ Liêm, Hoài Đức có nhiều làng Chăm. Văn hoá Chăm,
văn hoá Đông Nam Á miền biển phía Nam và qua đó, văn hoá Ên Độ có vận
hội mới, có ảnh hưởng tới Thăng Long-Đại Việt.
Có thể thấy Thăng Long là trung tâm giao lưu văn hoá. Hai luồng văn
hoá Đông Á và Đông Nam Á tiếp tục chảy rót nhiều thành tựu vào thành
phố Rång Bay. Nhưng Thăng Long không phải là bình chứa mà là bầu
ngưng cất, lọc tinh hoa văn hoá bốn phương để cấu trúc lại và làm giàu vốn
văn hoá dân tộc, dân gian.
8
Lª Tr¾c, An Nam chÝ lîc, 1333.

×